Trước thực tế đó là cán bộ quản lý trong trường mầm non tôi đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình với tiêu đề: “Quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ em các trường m
Trang 1TRẦN THỊ MAI HOÀI
QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI CHO TRẺ EM CÁC TRƯỜNG MẦM NON
QUẬN NAM TỪ LIÊM - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRẦN THỊ MAI HOÀI
QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI CHO TRẺ EM CÁC TRƯỜNG MẦM NON
QUẬN NAM TỪ LIÊM - HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Hải Hưng
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Phòng giáo dục
và Đào tạo quận Nam Từ Liêm và các đồng chí hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên trong quận, đã cung cấp số liệu quý báu, động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình viết luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng bản luận văn còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các nhà khoa học, cô giáo và đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, tháng … năm 2018
Tác giả
Trần Thị Mai Hoài
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Vậy tôi viết Lời cam đoan này kính đề nghị Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 xem xét để tôi được bảo vệ Luận văn theo đúng thời gian
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trần Thị Mai Hoài
Trang 5MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TRẺ EM TRONG TRƯỜNG MẦM NON 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non 7
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 7
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà trường 11
1.2.2 Trẻ em 13
1.2.3 Xâm hại trẻ em 15
1.2.4 Hoạt động phòng ngừa xâm hại trẻ em 16
1.2.5 Quản lý phòng ngừa xâm hại trẻ em 17
1.3 Giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non 17
1.3.1 Mục tiêu giáo dục phòng ngừa xâm hại 17
1.3.2 Nội dung giáo dục phòng ngừa xâm hại 18
1.3.3 Phương pháp, hình thức tổ chức 22
1.4 Vị trí, vai trò, chức năng của hiệu trưởng trường mầm non 24
Trang 61.5 Quản lý giáo dục phòng ngừa, xâm hại trẻ em của hiệu trưởng ở trường
mầm non 26
1.5.1 Mục tiêu quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non 26
1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non 26
1.5.3 Quản lý phương pháp, hình thức phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non 29
1.5.4 Cơ sở vật chất, thiết bị, các học liệu để tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ 30
1.5.5 Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non 31
1.6 Những yếu tố tác động tới việc quản lý giáo dục phòng ngừa, xâm hại trẻ em trong trường mầm non 33
1.6.1 Các yếu tố về kinh tế - xã hội xung quanh trường mầm non 33
1.6.2 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể đối với hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non 35
1.6.3 Năng lực của Hiệu trưởng trường mầm non ảnh hưởng đến hoạt động quản lý giá dục phòng ngừa xâm hại trẻ 35
1.6.4 Đội ngũ cán bộ, giáo viên mầm non 36
1.6.5 Cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi, trang thiết bị 38
1.6.6 Sự đồng lòng phối hợp, ủng hộ của phụ huynh học sinh 38
Kết luận chương 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI CHO TRẺ EM TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON, QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40
2.1 Vài nét khái quát về quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội 40
Trang 72.1.1 Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội 40
2.1.2 Khái quát về tình hình phát triển GD&ĐT quận Nam Từ Liêm 41
2.1.3 Đặc điểm giáo dục mầm non của Quận nam Từ liêm, Hà Nội 42
2.2 Mô tả khảo sát thực trạng 46
2.2.1 Mục đích khảo sát 46
2.2.2 Nội dung khảo sát 46
2.2.3 Phương pháp, mẫu khảo sát 47
2.2.4 Thang đánh giá 48
2.3 Thực trạng giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở các trường mầm non Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội 48
2.3.1 Thực trạng về mục tiêu giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ 48
2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ 51 2.3.3 Thực trạng về phương pháp GDPNXH cho trẻ 54
2.3.4 Thực trạng sử dụng phương tiện GDPNXH cho trẻ 55
2.3.5 Thực trạng hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ 57
2.3.6 Đánh giá chung thực trạng hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở các trường mầm non 59
2.4 Thực trạng quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn quận Nam Từ Liêm 61
2.4.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non 61
2.4.2 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục phòng ngừa xâm hại và chỉ đạo thiết kế xây dựng chương trình cho trẻ ở trường mầm non 63
2.4.3 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở trường mầm non 65
2.4.4 Thực trạng chỉ đạo giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở trường mầm non 67
2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá GDPNXH cho trẻ ở trường mầm non 70
Trang 82.4.6 Thực trạng đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi, các học liệu giáo
dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở trường mầm non 73
2.4.7 Đánh giá chung thực trạng quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở các trường mầm non 75
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở trường mầm non 78
Kết luận chương 2 81
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TRẺ EM TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 82
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 82
3.1.1 Đảm bảo tính hệ thống 82
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 82
3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa 82
3.1.4 Đảm bảo tính hiệu quả 83
3.2 Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong các trường mầm non quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội 83
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ QL, GV và ngành GD địa phương về giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em 83
3.2.2 Tuyên truyền phổ biến cho cộng đồng, gia đình về cách phòng ngừa xâm hại trẻ em 86
3.2.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở trường mầm non 91
3.2.4 Đổi mới kiểm tra đánh giá giáo dục phòng ngừa xâm hại ở trường mầm non 95
Trang 93.2.5 Chỉ đạo xây dựng môi trường làm việc thuận lợi cho giáo viên thực
hiện hoạt động giáo dục phòng ngừa cho trẻ 98
3.2.6 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung học liệu để tổ chức tốt giáo dục phòng ngừa xâm hại 100
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 102
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 104
3.4.1 Mục tiêu khảo nghiệm 104
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 104
3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 104
3.4.4 Tiến trình khảo nghiệm 104
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý GDPNXH cho trẻ ở các trường mầm non 106
3.4.6 Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho ở trường mầm non 109
Kết luận chương 3 112
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Giáo dục phòng ngừa xâm hại GDPNXH
Giáo dục thường xuyên GDTX
Quản lý giáo dục QlGD
Trung học cơ sở THCS
Trung học phổ thông THPT
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số lượng, trình độ của CBQL và giáo viên mầm non của
11 trường trên địa bàn Quận 44Bảng 2.2 Mức độ xây dựng mục tiêu GDPGXH cho trẻ ở trường mầm non 49Bảng 2.3 Mức độ thực hiện nội dung GDPNXH cho trẻ 52Bảng 2.4 Mức đánh giá các phương pháp GDPNXH cho trẻ ở trường mầm non 54Bảng 2.5 Mức đánh giá các phương tiện tổ chức GDPNXH cho trẻ 55Bảng 2.6 Mức đánh giá các hình thức tổ chức GDPNXH cho trẻ 57Bảng 2.7 Bảng tổng hợp thực trạng GDPNXH cho trẻ ở trường mầm non 59Bảng 2.8 Đội ngũ hiệu trưởng 05 trường nghiên cứu 61Bảng 2.9 Đội ngũ giáo viên 05 trường nghiên cứu 62Bảng 2.10 Mức độ thực hiện lập kế hoạch và thiết kế chương trình GDPNXH cho trẻ 64Bảng 2.11 Mức độ thực hiện tổ chức triển khai chương trình giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ 66Bảng 2.12 Mức độ chỉ đạo GDPNXH cho trẻ ở trường mầm non 69Bảng 2.13 Mức độ thực hiện kiểm tra, đánh giá quá trình GDPNXH 71Bảng 2.14 Mức độ thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi, các học liệu trong GDPNXH 73Bảng 2.15 Bảng tổng hợp đánh giá quản lý GDPNXH cho trẻ ở trường mầm non75Bảng 2.16 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý GDPNXH 79Bảng 3 1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý
GDNXH cho trẻ ở các trường mầm non 106 Bảng 3 2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý
GDPNX cho trẻ ở các trường mầm non 108
Trang 12Bảng 3 3 Bảng tổng hợp kết quả khảo nghệm giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý GDPNXH cho trẻ ở trường mầm non 110 Bảng 3 4 Biểu đồ mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý GDPNXH cho trẻ ở trường mầm non 110
Trang 13lo, nỗi niềm trăn trở của ngành giáo dục, của cha mẹ học sinh và toàn xã hội
Vì vậy, để bảo vệ trẻ em không bị xâm hại là một trong những vấn đề cần thiết cấp bách đối với xã hội hiện nay Đây là trách nhiệm không chỉ của mỗi
cá nhân mà của toàn xã hội Những người làm công tác liên quan đến trẻ em như cán bộ y tế, cán bộ xã hội, công an, người chăm sóc trẻ,… Đặc biệt là cha
mẹ, thầy cô giáo có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa, phát hiện, ứng phó với những nguy cơ bị xâm hại dưới mọi hình thức khác nhau
Ngày nay, xã hội càng phát triển thì vấn đề bảo vệ quyền của trẻ em càng được nêu cao nhất là quyền được bảo vệ khỏi bị xâm hại tinh thần và thân thể Nhưng song song với quyền được bảo vệ ấy thì những hành vi vi phạm quyền của trẻ em lại xảy ra ngày càng nhiều Xã hội càng phát triển thì càng kéo theo những con người hư hỏng, thiếu văn hoá và nhiều lắm những tên yêu râu xanh thường xuyên rình rập, đợi cơ hội để dở trò đồi bại, ngay cả những đứa trẻ đáng tuổi con, tuổi cháu của chúng Thật đáng sợ nếu như những hình ảnh đó ngày càng được truyền đi trên các phương tiện thông tin đại chúng và là nguồn thông tin khiến cha mẹ các em, người yêu thương và coi các em như những viên ngọc quý trở lên hoang mang, không biết còn tin
gì vào những con người sống quanh mình và họ cần hơn bao giờ hết những
Trang 14kiến thức, những hiểu biết về các kỹ năng để dạy con em mình tránh được những nguy hiểm đang rình dập Thật khó khi nói đến những vấn đề về giới tình, những vấn đề mà trẻ em lứa tuổi mầm non còn chưa thật sự hiểu hết được khi chúng còn quá nhỏ Chúng ta phải làm sao để trẻ hiểu và biết tự phòng tránh, tự bảo vệ bản thân khỏi những tình huống xấu, những tình huống
mà nếu xảy ra sẽ đem lại những hệ lụy cho chính bản thân trẻ, cho gia đình và cho xã hội Một bài toán khó đề ra cho tất cả những người đã và đang nghiên cứu về vấn đề này là phải làm sao tìm ra được giải pháp giúp những người làm cha, làm mẹ có hiểu biết đúng để truyền đạt lại cho con mình, giúp bé có những kỹ năng cần thiết trong việc bảo vệ chính mình
Giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em là một lĩnh vực khó chưa được đưa vào chương trình dạy phổ biến cho trẻ lứa tuổi mầm non Bên cạnh đó nhiều ý kiến cho rằng giáo dục giới tính cho trẻ em mầm non là quá sớm và ngại nhắc đến chuyện tế nhị này trước trẻ Để chất lượng giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có một đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên sâu, có nhiều kinh nghiệm, tự tin Với tình hình hiện nay, công tác giáo dục phòng ngừa xâm hại đang gặp rất nhiều khó khăn Khó khăn càng nhiều hơn với các giáo viên trẻ chưa xây dựng gia đình Trước thực tế đó là cán bộ quản lý trong trường mầm non tôi đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sĩ của mình với tiêu đề: “Quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ
em các trường mầm non quận Nam Từ Liêm – Thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về việc quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em các trường mầm non, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em các trường mầm non quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Trang 153 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ em
các trường mầm non quận Nam Từ Liêm
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại
cho trẻ em tại các trường mầm non quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp, khả thi thì hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong các trường mầm non quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em 5.2 Khảo sát thực trạng quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em và thực
trạng công tác quản lý giáo dục giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ em các trường mầm non, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
5.3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp quản lý giáo dục phòng ngừa
xâm hại cho trẻ em các trường mầm non, quận Nam Từ Liêm, thành phố
Hà Nội
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Chủ thể quản lý
Hiệu trưởng các trường mầm non
6.2 Giới hạn về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ em tại các trường mầm non quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
6.3 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu trên các trường mầm non công lập
Trên địa bàn Quận Nam Từ Liêm có 11 trường mầm non công lập Đề tài này nghiên cứu trên 05 trường mầm non công lập trong địa bàn quận
Trang 16+ Trường mầm non Tây mỗ A – phường Tây Mỗ
+ Trường Mầm non Phùng Khoang– phường Trung Văn
+ Trường Mầm non Đại Mỗ B – phường Đại Mỗ
+ Trường Mầm non Mỹ Đình I – phường Mỹ Đình
+ Trường Mầm non Xuân Phương – phường Xuân Phương
6.4 Giới hạn về đối tượng khảo sát
Nghiên cứu: 105 người
+ Ban giám hiệu:15 người (05 hiệu trưởng, 10 phó hiệu trưởng)
+ Tổ trưởng chuyên môn các khối: 20 người
+ Giáo viên: 70 người của 05 trường mầm non trên địa bàn Quận Nam
Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa một số các tài liệu: Các tài liệu liên quan đến lĩnh vực phòng ngừa xâm hại trẻ em, bảo vệ trẻ em của các nước cũng như ở Việt nam
Nghiên cứu các tài liệu về công tác quản lý phòng ngừa xâm hại trẻ em trong gia đình, cộng đồng, xã hội và nhà trường trong thời kỳ hiện nay
Phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Mục tiêu: Tìm hiểu thông tin của công tác quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ trong thực tế từ khâu chuẩn bị đến khâu tổ chức bằng phương pháp quan sát
Trang 17Đối tượng: Tham dự và quan sát trực tiếp việc triển khai các kế hoạch hoạt động, hoạt động của giáo viên trong quá trình giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ, kế hoạch sinh hoạt chủ đề, sự kiện
Nội dung: Việc quản lý tổ chức giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ ở trường mầm non Nhận định về khả năng nhận biết các hành vi xâm hại và kỹ năng phòng vệ khi có dấu hiệu bị xâm hại
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Mục tiêu: tìm hiểu mức độ nhận thức về tầm quan trọng của việc giáo dục phòng ngừa xâm hại và kĩ năng vận dụng nhận thức đó vào công tác quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại
Đối tượng: Cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) và giáo viên
Nội dung: Các phiếu hỏi được xây dựng với từng nhóm tìm hiểu với hệ thống câu hỏi cho các đối tượng trả lời
7.2.3 Phương pháp chuyên gia: tham vấn các chuyên gia trong lĩnh vực
có liên quan đến quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý và giáo
viên về thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ và hiệu quả của việc thực hiện các biện pháp đề xuất trong đề tài
7.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Nhằm kiểm chứng sự cần
thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.6 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phân tích, tổng hợp các bài
báo, bài viết, báo cáo, các đề tài trên tập san có liên quan đến đề tài
7.3 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu điều tra
Trang 188 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ em trong trường mầm non
+ Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ
em trong các trường mầm non quận Nam từ Liêm, Thành phố Hà Nội
+ Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ em trong các trường mầm non quận Nam từ Liêm, Thành phố Hà Nội
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TRẺ EM TRONG TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ
em trong trường mầm non
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước
Vấn nạn xâm hại trẻ em đang ở mức báo động ở các nước trên thế giới, ngay cả đối với các quốc gia hàng đầu trên thế giới Vì vậy, việc nghiên cứu
về xâm hại trẻ em và giáo dục về xâm hại trẻ em cũng được trở thành một vấn
đề cấp bách
Nghiên cứu của Tổng thư ký Liên hợp quốc về tình trạng bạo lực trẻ em cho thấy mức độ, quy mô của tình trạng xâm hại trẻ em trên phạm vi toàn cầu Đây là nghiên cứu đầu tiên lớn nhất cung cấp một bức tranh toàn cảnh về các hình thức và qui mô của của nạn bạo hành diễn ra hàng ngày đối với trẻ em Nghiên cứu chỉ ra rằng, bạo hành không chỉ diễn ra ở trương học, nơi công cộng mà nó còn diễn ra ngay chính trong gia đình của trẻ
“Đánh giá về tình trạng bạo lực trẻ em ở Đông Nam Á và Châu Á Thái
Bình Dương” do UNICEF tiến hành năm 2002 đã tiến hành nghiên cứ ở nhiều
nước khác nhau như Australia, Trung Quốc, Combodia, Indoxia, Việt Nam,… Nghiên cứu đã cho thấy hiện nay dữ liệu định lượng và định tính về tình hình bạo hành với trẻ em ở các quốc gia còn hạn chế Sự cởi mở và nhận thức về vấn đề bạo lực với trẻ em ở các quốc gia là khác nhau Và để có sự thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề này cần có một thời gian nhất định và cân
có sự nâng cao nhận thức của chính các em về xâm hại và những qui định khác trong công ước quốc tế về Quyền Trẻ em
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng trẻ bị xâm hại xảy ra ngày càng gia tăng trong xã hội Trẻ bị xâm hại ở rất nhiều môi trường khác nhau
Trang 20như ở nhà, ở trường học, ở các tổ chức, ở nơi làm việc, tại cộng đồng, trên đường phố, và ngay cả trên mạng Và những nghiên cứu đã có những thống
kê cụ thể về các vụ xâm hại trẻ em Trong báo cáo của tổ chức "Sáng kiến
toàn cầu nâng cao nhận thức về bạo lực ở trẻ em" cho biết, gần 3 trong 4 trẻ
em phải đối mặt với bạo lực mỗi năm Ông Cornelius Williams, Trưởng Ban
Bảo vệ Trẻ em của UNICEF cho biết “Tổn hại đối với trẻ em trên toàn thế
giới thực sự rất đáng lo ngại Trẻ nhỏ bị tát vào mặt; trẻ em gái và trẻ em trai
bị ép tham gia các hành vi tình dục; trẻ vị thành niên bị giết hại tại chính cộng đồng của các em – bạo lực đối với trẻ em không chừa một ai và không
có ranh giới”… Không chỉ tổ chức Unicef có những nghiên cứu về vấn đề
xâm hại trẻ em mà còn rất nhiều các tổ chức, cá nhân trên thế giới đã có các cuộc điều tra nghiên cứu về vấn đề này để từ đó có thể đưa ra những phương hướng hoạt động nhằm chấm dứt tình trạng này như nhóm Công tác toàn cầu chấm dứt bạo lực trẻ em; hay tổ chức cứu trợ trẻ em Thủy Điển đã phát hành cẩm nang “Hãy tôn trọng! Đây là cơ thể tôi”; dự án tuổi thơ do AusIAD và tổ chức tầm nhìn thế giới thực hiện…
Theo một đạo luật mới được ban hành ở Anh Quốc, giáo dục giới tính sẽ trở thành môn học bắt buộc trong giáo trình giảng dạy của tất cả các trường học trên toàn nước Từ năm 2010 trẻ em 5 tuổi bắt đầu được giáo dục giới tính với tên gọi của chương trình “Khóa học Nhà nước yêu cầu” cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở Chương trình học được chia làm 04 phần tương ứng với 04 độ tuổi Các bé sẽ được giảng dạy những điều căn bản về kha giải phẫu cũng như quan hệ nam nữ
Malaysia trẻ em được học giới tính từ khi lên 4 Chương trình học của các bé do Bộ phát triển Phụ nữ, Gia đình và Cộng đồng, Bộ Giáo dục, những chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ biên soạn
Trang 21Tóm lại, trên thế giới đề tài nghiên cứu về xâm hại trẻ em đã được rất nhiều các tổ chức, các nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhằm chấm dứt tình trạng bạo lực với trẻ em
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước Nhận thức được điều đó, Việt Nam đã là một trong các đất nước phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền Trẻ
em từ rất sớm vào năm 1990 Bên cạnh đó, nước ta còn có Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Ngoài ra nước ta cũng đã xây dựng và thực hiện chương trình hành động quốc gia vì trẻ em ở các cấp Việt Nam thừa nhận trẻ
em được hưởng mọi quyền cơ bản của con người thông qua hiến pháp và pháp luật Tuy nhiên vấn nạn xâm hại trẻ em tại Việt Nam ngày càng có tình trạng gia tăng Và chính điều đó trở thành một đề tài cấp thiết cho các ngành nghiên cứu khoa học nhằm đưa ra được định hướng trong giáo dục nhằm giảm thiểu tình trạng xâm hại trẻ em Tuy nhiên hầu hết các đề tài nghiên cứu vấn đề riêng lẻ như lạm dụng tình dục, xâm hại tình dục, bóc lột, bạo lực học đường…
Năm 2003, có nghiên cứu về “tình trạng lạm dụng trẻ em tại Việt Nam”
do Unicef thực hiện Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong đời sống tồn tại nhiều loại bạo lực trẻ em Phát hiện đáng chú ý nhất của nghiên cứu là tình trạng đánh trẻ nhằm “giáo dục” hay kỷ luật trẻ là khá phổ biến trong các nhà trường
và các gia đình Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các bậc phụ huynh đã có ý thức rằng phương pháp đánh trẻ để dạy dỗ trẻ là một phương pháp lạc hậu có thể gây ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ nhưng trên thực tế phương pháp này vẫn được áp dụng rộng rãi
Một trong những vấn nạn cấp thiết đang xảy ra tại nước ta chính là tình trạng lạm dụng tình dục hay chứng kiến bạo lực trẻ em đang ngày càng nhiều
Trong nghiên cứu “Thực trạng xâm hại trẻ em qua một số khảo sát nhanh tại
Trang 22Hà Nội” của chương trình phòng chống xâm hại tình dục trẻ em Hà Nội do tổ
chức Csap thực hiện đã chỉ ra một số các hình thức xâm hại trẻ em tại một số trường nội thành Khảo sát đã được tiến hành với 674 em học sinh cấp độ tuổi tiểu học và cấp 2 đã có kết quả các em bị người nhà đánh đập là 11%, bị sao nhãng là 4.2% Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tất cả các hình thức xâm hại đều xảy ra tại địa bàn nghiên cứu
Trong những năm gần đây bạo hành ở nhà trường đang có những diễn biến phức tạp Theo thống kê được báo cáo tại Hội Nghị Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 2 về phòng chống tai nạn thương tích diễn ra ở Hà Nội, trong 3 năm 2005 – 2007 thì trung bình mỗi năm nước ta có 475 trường hợp tử vong
do tự tử và 114 trường hợp trẻ tử vong do bạo hành Nhà trường, nơi hội tụ đầy đủ những mặt tích cực về cả tri thức, đạo đức, văn hóa, chính trị, nhưng hiện tượng bạo hành ngày càng diễn ra phức tạp Hậu quả của việc bạo hành trong nhà trường gây tác động lâu dài cả về mặt thể xác và tinh thần đặc biệt đối với lứa tuổi trẻ mầm non
Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong 5 năm từ 2012- 2016 cả nước phát hiện hơn 8.200 vụ trẻ em bị xâm hại với gần 10.000 nạn nhân, tăng
258 nạn nhân so với 5 năm trước Trong đó, số vụ bị xâm hại tình dục chếm tới 5.300 vụ, chiếm khoảng 65%
Từ những con số thống kê về tình trạng xâm hại trẻ em cũng như những kêt quả của các đề tài đã nghiên cứu tôi nhận thấy rằng các đề tài nghiên cứu thường tập trung ở ngành xã hội học, dân số,… và đối tượng nghiên cứu thường tập trung ở độ tuổi cấp 1,2,3, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn
đề xâm hại của trẻ lứa tuổi mầm non cũng như cách quản lý giáo dục về xâm hại trẻ em Mặc dù trong những năm qua, những vụ việc về xâm hại trẻ em lứa tuổi mầm non diễn ra rất nhiều Vì thế tôi đã mạnh dạn nghiên cứu vấn đề tài này
Trang 231.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà trường
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Khái niệm về Quản lý theo từ điển “Giáo dục học”: “Quản lý là hoạt
động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [17,tr197]
Theo tác giả Trần Kiểm: “ Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngài tổ chức (chủ yếu là nội
lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”
[30,tr74]
Như vậy: Quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định
Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản
lý Chúng ta có thể định nghĩa khái niệm quản lý như sau:
“Quản lý là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia”
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Quá trình quản lý giáo dục là hoạt động của các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu nhất định nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu dự kiến và tiến lên trạng thái mới về chất
Trang 24Quản lý giáo dục vừa là một hiện tượng xã hội (hiện tượng hoạt động, lao động, công tác), vừa là một loại quá trình xã hội (quá trình quản lý) đồng thời cũng là một hệ thống xã hội (hệ thống quản lý)
Quản lý giáo dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của
nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công tác giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục, dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
Thuật ngữ “quản lý nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa với quản lý
giáo dục ở tầm vi mô Song cần nhận rõ tác động của chủ thể quản lý đến nhà trường có hai loại tác động từ bên ngoài và tác động bên trong nhà trường
+ Tác động từ bên ngoài nhà trường là tác động của các cơ quan quản
lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường
+ Tác động từ bên trong là hoạt động của các chủ thể quản lý của chính nhà trường nhằm huy động, điều phối, giám sát các lực lượng giáo dục của nhà trường thực hiện có chiến lược, có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học và giáo dục đặt ra Đó là sự tác động của thủ trưởng, người chỉ huy cấp trên đối với các tổ chức cấp dưới thuộc quyền Sự tác động đó phải có mục đích, có kế hoạch và phải tuân theo các nguyên tắc quản lý
Theo nghĩa một tổ chức, trường học được quản lý giống như mọi tổ chức khác, nhưng có đặc điểm chuyên môn của mình là giáo dục Bản chất của quản lý trường học lúc này là gây ảnh hưởng, định hướng và phát triển tổ chức trường theo mục tiêu và giá trị đã định, dựa trên việc xác định tầm nhìn,
sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược, huy động và sử dụng các nguồn lực, tạo dựng tên tuổi (thương hiệu) và quản lý văn hóa nhà trường
Trang 25Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Quản lý trường học là lao động của
các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [56, tr17-19]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý nhà trường là tập hợp
những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và những cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [40, tr34]
Vì vậy có thể định nghĩa khái niệm quản lý trường học như sau: quản lý trường học là quản lý giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lý là các cấp chính quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lý trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lý chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực quản lý là con người, cơ sở vật chất - kĩ thuật, tài chính, đầu tư khoa học - công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có
Vấn đề cơ bản của QLGD là quản lý nhà trường, nhà trường là một tổ chức cơ sở giáo dục, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn diện, tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Nó là tế bào của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào
1.2.2 Trẻ em
Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Tùy theo nội dung tiếp cận, cấp độ đánh giá hay góc độ nhìn nhận mà đưa ra
Trang 26những khái niệm hay định nghĩa về trẻ em khác nhau Có thể tiếp cận về mặt tâm lý học, sinh lý học, xã hội học,… Từ những khái niệm tiếp cận đi đến những khái niệm, định nghĩa khác về nhóm trẻ em Tuy vậy, trong các khái niệm hoặc định nghĩa đó đều có những điểm chung và thống nhất là căn cứ vào tuổi đời để xác định số lượng trẻ em
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em đã đưa ra khái niệm chung: “Trẻ em
được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn” [33,tr2]
Theo luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam: “Trẻ em
là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [41,tr4]
Theo tâm lý học: Trẻ em là một thực thể đang phát triển về nhiều mặt (mặt sinh vật, mặt văn hóa và mặ tâm lý cá nhân) để trở thành viên của xã hội, một nhân cách [50,tr25]
Như vậy, khái niệm trẻ em có thể hiểu là: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” do điều kiện cụ thể của nuớc ta, trẻ em Việt Nam được hiểu nhỏ tuổi hơn trẻ em trong Công ước
Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước, vì thế trẻ em luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, nhà nước
và toàn xã hội Điều này thể hiện rõ tại điều 65, Hiến pháp nước CHXH chủ
nghĩa năm 1992: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội chăm sóc, giáo
dục, bảo vệ” [51,tr39], điều 5 Luật BVCS&GDTE (sửa đổi, bổ sung);“ Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân Trong mọi hoạt động của tổ chức, cơ quan, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ thì lợi ích của trẻ được quan tâm hàng đầu” [16,tr6]
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giành tình yêu thương đặc biệt vô bờ bến đối với trẻ em, lúc sinh thời ngừời viết trong bài nâng cao trách nhiệm chăm
Trang 27sóc thiếu niên, nhi đồng: “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của đất
nước Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc các bé cho tốt” [52,tr467- 468]. Thực hiện lời dạy của Bác trong mọi chặng đường phát triển của đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn
xác định: “Quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới không
những phục vụ cho sự nghiệp xã hội chủ nghĩa hiện nay mà còn cho sự nghiệp xây dựng cộng sản chủ nghĩa sau này” [15,tr14]
Trẻ em đó là con người được hưởng mọi quyền “không bị bất cứ một phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, hoặc quan điểm, nguồn gốc dân tộc và xã hội tài sản dòng dõi hoặc mối tương quan khác” Trẻ em là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, tồn tại, phát triển và được bày tỏ ý kiến, thể hiện: quyền được sống với bố mẹ, đoàn tụ với gia đình, được tự do tín ngưỡng và tôn giáo, được bảo vệ khỏi áp bức, tổn thương về thể chất, tinh thần, được bảo vệ chống bị bóc lột, cưỡng bức, lạm dụng tình dục, được chăm sóc, vui chơi, giải trí,…Như vậy, nhà nước, xã hội và gia đình, nhà trường đều có trách nhiệm đảm bảo những quyền lợi cơ bản cho trẻ em
1.2.3 Xâm hại trẻ em
Theo luật trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 01 tháng 06 năm 2016 “Xâm hại trẻ em là hành vi gây
tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em
và các hình thức gây tổn hại khác”
Theo tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “Xâm hại trẻ em bao gồm mọi
hình thức ngược đãi về thể chất và tinh thần, xâm hại tình dục, xao nhãng, bóc lột gảy ra những tổn thương về sức khỏe, tính mạng, khả năng phát triển hay phẩm giá bằng cách lợi dụng chức phận, lòng tin hoặc quyền hạn”
Trang 28Có 4 hình thức chính của xâm hại trẻ em là: Xâm hại thể chất, xâm hại tinh thần, xâm hại tình dục và xao nhãng
Xâm hại thể chất bao gồm mọi hình thức gây đau đớn về thể chất cho trẻ từ bấu véo cho đến rung lắc, bợp tai, đánh đập,….Trẻ có thể bị tổn thương rất đa dạng, từ tổn thương phần mềm (vết bầm tím, vết rách, vết bỏng) cho đến gãy răng, gãy xương, thương tích hệ thần kinh trung ương
Xâm hại về tinh thần bao gồm những hành vi mắng chửi, lăng mạ nhạo báng trẻ, xâm hại sự riêng tư của trẻ, không lắng nghe trẻ
Xâm hại tình dục trẻ em: Là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức
Xâm hại trẻ em là một hiện tượng không những đi nguợc lại với đạo đức người Việt nam mà còn vi phạm Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Việt Nam
1.2.4 Hoạt động phòng ngừa xâm hại trẻ em
Theo các định nghĩa xâm hại trẻ em ở trên, ta có thể đưa ra định nghĩa phòng ngừa xâm hại trẻ em là những biện pháp được đưa ra nhằm ngăn chặn các hành vi làm tổn hại đến trẻ về cả mặt thể xác lẫn tinh thần
Từ định nghĩa xâm hại trẻ em của Luật giáo dục ta có thể đưa ra nội hàm của xâm hại trẻ mầm non là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ từ 0 – 6 tuổi dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác
Từ các định nghĩa trên ta có thể đưa ra định nghĩa “Hoạt động giáo dục
phòng ngừa xâm hại trẻ mầm non” là quá trình tổ chức các hoạt động sư
Trang 29phạm của giáo viên tác động đến trẻ giúp trẻ nhận thức được các cách phòng chống xâm hại trẻ
1.2.5 Quản lý phòng ngừa xâm hại trẻ em
Quản lý phòng ngừa xâm hại trẻ em là hoạt động có chủ đích của chủ thể quản lý nhằm điều khiển hệ thống giáo dục phòng ngừa xâm hại và các thành tố của nó, định hướng và phối hợp với giáo viên nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích, mục tiêu của giáo dục phòng ngừa xâm hại
1.3 Giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non
1.3.1 Mục tiêu giáo dục phòng ngừa xâm hại
Mục tiêu giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ trong trường mầm non
là giáo dục trẻ cách nhận biết những hành vi mang tính chất xâm hại của
những người xung quanh từ đó có những kỹ năng phòng ngừa như: Đánh đập,
đá, đấm, tát, dùng vật cứng sát thương, tác động trực tiếp đến sức khỏe của trẻ, những hành vi xâm hại tình dục, nhận biết hành vi mắng chửi, lăng mạ nhạo báng trẻ, xâm hại sự riêng tư của trẻ, không lắng nghe trẻ,
Dạy trẻ nhận biết kỹ hơn về giới tính và 4 vùng nhạy cảm trên cơ thể là: miệng, ngực, vùng giữa hai đùi và mông Trẻ biết cách bảo vệ cơ thể, không cho bất kỳ ai nhìn, chạm vào vùng nhạy cảm hay có những hành động
ôm ấp, vuốt ve của người khác nếu trẻ không thích, không đồng ý
Trẻ có phản xạ tự vệ khi bị xâm hại như: chạy thật nhanh hoặc la hét
lớn nhờ người giúp đỡ khi bị tấn công, không bắt chuyện hay làm quen với
bất kỳ một ai mà bé gặp trên đường nếu không có sự đồng ý của cha mẹ Trẻ cách từ chối và phản ứng lại nếu có người cố tình động chạm vào cơ thể khiến trẻ thấy khó chịu
Bên cạnh đó, giáo dục phòng ngừa xâm hại còn giúp cho CBGV, phụ huynh học sinh, các tổ chức xã hội khác có động cơ muốn tham gia tích cực vào việc bảo vệ giúp trẻ có những kiến thức về giới tính, về phòng
Trang 30ngừa xâm hại và kỹ năng phòng vệ tránh bị xâm hại Qua đó phát triển được ý thức trách nhiệm và quan tâm sâu sắc đối với các vấn đề về giới
tính và phòng ngừa xâm hại
1.3.2 Nội dung giáo dục phòng ngừa xâm hại
1.3.2.1 Giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục
Ngay từ khi biết nhận thức, nếu như trẻ được trang bị những kiến thức
về giới tính, tình cảm sẽ là cơ sở giới tính tuổi thành niên sau này Đó là vấn
đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mỗi con người Vì vậy việc giáo dục giới tính chính xác cho trẻ nhỏ để các em có một tâm hồn mạnh khỏe, trong sáng
là trách nhiệm của mỗi chúng ta những bậc làm thầy, làm cha, mẹ
Từ lúc chào đời giữa bé trai và bé gái đã có những khác nhau về chiều cao, cân nặng, một số bộ phận trong cơ thể, hoóc môn, Khác biệt về tên gọi, kiểu tóc, cách ăn mặc quần áo, sở thích chơi đồ chơi, cá tính Nhưng sự khác biệt rõ nhất là về bộ phận sinh dục, đó chính là sự khác biệt giới tính
Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, của từng lứa tuổi mà nhà trường đưa ra những nội dung giáo dục phù hợp để trẻ có thể tự bảo vệ mình
Lứa tuổi mẫu giáo bé (3-4 tuổi): Bước đầu dạy trẻ biết về giới như biết một số bộ phận cơ thể bé Biết phân biệt bạn trai và bạn gái qua 2 - 3 đặc điểm cơ bản đặc trưng như: bạn trai tóc ngắn – bạn gái tóc dài hay buộc tóc; bạn trai mặc quần áo, bạn gái mặc váy; bạn trai đi vệ sinh đứng, bạn gái đi vệ sinh ngồi
Lứa tuổi mẫu mẫu giáo nhỡ và lớn (4-6 tuổi):
Dạy trẻ về giới tính và các vùng nhạy cảm:
Dạy trẻ nhận biết kỹ hơn về giới tính và 4 vùng nhạy cảm trên cơ thể là: miệng, ngực, vùng giữa hai đùi và mông Đây gọi là những vùng nhạy cảm trên
cơ thể chỉ là của riêng các bé Dạy trẻ biết chăm sóc và bảo vệ vùng kín của mình
Trang 31 Không cho người khác nhìn, chạm vào vùng nhạy cảm và không chạm vào vùng nhạy cảm của người khác:
Dạy trẻ biết cách bảo vệ cơ thể, không cho bất kỳ ai nhìn, chạm vào vùng nhạy cảm hay có những hành động ôm ấp, vuốt ve của người khác nếu trẻ không thích, không đồng ý Trừ bố mẹ hoặc người người được bố mẹ cho phép như bác sĩ, y tá Bác sĩ phải mặc đồng phục và khám trong giờ hành chính Trẻ phải được giải thích kỹ việc khám, sờ vào vùng kín để làm gì và đặc biệt phải được sự đồng ý của trẻ
Dạy trẻ cách từ chối và phản ứng lại nếu có người cố tình động chạm vào cơ thể khiến trẻ thấy khó chịu
Dạy trẻ chú ý không chạm vào vùng nhạy cảm của người khác nhất là người khác giới Đặc biệt không nên tò mò về cơ thể người khác để tránh bị lợi dụng, dụ dỗ hay vô tình kích thích hứng thú của những kẻ xấu
Dạy trẻ quy tắc bàn tay giao tiếp (Mỗi ngón tay là 1 quy tắc) sau:
- Ôm hôn (ngón cái): Chỉ dùng với người thân ruột thịt trong nhà như bố
mẹ, anh chị em ruột được vòng tay ôm, cõng, bế ẵm, tắm rửa khi chưa tự làm
vệ sinh cá nhân, ngồi vào lòng, ngủ chung
- Ngón trỏ (ông bà, thầy cô, bạn bè) được quyền khoác tay, nắm tay
- Ngón giữa (họ hàng, người quen) bé được phép: bắt tay, trò chuyện, chào hỏi
- Ngón áp út (dành cho người lạ) bé chỉ vẫy tay chào nếu gặp
- Ngón út (những người đáng ngại) bé biết xua tay, không tiếp xúc Khi
họ cố tình đụng chạm vào người nhât là vùng quần áo lót trẻ có quyền tỏ thái
độ bằng cách bảo người đó dừng lại Nếu họ vẫn tiếp tục hãy hét to và bỏ chạy sau đó kể lại cho người lớn biết
Dạy trẻ tránh xa người lạ mặt:
Không bắt chuyện hay làm quen với bất kỳ một ai mà bé gặp trên
đường nếu không có sự đồng ý của cha mẹ
Trang 32 Dạy trẻ cách chạy thật nhanh hoặc nhờ sự giúp đỡ của người khác:
Để đề phòng trường hợp không may trẻ bị tấn công, cô giáo đưa ra những giả thiết và hướng dẫn trẻ cách chạy trốn Hoặc có thể tìm cơ hội lúc
kẻ xấu sơ hở chạy thật nhanh hoặc hét thật lớn cầu cứu người xung quanh
Luôn ghi nhớ số điện thoại của bố, mẹ số điện thoại khẩn cấp để có thể
sử dụng trong trường hợp khẩn cấp
Không cho người lạ mặt vào nhà khi ở nhà một mình
Khi ở nhà một mình cần dạy trẻ tuyệt đối không được cho bất kỳ người
lạ mặt vào nhà
Dạy trẻ khi ở nhà không nên đi chơi một mình dù chi là sang nhà hàng xóm hay đến nhà người quen mà không có sự theo dõi của bố mẹ Không được chơi một mình ở những chỗ vắng vẻ, những nơi tối tăm, kin đáo
Báo ngay cho bố mẹ khi trẻ bị đe dọa hoặc không thích bất cứ người nào:
Dạy trẻ biết rằng các bé không cần sợ hãi hay lo lắng khi có bất kỳ ai đe dọa hoặc làm tổn thương đến trẻ Trong trường hợp có kẻ xấu đe dọa bắt trẻ phải
giữ bí mật thì trẻ nên thông báo, kể chuyện cho bố mẹ và người thân biết
Dạy trẻ hiểu và phân biệt được giữa những bí mật “Xấu” và những bí mật “ Tốt”, những câu như: “ Đây là bí mật của hai chú cháu mình, cháu không được kể cho ai nghe kể cả bố mẹ”, của những kẻ lạm dụng làm trẻ buồn, lo lắn, sợ hãi không dám kể cho ai khác nghe Với những “ Bí mật xấu” khiến trẻ không vui, không thoải mái cần nói ngay với bố, mẹ
Khi trẻ càng im lặng thì những kẻ lạm dụng sẽ càng lấn tới và làm hại trẻ nhiều hơn
Khi trẻ không thích tiếp xúc với bất kỳ ai, bé cũng nên chia sẻ cho cha mẹ biết và tránh xa những người mà bé không thích hay có những hành vi đụng chạm
Trang 33Nếu như trường hợp bố mẹ không có nhà thì bé cần nói với những người tin tưởng, yêu quý như ông bà, cô giáo, anh chị ruột
1.3.2.2 Xâm hại thể chất
Dạy trẻ cách nhận biết những hành vi mang tính chất xâm hại của những người xung quanh từ đó có những kỹ năng phòng ngừa như: Đánh đập, đá, đấm, tát, dùng vật cứng sát thương, tác động trực tiếp đến sức khỏe của trẻ
Dạy trẻ ở trường phải biết đoàn kết không tranh giành đồ chơi của nhau Dạy trẻ biết chỉ những hành động đơn giản như các bé lứa tuổi mẫu giáo bé hay cấu nhau đó cũng là một hành vi xâm hại thể chất
Dạy trẻ một số kỹ năng phòng chống bạo hành như:
+ Chạy xa nhà tắm nhà kho hoặc các phòng nhỏ nơi kẻ bạo hành có thể nhốt trẻ ở trong
+ Chạy vào phòng có cửa để chốt lại hoặc có cửa sổ để thoát thân
+ Chạy vào phòng có điện thoại để gọi người đến cứu giúp
+ Dạy trẻ ghi nhớ và gọi số 113 khi bị bạo hành
+ Dạy trẻ biết chia sẻ, kể cho người lớn những người đáng tin cậy khi
bị bạo hành, không nên che dấu vì như thế tình trạng bạo hành sẽ càng xấu hơn, trầm trọng hơn
1.3.2.3 Xâm hại tinh thần
Dạy trẻ nhận biết hành vi mắng chửi, lăng mạ nhạo báng trẻ, xâm hại
sự riêng tư của trẻ, không lắng nghe trẻ
Ở nhà trường: Cô giáo mắng trẻ, dùng những lời lẽ đay nghiến trẻ,… Trong gia đình: Trẻ bị ông, bà, cha mẹ, anh, chị chửi bới, mắng nhiếc trẻ không nói chuyện với trẻ trong một thời gian dài
Bên ngoài xã hội: Có những người lớn thân quen với trẻ có các lời nói hành vi đe dọa trẻ làm trẻ sợ hãi, lo lắng, hoảng loạn
Bóc lột sức lao động ảnh hưởng tới học tập, vui chơi của trẻ
Trang 341.3.2.4 Giáo dục phòng ngừa việc bị xao nhãng
Dạy trẻ biết những hành vi như: không chăm sóc trẻ (không tắm rửa, thay quần áo, không cho trẻ ăn uống) Phớt lờ nhu cầu được yêu thương của trẻ, nhu cầu học tập, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe Bỏ bê không để ý đến trẻ
1.3.3 Phương pháp, hình thức tổ chức
1.3.3.1 Phương pháp GDPNXH cho trẻ
Phương pháp chính là cách thức mà giáo viên tác động đến trẻ nhằm giúp trẻ tham gia một cách chủ động tích cực các hoạt động học tập phòng ngừa xâm hại Giúp trẻ nhận biết các hành vi xâm hại và kỹ năng phòng vệ khi bị xâm hại giúp cho trẻ luôn tự tin, vui khỏe
Thủ pháp là những tác động khéo léo của cô giáo đến với trẻ để gây sự chú ý tập trung hoặc giải quyết những khó khăn vướng mắc tạm thời cho trẻ trong quá trình tham gia vào hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại Thủ pháp đôi khi cũng là những trò chơi ngắn như: “Trốn cô, trốn cô”- “Trời tối ,
Trời sáng” Hay có thể là sự hướng dẫn riêng cho cá nhân trẻ chưa thực hiện
được, nói thầm với trẻ tạo ra sự bí mật để trẻ tập trung, hứng thú thể hiện Tuy nhiên trên thực tế giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc thay đổi hình thức tổ chức tiết học để tạo hứng thú cho trẻ tham gia vào giờ học đạt hiệu quả cao hơn
Các phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại:
Nhóm phương pháp thông tin tiếp nhận (phương pháp quan sát; phương
pháp chỉ dẫn trực quan; phương pháp dùng lời, phương pháo thảo luận): Nhóm
phương pháp này bao gồm các quá trình quan sát, nghiên cứu các đối tượng miêu tả như các sự vật hiện tượng, các đồ chơi, các mô hình tranh, ảnh, tranh minh họa và những quá trình cung cấp cho trẻ thông tin về các sự vật, hiện tượng xung quanh Nhóm phương pháp này còn gồm các quá trình hướng dẫn cho trẻ các phương thức, các kỹ năng phòng ngừa xâm hại
Trang 35Nhóm phương pháp thực hành ôn luyện: gồm các cách thức hướng dẫn,
các hoạt động, các bài tập tình huống nhằm tổ chức cho trẻ vận dụng tích cực những hiểu biết, thông tin mới tiếp thu được, tạo điều kiện cho trẻ được lặp lại, rèn luyện các thao tác, các phương phức hoạt động để hình thành các kinh
nghiệm hoạt động thực tiễn
1.3.3.2 Hình thức tổ chức GDPNXH cho trẻ
Các kiến thức, kỹ năng phòng vệ mà trẻ thể hiện ứng dụng trong hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại có thể được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau: từ sự bắt chước, lặp đi lặp lại, tái hiện lại đến sự sáng tạo tích cực Để phát triển khả năng phòng ngừa, bảo vệ bản thân khỏi bị xâm hại chúng ta cần có các hình thức tổ chức hoạt động được sắp xếp theo một hệ thống để giúp trẻ từng bước đi từ sự bắt chước đơn thuần tới tái hẹn lại ích cự, đến hình thành kỹ năng, và cao nhất là thói quen Với cách phân loại này có thể gọi các hình thức tổ chức hoạt động là các “tiết học” hay các “Bài học”
Ở các trường mầm non giáo viên hiện nay đang tổ chức giáo dục phòng ngừa xâm hại dưới hình thức:
Trong tiết học: Hoạt động học chính khóa
Ngoài tiết học: Hoạt động ngoài trời; hoạt động vui chơi; hoạt động chiều, lớp học kỹ năng sống
Giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ trong tiết học
Tiết học (có thể gọi là giờ hoạt động) là hình thức dạy học đóng vai trò chủ chốt, ở đó trẻ có thể tìm hiểu cuộc sống xung quanh, tìm hiểu thế giới vạn vật một cách có tổ chức nhất và tiếp thu các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo theo một chương trình có tính hệ thống
Hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại có thể được tiến hành trên nhiều loại tiết học:
Trang 36Tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại ở các tiết học khám phá ở các tiết học đó hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại có thể là hoạt động chính chiếm phần lớn thời gian Xong cũng có thể chỉ là lồng ghép một phần nhỏ kiến thức giáo dục phòng ngừa xâm hại trong tiết học đó
Giáo dục phòng ngừa xâm hại còn có thể được thực hiện trên các tiết học của các lĩnh vực hoạt động khác: Ở các tiết học này có thể giải quyết bổ sung một số nhiệm vụ của hoạt động tạo hình, bởi vậy trong các hoạt động của các tiết học đó có xen vào một số yếu tố của giáo dục phòng ngừa xâm hại
Giáo dục phòng ngừa xâm hại ngoài tiết học
Đây là những dạng hoạt động mang tính tự do mà trẻ có thể tham gia một cách tự nguyện, tự giác Các hoạt động như hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều, các trò chơi tình huống, lớp học kỹ năng sống,
VD: Bắt đầu với trò chơi bắt sâu, giáo viên giúp bé biết được những hành vi xâm hại đến cơ thể bé, những hành động đụng chạm được phép và không cho phép và cách giao tiếp với người lạ,
1.4 Vị trí, vai trò, chức năng của hiệu trưởng trường mầm non
* Vai trò của hiệu trưởng trường mầm non
Hiệu trưởng là thủ trưởng của nhà trường, đại diện cho nhà trường về quản lý, có trách nhiệm và có thẩm quyền cao nhất về hành chính và hoạt động chuyên môn trong nhà trường Chính vì vậy, hiệu trưởng có vai trò quyết định kết quả phấn đấu của nhà trường
Chất lượng, hiệu quả của công việc thực hiện mọi nhiệm vụ giáo dục của nhà trường phụ thuộc vào năng lực điều hành, quản lý của người hiệu trưởng Bác Hồ đã từng chỉ rõ "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; rằng muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Người cán bộ, trong quá trình hoạt động, ít nhiều đều phải trải qua đào tạo, bồi dưỡng với nhiều hình thức khác nhau"
Trang 37* Nhiệm vụ của hiệu truởng trong trường mầm non
Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng nhà trường và cấp có thẩm quyền;
Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định
Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia cùng tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên trong nhà trường theo quy định;
Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường, nhà trẻ
Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng trẻ em do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ quản lý, chuyên môn; tham gia các hoạt động giáo dục 2 giờ trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp, các chính sách ưu đãi theo quy định
Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ,
Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng
Trang 381.5 Quản lý giáo dục phòng ngừa, xâm hại trẻ em của hiệu trưởng ở
Khi thực hiện giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ đồng thời giúp nâng cao kiến thức về giới và kỹ năng phòng tránh bạo lực, xâm hại cho giáo viên và trẻ Giúp giáo viên chủ động phát hiện các trường hợp trẻ có dấu hiệu bị bạo lực, xâm hại Từ đó mạnh dạn thông báo, cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực thi xử lý, điều tra, bảo vệ trẻ em Nâng cao nhận thức đầy đủ hiểu về quyền trẻ em trong đội ngũ giáo viên
Thứ hai, tuyên truyền phối hợp cùng gia đình chăm sóc và bảo vệ trẻ Thứ ba, quản lý hoạt động phòng ngừa xâm hại cho trẻ là trang bị cho trẻ những kiến thức để có thể tự bảo vệ bản thân, những kỹ năng phòng ngừa sẽ giúp trẻ có thể an toàn hơn và tự tin hơn để khám phá cuộc sống muôn màu, góp phần tạo ra một thế hệ thực sự năng động và giàu bản lĩnh ứng phó với bất cứ tình huống nào xảy ra trong cuộc sống Đồng thời giúp trẻ biết trân trọng giá trị bản thân
1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại trẻ em trong trường mầm non
Khi xây dựng kế hoạch, người Hiệu trưởng xác định được mục tiêu sẽ đạt đến, các biện pháp thực hiện, thời gian tiến hành và hoàn thành, chỉ tiêu cần đạt Để việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạt hiệu quả, người Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở tình hình cụ thể số trẻ, đội ngũ giáo viên của trường mình trong năm học, tình hình của địa phương để định ra nội dung, yêu cầu, biện
Trang 39pháp cho thích hợp Việc nắm tình hình thực tế đội ngũ giáo viên và trẻ cần mang tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến cũng như những hiện tượng,
sự việc có tính chất thời sự, cá biệt, có thể ảnh hưởng tiêu cực ít nhiều đối với nhà trường Từ đó, nhà trường sẽ có những kế hoạch hợp lý, cụ thể, khả thi để giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ của trường mình Kế hoạch được xây dựng bao gồm cả các yếu tố nhân lực, vật lực và kiểm tra, đánh giá
Căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu của lĩnh vực giáo dục ở trường mầm non Hiệu trưởng cần chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện chương trình giáo dục đạt hiệu quả cao Ngoài số giờ theo phân phối chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Hiệu trưởng cần phải căn cứ vào thời gian quy định cho năm học đối với trẻ mầm non là 35 tuần học/năm; Căn cứ vào điều kiện thực tế nội dung giáo dục ở độ tuổi mẫu giáo để chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên xây dựng chương trình giảng dạy sao cho hợp lý, có thể lồng ghép hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ với các hoạt động khác: Hoạt động ngoài trời quan sát, chơi trò chơi dân gian, hoạt cảnh, các tình huống đảm bảo được yêu cầu và hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ đạt hiệu quả
Hiện nay, kiến thức giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ chưa đa dạng, phong phú bởi giáo viên mới chỉ tập chung vào việc dạy trẻ phòng ngừa xâm hại qua hoạt động khám phá, qua các bài học về kỹ năng sống Vì vậy, chúng
ta chưa thực sự quan tâm nhiều đến tầm quan trọng của vệc dạy trẻ phòng ngừa xâm hại
Như vậy, thực chất một chương trình giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ không đơn thuần chỉ có dạy cho trẻ biết về các bộ phận cơ thể trẻ, biết về giới tính (bạn nam, bạn nữ) mà cần dạy trẻ biết bảo vệ các vùng nhạy cảm, biết cơ thể mình là chỉ một mình mình có quyền, biết quy tắc bàn tay vàng, Bên cạnh đó, việc lựa chọn nội dung đưa vào chương trình là một nhiệm vụ
Trang 40quan trọng trong công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng Khi thiết kế chương trình cần phải xác định được mục tiêu, nội dung, biết thiết kế các hoạt động giáo dục, chuẩn bị đồ dùng, phương tiện giáo dục, xác định thời gian, không gian thực hiện, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch để việc giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ đạt hiệu quả
Việc soạn thảo nội dung đưa vào chương trình cần đảm bảo các yêu cầu chung và những hoạt động cốt lõi
Yêu cầu: Nội dung phải đảm bảo tính đồng tâm phát triển ở từng độ tuổi Tức là với trẻ mẫu giáo 3 tuổi cần cung cấp kiến thức, phát triển kỹ năng, lên đến 4 tuổi từ kiến thức trẻ đã biết và kỹ năng sơ đẳng trẻ đã có thêm những kiến thức, kỹ năng mới, khi lên 5 tuổi từ những cái trẻ đã biết cần dạy trẻ cả
về kiến thức và kỹ năng ở mức độ cao hơn có tính sáng tạo để thành thói quen Giới thiệu với trẻ nhiều phương tiện, hình thức để giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ, qua các hoạt động đó khuyến khích trẻ tự tin thể hiện khả năng của mình trong các hoạt động giáo viên tổ chức
Để thiết kế một chương trình giảng dạy lĩnh vực giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ cần bao hàm tất cả 5 lĩnh vực phát triển của trẻ về: Đức, trí, thể, mĩ và lao động Trước khi thiết kế chương trình phải xác định mục tiêu cần đạt có phù hợp với khả năng của trẻ, chiều hướng giúp trẻ phát triển không,
ai là người thực hiện và thực hiện như thế nào
Từ chương trình giáo dục phòng ngừa xâm hại cho trẻ đã được lựa chọn thiết kế đảm bảo mục tiêu, nội dung giáo dục đa dạng phong phú, phù hợp với khả năng của trẻ Hiệu trưởng cần chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên để tổ chức thực hiện chương trình một cách hiệu quả Để làm được đó thì trước tiên phải gửi chương trình tới toàn thể giáo viên nghiên cứu, sau đó tổ chức buổi thảo luận, lấy ý kiến từng cá nhân về cách thức, biện pháp thực hiện chương trình sao cho phù hợp Từ đó chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức buổi sinh