1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự sụp đổ của enron và những sai lầm trong chiến lược quản trị tài chính

34 548 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 70,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa này cho rằng nhà quản trị đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ khôngchỉ tự mình hoàn thành công việc.. Theo Koontz và

Trang 1

1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH 1.1 Quản trị

1.1.1 Khái niệm

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản trị

Theo Mary Parke Follett: “Quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác” Định nghĩa này cho rằng nhà quản trị đạt được mục tiêu của tổ

chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ khôngchỉ tự mình hoàn thành công việc

Theo Koontz và O’Donnell: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc vơi nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định” Phát biểu này nhấn mạnh đến sự cần

thiết phải thiết kế một bộ máy quản lý hữu hiệu để có thể điều hành, phối hợphoạt động của toàn bộ tổ chức hướng tới mục tiêu đã đề ra

Một định nghĩa khác của James Stoner và Stephen Robbins: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”.

Robert Kreitner đã đưa ra định nghĩa về quản trị khá rõ ràng: “Quản trị là tiến trình làm việc với con người và thông qua con người nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn thay đổi Trọng tâm của quá trình này là sử dụng hiệu quả nguồn lực có giới hạn”

Trang 2

 Quản trị là sử dụng có hiệu quả nguồn lực để đạt được mục tiêu.

 Con người đóng vai trò rất quan trọng trong quản trị

 Hoạt động quản trị chịu sự tác động của môi trường biến động khôngngừng

1.1.2 Chức năng của quản trị

1.1.2.1 Hoạch định

Là chức năng quản trị có mục đích xác lập một mô hình tham chiếu chotương lai nhờ đó ta nhận ra những cơ hội và rủi ro, căn cứ vào đó phải làmviệc ngay bây giờ để khai thác cơ hội và tránh né rủi ro Hoạch định liên quanđến dự báo và tiên liệu tương lai, đến những mục tiêu cần đạt được và nhữngphương thức đạt những mục tiêu đó Nếu không lập kế họach thận trọng vàđúng đắn thì dễ dẫn đến thất bại trong quản trị Có rất nhiều công ty khônghọat động được hay chỉ huy động được một phần công suất chỉ vì không họachđịnh hay họach định tồi Họach định cũng có nghĩa là nghĩ cách sử dụng nhântài, vật lực để khai thác cơ hội, thời cơ và ngăn chặn hữu hiệu những rủi ro, bấttrắc của môi trường

1.1.2.2 Tổ chức

Là chức năng quản trị có mục đích phân công nhiệm vụ, tạo dựng một cơcấu, thiết lập thẩm quyền và phân phối ngân sách cần thiết để thực hiện kếhọach Nó sẽ xác định xem ai sẽ hòan thành nhiệm vụ nào, ở đâu và khi nàothì xong Công việc tổ chức thực hiện đúng đắn sẽ tạo nên môi trường nội bộthuận lợi thúc đẩy họat động đạt mục tiêu, tổ chức kém thì công ty sẽ thất bạicho dù họach định tốt

1.1.2.3 Điều khiển

Là chức năng quản trị nhằm gây ảnh hưởng, thúc đẩy, hướng dẫn nguồnnhân lực thực hiện mục tiêu của công ty Chức năng điều khiển liên quan đếnhọat động thúc đẩy quan hệ cá nhân và nhóm trong mối quan hệ quản trị nhằmxây dựng một bản sắc văn hóa cho tổ chức Cuối cùng là quá trình thông tin và

Trang 3

truyền thông trong tổ chức Lãnh đạo xuất sắc có khả năng đưa công ty đếnthành công dù kế họach và tổ chức chưa thật tốt, nhưng sẽ chắc chắn thất bạinếu lãnh đạo kém.

1.1.2.4 Kiểm soát

Là chức năng quản trị thúc đẩy thành tích của doanh nghiệp hướng vềhòan thành mục tiêu Kiểm soát là để lường trước các rủi ro, đánh giá họatđộng và đo lường kết quả họat động tìm ra các nguyên nhân gây ra sai lệch

và tìm các giải pháp điều chỉnh thích hợp Chính kiểm soát là chức năng khépkín một chu kỳ quản trị, mở ra một chu kỳ quản trị mới tạo ra sự liên tục choquá trình quản trị và nó là chức năng giúp nhà quản trị biết khi nào phải điềuchỉnh họat động, khi nào cần phải họach định mới…

1.2 Quản trị tài chính

1.2.1 Khái niệm

Quản trị tài chính là quản trị nguồn vốn (bao gồm vốn tiền mặt, vốn, tàisản và các quan hệ tài chính phát sinh như: khoản phải thu - khoản phải trả),nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp Các nhà quản trị tài chính sẽ ra cácquyết định về các loại tài sản của doanh nghiệp, tài trợ các loại tài sản đó như thếnào, doanh nghiệp sẽ quản lý các nguồn tài sản của nó ra sao Nếu như công việcnày được thực hiện một cách tối ưu, giá trị doanh nghiệp có thể đạt lớn nhất, khi

đó tài sản của các cổ đông cũng đạt lớn nhất

1.2.2 Vai trò

1.1.1.1 Lập dự án kế hoạch tài chính

Nhà quản trị tài chính cần hợp tác với nhà quản trị khác lên kế hoạch

và dự toán chi phí cho các tình huống tương lai của doanh nghiệp

1.2.2.1 Quyết định đầu tư và tài trợ

Một doanh nghiệp thành công thường tăng doanh thu nhanh chóng dovậy nó đòi hỏi phải đầu tư thêm vào loại tài sản cố định, thiết bị máy

Trang 4

móc nguồn dự trữ Nhà quản trị tài chính phải giúp xác định tỷ lệ lương bántăng tối ưu, quyết định của các loại tài sản có đặc biệt và phương pháp tài trợtốt nhất cho đầu tư Chẳng hạn, doanh nghiệp sẽ tài trợ đầu tư bằng vốn cổphần hay vốn vay Nếu chọn hình thức tài trợ bằng vốn vay, thì vốn vay dàihạn hay ngắn hạn, thời hạn vay và lãi suất như thế nào.

1.2.2.2 Kiểm soát mọi hoạt động

Nhà quản trị tài chính phải hợp tác với các nhà quản trị khác trong doanhnghiệp bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả Mọi kết quả kinhdoanh đều có liên quan đến vấn đề tài chính và nó cần phải được đưa vào tínhtoán cho đầy đủ

Ví dụ: Quyết định marketing ảnh hưởng đến tăng doanh thu, và ngược lại

nó sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vốn đầu tư Thực tế, các quyết định marketingcầu đưa vào tính toán ảnh hưởng của các hoạt động marketing như thế nàocũng như các yếu tố về vốn,chính sách dự trữ và thực hiện kế hoạch sản xuấtcủa doanh nghiệp

Trang 5

2 GIỚI THIỆU VỀ TẬP ĐOÀN NĂNG LƯỢNG ENRON

2.1 Vài nét về Enron

Tiền thân của Enron là công ty Khí tự nhiên miền Bắc, thành lập năm 1932tại Omaha, Nebraska Năm 1979, công ty đã tổ chức cơ cấu lại trở thànhInternorth of Omaha Năm 1985, trên cơ sở sáp nhập hai công ty HoustonNatural Gas và Internorth of Omaha, đổi tên công ty thành Enteron (ruột), với ýtưởng là bộ phận không thể thiếu trong quá trình tiêu hóa Nhưng cái tên nàynhanh chóng được rút gon lại chỉ còn Enron khoảng năm 1990 Enron nhanhchóng trở thành một công ty đa quốc gia hùng mạnh trong lĩnh vực năng lượng.Với trụ sở chính tại bang Texas của Mỹ, công ty có hoạt động ở hơn 30 quốcgia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam Lĩnh vực hoạt động chính của công ty

đã mở rộng dần từ vận chuyển và phân phối khí đốt sang buôn bán xăng dầu vàkhí đốt, xây dựng các nhà máy điện và cung cấp điện

Enron kiếm rất nhiều tiền từ việc mua bán trên thị trường năng lượng Trênthực tế, họ chỉ là những nhà buôn sắp xếp hợp đồng giữa người mua và bán rồilấy tiền hoa hồng Trong tay Enron, thị trường năng lượng ngang hàng với một

sự đầu cơ tài chính Hãng này đã xây dựng những nhà máy trị giá hàng triệuUSD khắp thế giới nhưng chỉ sở hữu chúng khi giá năng lượng lên ngôi, khi gặpkhó khăn thì bán ngay lập tức Nhờ hoạt động tài chính thuận lợi, Enron đãvươn sang các mặt hàng như giấy, nước, nhựa, kim loại và phương tiện viễnthông

Đến năm 1992, Enron đã lớn mạnh trở thành nhà buôn khí tự nhiên lớnnhất Bắc Mỹ Tháng 11/1999, công ty khai trương website giao dịchEnronOnline để quản trị tốt hơn việc kinh doanh giao dịch các hợp đồng Trongmột nỗ lực nhằm đạt được tăng trưởng hơn nữa, Enron đã theo đuổi chiến lược

đa dạng hóa

Enron sở hữu và điều hành một loạt các tài sản bao gồm các đường ốngdẫn khí, các nhà máy điện, các nhà máy bột giấy và giấy, các nhà máy nước,

Trang 6

cùng với nhiều loại hình dịch vụ trên toàn cầu Enron cũng kiếm thêm doanh thubằng cách mua bán những hợp đồng trong cùng mảng sản phẩm và dịch vụ màcông ty có tham gia Năm 2000, Enron là một trong 7 công ty Mỹ có doanh sốhơn 100 tỷ USD, lợi nhuận lên tới 10 tỷ USD Hệ thống thông tin đại chúng,

điển hình là tạp chí Fortune luôn đánh bóng Enron là công ty có nhiều tiềm

năng nhất với số vốn kinh doanh 63 tỷ USD Tại thời điểm xảy ra vụ bê bối năm

2001, Enron nắm trong tay cơ sở vật chất kỹ thuật cực kỳ giá trị, hoạt động tạitrên 30 quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam), giao dịch với hơn 30 sảnphẩm khác nhau, sở hữu 38 nhà máy điện, gần 60 vạn km đường ống dẫn dầu vàkhí đốt, hàng loạt các công ty con về các ngành kinh doanh khác như giấy, thép,hóa dầu, nhựa…

Đối với các công ty có chứng khoán phát hành trên thị trường, sứckhỏe của công ty thường được đo lường thông qua giá của chứng khoán công

ty trên thị trường Từ năm 1985 đến cuối năm 2001, giá cổ phiếu của công

ty liên tục tăng lên:

 Giá cổ phiếu Enron tăng vùn vụt, từ đầu thập niên 1990 đến cuối năm

1998 đã nhảy vọt 311%, vượt trội so với tỷ lệ tăng trưởng của chỉ số S&P

500 Trong 2 năm bản lề thiên niên kỷ, giá cổ phiếu Enron tăng tiếp 56% và87%, trong khi chỉ số S&P tăng 20% vào năm 1999 và giảm 10% vào năm

2000 Enron tiếp tục là ngôi sao sáng chói trên TTCK

 Giá cổ phiếu của Enron lên đến đỉnh cao 90 đô la vào tháng 8/2000 Tớingày 31/12/2000, cổ phiếu Enron có giá 83,13USD/cổ phiếu và vốn hóa thịtrường của công ty vượt mốc 60 tỷ USD, cao gấp 70 lần thu nhập và 6 lần giátrị sổ sách, cho thấy TTCK kỳ vọng nhiều vào triển vọng tương lai củaEnron Thêm vào đó, Enron 6 năm liền được cuộc khảo sát của Tạp chíFortune đánh giá là “Công ty sáng tạo bậc nhất Hoa Kỳ”

 Một năm sau đó, vào tháng 10/2001 công ty thông báo lỗ 638 triệu đô

la trong quý 3/2001 và giá trị vốn cổ đông giảm 1,2 tỉ đô la Bức màn bắtđầu được hé mở

Trang 7

 Tháng 11/2001 giá cổ phiếu của công ty tụt xuống dưới 1 đô la Tháng12/2001 công ty tuyên bố trạng có thể phá sản và cho nghỉ việc hàng ngànnhân viên.

 Tháng 1/2002 Bộ Tư pháp Hoa Kỳ bắt đầu cuộc điều tra hình sự vềcông ty Enron

Trên con đường phát triển và mở rộng lĩnh vực hoạt động, việc kinhdoanh của Enron ngày càng mang thêm nhiều rủi ro Trong việc kinh doanhvận chuyển qua hệ thống đường ống, cả lượng và giá đều ổn định Nhưngtrong lĩnh vực buôn bán khí đốt và xăng dầu, giá cả dao động rất mạnh đồngthời số lượng cũng dao động do sức ép cạnh tranh

Sự phát triển của Enron:

Đường ống sở hữu (dặm) 37.000 32.000

Các nhà máy điện đang hoạt động 1 14 (tại 11 quốc gia)

Các nhà máy điện đang xây dựng 1 51 (tại 15 quốc gia)

Xếp hạng công ty (Fortune 500) không 18

Các nhân vật chính của công ty Enron:

Kenneth Lay là Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Enron Lay sinh năm

1942, tốt nghiệp đại học Missouri năm 1964 Đây là nhân vật đứng đầutrong vụ khủng hoảng này Lay là Tổng Giám đốc ngay từ ngày đầu thànhlập công ty Cá nhân có mối quan hệ mật thiết với nhiều chính trị gia hàngđầu trong Chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ, đặc biệt là trong Đảng Cộng hòa,Ken Lay là người đi đầu trong những cuộc vận động đóng góp tài chínhcho các chiến dịch tranh cử Để đổi lại, Ken Lay vận động cho các chính sách

có lợi cho công ty mình, đặc biệt là chính sách nới lỏng kiểm soát của nhà

Trang 8

nước (deregulation) trong lĩnh vực năng lượng.

Thu nhập của Ken Lay được thể hiện trong một số thông tin sau:

• Thu nhập: USD89.120.000 trong 5 năm từ 1996-2000

• Riêng năm 2000 thu nhập 50 triệu đô la, trong đó lương và thưởng

là 5,2 triệu, phần còn lại là thu nhập từ cổ phiếu công ty

• Cổ phần trong công ty (năm 2000) là 138 triệu, tương đương 0.28%tổng cổ phần của công ty

• Năm 1999 đứng thứ 46 trong các lãnh đạo có thu nhập cao nhất

• Năm 2000 đứng thứ nhất về thu nhập trong số các lãnh đạo ngànhnăng lượng

• Vài tháng trước khi công ty tuyên bố tình trạng phá sản vào tháng12/2001, Lay đã bán 71% số cổ phiếu của mình và thu được lợi nhuận 90triệu đô la Hầu hết trong số 287 vụ giao dịch mua bán này không đượccông bố và chỉ được tiết lộ vào tháng 2/2002 Vào đầu năm 2001, Laybán được 79 đô la mỗi cổ phiếu Vào cuối năm 2001, mỗi cổ phiếu chỉcòn trị giá 0,6 đô la

Andrew Fastow nguyên là Giám đốc Tài chính của Enron từ năm

1998 và bị đuổi việc tháng 10/2001 Fastow được coi là kiến trúc sư thiếtlập ra hệ thống tài chính nằm ngoài bảng cân đối kế toán của Enron Sinhtháng 12/1961, Fastow tốt nghiệp ngành kinh tế và tiếng Hoa tại đại họcTufts năm 1984, tốt nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh tại đại học Tây Bắcnăm 1987 (cả hai đều là những trường hàng đầu ở Hoa Kỳ) Bắt đầu làmcho Enron năm 1990 và trở thành thân cận với Jeffrey Skilling, người saunày là Tổng Giám đốc của Enron Bị khởi tố tháng 10/2002 với 78 tội danh,trong đó có tội đồng lõa, gian lận, rửa tiền Fastow ban đầu từ chối hợp tácvới cơ quan điều tra nhưng đã thay đổi thái độ khi vợ mình bị khởi tố vàotháng 5/2003 Tháng 1/2004 Fastow chấp nhận tội danh đồng lõa để hyvọng đạt được một thỏa thuận án tù 10 năm

Trang 9

Lea Fastow, sinh năm 1961, là vợ của Andrew Fastow, Lea có bằng

Thạc sĩ Quản trị kinh doanh và đã cùng làm việc với chồng tại ngân hàngContinental Illinois và tiếp theo là tại Enron Sau khi rời Enron năm 1997,Lea kinh doanh cửa hàng thực phẩm và bất động sản Hai vợ chồng có haicon trai, 5 tuổi và 8 tuổi Lea bị khởi tố tháng 5/2003 và bị kết án 1 năm tù vìthú nhận trong khi khai thuế cá nhân năm 2000 đã che giấu 47.800 đô la thunhập Đây là một phần của số tiền 204.444 đô la đã không khai báo từ năm

1997 đến 2000

Ben Glisan là người phụ trách tài vụ của Enron và là nhân vật lãnh đạo

đầu tiên của công ty ra đứng trước vành móng ngựa Trong số các tội danh bịcáo buộc, Glisan thú nhận hai tội: đồng lõa và gian lận trong chuyển tiền.Được hưởng án tù 5 năm, Glisan trở thành cộng tác của cơ quan điều tra

Richard Causey nguyên là kiểm toán viên của Arthur Andersen ở

bang Texas, sau đó chuyển sang Enron và trở thành Kế toán trưởng công ty.Được coi là kiến trúc sư thiết kế ra các kế hoạch lừa dối cổ đông công ty,Causey bị khởi tố tháng 2/2004 với 31 tội danh nhưng đến nay vẫn khôngnhận có tội

Jeffrey Skilling là Giám đốc điều hành (COO) của Enron và là Tổng

Giám đốc công ty trong 6 tháng từ 2/2001 đến 8/2001 Gia nhập Enron năm

1990, Skilling được coi là kiến trúc sư trong việc biến Enron từ một hãngvận chuyển đường ống tầm thường trở thành một công ty thương mại côngnghệ cao đầy quyền lực Skilling bị khởi tố tháng 2/2004 với 35 tội danh,trong đó có tội đồng lõa, gian lận, và buôn bán nội gián

Joe Beradino sinh năm 1950, tốt nghiệp đại học Fairfield năm 1972

và bắt đầu làm kế toán cho Andersen với mức lương 11 ngàn đô la mộtnăm Trở thành một thành viên đối tác năm 1982 và được bầu làm TổngGiám đốc vào tháng 1/2001 với 90% số phiếu bầu Beradino từ nhiệm tháng3/2002 sau khi xảy ra những bê bối khổng lồ tại hai khách hàng củaAndersen là Enron và WorldCom

Trang 10

Kế toán của Enron:

Doanh thu: Giá cả trong ngành năng lượng dao động rất mạnh,

trong khi khách hàng có nhu cầu ổn định giá Với tư cách là một nhàcung cấp, Enron đã ký những hợp đồng cố định giá với khách hàngtrong tương lai và thu phí từ những hợp đồng này Những phí này đượctính vào doanh thu hiện tại, trong khi rủi ro trong tương lai Enron sẽphải gánh chịu

Đầu tư: Với chiến lược tăng trưởng nhanh, Enron tích cực mua

thêm các công ty và tài sản khác Một phần lớn vốn vay từ ngân hàng.Một phần vốn do công ty phát hành quyền chọn mua cổ phiếu của công

ty Việc phát hành quyền chọn làm tăng động lực để đánh giá công ty vớicái nhìn tích cực hơn

Các công ty con: còn gọi tắt là SPE (Special Purpose Entity) được

Enron thành lập ra để đứng tên tài sản, đồng thời gánh chịu và cô lậpcác rủi ro tài chính Ví dụ, khi Enron phát triển thêm đường ống, công

ty có thể lập ra một SPE Đơn vị SPE này sẽ làm chủ đường ống và thếchấp ngay ống này để vay tiền xây dựng Enron vẫn được sử dụng đườngống này và lấy doanh thu từ đường ống để thanh toán cho chủ nợ Theocách này, bảng cân đối kế toán của công ty không thể hiện cả tài sản(đường ống) lẫn trách nhiệm nợ tương ứng

Luật kế toán liên quan đến SPE: Theo các qui định kế toán,

trong tổng vốn của công ty con phải có ít nhất 3% cổ phần của Enron.Nhưng nếu cổ phần của Enron chỉ ở dưới 50% tổng cổ phần của SPE, sổsách của Enron không phải thể hiện tài sản và trách nhiệm nợ của SPE

Sự lạm dụng các SPE: Tuy số lượng các SPE đã tăng lên trong

nhiều năm qua, các chuyên gia cho là một công ty có đến bốn hay nămđối tác như vậy đã là quá nhiều Vào thời điểm sụp đổ, Enron có đến 900SPE, hầu hết đặt ở các nước ưu đãi thuế hay dễ dãi về luật kế toán Enron

Trang 11

sử dụng những SPE này để thao túng các báo cáo tài chính, che giấucác nhà đầu tư những thông tin lẽ ra phải công bố, và khai thác các khácbiệt về luật kế toán tài chính cũng như luật kế toán thuế.

Nợ của công ty con: Dù cho chỉ có rất ít vốn chủ sở hữu, các SPE

có thể vay ngân hàng do hai lý do Thứ nhất, các chủ nợ tin tưởng làEnron đã ký hợp đồng sử dụng tài sản của SPE nên hoạt động của SPEđược bảo đảm Thứ hai, họ tin là Enron đã bảo lãnh rủi ro cho các khoảnvay của SPE

Nợ của Enron: Bản thân Enron cũng đi vay để phát triển mở rộng,

nhưng một công ty không thể vay quá nhiều do các điều khoản hạn chếcủa chủ nợ Enron đã sáng tạo ra một xảo thuật hợp pháp trong đó Enron,SPE, và công ty JP-Morgan đã dùng các hợp đồng hoán chuyển làm cho

nợ dài hạn được thể hiện trên bảng cân đối như “trách nhiệm chứngkhoán”

Thổi phồng doanh thu và lợi nhuận: Enron bán tài sản cho các SPE

với giá đã được thổi phồng lên để tạo ra lợi nhuận giả tạo Công ty cũngmua qua bán lại với SPE để tăng doanh số và giảm bớt mức độ dao độngcủa lợi nhuận

Che dấu thua lỗ: Tuy đến quý 3/2001 công ty mới báo cáo lỗ,

nhưng thực chất lỗ đã phát sinh từ các năm trước Đặc biệt là vào cuộckhủng hoảng nhiên liệu năm 2000, khi giá nhiên liệu thế giới lên caonhưng Enron vẫn phải bán ra với giá cố định theo các hợp đồng đã kýtrước Công ty đã dùng các thủ thuật hợp đồng để chuyển những khoản lỗnày sang các SPE Tuy nhiên, khi các SPE thua lỗ thì trị giá cổ phần củaEnron trong SPE giảm xuống dưới mức tối thiểu 3% theo yêu cầu ViệcEnron phải hợp nhất tình hình tài chính của SPE vào báo cáo tài chính củacông ty mẹ gây ra hai tác động: nợ của công ty mẹ tăng lên và lợi nhuậncủa công ty mẹ giảm xuống

Trang 12

Phản ứng dây chuyền: Enron cũng cho các SPE “vay” các cổ

phiếu của mình, khi giá cổ phiếu của Enron giảm xuống, tài sản của cácSPE tiếp tục giảm xuống và tiếp tục vi phạm quy định về 3% đến mứcphải hợp nhất vào báo cáo của Enron

2.2 Cơ cấu quản trị

2.2.1 Thời kỳ của Lay - Kinder: 1990 – 1996

Kinder gia nhập đội ngũ lãnh đạo của Enron vào năm 1990 và ngay lậptức đã đưa ra một chiến dịch cắt giảm chi phí để cải thiện tình trạng thiếu vốn

và nợ ngập đầu của Enron Với tài năng của mình, ông đã thực hiện chiến dịchnày rất thành công Ông đã bao quát được các hoạt động đa dạng của công ty

và hướng nhân viên ở tất cả các cấp tới việc đạt được chỉ tiêu tài chính chotừng quý Trong suốt nhiệm kỳ Tổng giám đốc của ông từ năm 1990 đến 1996,doanh thu của Enron đã tăng từ 5.3 tỷ USD lên 13.38 tỷ USD, lợi nhuận tăng

từ 202 triệu USD lên 584 triệu USD

Phong cách quản trị của Kinder hướng tới cả con người và số liệu tàichính Mỗi sáng thứ 2 hàng tuần, ông tổ chức một cuộc họp nơi mọi lãnh đạocác đơn vị kinh doanh của Enron đều phải tham gia đóng góp ý kiến và phải

có sự chuẩn bị trước về các số liệu, kế hoạch, chiến lược… Kinder có một trínhớ đáng nể khi ông có thể nhớ ra ngay những sự kiện và số liệu của nhữnggiao dịch từ vài năm trước đó Một nhân viên kỳ cựu của Enron đã từng nói:

“Kinder có thể ngồi trong phòng của ông mà vẫn nắm được mọi việc xảy ratrong công ty” Ông thưởng và thăng chức cho những người quản lý giỏi, cũngnhư phân bổ nguồn lực cho các dự án một cách rất hợp lý

Kinder được biết đến trong toàn công ty như một người rất coi trọng kỷluật cũng như nắm rõ mọi lĩnh vực của công ty Ông đặc biệt chú trọng vàocác yếu tố chi phí, dòng tiền cũng như luôn quan tâm sát sao đến tình hìnhnhân sự của công ty Trong năm 1990, Enron tuyển gần 7000 nhân viên và báocáo khoản lợi nhuận gần 200 triệu USD Tới cuối năm 1996, Enron đã báo cáokhoản lợi nhuận ròng lên đến hơn 600 triệu USD trong khi chỉ tuyển thêm 500

Trang 13

nhân viên Ông tự mình đảm đương tất cả giao dịch với các ngân hàng, cácchuyên gia phố Wall và các nhà định giá trái phiếu…

Với phong cách quản trị này, đội ngũ quản trị tối cao luôn hết sức chú ýtới các báo cáo của đội ngũ quản lý như những chiến lược kinh doanh, những

đề xuất về vốn, ngân sách, báo cáo thống kê, kết quả kinh doanh… vớiphương châm hỏi đáp, xem xét, thảo luận, tranh luận trực tiếp để đúc kết rađược những ý tưởng, chiến lược mới

Như vậy, chủ tịch Kenneth Lay, thông qua mối quan hệ rộng rãi với giớiquan chức chính phủ, đóng vai trò quan trọng trong công tác đối ngoại củaEnron Trong khi đó, Kinder, bằng khả năng quản trị tuyệt vời, đã thực hiệnxuất sắc công tác đối nội Lay và Kinder là sự bổ sung hoàn hảo cho nhautrong đội ngũ quản trị tối cao của Enron thời kỳ này

2.2.2 Thời kỳ của Lay – Skilling: 1996 – 2002

2.2.2.1 Sơ lược

Jeff Skilling có một tầm ảnh hưởng lớn trong sự phát triển mô hìnhkinh doanh chiến lược của Enron Vào những năm 80 khi đang là một nhà

tư vấn trong ngành công nghiệp khí đốt, Skilling đã nhận thấy một nghịch

lý trong thị trường này và ông đã nảy ra ý tưởng thành lập một Ngân hàngkhí đốt để thâu tóm đầu ra và đầu vào của ngành này Kenneth Lay rất thích

ý tưởng này và vào năm 1989, Enron đã thành lập Ngân hàng khí đốt.Thành công nhanh chóng đến, cuối năm 1990 Enron đã ký hợp đồng với 35nhà sản xuất và 50 khách hàng lớn Thành công này đã thúc đẩy Lay thuêSkilling về phụ trách bộ phận kinh doanh, gọi là Enron Finance Corporation(EFC) Với sự lãnh đạo của Skilling, Enron đã có sự chuyển mình lớn Năm

1996 (năm Kinder ra đi), hoạt động thương mại chiếm 91% doanh thu báocáo, 54% lợi nhuận trước thuế và 62% tài sản Tới cuối 2000, hoạt độngthương mại chiếm 99% doanh thu, 88% lợi nhuận trước thuế và 80% tàisản, doanh thu báo cáo tăng từ 11,904 triệu USD vào năm 1996 lên gần100,000 triệu USD vào năm 2000, gấp 10 lần Enron phần lớn đã chuyển

Trang 14

thành 1 công ty phố Wall thực sự, chuyên về chứng khoán phái sinh, quyềnchọn…

2.2.2.2 Công tác quản trị dưới thời Skilling

 Sự tôn trọng: chúng ta tôn trọng người khác như chính bản thân.Chúng ta không dung thứ cho các hành vi lăng mạ, thiếu tôn trọng ngườikhác

 Sự chính trực: chúng ta làm việc với khách hàng một cách cởi mở,trung thực và chân thành Khi chúng ta nói là chúng ta làm, chúng ta sẽ làm,khi chúng ta nói chúng ta không làm nghĩa là chúng ta sẽ không làm

 Sự ưu tú: chúng ta không thỏa mãn nếu không đạt kết quả tốt nhất

ở mọi lĩnh vực chúng ta làm Có rất nhiều điều thú vị khi chúng ta tự khámphá chúng ta giỏi ra sao

Quy tắc này được ký và xác nhận lại hàng năm bởi mọi nhân viên Enron

Hệ thống đánh giá năng lực

Một trong những công cụ của hệ thống quản trị của Enron giai đoạn này

là Hệ thống đánh giá năng lực (Peer Review Committee – PRC) Skilling chỉmuốn giữ lại những nhân viên ưu tú nhất, những người đem lại lại nhuậnnhiều nhất Cứ mỗi 6 tháng, 1 hoặc 2 trong số mỗi 10 nhân viên sẽ bị sa thải.Sáu tháng một lần, mỗi nhân viên sẽ nhận một bản đánh giá năng lực, trong đó

họ sẽ chọn ra 5 đồng nghiệp, cấp trên hoặc cấp dưới để đưa ra phản hồi tới hộiđồng Những phản hồi này có thể gồm những yếu tố về sự sáng tạo, hiểu biết

về sản phẩm, kỹ năng quan hệ khách hàng, tính độc lập, khả năng làm việc

Trang 15

theo nhóm, và đặc biệt là tăng trưởng doanh thu Tất cả thông tin sẽ được thuthập để đưa ra đánh giá cuối cùng theo thang điểm từ 1 đến 5 Điểm 1 đồngnghĩa với việc nhân viên đó sẽ bị sa thải.

Chế độ thưởng

Tính cạnh tranh do hệ thống PRC đem lại càng được tăng thêm bởi chínhsách thưởng của Enron Chính sách này dựa trên cơ sở dữ liệu của PRC cũngnhư tình hình kinh doanh của công ty để quyết định mức thưởng của mỗi nhânviên Mức thưởng có thể dao động từ 10 đến 26% thu nhập ròng Không hềngạc nhiên khi các nhân viên sẽ dựa vào một vài thủ thuật để điều chỉnh đánhgiá xếp hạng nhằm có được tiền thưởng Sự nghi ngờ và cạnh tranh dâng caotrong nội bộ Enron, lan ra khắp các bộ phận càng khiến cho tình hình tài chínhthực sự của công ty được che đậy kỹ lưỡng Không ai khác ngoài bộ máy quảntrị tối cao có thể hình dung được cụ thể sức khoẻ của công ty

Tổ đánh giá và quản lý rủi ro (Risk Assessment & Control Group – RAC)

RAC có trách nhiệm phê chuẩn các giao dịch thương mại cũng như kiểmsoát rủi ro tổng thể của Enron Mọi giao dịch đều phải được miêu tả thông quanhững thông tin: dữ liệu kinh tế, mô hình dòng tiền, giá trị giao dịch, suất sinhlời, rủi ro thành phần… Về cơ bản, RAC đã thay thế cho cuộc họp mỗi sángthứ 2 với các trưởng bộ phận kinh doanh dưới thời của Kinder

Các nhà phân tích RAC được yêu cầu tiến hành các đánh giá độc lập đểđưa ra quyết định cho mỗi giao dịch Trong đó, các giao dịch đòi hỏi phải quanhiều cấp phê duyệt, giao dịch lớn nhiều khi phải được ban giám đốc phêduyệt

2.2.2.3 Văn hoá doanh nghiệp thay đổi

Dưới thời Skilling, văn hoá doanh nghiệp của Enron đã tiếp nhận tất cảcác đặc điểm của một tổ chức thương mại phố Wall hiếu chiến: nhân viên đặtlợi ích của bản thân lên trên lợi ích cổ đông, bỏ qua những chiến lược kinhdoanh, lợi nhuận dài hạn mà chỉ chăm chăm tới lợi nhuận ngắn hạn, bỏ qua

Trang 16

những nguyên tắc quản lý rủi ro Nó phản ánh đúng nhân cách của Skilling –

ăn thua đến cùng, cá nhân, tham vọng, sẵn sàng chấp nhận rủi ro Thực tếtuyển dụng nhân sự giai đoạn ấy cũng cho thấy điều này Giữa những năm 90,Enron đã tạo được danh tiếng là một nơi làm việc hào hứng, năng động.Skilling chỉ tuyển dụng những người giỏi nhất, sáng giá nhất, với những camkết hấp dẫn về chế độ lương thưởng, đãi ngộ Nhưng đi kèm với đó là nhữngđòi hỏi rất cao về chỉ tiêu, năng lực khiến nhân viên phải nỗ lực hết mình,thậm chí phải trở nên nhẫn tâm mới có thể đạt được chỉ tiêu

Sau khi Kinder ra đi năm 1996, một không khí doanh nghiệp rất khác đãlan ra khắp Enron Nó đã vô hiệu hoá và phá hoại cấu trúc doanh nghiệp vữngmạnh mà ông đã xây dựng trước đây Nói tóm lại, sự thay đổi cấu trúc doanhnghiệp và phong cách quản trị của Enron chính là điểm trọng yếu trong sự sụp

đổ của Enron

Trang 17

3 SỰ SỤP ĐỔ CỦA TẬP ĐOÀN ENRON

3.1 Diễn biến sự sụp đổ của Tập đoàn Enron

Thành công đáng kể nhất của Enron là trong khoảng thời gian 1997 – 2000.Trong khoảng thời gian này giá cổ phiếu của Enron tăng từ dưới 20 USD lên trên

80 USD Năm 2000 giá thị trường của Enron đạt 77 tỷ USD Lợi nhuận của công

ty cũng tăng rất nhanh, từ 20 tỷ USD trong năm 1997 lên 101 tỷ USD trong năm

2000, tăng hơn năm lần chỉ trong vòng bốn năm, là một trong bảy công ty Mỹ códoanh số hơn 100 tỷ USD

Trên con đường phát triển và mở rộng lĩnh vực hoạt động, việc kinh doanhcủa Enron ngày càng mang thêm nhiều rủi ro Diễn biến sự sụp đổ của Tập đoànEnron cụ thể:

3.1.1 Năm 2000

Tháng 3: CEO Enron, Kenneth Lay bị cáo buộc gian lận báo cáo hàngnăm năm 1999 Jeffrey Skilling, giám đốc điều hành (COO) của Enron bị cáobuộc có dấu hiệu gian lận cho Arthur Andersen LLP về dữ liệu tài chính năm1999

Tháng 8, giá cổ phiếu Enron leo cao mức kỷ lục: 90 USD/cổ phiếu

Tháng 8 và tháng 11, Kenneth Lay tiếp tục bị cáo buộc gian lận báocáo tài chính hàng quý cho quý II và III năm 2000

3.1.2 Năm 2001

Ngày 10/1, Tòa Bạch Ốc chính thức thông báo lãnh đạo tập đoànEnron, ông Kenneth Lay đã từng liên hệ với giới chức cao cấp của chínhquyền Bush, trong đó có Bộ Trưởng Ngân Khố Paul Oneil và Bộ TrưởngThương Mại Don Evans để tìm kiếm sự giúp đỡ, xin Chính phủ can thiệp tàichính để thoát khỏi bờ vực phá sản nhưng đều bị hai Bộ Trưởng từ chối

Ngày 22 – 25 tháng 1, COO Enron, J.Skilling liên tục đưa ra các yêucầu gian lận các báo cáo tài chính nhằm dối gạt các nhà đầu tư

Ngày đăng: 06/11/2018, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w