1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn quản lý công tác cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học sư phạm hà nội 2

123 216 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng quản lí việc xây dựng kế hoạch công tác của đội ngũ CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 .... Thực trạng quản lí công tác tổ chức triển khai thực hiệ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

HOÀNG THỊ THU

QUẢN LÝ CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Trang 2

HOÀNG THỊ THU

QUẢN LÝ CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, tập thể lãnh đạo khoa, phòng, ban chức năng và các giảng viên làm công tác cố vấn học tập trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đã tạo điều kiện giúp đỡ tận tình cho em trong suốt quá

trình nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác cố vấn học tập trong đào tạo theo học

chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc tới TS Trần Thị

Hồng Loan - người trực tiếp hướng dẫn khoa học cho em hoàn thành luận văn này

với sự hướng dẫn tận tình nhất

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cố gắng trong nghiên cứu, nhưng do điều kiện hoàn cảnh và khả năng có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp quý báu, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu trong đề tài này là do tôi thu thập trong quá trình khảo sát, điều tra, thăm dò ý kiến đối với các giảng viên làm công tác cố vấn học tập, Lãnh đạo khoa, Lãnh đạo phòng, ban chức năng liên quan ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trên

bất kỳ phương tiện thông tin nào Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

CÁC DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Kết cấu luận văn 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CVHT TRONG ĐÀO TẠO THEO HCTC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 7

1.2 Các khái niệm cơ bản 10

1.2.1 Khái niệm Quản lý 10

1.2.2 Khái niệm Quản lý giáo dục đại học 12

1.2.3 Khái niệm Đào tạo theo HCTC 14

1.2.4 Khái niệm Quản lý đào tạo theo HCTC 16

1.2.5 Khái niệm CVHT 17

1.2.6 Khái niệm Quản lý công tác CVHT 21

1.3 Một số lý luận về quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở các trường ĐHSP 23

Trang 6

1.3.1 Sự cần thiết phải quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC

ở các trường ĐHSP 23

1.3.2 Nội dung quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC 25

1.4 Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở các trường ĐHSP 31

1.4.1 Nhận thức của đội ngũ CVHT trong trường về vai trò và nhiệm vụ của công tác CVHT 31

1.4.2 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ CVHT của đội ngũ giảng viên làm công tác CVHT trong Trường 32

1.4.3 Mức độ hoàn thiện các văn bản về công tác CVHT và sự hoàn thiện của mô hình tổ chức quản lý công tác CVHT 33

1.4.4 Năng lực quản lý công tác CVHT của bản thân nhà quản lý 35

1.4.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho việc quản lý công tác CVHT 36

Kết luận chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 39

2.1 Giới thiệu khái quát về trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 39

2.1.1 Vài nét về trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 39

2.1.2 Vài nét về công tác CVHT ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 43

2.2 Thực trạng công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 46

2.2.1 Thực trạng về năng lực chuyên môn của đội ngũ cố vấn học tập ở Trường ĐHP Hà Nội 2 47

2.2.2 Thực trạng về việc tư vấn, hướng dẫn SV trong học tập của đội ngũ cố vấn học tập 50

2.2.3 Thực trạng về việc theo dõi, đánh giá toàn diện về học tập và rèn luyện của SV đội ngũ CVHT 51

2.2.4 Thực trạng việc thực hiện chế độ báo cáo và các nhiệm vụ khác về tình hình lớp và SV ở lớp do mình phụ trách 53

Trang 7

2.3 Thực trạng quản lí công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Trường

Đại học Sư phạm Hà Nội 2 55

2.3.1 Thực trạng quản lí việc xây dựng kế hoạch công tác của đội ngũ CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 55

2.3.2 Thực trạng quản lí công tác tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ CVHT theo kế hoạch của đội ngũ CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 58

2.3.3 Thực trạng công tác chỉ đạo và quản lí việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ CVHT theo kế hoạch của đội ngũ CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 60

2.3.4 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động CVHT của đội ngũ CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 62

2.4 Đánh giá chung thực trạng quản lí công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và nguyên nhân của thực trạng 65

2.4.1 Những thành tựu 65

2.4.2 Những hạn chế 66

2.4.3 Nguyên nhân của thành tựu và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý công tác CVHT ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 66

Kết luận chương 2 70

Chương 3 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÍ CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 71

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 71

3.1.1 Đảm bảo tính thực tiễn 71

3.1.2 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 71

3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 72

3.1.4 Đảm bảo tính khả thi 73

3.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí công tác cố vấn học trong đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 73

Trang 8

3.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ CVHT ở trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2 về vai trò và nhiệm vụ của công tác CVHT 74

3.2.2 Thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ trong hoạt động CVHT cho đội ngũ giảng viên làm công tác cố vấn học ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 75

3.2.4 Tăng cường sự chỉ đạo, giám sát, kiểm tra của các cấp lãnh đạo trong Nhà trường đối với hoạt động của đội ngũ CVHT trong Trường 82

3.2.5 Bổ sung, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phù hợp phục vụ tốt công tác CVHT ở trường ĐHSP Hà Nội 2 84

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 87

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88

3.4.1 Tổ chức khảo nghiệm 88

3.4.2 Kết quả xử lý số liệu khảo nghiệm 89

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 2.1: Kết quả khảo sát thực trạng mức độ đạt được các yêu cầu về năng lực

chuyên môn của đội ngũ CVHT ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 47 Bảng 2.2: Kết quả khảo sát thực trạng tư vấn, hướng dẫn SV trong học tập của

đội ngũ CVHT ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 50 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát thực trạng việc theo dõi và đánh giá toàn diện về

học tập và rèn luyện của đội ngũ CVHT ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 52 Bảng 2.4: Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện chế độ báo cáo và các nhiệm vụ

khác về tình hình lớp và SV ở lớp do mình phụ trách của đội ngũ CVHT ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 54 Bảng 2.5: Thực trạng quản lí việc xây dựng kế hoạch và phê duyệt kế hoạch

công tác của đội ngũ CVHT ở trường ĐHSP Hà Nội 2 56 Bảng 2.6: Thực trạng khảo sát quản lí công tác tổ chức triển khai thực hiện các

nhiệm vụ CVHT theo kế hoạch của đội ngũ CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 59 Bảng 2.7: Thực trạng khảo sát về công tác chỉ đạo và quản lí việc triển khai thực

hiện các nhiệm vụ của đội ngũ CVHT ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 61 Bảng 2.8: Kết quả khảo sát về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt

động CVHT của đội ngũ CVHT ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 63 Bảng 3.1: Bảng khảo nghiệm mức độ cần thiết, mức độ khả thi của các biện

pháp quản lí công tác CVHT ở trường ĐHSP Hà Nội 2 89

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tại nghị quyết Số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 Khóa

XI của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới là “Tạo chuyển biến căn

bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân” [20]

Trong đó, mục tiêu của giáo dục đại học là tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học

Nghị quyết số 14/2005/NQ - CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về Đổi

mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 cũng chỉ rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo học chế tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài” [5, Tr.4]

Cùng với đó, ngày 15 tháng 8 năm 2007, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã ra quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”

Như vậy, đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC) là phương thức đào tạo tiên tiến

trên thế giới, theo quan điểm “tôn trọng người học, lấy người học làm trung tâm

của quá trình dạy học” Chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang HCTC là

bước chuyển tất yếu khách quan của hệ thống giáo dục đào tạo đại học ở Việt Nam theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế

Đào tạo theo HCTC cho thấy đã mang lại rất nhiều lợi ích cho người học như; phát huy được tính chủ động, tính sáng tạo, tính tự giác, tính tích cực và tính tự học,

tự nghiên cứu của sinh viên Phương thức đào tạo theo HCTC có độ mềm dẻo và

Trang 12

linh hoạt về môn học, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho sinh viên tích lũy kiến thức nhằm đảm bảo đúng tiến độ thực hiện, đạt kết quả học tập tối ưu

Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) Hà Nội 2 bắt đầu áp dụng hình thức đào tạo theo HCTC cho các ngành học từ năm học 2009 - 2010 Từ đó đến nay đã có 09 khoá sinh viên hệ đại học chính quy được tổ chức đào tạo theo HCTC, trong đó có 05 khoá sinh viên tốt nghiệp ra trường Nhìn chung, phương thức đào tạo theo HCTC ở trường ĐHSP Hà Nội 2 đã được triển khai và đi vào nề nếp; chương trình đào tạo đã được điều chỉnh phù hợp; quy trình quản lý và các quy định liên quan đã được xây dựng và hoàn thiện hơn Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc triển khai và thực hiện quá trình đào tạo theo HCTC ở Nhà trường cũng gặp phải không ít khó khăn và còn một số hạn chế nhất định cần giải quyết Trong đó, có cả hạn chế về đội ngũ cố vấn học tập Đội ngũ cố vấn học tập (CVHT) có vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu trong phương thức đào tạo theo HCTC Mỗi CVHT được xem như là một nhân tố then chốt trong mối quan hệ giữa Nhà trường với sinh viên Họ là một chuyên gia tư vấn về học tập và rèn luyện cho sinh viên, đồng hành cùng sinh viên trong suốt quá trình học tập tại trường

Trong những năm qua, khi bắt đầu áp dụng phương thức đào tạo đại học theo HCTC, Nhà trường đã trang bị cho đội ngũ giảng viên làm CVHT những văn bản phục vụ cho công tác này như: “Quy định về công tác CVHT”; “Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ công tác CVHT”; “Sổ tay sinh viên” Nhìn chung, đa số các CVHT đều tự học hỏi, tìm tòi, tích luỹ kinh nghiệm dần dần trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Họ đã nắm vững các quy định về nhiệm vụ của mình, tận tình hướng dẫn sinh viên (SV) trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, nhằm giúp sinh viên đạt kết

Tuy nhiên, vẫn còn một số CVHT chưa thực sự quan tâm và thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ được giao do còn gặp khó khăn về kinh nghiệm, kỹ năng tư vấn, kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ Hơn nữa, CVHT phải quản lý số lượng SV quá đông nên việc quản lý cũng như nắm bắt tình hình của lớp còn hạn chế, vì lớp học không tổ chức học ổn định một lớp theo niên chế, mà tổ chức học theo lớp học

Trang 13

phần, nên việc gặp gỡ SV để tìm hiểu, trao đổi, triển khai công việc là rất khó khăn cho CVHT Điều này đã gây ra sự ảnh hưởng không tốt tới công tác quản lý SV và nâng cao chất lượng đào tạo trong điều kiện HCTC của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và tính cấp thiết như trên, tôi đã quyết định chọn

đề tài “Quản lý công tác cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở

trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở các trường đại học

- Đánh giá thực trạng công tác CVHT và thực trạng quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

- Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của một số biện pháp đề xuất

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở các trường ĐHSP

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu, khảo sát việc quản lý công tác CVHT ở trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2 trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay

Chủ thể quản lý là các Trưởng khoa ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Trang 14

5 Giả thuyết khoa học

Cùng với việc đổi mới phương thức đào tạo từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ ở các trường đại học trong cả nước, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã chuyển đổi phương thức đào tạo theo hướng mới từ năm 2010 Để đào tạo theo học chế tín chỉ có hiệu quả, một nhân tố đóng vai trò quan trọng tới hiệu quả đào tạo chính là công tác cố vấn học tập Nhận thức rõ vấn đề này, trong thời gian qua, Nhà trường đã có sự quan tâm đặc biệt tới công tác CVHT và nhờ vậy, công tác này đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hiện nay việc quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC của Trường vẫn đang gặp một số khó khăn, bất cập, chưa đạt được hiệu quả như mong đợi Do

đó, nếu thực hiện được đồng bộ các biện pháp quản lý công tác CVHT tốt thì sẽ tạo điều kiện để việc quản lý công tác CVHT ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đạt được hiệu quả cao, góp phần thực hiện thành công quá trình đào tạo theo HCTC của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Tổng hợp, hệ thống, phân tích và khái quát hoá các vấn đề lí luận từ các tài liệu, quy chế, văn kiện,… có liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước Từ đó, làm sáng tỏ các thuật ngữ liên quan đến đề tài và xây dựng được các

cơ sở khoa học về mặt lí luận cho đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến đối với cán bộ quản lý, giảng viên, CVHT

- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại: Gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, giảng viên, CVHT

- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm

6.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ

Phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu: Tổng hợp các ý kiến điều tra, lập các bảng phiếu, phân tích đánh giá số liệu

Trang 15

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở các trường Đại học Sư phạm

- Chương 2: Thực trạng công tác CVHT và thực trạng quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

- Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CVHT TRONG ĐÀO TẠO THEO HCTC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

CVHT là một trong những công việc đảm bảo sự thành công trong hoạt động đào tạo theo HCTC ở các trường đại học, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới CVHT được xem là một hoạt động mang tính đặc thù tạo nên sự khác biệt giữa đào tạo đại học theo HCTC và theo niên chế Để hoạt động CVHT được tiến hành một cách bài bản và có hệ thống, thì cần có một nền tảng lý thuyết vững chắc Trên thế giới vấn đề CVHT đã được đề cập nhiều trong các hội thảo hay công trình khoa học Những lý thuyết bài bản của hoạt động CVHT được đề cập trong Tạp chí Hiệp hội CVHT quốc gia Mỹ (viết tắt là NACADA - National Academic Adviring Association) Vai trò của hoạt động này đã được khẳng định ngay trên trang bìa số

đầu tiên của Tạp chí, John H Borgard (1981): Chúng ta cần một cái gì nhiều hơn để

hoạt động CVHT không chỉ hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu, mà còn đạt được chức năng giáo dục thật sự hơn “Một cái gì đó nhiều hơn chính là nền tảng lý

thuyết tiếp cận cho hoạt động của CVHT” (dẫn theo, L Hagen & P Jordan)

CVHT là hoạt động tạo nên đặc trưng riêng biệt của đào tạo đại học theo HCTC Hoạt động này có vai trò quan trọng đối với sự thành công trong quá trình học tập của SV Các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn quan tâm đến việc xây dựng một nền tảng vững chắc để hoạt động CVHT có cơ sở hoạt động và hoạt động một cách hiệu quả Tuy nhiên, Hiệp hội CVHT Quốc gia Hoa Kỳ, Creamer (2000) đã

khẳng định “Hiện tại vẫn chưa có một lý thuyết chính thống riêng nào cho hoạt

động CVHT” trong cuốn “Sổ tay cho CVHT” Nhưng cách thức mà một CVHT cần

phải làm để có thể tương tác hiệu quả với người học, để tạo cho họ một niềm tin, tâm lí mang tính tích cực trong nghề nghiệp, học tập, phát triển bản thân và xã hội

đã được Hiệp hội CVHT Quốc gia Hoa Kỳ tập trung, làm rõ

Trang 17

Những lý thuyết mang tính liên ngành thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau: Khoa học phát triển, khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, đều có tác dụng hỗ trợ cho hoạt động của đội ngũ CVHT Với sự tiếp cận mang tính đa chiều này, các CVHT sẽ biết được nhiều vấn đề của người học như: Đặc điểm tâm, sinh, lí của SV, sự tương tác xã hội của SV,

Những lý thuyết đem lại hiệu quả cho công tác CVHT là lý thuyết tâm lí - xã hội của con người, thuyết phát triển văn hóa xã hội, thuyết phát triển nhu cầu, có thể khẳng định rằng, hoạt động CVHT khá phức tạp Bởi vậy, sự vận dụng một cách linh hoạt các lí thuyết là một yêu cầu cơ bản Các nhà nghiên cứu còn sử dụng các

lý thuyết ứng dụng trong giáo dục quản lý, trong công tác tham vấn, tất cả những điều đó sẽ giúp cho các CVHT có điều kiện tiếp cận với SV trên nhiều phương diện khác nhau Đồng thời, các CVHT cũng cần đặc biệt lưu tâm đến quá trình xã hội hóa cá nhân người học Quá trình đó liên quan chặt chẽ đến các vấn đề như: Sắc tộc, tôn giáo, giới tính, người đồng tính, (King, 2005, Mc Keweu, 2003) Những vấn đề này đã trở thành các nhân tố góp phần đa dạng hóa các nhóm SV

Những lý thuyết phát triển liên quan đến hoạt động của CVHT rất đa dạng Nhà nghiên cứu Hendy (1999) cho rằng những lý thuyết ấy là quá nhiều Ông cũng khẳng định sự đa dạng về lượng ấy nhưng vẫn đưa đến một cách hiểu chung nhất về hoạt động CVHT trong nhà trường Các CVHT cần có sự vận dụng một cách linh hoạt các lý thuyết đó sao cho phù hợp với các môi trường hoạt động khác nhau Hoạt động CVHT cần phải được xây dựng trên một nền tảng vững chắc Những

lý thuyết ấy sẽ giúp cho các CVHT có cơ sở nhìn thấu đáo, triệt để và đầy đủ hoạt động học tập của SV Song, SV được xem là đối tượng thường xuyên vận động và biến đổi nên các CVHT cần phải quan sát thường xuyên và có chiến lược phù hợp

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Sự chuyển mình trong đào tạo của các trường đại học ở Việt Nam, từ đào đạo theo niên chế chuyển sang đào tạo theo HCTC diễn ra mạnh mẽ từ năm 2010 Sự chuyển giao này đã gây ra không ít khó khăn cho hoạt động đào tạo của nhà trường trong những ngày mới bắt đầu Đó là sự thiếu hụt về hệ thống lý luận và thực tiễn

áp dụng phương thức đào tạo theo HCTC Trước yêu cầu cấp bách của thực tiễn,

Trang 18

các nhà nghiên cứu đã nhanh chóng phân tích tình hình, thảo luận, phân tích các vấn

đề của mô hình đào tạo này Với sự học hỏi, nghiên cứu bài bản những kinh nghiệm

từ các nước khác trên thế giới mà hệ thống lý luận về đào tạo đại học theo HCTC đã hoàn thiện hơn Trong số đó, những kinh nghiệm và lý thuyết của hoạt động CVHT cũng rất được quan tâm

Đối với phương thức đào tạo theo HCTC đã có một đội ngũ cán bộ mới ra đời đáp ứng yêu cầu của phương thức đào tạo này, đó chính là các CVHT Đây cũng được xem là đội ngũ tạo nên sự khác biệt, góp phần quan trọng để làm nên sự thành công trong mô hình đào tạo còn khá mới mẻ ở nước ta Đội ngũ CVHT có vai trò quan trọng và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả của phương thức đào tạo theo HCTC Những giáo viên chủ nhiệm lớp đã không còn và thay vào đó là các CVHT Sự thay đổi này đã đặt ra nhiều câu hỏi, vấn đề cho các nhà trường cũng như các nhà nghiên cứu Đó là CVHT có vai trò ra sao? hoạt động như thế nào?

Từ đó, các cơ sở giáo dục trong nước đã tổ chức nhiều Hội nghị, hội thảo để tìm ra phương thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ CVHT Những bài nghiên cứu, tham luận phần lớn là tập trung làm rõ vai trò, nhiệm vụ và hoạt động của CVHT mà chưa đề cập sâu đến việc quản lí đội ngũ CVHT trong trường Đại học ở Việt Nam hiện nay

Những công trình nghiên cứu về công tác CVHT ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được công bố thông qua các bài báo, tham luận tại các Hội nghị, hội thảo ở trong nước Cùng với đó, là những kinh nghiệm mà chúng ta học tập từ nước ngoài Trong giai đoạn mới bắt đầu áp dụng đào tạo đại học theo HCTC, hoạt động CVHT vẫn còn

là một công việc khá lạ lẫm và đầy mới mẻ đối với đào tạo đại học ở nước ta

Sau giai đoạn bắt đầu, lí thuyết về CVHT ngày càng được bàn đến nhiều hơn Điều này được minh chứng bằng sự ra đời của các công trình nghiên cứu như: Tác giả Trần Thị Minh Đức (2010) đã thực hiện đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp đại học Quốc gia tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội về công tác

CVHT trong hai năm từ tháng 4/2010 đến tháng 4/2012 là: “Xây dựng mô hình hoạt

động của CVHT trong đào tạo tín chỉ ở trường đại học Việt Nam” Đề tài được thực

Trang 19

hiện với sự kết hợp của đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội với Trung tâm nghiên cứu về phụ nữ của đại học Quốc gia Hà Nội Những vấn đề về thực trạng của công tác đào tạo theo HCTC, vai trò của công tác CVHT đã được phân tích rõ trong đề tài Dựa trên các lí thuyết tiếp cận và các mô hình CVHT của các trường đại học trên thế giới, đề tài đã xác định mục tiêu, phương thức hoạt động của CVHT trong hệ thống đào tạo tín chỉ ở Việt Nam Những đề xuất về việc xây dựng

mô hình CVHT được xem là trọng tâm nghiên cứu của đề tài này

Năm 2011 trường Đại học Cần Thơ cũng tổ chức một Hội nghị có liên quan đến công tác CVHT với tên gọi “Nâng cao vai trò của CVHT” Những vấn đề về: vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thuận lợi, khó khăn, yêu cầu của đội ngũ CVHT đã được Hội nghị tập trung bàn luận và trong Hội nghị cũng đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động CVHT

Năm 2013, tác giả Trương Thị Vân Lý đã phân tích kĩ lưỡng về hoạt động của

CVHT trên phương diện quản lí trong luận văn thạc sĩ của mình với đề tài: “Quản lí

công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Học viện Tài chính” Trong luận văn

này, tác giả đã xây dựng hệ thống lí thuyết vững chắc về CVHT ở nhiều bình diện khác nhau Thực trạng quản lí công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Học viện Tài chính đã được phân tích cẩn thận và chi tiết Từ đó, những biện pháp quản lí công tác CVHT tại trường Học viện Tài chính đã được tác giả luận văn nêu ra Ngoài ra, ở nước ta công tác CVHT cũng được bàn đến ở nhiều phương diện khác nhau: phát triển đội ngũ CVHT, nâng cao chất lượng CVHT, Hoạt động CVHT được công nhận như một lĩnh vực quan trọng có tính khoa học cần được đầu

tư nghiên cứu Mặc dù những tài liệu nghiên cứu về hoạt động CVHT không phải là

ít, bởi đây là hoạt động có tính quan trọng tạo nên sự tồn tại cho đào tạo ở đại học theo HCTC, song không có nhiều công trình bàn đến vấn đề quản lí công tác CVHT trong các trường đại học ở nước ta hiện nay

Sự thiếu vắng của những nghiên cứu này sẽ tạo ra một lỗ hổng trong công tác quản lí CVHT ở nhiều môi trường đào tạo đại học khác nhau Vì vậy, điều đó có thể gây ra những thiếu sót cho hoạt động quản lí CVHT cũng như thiếu những chủ

Trang 20

trương, chính sách phù hợp cho quá trình thay đổi cách thức đào tạo Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về nội dung quản lí công tác CVHT ở các trường đại học là một việc làm cần thiết

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm Quản lý

Khái niệm “Quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn, nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Quản lý được hiểu và định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau

+ Trong từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “Quản lí” được xác định là “trông coi

và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [31, Tr.329]

+ Theo quan điểm của F Taylor (1856 -1915) là người sáng lập thuyết quản lí

theo khoa học định nghĩa: “Quản lí là cải tạo mối quan hệ giữa người với người,

giữa người với máy móc và quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng nhất và rẻ nhất, để đạt được hiệu quả” [38, Tr.327]

+ Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí với sự tác động liên tục có tổ

chức, có định hướng của chủ thể (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượng quản lí) về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật

lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo

ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [6, Tr.15].

định hướng, có tổ chức, có ý thức điều khiển của chủ thể quản lí đến đối tượng và khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu đã xác định

Quản lí gồm có 4 chức năng cơ bản sau:

+ Chức năng lập kế hoạch: Là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất Lập kế

hoạch là quá trình xác định mục tiêu phát triển giáo dục, quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đề ra

Chức năng lập kế hoạch gồm có các nội dung chủ yếu sau:

* Dự đoán, dự báo Trên cơ sở nhận thức hiện trạng của tổ chức, nhà quản lý phải dự đoán, dự báo về điều kiện môi trường, các chính sách cơ bản, các kế hoạch hiện có và các nguồn lực có thể huy động

Trang 21

* Chuẩn đoán, đánh giá thực trạng các nguồn lực là việc xác định các nguồn lực cho việc xác định mục tiêu, bao gồm: Nhân lực, vật lực, tài lực

* Xác định các mục tiêu Lập kế hoạch bắt đầu từ việc xác định mục tiêu tương lai và là điểm kết thúc của một kế hoạch đã ấn định, đồng thời còn là điểm kết thúc của công tác tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo và kiểm tra

+ Chức năng tổ chức thực hiện: Là quá trình hình thành, sắp xếp, phân phối

những nguồn lực để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, là sự sắp đặt con người một cách khoa học, công việc một cách hợp lí nhằm thực hiện thành công các kế hoạch

và đạt được hiệu quả mục tiêu tổng thể của tổ chức

Chức năng tổ chức gồm các hoạt động cơ bản sau:

* Xác định những nhiệm vụ thực hiện để đạt được mục tiêu chung

* Nhóm gộp các hoạt động này thành những bộ phận

* Phân công người phụ trách các bộ phận và công việc của từng bộ phận đó

* Giao phó quyền hạn tương ứng để thực hiện nhiệm vụ

* Xác lập cơ chế cho sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận theo thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức

+ Chức năng chỉ đạo thực hiện: Là tác động bằng nghệ thuật, khoa học để duy

trì kỷ luật, kỷ cương của tổ chức, hướng dẫn, thuyết phục, khích lệ nhằm phát huy cao nhất tiềm năng, năng lực của họ hướng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức Chức năng chỉ đạo gồm các nội dung sau:

* Tác động quyền lực trong việc duy trì kỷ luật, kỷ cương đối với nhân viên nhằm duy trì sự ổn định của tổ chức

* Hướng dẫn, thuyết phục và khích lệ nhân viên nhằm phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họ

+ Chức năng kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện: Là đo lường và điều

chỉnh các hoạt động của tổ chức Kiểm tra là đánh giá kết quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức, nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh

Các nội dung cơ bản của chức năng kiểm tra gồm:

* Xây dựng các tiêu chuẩn của quá trình kiểm tra Nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đối với chất lượng của hoạt động kiểm tra

Trang 22

* Đo lường so với chuẩn là phải xuất phát từ những tiêu chuẩn đã được xác lập bao gồm thực hiện công việc và kết quả công việc

* Giải pháp điều chỉnh là khi phát hiện những ưu điểm và kết quả hoạt động của tổ chức, nhà quản lý phải đưa ra các giải pháp nhằm phát huy, kế thừa, khích lệ động viên bằng các hình thức khen thưởng Khi phát hiện ra sai lầm, sai lệch thì cần phải phân tích và tìm ra nguyên nhân rồi từ đó đưa ra những giải pháp điều chỉnh hữu hiệu

Như vậy cả bốn chức năng quản lí trên đều có quan hệ hữu cơ với nhau mà không tách rời nhau Chúng đan xen, hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau trong quá trình thực hiện, tạo nên một sự kết nối từ chu trình quản lí này đến chu trình quản lý kia theo hướng phát triển thông qua các quá trình quản lý

1.2.2 Khái niệm Quản lý giáo dục đại học

* Thế nào là Quản lí giáo dục?

Giáo dục là một hiện tượng xã hội vĩnh hằng vì giáo dục nhằm thực hiện cơ chế lưu truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người của các thế hệ đi trước cho thế hệ sau, để thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa và phát triển xã hội trong tương lai một cách sáng tạo

Quản lí giáo dục (QLGD) là sự vận dụng các lý thuyết của khoa học quản lý vào các lĩnh vực hoạt động giáo dục, để thực hiện mục tiêu mong muốn của giáo dục

Về thuật ngữ “Quản lí giáo dục” đã có rất nhiều quan niệm khác nhau:

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có

kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”[8, Tr.89]

Theo tác giả Trần Kiểm thì QLGD được hiểu thành hai cấp độ chủ yếu: Quản

lí vĩ mô và quản lí vi mô Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động

tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể

Trang 23

quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” Đối với cấp vi mô: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch,

có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả của nhà trường” [14, Tr.14]

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về QLGD, song mỗi một quan niệm đều thể hiện được bản chất của QLGD, đó là hệ thống những tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đề ra QLGD bao gồm: Chủ thể quản lý giáo dục, khách thể quản lý giáo dục và các quan hệ quản lý giáo dục

Vậy, theo chúng tôi thì: QLGD là những tác động có tổ chức, có kế hoạch, có

mục đích, có ý thức, có hệ thống của chủ thể quản lí giáo dục lên đối tượng quản lí giáo dục và khách thể quản lí giáo dục thông qua những công cụ và phương pháp

cụ thể nhằm đạt được mục tiêu quản lí giáo dục, đẩy mạnh công tác giáo dục cả về

số lượng và chất lượng góp phần cho sự phát triển của xã hội

* Thế nào là Quản lí giáo dục đại học

Luật giáo dục 2005 đã quy định về mục tiêu của giáo dục đại học là: “Đào tạo

người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc; giúp SV nắm vững kiến thức chuyên môn và có kĩ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” [18, Tr.6]

Như vậy, đào tạo đại học là một quá trình phức tạp, vì đại học là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, vừa phải tiếp tục đào tạo quá trình giáo dục ở phổ thông, vừa bao gồm quá trình dạy học ở đại học Nên việc quản lí giáo dục đại học phải quản lí xuyên suốt từ khâu tuyển sinh đến việc quản lí người học, phối hợp với các tổ chức, cá nhân, gia đình người học trong hoạt động giáo dục cho đến khi

Trang 24

người học tốt nghiệp Trong công tác quản lí giáo dục đại học đó, trọng tâm chủ yếu vẫn là việc quản lí hoạt động dạy và học của SV

Quản lí giáo dục đại học có thể hiểu là: Sự tác động có tổ chức, có hướng đích

của chủ thể QLGD đại học lên đối tượng giáo dục đại học và khách thể QLGD đại học, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực, các thời cơ của các cơ sở

giáo dục đào tạo để đạt được mục tiêu giáo dục đại học đã đặt ra

1.2.3 Khái niệm Đào tạo theo HCTC

Phương pháp đào tạo theo HCTC là một phương thức đào tạo tiên tiến trong nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới Đào tạo theo HCTC đã đạt được rất nhiều thành công ở các nước châu Âu và châu Á HCTC được khai sinh vào cuối thế kỉ 19 (1872) tại trường Đại học danh tiếng Harvard, Hoa Kỳ và sau đó được triển khai tới nhiều nước khác: Vào những năm 1960 là các nước Tây Âu và đến nay đã phổ biến rộng trên toàn thế giới

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về tín chỉ Có định nghĩa thì coi trọng khía cạnh định tính, định lượng, có định nghĩa lại coi trọng chuẩn đầu ra của SV là chủ yếu, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của chương trình môn học Theo định nghĩa của học giả người Mỹ gốc Trung Quốc James Quann (Đại học Quốc gia Washington) tại buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ của trường Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Hoa ở Vũ Hán vào hè năm 1985

“Tín chỉ (credit) là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người

học, tức là toàn bộ thời gian của một người học bình thường phải sử dụng để học môn học, bao gồm; thời gian học tập trên lớp, thời gian gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học; thời gian dành cho việc tự học ngoài giờ lên lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài ”

Theo quy chế 43/2007/QĐ - BGD&ĐT quy định về tín chỉ như sau: “Tín chỉ

được sử dụng để tính khối lượng học tập của SV Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lí thuyết, 30-40 tiết học thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, 45-90 giờ thực hành tại các cơ sở, 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận

Trang 25

tốt nghiệp Đối với những học phần lí thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ, SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” [2, Tr.2].

Quy định về đào tạo đại học theo HCTC ở trường ĐHSP Hà Nội 2: “Tín chỉ

là đơn vị quy chuẩn dùng để lượng hóa khối lượng kiến thức Một tín chỉ được quy định bằng: 15 tiết lí thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc khóa luận tốt nghiệp Đối với các học phần lí thuyết, hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu khối lượng kiến thức của một tín chỉ, SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” [26, Tr.2]

Đào tạo theo HCTC cho phép người học đạt được bằng cử nhân khi SV phải tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định của cơ sở trong quá trình thực hiện các chương trình đào tạo Ở (Mỹ) từ 120 - 136 tín chỉ, (Nhật Bản) từ 120 - 135 tín chỉ, (Thái Lan) từ 120 - 150 tín chỉ, (Việt Nam) từ 130 - 150 tín chỉ, Sự khác biệt này chính

là do tính chất đặc thù riêng của từng quốc gia giáo dục khác nhau

Phương thức đào tạo theo HCTC có độ mềm dẻo và linh hoạt về môn học SV

có thể tham khảo ý kiến của CVHT để lựa chọn các học phần cho phù hợp với bản thân Mặt khác HCTC cho phép sinh viên thay đổi môn học, ngành học một cách dễ dàng trong quá trình học tập khi thấy cần thiết mà không cần phải học lại từ đầu Sinh viên được tốt nghiệp khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định Do vậy, sinh viên có thể tốt nghiệp sớm hoặc đúng thời hạn quy định, tùy theo khả năng học tập và hoàn cảnh cá nhân

Với HCTC thì kết quả học tập của SV được tính theo từng học phần, do đó mà

SV học không đạt một học phần nào đó cũng không cản trở quá trình học tập tiếp theo, không phải quay lại học từ đầu, nên giá thành đào tạo theo HCTC thấp hơn so với đào tạo theo niên chế

Có thể thấy rằng, đào tạo theo HCTC đã mang lại nhiều lợi ích cho người học

Nó giúp người học rất thuận lợi trong việc có thể chuyển trường, chuyển ngành học, học ngành khác, học cùng một lúc hai ngành Chính những điều này đã góp phần thúc đẩy sự tự giác, tính linh hoạt của SV trong việc chủ động học tập của mình

Trang 26

1.2.4 Khái niệm Quản lý đào tạo theo HCTC

Quản lí đào tạo theo HCTC là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lí đào tạo (gồm các cấp quản lí, các tổ chức quản lý khác nhau từ Ban Giám hiệu, lãnh đạo khoa, lãnh đạo phòng, ban chức năng) đến các đối tượng quản lí đào tạo (bao gồm cán bộ quản lí cấp dưới, giảng viên, SV và cán bộ phục vụ đào tạo) thông qua việc thực hiện các chức năng quản

lý đào tạo đại học dựa trên quy chế đào tạo đại học theo HCTC hiện hành, nhằm đạt được mục tiêu đào tạo của nhà quản lý

Quản lí đào tạo theo HCTC gồm có các nội dung chủ yếu sau:

- Quản lí mục tiêu đào tạo: Nhằm đảm bảo mục tiêu đào tạo được xây dựng hợp lí và được thực hiện một cách trọn vẹn Việc xây dựng mục tiêu đào tạo phải đảm bảo tính mềm dẻo để SV dễ dàng thay đổi môn học, ngành học trong quá trình học khi thấy cần thiết

- Quản lí nội dung và chương trình đào tạo: Xây dựng chương trình đào tạo cho các ngành và chuyên ngành đào tạo phải dựa trên cơ sở nội dung dạy học và chương trình khung do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành

- Quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên: Quản lí người giảng viên thực hiện quy chế đào tạo, quản lí việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học

- Quản lí hoạt động học của SV: Nhằm đảm bảo cho SV thực hiện đầy đủ, chính xác quy chế học tập và rèn luyện, đổi mới phương pháp học tập, xây dựng phương pháp tự kiểm tra, tự đánh giá phù hợp, hướng dẫn SV xây dựng mục tiêu và xây dựng kế hoạch học tập cá nhân

- Quản lí cơ sở vật chất, tài chính phục vụ dạy học: Nhằm đáp ứng những thay đổi trong hoạt động dạy học khi áp dụng đào tạo theo HCTC, kéo theo sự thay đổi trong yêu cầu về cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo

- Quản lí môi trường đào tạo: Nhằm xây dựng môi trường vật chất, trang thiết

bị kỹ thuật phục vụ các hoạt động chuyên môn về đào tạo và đời sống cán bộ, giảng viên và SV, xây dựng tâm lí cho việc học Đó là toàn bộ các yếu tố và điều kiện bao xung quanh và ảnh hưởng đến con người

Trang 27

- Quản lí các hoạt động phục vụ đào tạo và đảm bảo chất lượng đào tạo: Quản

lí các hoạt động tổ chức, thông tin, từ công tác quản lí đến công tác phục vụ, từ việc

Vậy, việc quản lí đào tạo theo HCTC đòi hỏi lãnh đạo nhà trường cần có sự chỉ đạo triển khai, thiết lập các công cụ quản lí các hoạt động đào tạo, quản lí chặt chẽ các điều kiện để thực thi các hoạt động đào tạo

1.2.5 Khái niệm CVHT

CVHT được biết đến khi đào tạo theo HCTC ra đời vào năm 1872 tại trường Đại học Havard, Hoa Kỳ (Trong quy chế đào tạo theo HCTC đã quy định, chức danh CVHT là người hướng dẫn, tư vấn, trợ giúp SV trong suốt quá trình học tập, rèn luyện nhằm phát huy tốt nhất năng lực tự học của mỗi người, qua đó giúp SV lựa chọn môn học, ngành học thích hợp để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp và khả năng tìm được việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp)

1.2.5.1 Các quan niệm về CVHT

CVHT ở Mỹ được hiểu là: “Nhà tham vấn hoặc một thành viên làm việc trong

khoa của trường đại học, người được đào tạo để luôn trợ giúp SV trong việc cung cấp thông tin về đào tạo để SV có thể thích ứng trong lớp học và đạt được mục tiêu học tập” [9, Tr.22].

CVHT ở Úc theo định nghĩa của trường Đại học Victoria là: “Cán bộ của

phòng hỗ trợ SV, là những người cung cấp thông tin, tư vấn và giới thiệu, trợ giúp cho SV trong các vấn đề trọng điểm và các quy định bậc đại học có ảnh hưởng đến họ Theo yêu cầu của SV, CVHT còn là người đại diện, lắng nghe các vấn đề của SV liên quan đến quá trình học tập, những bất bình và phương pháp rèn luyện” [33].

CVHT ở Việt Nam theo tác giả Nguyễn Văn Vân, trường Đại học Luật thành

phố Hồ Chí Minh: “CVHT là người tư vấn và hỗ trợ SV phát huy tối đa khả năng

học tập, lựa chọn học phần để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp và kĩ năng tìm được việc làm thích hợp, theo dõi thành tích học tập của SV nhằm giúp SV điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra một lựa chọn đúng đắn trong quá trình học tập, quản lí, hướng dẫn, chỉ đạo lớp được phân công phụ trách, đảm bảo các quyền và nghĩa

vụ của SV”[32, Tr.1]

Trang 28

Theo quy định của trường ĐHSP Hà Nội 2 thì “CVHT là chức danh được nhà

trường đặt ra, phục vụ công tác đào tạo và QLSV CVHT được lựa chọn từ các giảng viên, cán bộ đã kinh qua công tác giảng dạy của trường Một CVHT có thể làm cố vấn cho một lớp hay nhiều lớp SV theo ngành học CVHT là người có tinh thần trách nhiệm trong công tác, hiểu biết về đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy chế, quy định về đào tạo, các quy chế, quy định về công tác SV và liên quan đến SV CVHT có hiểu biết sâu sắc về mục tiêu, chương trình đào tạo, cách tổ chức, các quy trình công tác đào tạo và quản lí SV ở trường, mục tiêu ngành, chuyên ngành và chuẩn đào tạo của ngành đào tạo” [29, Tr.105].

Trên đây là các định nghĩa, quy định về CVHT trong đào tạo theo HCTC ở các

trường đại học đã được công bố Theo chúng tôi: CVHT là một chức danh được nhà

trường đặt ra, phục vụ cho công tác đào tạo Là người quản lí cho một hay nhiều lớp SV bao gồm các nhiệm vụ; hướng dẫn, tư vấn, giúp đỡ SV có được sự lựa chọn

kế hoạch học tập và rèn luyện đúng đắn, phù hợp nhằm đảm bảo về nghĩa vụ và quyền lợi của SV được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc, đáp ứng và nâng cao hiệu quả chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ

1.2.5.2 Vai trò của CVHT trong đào tạo theo HCTC

Theo quy chế 43 của Bộ giáo dục và Đào tạo, CVHT là người có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đào tạo theo HCTC Mỗi CVHT là một nhân tố then chốt trong mối quan hệ nhà trường - SV - thị trường lao động, là chuyên gia tư vấn, hướng dẫn

và giúp đỡ SV phát huy tối đa năng lực học tập, lựa chọn môn học phù hợp để đạt được mục tiêu học tập và khả năng thích ứng với môi trường học tập, đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập ở bậc đại học đến khi tốt nghiệp CVHT là người theo dõi thành tích học tập của SV, nhằm giúp SV điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra một lựa chọn đúng đắn trong quá trình học tập Quản lí, hướng dẫn, chỉ đạo lớp được phân công phụ trách để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của SV được thực hiện đầy đủ Vai trò của CVHT trong đào tạo theo HCTC là không thể thiếu và thật

sự quan trọng trong quá trình phát triển của SV, giúp SV biết cách tự giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong học tập cũng như quá trình rèn luyện của SV

Trang 29

CVHT có vai trò định hướng, tư vấn, hỗ trợ SV về học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học:

- CVHT có vai trò hướng dẫn SV tìm hiểu chương trình đào tạo, cách lựa chọn học phần Hướng dẫn SV đăng kí môn học cho từng học kì

- CVHT cần theo dõi SV đăng kí học tập cho phù hợp với quy định Khi phát hiện thấy SV đăng kí học các học phần chưa hợp lí thì CVHT hướng dẫn cho SV đăng kí học các môn học thay thế phù hợp

- Hướng dẫn và tư vấn cho SV cách lựa chọn học phần tự chọn, học phần bắt buộc, học phần tiên quyết và lập kế hoạch học tập cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường

- Hướng dẫn SV có phương pháp tự học, tự nghiên cứu và phải thường xuyên theo dõi kết quả học tập của SV

- Nhắc nhở kịp thời khi thấy kết quả học tập của SV bị giảm sút

- Hướng dẫn cho SV cách tính điểm trung bình chung học tập

- Theo dõi, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của SV lớp được phân làm cố vấn

- Hướng dẫn SV điều chỉnh kế hoạch học tập ở các học kì kế tiếp sao cho phù hợp với khả năng học tập và hoàn cảnh của bản thân

- Hướng dẫn SV tìm hiểu đăng kí học ngành 2, học để được cấp chứng chỉ môn học,

Tóm lại, CVHT có vai trò, trách nhiệm quan trọng trong quá trình đào tạo theo HCTC, CVHT là người có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý SV CVHT không chỉ là người tư vấn, hướng dẫn, theo dõi và định hướng cho SV mà còn là người đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập, rèn luyện cũng như tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của SV Do đó, CVHT là người có quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo và kết quả học tập của SV

1.2.5.3 Nhiệm vụ của CVHT trong đào tạo theo HCTC

* Theo quy định của UNESCO (2002), CVHT có trách nhiệm sau:

- Trợ giúp SV phát triển các kế hoạch học tập sao cho đáp ứng được mục tiêu cuộc sống của họ

Trang 30

- Cung cấp cho SV những thông tin chính xác về tiến trình học tập và các yêu cầu cho từng cấp độ, yêu cầu tốt nghiệp

- Trợ giúp SV hiểu được các chính sách và thủ tục liên quan đến học thuật của trường đại học

- Giúp SV tiếp cận được với các nguồn hỗ trợ của trường đại học, từ đó thúc đẩy khả năng của SV để tiến đến thành công mang tính học thuật

- Hỗ trợ SV vượt qua những vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan tới học tập

* CVHT theo mô hình của Mỹ thì bao gồm các nhiệm vụ sau:

- Giúp SV phát triển các kế hoạch giáo dục phù hợp với mục tiêu cuộc sống của họ

- Cung cấp thông tin chính xác về sự tiến triển học thuật và các yêu cầu trình

độ cho SV

- Giúp SV hiểu biết chính sách và thủ tục nhập học

- Giúp SV tiếp cận nguồn lợi về vật chất, thiết bị kỹ thuật của nhà trường, giúp

họ tăng cường khả năng của mình để được học tập thành công

- Giúp SV khắc phục vấn đề giáo dục và vấn đề cá nhân

- Hướng dẫn SV và sử dụng dữ liệu sẵn có nhu cầu học tập và giáo dục, kết quả, nguyện vọng và các vấn đề của SV

- Gia tăng sự duy trì của SV bằng cách cung cấp cho họ một sự liên kết cá nhân mà SV thường cần và yêu cầu, từ đó kết nối họ với tổ chức trường lớp

Với tất cả các nhiệm vụ trên của CVHT là cung cấp cho SV các vấn đề liên quan đến học tập, nghề nghiệp, phát triển cá nhân và xã hội

Trang 31

* CVHT theo quy định của trường ĐHSP Hà Nội 2 bao gồm những nhiệm

vụ sau:

- Nắm vững mục tiêu giáo dục đại học, nội dung, chương trình đào tạo của ngành học trong trường, phương pháp học, dạy và nghiên cứu của ngành học, chuẩn đào tạo của ngành đào tạo, kế hoạch đào tạo của nhà trường

- Nắm vững các quy chế của Bộ giáo dục và Đào tạo, các quy định và nội quy của nhà trường liên quan đến SV được cập nhật thường xuyên

- Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, đoàn thể trong trường

- Làm cố vấn cho một hay nhiều lớp SV về chương trình, kế hoạch học tập Kí duyệt bản đăng kí học tập tín chỉ của SV được phụ trách

- Làm cố vấn cho lớp SV về rèn luyện nhân cách, các vấn đề xã hội Phối hợp

và hỗ trợ phòng Đào tạo, phòng CTCT - HSSV, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các khoa tổ chức phong trào, các hoạt động ngoại khóa cho lớp mình phụ trách

- Theo dõi và đánh giá toàn diện về học tập và rèn luyện của SV lớp mình phụ trách Nhận xét và cho điểm rèn luyện của SV, hướng dẫn thực hiện các thủ tục về vay vốn tín dụng ưu đãi, xét chính sách xã hội, miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội đối với SV

- Tham gia bàn bạc, thảo luận tại các phiên họp của các Hội đồng có liên quan đến SV và lớp mình phụ trách

- Hướng dẫn SV của lớp được cố vấn điều chỉnh kế hoạch học tập ở các kì học

kế tiếp cho phù hợp với năng lực và hoàn cảnh

- Hướng dẫn SV tìm hiểu để đăng kí học ngành 2, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, học để được cấp chứng chỉ môn học

- Kết hợp với khoa, nhà trường trong việc xử lí các trường hợp cảnh báo học

Trang 32

Nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Các quy định, quy chế về đào tạo theo HCTC của Bộ Giáo dục và Đào tạo có liên quan đến SV

Nắm chắc nội dung chương trình đào tạo, mục tiêu giáo dục đại học, chuẩn đào tạo và kế hoạch đào tạo của nhà trường để áp dụng vào việc hướng dẫn, tư vấn cho SV

Lập kế hoạch làm việc với lớp được cố vấn, theo dõi và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của SV

Phối hợp và hỗ trợ các phòng, ban chức năng liên quan để tổ chức các phong trào, hoạt động ngoại khoá…

Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tình hình SV của lớp được cố vấn

* Quản lý công tác CVHT:

Chủ thể quản lí công tác CVHT là người đứng đầu cơ quan (Hiệu trưởng) chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác CVHT Trưởng khoa là người quản lí trực tiếp công tác CVHT trong khoa mình

Vậy quản lý công tác CVHT là: Hoạt động tổ chức, điều hành đội ngũ CVHT

và các hoạt động của đội ngũ CVHT nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo toàn diện

+ Nội dung quản lý đội ngũ CVHT:

Quản lý đội ngũ CVHT là quản lý về nhân sự con người, là sự tác động có ý tưởng của chủ thể quản lý để điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn, theo dõi quá trình thực hiện hoạt động của CVHT nhằm hướng tới mục tiêu phát triển của nhà trường Căn cứ vào tình hình thực tế về số lượng các lớp SV, nhà quản lý lựa chọn những CVHT đủ tiêu chuẩn để làm công tác cố vấn Xây dựng đội ngũ CVHT nhằm phục

vụ cho việc quản lý về học tập, rèn luyện của SV một cách toàn diện là nhiệm vụ cấp thiết của người quản lý

Lãnh đạo quản lý xây dựng kế hoạch cụ thể về dự kiến phân công CVHT là những giảng viên có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm làm CVHT, thông qua ý kiến của khoa, chi bộ Đảng Điều chỉnh và chốt danh sách dự kiến đội ngũ CVHT

và trình Hiệu trưởng ra quyết định bổ nhiệm

Trang 33

+ Nội dung quản lý các hoạt động của CVHT:

Triển khai cho CVHT nắm vững những nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CVHT

Chỉ đạo CVHT lập kế hoạch hoạt động cá nhân theo tháng, theo học kỳ và cả năm học

Công khai kế hoạch, hướng dẫn và chỉ đạo, tổ chức cho CVHT thực hiện nội dung kế hoạch đã xây dựng

Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động của CVHT

Tóm lại: Quản lý công tác CVHT là hệ thống những tác động của chủ thể

quản lý tới các hoạt động của CVHT nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả các mục tiêu giáo dục đại học đã đề ra

1.3 Một số lý luận về quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở các trường ĐHSP

1.3.1 Sự cần thiết phải quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở các trường ĐHSP

Chức danh CVHT có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đào tạo theo HCTC

Họ là người tư vấn, định hướng, theo dõi và có sức ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của SV

- CVHT là người tư vấn cho SV lựa chọn một chương trình học tập phù hợp với bản thân Ngay từ học kỳ đầu tiên SV đã phải tự lựa chọn cho mình những học phần bắt buộc, học phần tiên quyết hay học phần tự chọn, nên sự trợ giúp của CVHT trong việc định hướng cho SV trong việc này là rất cần thiết

- Vào đầu mỗi năm học, nhà trường sẽ thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình đào tạo trong từng học kỳ, dự kiến quy mô và số lớp học phần sẽ

mở, danh sách các học phần bắt buộc, tự chọn, thời khoá biểu các lớp học, đề cương chi tiết và điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần…Trên cơ sở

đó trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, CVHT hướng dẫn SV tìm hiểu chương trình đào tạo của ngành học, trợ giúp SV xây dựng kế hoạch học tập, hướng dẫn cách đăng kí học phần, lựa chọn môn học cho phù hợp với năng lực và điều kiện học tập của bản thân Đặc biệt trong thời gian đăng ký học phần thì CVHT phải luôn theo sát, trợ

Trang 34

giúp SV đăng ký đúng các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó, tránh được việc SV đăng ký sai môn học, hoặc không đăng ký kịp vì cổng tín chỉ đã đóng do hết thời gian đăng ký

- Sau khi kết thúc học kỳ CVHT phải dựa vào kết quả học tập của SV để đánh giá năng lực học tập của từng SV, từ đó hướng dẫn cho SV điều chỉnh kế hoạch học tập ở các học kỳ tiếp theo sao cho phù hợp với năng lực và hoàn cảnh, vừa để đảm bảo tiến độ thực hiện chương trình, mà còn phát huy được tối đa khả năng học tập của bản thân, không để SV rơi vào tình trạng lựa chọn quá nhiều tín chỉ, hay quá ít tín chỉ mà ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện chương trình cũng như kết quả học tập

- Trong đào tạo theo HCTC thì SV phải thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định công tác SV của nhà trường Tuy nhiên không phải SV nào cũng thực hiện đúng nội quy, quy chế đó Ngay từ khi nhập học thì CVHT có vai trò là người hướng dẫn và đôn đốc SV thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền lợi của mình trong suốt thời gian học tập ở Nhà trường

- Ngoài ra, CVHT còn thực hiện việc đánh giá kết quả rèn luyện từng học kì của SV Kết thúc học kỳ, SV dựa vào kết quả rèn luyện của bản thân tự đánh giá kết

quả rèn theo quy định Trên cơ sở đó “CVHT dựa vào các minh chứng kết quả hoạt

động của SV rồi tiến hành xem xét và thông qua mức điểm tự đánh giá của SV, tổ chức họp lớp và phải có quá nửa ý kiến đồng ý của tập thể lớp CVHT xác nhận kết quả họp lớp và chuyển kết quả lên hội đồng đánh giá kết quả rèn luyện cấp khoa”

[29, Tr.116] Đây là nhiệm vụ rất cần thiết và quan trọng đối với SV sau khi kết thúc học kỳ Nhằm giúp cho SV đánh giá được năng lực thực của bản thân, để có thể tự điều chỉnh được hành vi, tự nâng cao kết quả học tập và rèn luyện của mình, cũng như đảm bảo các quyền lợi cho SV

- CVHT là người chịu trách nhiệm trước Trưởng khoa và Hiệu trưởng về quản

lý SV, theo dõi tình hình liên quan đến SV và xử lý các tình huống liên quan đến

SV Đây là một việc làm rất khó đối với CVHT, vì trong đào tạo theo HCTC thì SV không học ổn định một lớp và xuyên suốt các năm học đến khi tốt nghiệp như các lớp học niên chế, mà SV học theo lớp học phần không cố định, mang tính chất tạm

Trang 35

thời, nên CVHT rất khó khăn trong việc theo dõi mức độ chuyên cần cũng như nắm bắt tình hình của lớp SV Do vậy, đòi hỏi CVHT phải có sự thay đổi về nhận thức cũng như cách thức quản lý SV trong đào tạo theo HCTC

Mặt khác, CVHT còn là người động viên, khích lệ, trợ giúp SV phát huy tốt khả năng, năng lực bản thân để có thể tự giải quyết các vấn đề nảy sinh của cá nhân trong toàn khóa học

Như vậy, công tác CVHT trong đào tạo HCTC có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của SV Tuy nhiên, trên thực tế thì vẫn còn CVHT chưa thực hiện hết trách nhiệm nên chưa mang lại hiệu quả công việc, vẫn để SV rơi vào tình trạng bị cảnh báo vì học tập kém, SV bị buộc thôi học vì bị cảnh báo hai lần liên tiếp trong học tập

Theo tiến sĩ Lê Viết Khuyến - nguyên Phó Vụ trưởng Vụ đại học và Sau đại

học - Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Nguyên nhân chính dẫn đến việc nhiều SV bị buộc

thôi học khi đào tạo tín chỉ do sự thiếu trách nhiệm của CVHT Hệ thống này phải

có trách nhiệm hỗ trợ cho SV trong việc lựa chọn kế hoạch phù hợp Nếu hết học kì

1, SV có kết quả học tập không tốt thì CVHT phải tác động và hướng dẫn để SV rút bớt môn học trong học kì tiếp theo để vừa với sức học Vì vậy, muốn thành công trong đào tạo tín chỉ các trường phải chú trọng xây dựng đội ngũ này” [16].

1.3.2 Nội dung quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC

1.3.2.1 Quản lý việc xây dựng, phê duyệt và phổ biến kế hoạch công tác của đội ngũ CVHT

“Kế hoạch” là điều vạch ra với các mục tiêu và cách thức để diễn đạt được mục tiêu trong thời gian nhất định [31, Tr.336]

Xây dựng kế hoạch là thiết kế các bước đi cho hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu những nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực và nguồn lực thông tin) đã có và sẽ khai thác [14, Tr.47]

Xây dựng kế hoạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công việc quản lý

Nó là chức năng cơ bản của mọi nhà quản lý Các kế hoạch được xây dựng một cách hiệu quả sẽ đóng những vai trò cơ bản sau:

- Là cơ sở cho các chức năng khác quản lý Các chức năng khác đều được thiết

kế phù hợp với kế hoạch và nhằm thực hiện kế hoạch

Trang 36

- Giúp cho tổ chức ứng phó với sự thay đổi của môi trường Nếu không có kế hoạch thì tổ chức sẽ không phát triển ổn định và không ứng phó linh hoạt với những thay đổi của môi trường Một kế hoạch tốt sẽ tạo cơ hội cho tổ chức có thể thay đổi

- Kế hoạch chỉ ra phương án tốt nhất để phối hợp các nguồn lực đạt mục tiêu Việc xây dựng kế hoạch chu đáo sẽ đưa ra được phương án tối ưu nhất để thực hiện mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực và tiết kiệm thời gian

- Tạo sự thống nhất trong hoạt động của tổ chức Làm giảm bớt những hành động tuỳ tiện, tự phát, vô tổ chức và dễ đi chệch hướng mục tiêu

- Là cơ sở cho chức năng kiểm tra Kế hoạch được xây dựng chi tiết, rõ ràng

và thống nhất thì sẽ thuận lợi cho nhà quản lý trong quá trình kiểm tra

Khi xây dựng kế hoạch về quản lý công tác của đội ngũ CVHT được thực hiện tốt, sẽ tạo nền tảng vững chắc cho nhà quản lý thực hiện tốt công tác này Trong quá trình tổ chức, phân công, chỉ đạo đội ngũ CVHT thực hiện công tác CVHT cần đảm bảo hoàn thành trách nhiệm ở mức độ hiệu quả cao Hoạt động kiểm tra, giám sát

CVHT thực hiện nhiệm vụ để có những điều chỉnh, khắc phục cần thiết và kịp thời

Để quản lí việc xây dựng kế hoạch công tác của đội ngũ CVHT đạt hiệu quả thì trong quá trình lập kế hoạch, nhà quản lí cần phải đáp ứng các nội dung sau: Căn cứ vào các tiêu chuẩn, điều kiện đối với CVHT, các nhà quản lý cần lựa chọn những giảng viên có đủ tiêu chuẩn theo quy định và ra quyết định bổ nhiệm CVHT để hoàn thiện đội ngũ CVHT vào đầu năm học

Quản lý đội ngũ CVHT đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng Nhà quản

lý phải dự kiến số lượng CVHT dựa vào số lớp SV để tuyển chọn, sử dụng nguồn lực sao cho phù hợp, đảm bảo về số lượng, chất lượng theo quy định

Căn cứ vào kế hoạch công tác năm học, nhiệm vụ cụ thể của CVHT mà nhà quản lý cần xây dựng kế hoạch hoạt động cho đội ngũ CVHT theo tháng, theo học

Trang 37

Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động cá nhân, thực hiện các chế độ báo cáo định kì đối với công tác CVHT Thống nhất thời gian thực hiện và dự kiến thời gian hoàn thành các hoạt động của CVHT

Quản lý việc nắm bắt tình hình lớp SV, báo cáo với lãnh đạo khoa về các trường hợp SV gặp khó khăn đặc biệt cần được giúp đỡ

Quản lý xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát định kì, đột xuất đối với công tác CVHT, nhằm nâng cao chất lượng trong công tác quản lí, hỗ trợ cho SV trong quá trình đào tạo tín chỉ

Tóm lại: Để quản lí hiệu quả việc xây dựng kế hoạch hoạt động của đội ngũ CVHT, người quản lí phải xây dựng kế hoạch thật cụ thể, chi tiết, rõ ràng và phản ánh được hoạt động chung của nhà trường Xây dựng kế hoạch trong từng thời điểm nhất định (từng tuần, từng tháng, từng học kì và cả năm học), đồng thời thấy được trách nhiệm của từng người làm công tác CVHT

Nội dung kế hoạch quản lí đội ngũ CVHT phải tối ưu hóa các nguồn lực về nhân lực, vật lực, tài lực và lựa chọn các phương án tối ưu để thực hiện tốt kế hoạch

Thực hiện tốt chức năng tổ chức sẽ đảm bảo được nền nếp, tạo ra sự nhịp nhàng trong phối hợp giữa các bộ phận, đảm bảo tính kỷ luật và phát huy được sở trường của mỗi cá nhân và mỗi bộ phận trong tổ chức

Con người là trung tâm của tổ chức, vì vậy việc bố trí con người phải phù hợp với công việc Một tổ chức hiện đại là tổ chức mà mọi người cùng hợp tác vì sự phát triển

Trong quản lý công tác CVHT ở trường đại học, trước hết nhà QL cần phải xác định và phân loại các hoạt động cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu đảm bảo

về số lượng và chất lượng, cơ cấu đội ngũ CVHT, phân quyền, phân công nhiệm vụ

Trang 38

cho các CVHT phải rõ ràng, tránh bị chồng chéo giữa các nhiệm vụ để họ chủ động

và phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình

Do vậy, nội dung của chức năng tổ chức quản lí công tác CVHT ở trường đại học bao gồm:

- Xây dựng và phát triển đội ngũ CVHT đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng

và đồng bộ về cơ cấu, xây dựng các mối quan hệ CVHT trong tổ chức, phân công

và tổ chức lao động cho đội ngũ CVHT một cách khoa học và có hiệu quả

- Sử dụng hợp lý đội ngũ CVHT có thể nói là khâu rất quan trọng, vì có lựa chọn, sắp xếp và sử dụng hợp lý đội ngũ CVHT thì mới giúp họ phát huy được hết vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác CVHT nhằm nâng cao hiệu suất và chất lượng công tác Đồng thời qua công tác tuyển chọn và sử dụng hợp lý đội ngũ CVHT thì người QL mới nắm được mặt mạnh, mặt yếu của từng người, để từ đó có thể phân công công việc hợp lý hơn

- Tổ chức thực hiện công tác CVHT theo kế hoạch đã phê duyệt

- Biên soạn, sửa đổi, bổ sung Sổ tay CVHT, thiết kế các biểu mẫu và chuẩn bị các công cụ, phương tiện cho việc tư vấn, hướng dẫn của đội ngũ CVHT

- Hướng dẫn đội ngũ CVHT sử dụng bộ công cụ dành cho CVHT trong công tác

- Phối hợp với phòng Đào tạo, phòng CTCT – HSSV tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ CVHT

- Phối hợp và trợ giúp đội ngũ CVHT khi gặp khó khăn, vướng mắc trong công việc

- Phối hợp với các khoa, phòng ban chức năng liên quan trong thực hiện công tác CVHT

- Hàng năm tổ chức các buổi Hội nghị để thảo luận, đánh giá hiệu quả hoạt động, tổng kết công tác CVHT

1.3.2.3 Chỉ đạo và quản lý việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ CVHT theo

kế hoạch của đội ngũ CVHT

Chỉ đạo là hệ thống những tác động, liên kết giữa chủ thể quản lí với các nguồn lực trong tổ chức, tập hợp, động viên để họ phát huy được tính tích cực, tính

tự giác khi làm việc đạt được yêu cầu chung của tổ chức

Chức năng chỉ đạo gồm các nội dung chủ yếu sau:

Trang 39

- Thực hiện quyền chỉ đạo, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ phù hợp với trình

độ, năng lực của từng thành viên trong tổ chức

- Ra lệnh bằng văn bản dựa trên các quy định văn bản pháp quy

- Thường xuyên kiểm tra, theo dõi đôn đốc, động viên kịp thời trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của nhân viên Qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu có sự sai lệch thì cần phải hướng dẫn điều chỉnh những lệch lạc, sai sót đó

Công tác quản lí đội ngũ CVHT thực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch thì nhà quản lý trong công tác chỉ đạo cần làm những việc sau:

Thường xuyên phổ biến, tuyên truyền về chính sách, chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Những quy định nhiệm vụ, chức trách của các đơn

vị phòng, ban và các đoàn thể nhà trường để nhằm nâng cao nhận thức của mỗi cán

bộ, mỗi SV về trách nhiệm và vai trò quan trọng của công tác CVHT

Xây dựng các văn bản hướng dẫn chỉ đạo thực hiện công tác CVHT, giao trách nhiệm cụ thể cho từng cán bộ làm công tác quản lý CVHT và trách nhiệm cụ thể của mỗi cán bộ trong công tác này

Đặt ra mục tiêu cụ thể của nhà trường, của từng đơn vị và từng cán bộ làm công tác CVHT

Lập kế hoạch tổng thể cho từng giai đoạn, từng năm học, từng học kỳ, từng tháng và từng tuần để tránh được sự chồng chéo, thiếu tính khả thi

Kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo thường xuyên về công tác CVHT

Khích lệ, động viên kịp thời đối với CVHT thực hiện xuất sắc nhiệm vụ Đồng thời phê bình hoặc kỷ luật đối với CVHT không hoàn thành trách nhiệm được giao Cần chỉ đạo sơ kết công tác CVHT vào cuối mỗi học kì và tổng kết công tác CVHT cuối năm học, nhằm đánh giá hoạt động của đội ngũ CVHT với những kết quả đạt được, những việc còn tồn tại, nguyên nhân để từ đó đưa ra những giải pháp, phương hướng cho hoạt động tiếp theo

1.3.2.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các hoạt động CVHT của đội ngũ CVHT

“Kiểm tra” là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ

chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và

Trang 40

hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu [30, Tr.87]

Kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lí Để hoàn tất được chức năng chỉ đạo, nhà quản lý cần phải thực hiện chức năng kiểm tra Kiểm tra các hoạt động của đội ngũ CVHT, nhằm đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động CVHT, từ đó có những phát hiện mặt hạn chế để kịp thời uốn nắn, điều chỉnh và động viên khuyến khích họ Ngoài ra nhà quản lí còn kiểm soát được chất lượng hoàn thành nhiệm vụ

Kiểm tra còn tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới tổ chức

Thực hiện kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện công khai, liên tục theo quá trình Quá trình đánh giá hoạt động CVHT phải được thực hiện liên tục, chính xác, công bằng và khách quan

Nhà quản lí đánh giá các hoạt động của đội ngũ CVHT qua việc dùng phương pháp thu thập thông tin, phân tích, đánh giá kết quả công việc theo các mục tiêu đề ra Thực hiện việc kiểm tra, đánh giá rất có ý nghĩa trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác CVHT Đây chính là công cụ quan trọng để kiểm định được hoạt động của CVHT Thông qua kiểm tra, đánh giá giúp lãnh đạo nhà trường đánh giá được năng lực, trình độ, kết quả hoạt động của đội ngũ CVHT, để từ đó có những quyết định quản lí phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lí đội ngũ CVHT

Để thực hiện tốt khâu kiểm tra, đánh giá các hoạt động của đội ngũ CVHT, nhà quản lý cần phải chú trọng, rà soát số lượng cán bộ đã cung ứng đủ nhu cầu về đào tạo chưa? để có biện pháp khắc phục kịp thời Tăng cường kiểm tra hoạt động CVHT thông qua khảo sát lấy ý kiến phản hồi từ phía SV, kết quả xếp loại học tập, kết quả rèn luyện, tỷ lệ SV ra trường đúng thời hạn,… Qua đó, phát hiện những CVHT có năng lực chuyên môn tốt, tâm huyết với công việc, để động viên, khuyến khích họ phát huy tốt hơn nữa vai trò cố vấn của mình, đồng thời nhắc nhở, uốn nắn những CVHT chưa hoàn thành nhiệm vụ để họ khắc phục những hạn chế và cố gắng phấn đấu trong công tác này Đây được xem là vấn đề then chốt, có ý nghĩa đặc biệt để có những phương hướng, cách thức phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công việc của đội ngũ CVHT

Ngày đăng: 06/11/2018, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2013), Quản lí hệ thống giáo dục quốc dân và quản lí nhà trường (Tập bài giảng dành cho Cao học Quản lí giáo dục), Nxb Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí hệ thống giáo dục quốc dân và quản lí nhà trường (Tập bài giảng dành cho Cao học Quản lí giáo dục)
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Giáo dục
Năm: 2013
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Ban hành theo Quyết định số 43/2007/ QĐ/BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
3. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1997), Cơ sở khoa học về quản lí (Giáo trình Cao học Quản lí giáo dục), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học về quản lí (Giáo trình Cao học Quản lí giáo dục)
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
4. Chính phủ nước CHXHCNVN (2003), Điều lệ Trường Đại học, Ban hành QĐ số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Trường Đại học
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCNVN
Năm: 2003
6. Nguyễn Minh Đạo (1997), Cơ sở của khoa học quản lí, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của khoa học quản lí
Tác giả: Nguyễn Minh Đạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
7. Trần Thị Minh Đức (chủ biên) (2012), Cố vấn học tập trong các trường Đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cố vấn học tập trong các trường Đại học
Tác giả: Trần Thị Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
8. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
9. Đinh Việt Hải (2012), Quản lý chuyển đổi đào tạo đại học theo tín chỉ: cách nhìn từ vài góc độ (sách chuyên khảo CVHT trong các trường Đại học), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chuyển đổi đào tạo đại học theo tín chỉ: cách nhìn từ vài góc độ (sách chuyên khảo CVHT trong các trường Đại học)
Tác giả: Đinh Việt Hải
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2012
10. Đặng Thành Hƣng (2002), Dạy học hiện đại: Lí luận, biện pháp, kĩ thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại: Lí luận, biện pháp, kĩ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
11. Đặng Thành Hƣng (2010), “Bản chất của quản lí giáo dục”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 60 tháng 09, trang 6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của quản lí giáo dục”, "Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Năm: 2010
12. Đặng Thành Hƣng, Ngô Hải Chí (2016), “Một số mô hình cơ bản của hoạt động CVHT trong giáo dục đại học”, Tạp chí Thiết bị giáo dục, số 127 tháng 3/2016, trang 13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số mô hình cơ bản của hoạt động CVHT trong giáo dục đại học”, "Tạp chí Thiết bị giáo dục
Tác giả: Đặng Thành Hƣng, Ngô Hải Chí
Năm: 2016
13. Trần Kiểm (2010), Khoa học tổ chức và quản lí trong giáo dục, Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và quản lí trong giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2010
14. Trần Kiểm (2016), Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lí giáo dục, Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lí giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2016
15. Trần Kiểm (2017), Quản lí và lãnh đạo nhà trường hiệu quả, Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí và lãnh đạo nhà trường hiệu quả
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2017
16. Lê Viết Khuyến (2012), Cải tiến quản lý đào tạo theo Học chế học phần, Hội nghị Giáo dục Đại học toàn quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến quản lý đào tạo theo Học chế học phần
Tác giả: Lê Viết Khuyến
Năm: 2012
17. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2006), Tâm lý học quản lí, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản lí
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2006
18. Luật Giáo dục (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Luật Giáo dục
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
19. Trương Thị Vân Lý (2013), Quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Học viện Tài chính, Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC ở Học viện Tài chính
Tác giả: Trương Thị Vân Lý
Năm: 2013
21. Lê Quang Sơn (2010), “Những vấn đề quản lý đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sƣ phạm”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng (Số 6-41), Trang 125-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề quản lý đào tạo theo HCTC ở trường Đại học Sƣ phạm”, "Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Lê Quang Sơn
Năm: 2010
22. Lưu Thị Thuý (2013), Thực trạng quản lý đội ngũ CVHT tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý đội ngũ CVHT tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lưu Thị Thuý
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w