LỜI MỞ ĐẦUTrong những năm qua thì vai trò của ngân sách Nhà nước đã được thể hiện rõ trongviệc giúp Nhà nước hình thành các quan hệ thị trường góp phần kiểm soát lạm phát, tỷ lệ lãisuất
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH 2
Trang 2KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH 2
Trang 3DANH SÁCH NHÓM
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua thì vai trò của ngân sách Nhà nước đã được thể hiện rõ trongviệc giúp Nhà nước hình thành các quan hệ thị trường góp phần kiểm soát lạm phát, tỷ lệ lãisuất thích hợp để từ đó làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, đảm bảo sự ổn định và pháttriển của nền kinh tế Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì việc sử dụng ngân sáchNhà nước chưa đúng cách, đúng lúc, sự yếu kém trong việc quản lí thu chi ngân sách đã đặt racho chúng ta cần có cái nhìn sâu hơn về tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước Ảnh hưởngcủa bội chi ngân sách Nhà nước đến các hoạt động kinh tế-xã hội là hết sức rộng lớn
Để tìm hiểu rõ hơn về Cán cân ngân sách nhà nước nhóm chúng em đã thực hiện đề án
“Cán cân ngân sách” qua các tình trạng khác nhau của Ngân sách nhà nước cũng như nhữngảnh hưởng và giải pháp giải quyết các vấn đề do thâm hụt ngân sách gây ra bằng các chínhsách tài khóa thích hợp Qua đó rút ra tầm quan trọng của Ngân sách chính phủ đến nền tàichính quốc gia, quyết định sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội, đảm bảo an ninh quốcphòng thực hiện công bằng xã hội và tìm hiểu thêm về thực trạng Bội chi ngân sách của ViệtNam hiện nay
Trang 5
-LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đề án môn học, chúng em đã hiểu thêm được nhiều điều vềCán cân ngân sách của nhà nước qua các tình trạng khác nhau của Ngân sách nhà nước và những ảnh hưởng, giải pháp giải quyết các vấn đề do thâm hụt ngân sách gây ra bằng các chính sách tài khóa thích hợp để rồi thấy sự cần thiết của môn học cũng như yêu thích hơn về môn học này
Có được những kiến thức này phần lớn là nhờ sự giảng dạy nhiệt tình của thầy trong mỗi buổi học Chúng em trân trọng gửi lời cám ơn đến thầy phụ trách bộ môn Kinh tế vĩ mô
đã cho chúng em cơ hội để cùng nhau hoàn thành đề án môn học
Trang 6
-NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ, CHO ĐIỂM
(Của Giáo viên bộ môn)
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Điểm: ……….………(bằng chữ: … ……… ….)
…………, ngày tháng năm 20
CÁN BỘ- GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
(ký, họ tên)
Trang 7MỤC LỤC
1.1 Khái niệm Ngân sách nhà nước
1.2 Đặc điểm Ngân sách nhà nước
3 THẶNG DƯ NGÂN SÁCH (Bội thu ngân sách) 3
3.1 Thặng dư ngân sách
3.2 Chính phủ làm gì khi ngân sách thặng dư
4.1 Khái niêm thâm hụt gân sách
5.1 Định nghĩa cân bằng ngân sách
5.2 Cân đối ngân sách ở Việt Nam từ khi chuyển đổi sang
cơ chế thị trường đến nay
Trang 12-1-2 CÁN CÂN NGÂN SÁCH
- Được coi là một chỉ bảo về chính sách tài khóa
- Chênh lệch giữa tổng thu nhập mà chính phủ nhận được trừ đi tất cả các khoản mục chi tiêu
mà chính phủ thực hiện trong một thời kỳ nhất định
-Thuế ròng trừ đi chi tiêu chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ:
B = T - G
Cán cânngân sách Thuế ròng Chi tiêu
Trang 13-3-3 THẶNG DƯ NGÂN SÁCH (Bội thu ngân sách)
Thặng dư ngân sách của chính phủ là sự chênh lệch giữa khoản được chi tiêu (G) íthơn khoản thuế (T) mà chính phủ thu được trong một giai đoạn nhất định
Chính phủ phải sử dụng ngân sách để điều tiết nền kinh tế đưa nó về trạng thái cân bằng toàn dụng để tránh suy thoái kinh tế (do Y<Yp) cũng như kích thích tổng cầu bằng các chính sách tài khóa
3.2 Chính phủ làm gì khi ngân sách thặng dư
Chính phủ phải đối mặt với các tùy chọn khác nhau cho những gì để làm với các quỹ thặng dư ngân sách
Một lựa chọn, nếu chính phủ thâm hụt ngân sách trong quá khứ, là sử dụng các quỹ thặng dư để nghỉ hưu nợ tích lũy từ những thâm hụt, như Mankiw thảo luận trong cuốn sách của ông Ngoài ra, chính phủ có thể lựa chọn để hoàn trả các khoản tiền thặng dư cho người nộp thuế, cá nhân và doanh nghiệp thêm tiền, mà họ có thể chi tiêu hoặc đầu tư khi họ chọn
Quan điểm này nhìn thấy một thặng dư ngân sách như là một sự phản ánh thuế quá mức và do đó, một nhu cầu hoàn trả lại trả tiền quá nhiều cho người nộp thuế
Một lựa chọn thứ ba cho chính phủ sẽ chỉ đạo các quỹ thặng dư đối với chi tiêu khác, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng được cải thiện, các chương trình trong nước mới hoặc chi tiêu quốc phòng bổ sung Hiệu quả kinh tế của chi tiêu chính phủ bổ sung phụ thuộc rất nhiều về cách hoạch định chính sách cấp phát tiền
Sử dụng chính sách tài khóa: MỞ RỘNG TÀI KHÓA
kết hợp công cụ Thuế T và chi tiêu chính phủ G
TĂNG CHI TIÊU G
-Thi công các hợp đồng kinh tế
-Phát triển cơ sở hạ tầng
-Tăng cường các chương trình giáo dục và phúc lợi …
-Gói hỗ trợ kích cầu…
GIẢM THUẾ T
-Quan điểm này nhìn thấy một thặng dư ngân sách như là
một sự phản ánh thuế quá mức và do đó, một nhu cầu hoàn
trả lại trả tiền quá nhiều cho người nộp thuế
-Giảm thuế để kích cầu:
Trang 14-4-Thuế thu nhập cá nhân
Thuế xuất nhập khẩu
Thuế doanh nghiệp…
3.3 Ví dụ về ngân sách chính phủ nước Anh năm 2012
Nước Anh thặng dư ngân sách cao nhất 4 năm (2012)
Dù bất ổn diễn ra gần đây, chính sách tài khóa Anh dường như hoạt động tốt
Theo số liệu cơ quan thống kê Anh, ngân sách chính phủ tháng 1 thặng dư 7,8 tỷ bảng (12,36 tỷ USD) Kết quả này cao hơn mức 6,4 tỷ bảng các nhà kinh tế dự đoán trước đây và làm mức thặng dư ngân sách cao nhất trong 4 năm
Trong đó, thu thuế tăng 1,7 tỷ bảng lên 60,9 tỷ bảng, cao nhất kể từ 1998, do tăng từ thu thuế thu nhập cá nhân và doanh nghiệp Chi tiêu công tăng nhưng với tốc độc chậm hơn
Việc Anh thặng dư ngân sách cho thấy dù bất ổn diễn ra gần đây, chính sách tài khóa của Chính phủ đạt hiệu quả tốt
Nợ Chính phủ hiện là 93,5 tỷ bảng, thấp hơn cùng kì năm ngoái 15,7 tỷ bảng Hai tháng nữa Anh kết thúc năm tài chính (tháng 4), số nợ trên thấp hơn mức dự đoán 127 tỷ bảngcủa cả năm
Bộ trưởng bộ tài chính Anh George Osborne
Trang 15B < 0 :Thâm hụt ngân sách (B là hiệu số giữa thu và chi)
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân sách nhà nước là đảm bảo sự cân đối giũa thu và chi Tuy nhiên do khả năng nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm, thời kỳ vừa qua (1976 đến nay) các nhu cầu chi lại tăng nhanh nên ngân sách nhà nước mới bội chi kinh niên.Thâm hụt ngân sách cũng là hiện tượng phổ biến ở các quốc gia trên toàn thế giới
4.2 Phân loại:
Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng…
Thâm hụt chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân
Ví dụ: khi nền kinh tế suy thoái tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên khi đó nguồn thu ngân sách từ thuế giảm trong khi chi ngân sách trợ cấp cho thất nghiệp tăng lên
4.4 Thực trạng thâm hụt ngân sách:
Giai đoạn trước năm 1986, thâm hụt ngân sách nhà nước luôn ở tình trạng cao quá mức, thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi thường xuyên, chi tiêu của Chính phủ Việt Nam phải dựa chủ yếu vào sự viện trợ của nước ngoài, đặc biệt là Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu
4.5 Các biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách:
Bội chi NSNN tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm bù đắpbội chi NSNN Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô Về cơbản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm xử lý bội chiNSNN như sau:
4.4.1 Vay nợ:
Vay nợ trong nước dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu
*Ưu điểm: Đây là phương pháp làm giảm bội chi ngân sách mà không phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế nên đây là phương pháp hiệu quả để kiềm chế lạm phát
*Nhược điểm: Việc khắc phục bội chi ngân sách bằng nợ tuy không gây ra lạm phát
trước mắt nhưng nó có thể làm tăng áp lực trong tương lai nếu như tỷ lệ nợ trong GDP liên tụctăng Và còn việc vay từ dân trực tiếp sẽ làm giảm khả năng khu vực tư nhân trong việc tiếpcận tín dụng, gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước, cái vòng nợ – trả lãi – bội chi sẽ làmtăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳsau…
Vay nợ nước ngoài phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằnghình thức tín dụng Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nướcngoài cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ, làm cạn dựtrữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá
Trang 16-6-4.4.2 In tiền (Vay ngân hàng):
Chính phủ khi bị thâm hụt ngân hàng sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù đắp, đáp ứng nhu cầu này Tất nhiên ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiến Việc này sẽ tăng thêm
cơ sở tiền tệ chính vì vậy nó được gọi là tiền tệ hóa thâm hụt
*Ưu điểm: Nhu cầu tiền để bù đắp ngân sách được đáp ứng một cách nhanh chong mà không
phải trả lãi, không phải gánh thêm những khoản nợ nần
*Nhược điểm: Việc in thêm và phát hánh thêm tiền sẽ làm cung tiến vượt quá cầu tiền, nó đẩy
cho vấn đề làm phạt không thể kiểm soát nổi Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi NSNN là dothiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây “tăng trưởng nóng” và khôngcân đối với khả năng tài chính của quốc gia
4.4.3 Dự trữ ngoại tệ:
Sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia (bao gồm ngoại tệ mạnh và vàng) để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước Đây là một trong những giải pháp tương đối chu toàn vừa đảm bảo ổn định tỷ giá vừa đảm bảo không gây ra phát Tuy nhiên đối với Việt Nam điều này không khả thi cho lắm do dự trữ ngoại tệ quốc gia đang ở mức thấp và tình trạng mất kiểm soát đối với thị trường ngoại tệ chợ đen còn nghiêm trọng Thông tin nhà nước giảm dự trữ ngoại tệ sẽ khiến cho tình trạng đầu cơ găm giữ ngoại tệ trở nên phổ biến và điều này sẽ khiếncho những cố gắng ổn đỉnh tỷ giá hối đoái thêm khó khăn
Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ NSNN Đây là một giảipháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chiNSNN và xuất hiện lạm phát Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tưvào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triểnkinh tế – xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí
Trang 17-7-không đầu tư Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoảnchi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi nàykhông hiệu quả và chưa thực sự cần thiết
Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách vĩ mô vànâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế Để thực hiện vai trò của mình,nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác độngvào đời sống kinh tế – xã hội, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng nhưđời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăngtrưởng kinh tế với giữ gìn môi trường v.v Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát làmột vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối vớiquản lý NSNN nói chung và xử lý bội chi NSNN nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết
4.5 Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách tới nền kinh tế:
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội với, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh tếthị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối toàn bộ nền kinh tế, xã hội Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội
Tại sao cần giảm thâm hụt ngân sách?
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay đã tới mức đáng báo động Theo số liệu chính thức, thâm hụt ngân sách của nước ta hiện nay là 5% GDP (bao gồm cả tiền trả nợ gốc
và không bao gồm các khoản chi ngoài dự toán) Thế nhưng theo ước tính của Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB) thì thâm hụt ngân sách của Việt Nam- theo cách tính quốc tế, không bao gồm tiền trả nợ gốc nhưng bao gồm các khoản chi ngoài dự toán lên tới 7% Không những th luôn được duy trì ở mức cao, và đặc biệt tăng mạnh năm 2007
Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp bù đắp phù hợp với thực trạng hiện nay, khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nền tài chính quốc gia cũng được đổi mới
Trang 18-8-5 CÂN BẰNG NGÂN SÁCH 5.1 Định nghĩa cân bằng ngân sách
Cân bằng ngân sách là một vấn đề quan trọng đặt ra đối với mỗi nhà nước, nó đảm
bảo cho nhà nước đảm bảo thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình Nhưng ở từng thời
kì khác nhau thì chức năng và nhiệm vụ của nhà nước sẽ có sự thay đỗi, nó được mở rộng và nâng lên cùng với sự phát triễn của nền kinh tế Đặc biệt khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, Nhà nước có có sự can thiệp vĩ mô vào hoạt động kinh tế do đó, ngân sách nhà nước đã trở thành công cụ đắc lực để nhà nước can thiệp vào hoạt động kinh tế và vấn đề cân đối ngân sách nhà nước lại càng được quan tâm với nhiều học thuyết bàn về nó
Lý thuyết cổ điển về cân bằng ngân sách
Có hai nguyên tắc cơ bản:
1 Tổng số những khoản chi không được quá tổng số nhưng khoản thu
2 Tổng số những khoản thu của ngân sách không bào giờ được lớn hơn tổng số những khoản chi của ngân sách
Ngoài ra, thuyết này còn đòi hỏi ngân sách nhà nước phải được cân bằng tuyệt đối, cân bằng ngay cả khi lập dự toán và trong quá trình thực hiện, nếu chỉ cân bằng khi lập dự toán còn trong quá trình thực hiện lại không cân bằng thì không thể coi là cân bằng thật sự.
Các học thuyết hiện đại về cân đối ngân sách nhà nước
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường tự do cạnh tranh thì sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế đóng một vai trò rất quan trọng, đảm bảo cho sự ổn định và phát triễn của nền kinh tế, lúc này cân đối ngân sách lại trở thành một công cụ thiết yếu hơn Trong bối cảnh đó, quan điểm về cân dối ngân sách nhà nước cũng có nhiều thay đổi
5.2 Cân đối ngân sách ở Việt Nam từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường đến nay
Từ khi Đảng và nhà nước ta chủ trương chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xhcn, đặc biệt từ 1991 cho đến nay nền kinh tế xã hội đã có những chuyển biến rõ rệt
Về kinh tế: sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã tăng
Về xã hội: Trước thời kì đổi mới nước ta vẫn là một nước lạc hậu nghèo nàn với mức thu
nhập bình quân đầu người rất thấp và có nhiều người trong dạng nghèo đói.Nhưng sau khi đường lối đổi mới và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội viêc làm cho người lao động, dẫn đến nâng cao thu nhập cho người dân
1991: 122.5 USD/người
2000: 400 USD/người
2005: 637,3 USD/người
Nền kinh tế Việt Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, yếu kém chuyển dần sang
cơ cấu kinh tế mới theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa.Và khi nền kinh tế xa hội phát triển sẽ đảm bảo tốt nguồn thu ngân sách giúp nhà nước thực hiện các khoản chi cho các mục tiêu ngân sách đề ra, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước ở trạng thái cân bằng, ổn định
Trang 19-9-6 THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM từ năm 1986-2007
Giai đoạn trước năm 1986, tình hình tài chính nước ta trong tình trạng yếu kém, thukhông đủ, chi thường xuyên, thâm hụt NSNN cao quá mức, chi tiêu Chính phủ chủ yếu nhờvào sự viện trợ của nước ngoài là chính Đến giai đoạn từ năm 1986-1990, trước tình hình khókhăn về kinh tế và chính trị, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã cắt giảm dần viện trợcủa họ cho nước ta Trước tình hình khó khăn đó, Đảng ta tiến hành đổi mới cơ chế quản lýkinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường cóđịnh hướng XHCN Với những bước đi chập chững ban đầu, chính sách tài chính đã có đổimới một bước Tuy nhiên, thu NSNN càng không đủ chi và bù đắp thâm hụt NSNN khôngchỉ phải vay trong và ngoài nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành
Chính yếu kém về NSNN nêu trên, là một yếu tố quan trọng gây nên lạm phát trongthập kỉ 80 của thế kỉ XX Chi NSNN đã tăng cao tới mức bùng nổ ở trong những năm 1985-
1988, đã gây ra thâm hụt NSNN trầm trọng vì không có sự tăng lên tương ứng về số thu.Giai đoạn từ năm 1986 - 1990, khi mà tỷ lệ tích luỹ nội bộ nền kinh tế rất thấp (có thể nói làkhông đáng kể), làm không đủ ăn thì tỷ lệ chi đầu tư phát triển như ở đồ thị 1 là quá lớn vànguồn bù đắp cho thâm hụt NSNN lại chủ yếu do tiền phát hành thì lạm phát cao là điều khótránh khỏi
Đồ thị 6.1: Tổng bội chi NSNN và tiền phát hành để bù đắp bội chi NSNN (1985 - 1990)
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trong thời gian 5 năm 1986 - 1990, 59,7% mức thâm hụt này được hệ thống Ngân
hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền Năm 1984, phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngânsách là 0,4 tỷ đồng, năm 1985: 9,3 tỷ đồng, năm 1986: 22,9 tỷ đồng, năm 1987: 89,1 tỷ đồng,năm 1988: 450 tỷ đồng, năm 1989: 1655 tỷ đồng và năm 1990 là 1200 tỷ đồng Số còn lạiđược bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài (so với bội chi, khoản vay vàviện trợ năm 1984 là 71,3%, năm 1985 là 40,8%, năm 1986: 38,4%, năm 1987: 32,1%, năm1988: 32,6%, năm 1989: 24,9%, năm 1990 là 46,7%) và một số nhỏ do các khoản thu từ báncông trái trong nước
Mặc dù có nhiều cố gắng đáng kể trong năm 1989, nhưng tình trạng thiếu hụt NSNNvẫn trầm trọng Tổng chi đã tăng gấp đôi so với năm 1988, một phần do lạm phát chuyển từnăm 1988 sang và đã làm tăng giá đáng kể một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu do Nhà nướccung cấp Tất cả những phân tích ở trên cho thấy, có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát caotrong giai đoạn từ năm 1986-1990, trong đó có việc bù đắp thâm hụt NSNN bằng sự pháthành tiền như ở đồ thị 1