1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Phát triển du lịch khu danh thắng Tây Thiên – Vĩnh Phúc”

98 331 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 4,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vĩnh Phúc đang sở hữu một số lượng lớn các di tích lịch sử văn hóa, trong đó nhưng đáng chú ý hơn hết là khu di tích danh thắng Tây Thiên, một biểu tượng đặc trưng cho địa văn hóa vùng trung du Vĩnh Phúc

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đờisống văn hóa, xã hội của con người và là một tiêu chí để đánh giá chất lượngcuộc sống Chính vì thế ngành công nghiệp du lịch thực sự trở thành mộtngành công nghiệp chiếm vị trí quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu Hoạtđộng du lịch trên thế giới đang thu hút hàng tỷ người tham gia hàng năm,mang lại lợi ích to lớn về nhiều mặt Du lịch không chỉ giúp con người thỏamãn ở nhu cầu vui chơi giải trí mà ngày nay du lịch con đem lại cho conngười nhiều sự trải nghiệm mới về những vùng đất, con người mà du kháchđặt chân tới Đặc biệt, bước sang thế kỉ XXI, là kỉ nguyên của khoa học –công nghệ, con người phải chịu rất nhiều áp lực trong công việc vì vậy du lịch

sẽ là cách tốt nhất giúp con người lấy lại sức khỏe, và tái sản xuất ra sức laođộng

Cùng với sự phát triển của du lịch thế giới, ngành du lịch Việt Namcũng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốcdân Trong những năm gần đây, lượng khách du lịch quốc tế đến với ViệtNam tăng lên đáng kể Nền chính trị hòa bình, chính sách kinh tế mở cửa,đường lối ngoại giao linh hoạt kết hợp với một vị trí địa lý chiến lược là trungtâm của khu vực Đông Nam Á, là nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và lục địa,

là nơi giao nhau của nhiều luồng sinh vật nhiệt đới, ôn đới đã tạo nên một đấtnước Việt Nam phong phú tươi đẹp với “ Rừng vàng, biển bạc’’ và cả một bềdày lịch sử với hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước đã tạo điều kiện chochúng ta có một nguồn tiềm năng du lịch dồi dào, hấp dẫn; tạo tiền đề chongành du lịch Việt Nam phát triển và hội nhập với khu vực cũng như thế giới

Trang 2

Nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, với tiềm năng du lịch đadạng, phong phú nên Vĩnh Phúc đang được xem là một trong những điểm đếnhấp dẫn của vùng miền núi phía Bắc và là nơi đến tham quan, nghỉ dưỡngthuận tiện của nhân dân thủ đô và khách quốc tế khi đến Việt Nam.

Vĩnh Phúc đang sở hữu một số lượng lớn các di tích lịch sử văn hóa,trong đó nhưng đáng chú ý hơn hết là khu di tích danh thắng Tây Thiên, mộtbiểu tượng đặc trưng cho địa văn hóa vùng trung du Vĩnh Phúc bởi có nhữngđặc điểm sau: thứ nhất, Tây Thiên là một quần thể di tích - danh thắng tổnghợp của các loại hình di tích lịch sử văn hóa Thứ hai, Tây Thiên là một khu ditích danh thắng có diện mạo hoành tráng, đa dạng Thứ ba, Tây Thiên có nộidung thờ tự tín ngưỡng, phức hợp phong phú

Hàng nghìn năm nay, khu danh thắng Tây Thiên đã trở thành danh lamnổi tiếng của trấn Sơn Tây xưa, Vĩnh Phúc ngày nay Mặc dù có nguồn tàinguyên du lịch tự nhiên và nhân văn độc đáo, hấp dẫn thế nhưng thực tế pháttriển du lịch ở Tây Thiên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có và trongquá trình khai thác phục vụ du lịch vẫn còn xảy ra những tình trạng bất cập.Chính từ những thực tế đó đã thôi thúc tôi chọn đề tài: “Phát triển du lịch khudanh thắng Tây Thiên – Vĩnh Phúc” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp củamình, với mục đích phát huy được tối đa giá trị du lịch của khu danh thắngTây Thiên cũng như tạo cho khu danh thắng một thương hiệu trong hệ thốngtuyến điểm du lịch của Việt Nam, trả lại cho khu danh thắng giá trị vốn có của

nó Tôi hy vọng công trình nghiên cứu của mình sẽ tạo ra được những hiệuquả hữu ích cho khu danh thắng Tây Thiên nói riêng và ngành du lịch củaVĩnh Phúc nói chung

Trang 3

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài.

Khu danh thắng Tây Thiên từ xưa đến nay đã nổi tiếng bởi vẻ đẹp thơmộng của thiên nhiên và còn là vùng đất linh thiêng gắn liền với cội nguồnPhật giáo của Việt Nam và tín ngưỡng thờ Quốc MẫuTây Thiên Tam Đảo Do

đó, ngay từ xa xưa Tây Thiên đã được ghi chép lại trong trong các nguồn tưliệu sử sách và bia đá như : sách “Sơn Tây Thành Trì Tịnh Vĩnh Yên Hạt SựTích” cho biết: "Núi Tam Đảo thuộc địa phận huyện Tam Dương, ba ngọn caosừng sững, ngọn đứng giữa là Thạch Bàn, bên tả là Thiên Thị, bên hữu là PhùNghĩa Trên đỉnh núi Thạch Bàn có chùa Tây Thiên, có cả dấu tích người xưađánh cờ, lại có cả am Ngọa Vân, am Song Tuyền, cầu bước trên thang mây…Suối nước quanh co uốn khúc theo khe đá, tạo ra mười một ngọn như suốiTrường Sinh, suối Giải Oan, v.v ở chỗ lưng chừng núi có một ngôi chùaĐồng, kích thước chiều ngang dọc rộng chừng một thước Trong chùa có mộtpho tượng Phật, một chiếc khánh và một quả chuông Tương truyền, khách dulãm đi đến chốn này hễ có tiếng người nói nhỏ, thì lập tức thấy mây mù kéođến bao phủ khắp bốn phía Núi non ở vùng này linh dị không sao lường hếtđược" Sách “Bắc Thành Địa Dư Chí Lục” cho biết thêm, núi Tam Đảo nằm ởđịa phận xã Sơn Đình, huyện Tam Dương, gồm ba đỉnh núi cao sừng sững đốixứng với dãy núi Tản Viên Trên đỉnh núi Tam Đảo có chùa Tây Thiên, thờphụng Tam Đảo Sơn Thần Quốc Mẫu, được triều đình sắc phong là ĐạiVương Ngoài ra còn có sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Ngô ThìNhậm có ghi: “huyện Tam Dương, thế núi cao hiểm, núi Tam Đảo có nhiềungọn liền nhau, ngoằn nghèo bao la, tiếp với Thái Nguyên, trên núi có đềnTrụ Quốc Thánh Mẫu, có tiếng linh thiêng”

Nhưng đáng chú ý hơn cả là những ghi chép của Lê Quý Đôn trong

“Kiến văn tiểu lục” : “… sườn núi có chùa Tây Thiên cổ tự, tre xanh thôngtốt, cảnh sắc thanh nhã, rộng rãi, trên núi lại có chùa Đồng Cổ, vừa lên vừa

Trang 4

xuống phải mất hai ngày, từ phía tả khe Giải Oan trèo lên núi, đến hồ sennước xanh biếc, trong hồ có thứ đá lạ và có sen đỏ hoa nở bốn mùa, hai bênngoài hồ, suối từ sườn núi chảy ra, bên trái gọi là suối Bạc, phát nguyên từkhe đá đỉnh núi chảy xuống trông như tấm lụa; bên phải gọi là suối Vàng, từchùa bên phải chảy ra, chùa bên phải này vuông vắn phỏng hơn một trượng,tường nhà toàn bằng đá, cánh cửa hai bên khóa chặt lại bằng khóa sắt lớn, trên

có viên đá khắc chữ triện là “Địa Ngục tự”, không biết dựng từ đời nào”

Ngoài ra còn có tấm bia đá tứ diện được đặt trước đền Thõng, mặt phíađông có 4 chữ “ Tam Đảo linh sơn” có nội dung ca ngợi cảnh đẹp Tây Thiên:

“… trải xem cổ tích danh lam, chỉ có Tây Thiên là nơi cảnh đẹp, núi thiêng đádựng ba tòa, thác nước đẹp treo cao vời vợi; nước phun chín khúc quanh co,trong vắt nhìn thấy đáy, mây lành lãng đãng trên núi…”

Và trong những năm gần đây, do nhận thấy giá trị to lớn của khu danhthắng Tây Thiên nên các nhà nghiên cứu đã dành nhiều thời gian nghiên cứu.Tháng 7/1999 UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức hội thảo khoa học về di tích -danh thắng Tây Thiên, có 21 bản báo cáo khoa học có giá trị Tháng 10/1999

Sở VHTT&TT tỉnh Vĩnh Phúc cho xuất bản tập san : “Di tích - Danh thắngTây Thiên - Kỷ yếu hội thảo khoa học”

Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều bài báo viết về Tây Thiên và có cả một

số đề tài khóa luận tốt nghiệp có nói đến khu danh thắng Tây Thiên như đề tài

“Tìm hiểu hoạt động du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Nguyễn PhanThương Điệp - sinh viên khoa Văn hóa Du lịch trường Đại học Văn hóa HàNội Tuy nhiên hầu hết các bài báo và khóa luận này mới chỉ dừng lại ở mức

độ giới thiệu đây là một điểm du lịch hấp dẫn, giới thiệu khái quát về cảnhđẹp của núi rừng Tây Thiên cũng như tính linh thiêng tại đây chứ chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu đầy đủ về Tây Thiên dưới góc nhìn khai thác Tây

Trang 5

Thiên để phát triển trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn Chính vì thế tôi đãchọn đề tài cho khóa luận của mình là: “Phát triển du lịch khu danh thắng TâyThiên – Vĩnh Phúc” để nghiên cứu cụ thể những tiềm năng du lịch và thựctrạng du lịch tại khu danh thắng để đưa ra những đề xuất phát triển du lịch bềnvững tại đây.

3 Mục đích nghiên cứu.

- Tìm hiểu và phân tích những giá trị độc đáo, đặc sắc của khu danh thắng TâyThiên

- Tìm hiểu thực tế phát triển du lịch tại khu danh thắng Tây Thiên, từ đó đưa

ra những định hướng, giải pháp nhằm khai thác du lịch một cách có hiệu quảtại khu danh thắng Tây Thiên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Khu danh thắng Tây Thiên xã Đại Đình và một phần xã Tam Quan –huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc

5 Phương pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành bài nghiên cứu của mình thì tôi đã sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát thực địa

- Phương pháp phân tích thống kê

- Phương pháp tổng hợp so sánh

- Phương pháp phỏng vấn thực địa

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Trang 6

6 Bố cục đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về khu danh thắng Tây Thiên.

Chương 2: Giá trị du lịch của khu danh thắng Tây Thiên.

Chương 3: Thực trạng hoạt động du lịch và một số giải pháp phát triển du lịch tại khu danh thắng Tây Thiên.

Trang 7

CHƯƠNG 1:

KHÁI QUÁT VỀ KHU DANH THẮNG TÂY THIÊN

1.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Vĩnh Phúc.

1.1.1 Vị trí địa lý.

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ(1), tỉnh VĩnhPhúc có 9 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên,các huyện: Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, VĩnhTường, Yên Lạc Tỉnh có diện tích tự nhiên 1.231,76 km2

Tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc là Thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô

Hà Nội 50km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km

Phía Bắc tỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên;phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hà Tây (cũ); phía Đông và Đông Nam giápthủ đô Hà Nội; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ

1.1.2 Lịch sử hình thành tỉnh Vĩnh Phúc.

Vĩnh phúc là một miền đất thuộc nhà nước cổ đại đầu tiên của ViệtNam – nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, tổ tiên xa xưa của các thế hệngười Việt ngày nay Vĩnh Phúc khi ấy thuộc bộ Văn Lang Từ thế kỷ thứ IIItrở đi còn nhiều lần thay đổi địa danh Tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay được thànhlập vào năm 1950, do sự kết hợp của hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên Khi hợpnhất tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.715km², dân số 470.000 người Từ khi tỉnhVĩnh Phúc thành lập đến nay có nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính:

1 () Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc bao gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh

Trang 8

Năm 1955 huyện Phổ Yên tách khỏi tỉnh Thái Nguyên nhập vào VĩnhPhúc, đến năm 1957 lại trở lại tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 7/6/1957 thị trấn Bạch Hạc chuyển sang tỉnh Phú Thọ và hợpnhất với thị trấn Việt Trì để trở thành thị xã Việt Trì

Ngày 20/4/1961 huyện Đông Anh (gồm 16 xã), xã Kim Chung củahuyện Yên Lãng, thôn Đoài xã Phù Lỗ (phía nam sông Cà Lồ) của huyện KimAnh tách khỏi Vĩnh Phúc chuyển về thành phố Hà Nội

Ngày 26/1/1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủCộng hòa ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh PhúThọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì trở thành tỉnh lỵcủa Vĩnh Phú

Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết (ngày26/11/1996) về việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ Tỉnh Vĩnh Phúcchính thức được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1997 Khi tách ra,tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.370,73 km², dân số 1.066.552 người, gồm 6 đơn

vị hành chính cấp huyện: thị xã Vĩnh Yên, và 5 huyện Lập Thạch, VĩnhTường, Yên Lạc, Tam Đảo và Mê Linh

Tháng 6/1998, tách huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Dương và BìnhXuyên

Ngày 9/12/2003, thành lập huyện Tam Đảo mới

Từ ngày 1/8/2008, huyện Mê Linh đã được tách ra và sát nhập vàothành phố Hà Nội

Từ 1/4/ 2009 huyện Lập Thạch tách làm 2 là: huyện Sông Lô và huyệnLập Thạch Như vậy từ tháng 4/2009 đến nay tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị

Trang 9

hành chính bao gồm: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện: LậpThạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc

1.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Vĩnh Phúc tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, là tỉnh được Trung ương xếptrong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc Tỉnh có thế mạnh phát triển côngnghiệp, dịch vụ du lịch và nông nghiệp Từ năm 1996 trở về trước, kinh tếkhu vực thuộc tỉnh bấy giờ tăng trưởng chậm, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớntrong cơ cấu nền kinh tế Các dự án về công nghiệp và dịch vụ hầu hết đầu tư

ở thành phố Việt Trì và một số huyện, thị thuộc tỉnh Phú Thọ hiện nay Côngnghiệp và dịch vụ đa số thuộc thành phần kinh tế nhà nước tập trung ở thị xãPhúc Yên và Vĩnh Yên, chỉ có rải rác một vài doanh nghiệp nhà nước thuộclĩnh vực nông – lâm – thủy sản là ở các huyện Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh

do có nhiều lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và chính sách hấp dẫn thu hútđầu tư của các thành phần kinh tế vào địa bàn Vĩnh Phúc tạo ra bước pháttriển mang tính đột biến Tỉnh được Trung ương xếp vào nhóm 10 tỉnh có tốc

độ phát triển cao nhất cả nước hiện nay; GDP tăng bình quân 14,4%/năm, cơcấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷtrọng nông nghiệp Hiện nay cơ cấu kinh tế của tỉnh là: Công nghiệp - xâydựng 50,44%; Dịch vụ 28,23%; Nông nghiệp 21,23%

Bên cạnh sự nghiệp phát triển kinh tế, nhân dân Vĩnh Phúc còn cótruyền thống lâu đời trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, người dân VĩnhPhúc có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo Lịch sử phát triển của tỉnhgắn liền với lịch sử của các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dântộc Đất Vĩnh Phúc đã từng nổi tiếng với những danh tướng và anh hùng dântộc: Hai Bà Trưng, Trần Nguyễn Hãn, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn TháiHọc.Trong kháng chiến chống Pháp, trên đất Vĩnh Phúc đã diễn ra nhiều

Trang 10

chiến công hiển hách như Chiến thắng Xuân Trạch, chiến dịch Trần HưngĐạo Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tỉnh là nơi đã bắn rơi nhiều máy bay

Mỹ, có các anh hùng quân đội tiêu biểu như Trần Cừ, Nguyễn Viết Xuân,

Cho đến nay, tỉnh Vĩnh Phúc vẫn mang đậm dấu ấn của văn hóa HùngVương và Kinh Bắc Thăng Long, của nền văn hóa dân gian đặc sắc, truyềnthống khoa bảng, với lối sống xã hội và chuẩn mực đạo đức luôn được giữ gìn

và phát huy cho đến ngày nay

Vùng núi: Vùng này chiếm phần lớn diện tích huyện Lập Thạch, huyệnSông Lô, huyện Tam Đảo và 4 xã thuộc huyện Bình Xuyên, 1 xã thuộc thị xãPhúc Yên Trong vùng có dãy núi Tam Đảo là tài nguyên du lịch quý giá củatỉnh và của cả nước Vùng này có địa hình phức tạp, khó khăn cho việc xâydựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông

Vùng trung du: kế tiếp vùng núi, chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam Vùng trung du chiếm phần lớn diện tích huyện Tam Dương và BìnhXuyên (15 xã), Thành phố Vĩnh Yên (9 phường, xã), một phần các huyện LậpThạch và Sông Lô, thị xã Phúc Yên Trong vùng còn có nhiều hồ lớn như ĐạiLải, Xạ Hương, Vân Trục, Liễn Sơn, Đầm Vạc là nguồn cung cấp nước chohoạt động sản xuất, cải tạo môi sinh và phát triển du lịch

Trang 11

-Vùng đồng bằng gồm các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc và một phần thị

xã Phúc Yên, đất đai bằng phẳng, thuận tiện cho phát triển cơ sở hạ tầng, cácđiểm dân cư đô thị và thích hợp cho sản xuất nông nghiệp

1.2.1.2 Khí hậu.

Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Nhiệt độtrung bình năm 23,2 - 250C, lượng mưa 1.500 - 1.700 ml; độ ẩm trung bình84-85%, số giờ nắng trong năm 1.400 - 1.800 giờ

Riêng vùng núi Tam Đảo có kiểu khí hậu quanh năm mát mẻ (nhiệt độtrung bình 210C) cùng với cảnh rừng núi xanh tươi, phù hợp cho phát triểncác hoạt động du lịch, nghỉ ngơi, giải trí

hồ Làng Hà, thác Bản Long, thác Bạc (Tam Đảo), là những tài nguyên du lịchquý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho Vĩnh Phúc

1.2.1.4 Sinh vật

Vĩnh Phúc có dãy núi Tam Đảo chạy dài 50km theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, trên địa giới ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quangvới 3 đỉnh cao là Thiên Thị, Thạch Bàn, Phù Nghĩa Vườn quốc gia Tam Đảo

có hệ động thực vật rừng phong phú với 490 loài bậc cao, thuộc 334 chi và

Trang 12

130 họ Về động vật có 281 loài, thuộc 114 họ, 26 bộ, trong đó có 47 loàiđộng vật quý hiếm, với 10 loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt(2) và trong đó cónhiều loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao, vừa phục vụ cho nghiên cứu khoahọc vừa có điều kiện để phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng.

1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn.

Vĩnh phúc là vùng có truyền thống cách mạng, lịch sử anh hùng trongquá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh cóhơn 700 di tích văn hoá - lịch sử, trong đó 208 ngôi đình, 320 chùa, 114 đền,

95 miếu, nhiều công trình đã được xếp hạng cấp quốc gia(3) Tiêu biểu như:Đền thờ Tả Tướng Quốc Trần Nguyên Hãn ở xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch;Chùa Hà Tiên ở xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên là một trong những trungtâm phật giáo lớn thời Lý, Trần; Khu danh thắng Tây Thiên: nơi thờ QuốcMẫu Lăng Thị Tiêu; Cụm đình Hương Canh, với kiến trúc hoành tráng bằng

gỗ, nơi thờ Ngô Quyền, phu nhân, con trai thứ Ngô Văn Xương và tướng củaNgô Quyền, (lục vị đại vương); Di chỉ Gò Đậu ở thị trấn Yên Lạc (huyện YênLạc) được phát hiện lần đầu năm 1962, nơi đây đã tìm được nhiều di chỉ khảo

cổ học thuộc nền văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, chứng minhnghề trồng lúa nước có từ rất sớm Di chỉ là di tích văn hoá quý hiếm củaquốc gia;…

Ngoài những di sản văn hoá vật thể, Vĩnh Phúc còn là vùng văn hoá dân gianđặc sắc trên nhiều loại hình như: Văn học dân gian, mỹ thuật dân gian, âmnhạc dân gian, trò diễn hội làng, làng nghề

3 Tổng cục du lịch Non nước Việt Nam Hà Nội – 2009.

Trang 13

Vĩnh Phúc là nơi cư trú của hơn 13 dân tộc anh em,trong đó chiếm sốlượng lớn là người Kinh, Sán Dìu, Dao, Cao Lan; hầu hết các dân tộc vẫn còngiữ được những nét văn hóa đặc sắc của văn hóa dân tộc mình.

Truyền thuyết dân gian và truyền thuyết lịch sử ở Vĩnh Phúc luôn gắnliền với cội nguồn của dân tộc, được phổ biến và lưu truyền ở nhiều địaphương trong tỉnh như truyền thuyết về người con gái Tam Đảo, truyền thuyếtĐinh Thiên Tích, truyền thuyết về tướng lĩnh của Hai Bà Trưng các truyềnthuyết trên đều nói về những tấm gương giúp dân đánh giặc cứu nước ở VĩnhPhúc Tục ngữ, ca dao, dân ca cũng là thể loại được phổ biến trong cộng đồngdân cư của các dân tộc ở Vĩnh Phúc Nội dung của tục ngữ, ca dao ở VĩnhPhúc đều nói lên cái hay, vẻ đẹp tiêu biểu của quê hương và phản ánh đờisống lao động của người dân Về dân ca ở Vĩnh Phúc vừa mang âm điệu củavùng đồng bằng, vừa phảng phất âm điệu của các làn điệu dân ca các dân tộcmiền núi Tiêu biểu là trống quân Đức Bác, hát ví giao duyên, hát soọng côcủa đồng bào dân tộc Sán Dìu

Trò chơi hội làng là một hoạt động văn hoá tiêu biểu ở nhiều địaphương trong tỉnh còn lưu giữ đến ngày nay như trò chọi trâu xã Bạch Lưu(Lập Thạch) vào ngày 17 tháng giêng; trò kéo co ở Tích Sơn (Vĩnh Yên); tròbơi chải ở Bạch Hạc; cướp Phết ở Bàn Giản (Lập Thạch) ngoài ra còn có tròđua tài khéo léo như thi nấu cơm ở Sơn Đông (Lập Thạch), Thượng Trưng(Vĩnh Tường), Tích Sơn (Vĩnh Yên)

Nói đến văn hoá dân gian Vĩnh Phúc còn phải kể đến văn hoá ẩm thực

Đó là những món ăn, cách uống mang nét đặc trưng của miền quê này, gắnliền với cuộc sống của từng vùng đã có từ bao đời nay như: mắm tép ở ĐứcBác, cá thính ở Đức Bác, Cao Phong; cá gỏi của người Cao Lan; bánh nẳng ở

Trang 14

Đôn Nhân, Nhân Đạo; cháo se, bánh hòn ở Hương Canh; nem chua ở VĩnhYên, đa nem ở Tiến Thịnh, bún bánh ở Vĩnh Mỗ

Vĩnh Phúc cũng là nơi nổi tiếng với các làng nghề truyền thống nhưmộc, đan lát, chạm khắc đá, gốm Trong đó các làng nghề gốm Hương Canh,chạm khắc đá Hải Lựu, tằm tang ở Yên Lạc từ lâu đã nổi danh khắp cả nướcbởi sự tài hoa khéo léo của các nghệ nhân để tạo ra những sản phẩm thủ côngđẹp và tinh tế

Nói tóm lại, Vĩnh Phúc là vùng đất cổ, nơi lưu giữ được rất nhiều cácgiá trị văn hóa vật chất và tinh thần cổ truyền, tạo điều kiện cho ngành du lịchVĩnh Phúc phát triển

1.3 Khái quát về khu danh thắng Tây Thiên.

1.3.1 Vị trí địa lý

Quần thể di tích danh thắng Tây Thiên nằm trong dãy núi Tam Đảothuộc địa phận xã Đại Đình và một phần xã Tam Quan huyện Tam Đảo, tỉnhVĩnh Phúc Toàn bộ khu danh thắng Tây Thiên nằm trên độ cao từ 54 -1.110m

so với mặt nước biển Toàn bộ khu danh thắng có chiều dài 11 km, chiềungang 1km, với tổng diện tích: 148 ha (bao gồm hệ thống các đền, chùa, am,động…) nằm trong Vườn quốc gia Tam Đảo Khu danh thắng Tây Thiên phíaĐông án ngữ bởi ngọn Thạch Bàn thuộc dãy núi Tam Đảo; phía Tây giáp xãĐạo Trù huyện Lập Thạch; phía Nam giáp xã Tam Quan (huyện Tam Đảo);phía Bắc án ngữ bởi ngọn núi Thiên Thị (thuộc dãy Tam Đảo) Tây Thiêncách thủ đô Hà Nội khoảng 75 km về phía Bắc, cách thị xã Vĩnh Yên 21 km

về phía Đông Bắc Từ Hà Nội lên theo đường quốc lộ 2, đến Vĩnh Yên rẽđường đi Tam Đảo, đến gần chân núi có đường rẽ Tây Thiên

Trang 15

1.3.2 Ý nghĩa tên gọi Tây Thiên.

Trước hết về mặt nghĩa đen thì Tây Thiên có nghĩa là: Bầu trời Tây.Nghĩa bóng là Tây phương, có nghĩa là để chỉ hướng nơi nguồn gốc sinh đạoPhật ở phương Tây, chính là nước Ấn Độ Trong các thư tịch nhà Phật thì TâyThiên là để chỉ Ấn Độ Tây Thiên đồng nghĩa với Tây Trúc mà thầy tròĐường Tam Tạng đời Đường (618 - 936) đã đi thỉnh kinh trong truyện “Tây

du ký” Kinh nhà Phật gọi Tây Thiên là thế giới của cực lạc

Với Phật giáo, Tây Thiên (hay Tây Trúc) là miền núi cao, rừng thẳmtrong dãy Hymalaya vùng Đông Bắc Ấn Độ cổ đại Ở Việt Nam, Tây Thiênlại là nơi núi cao, rừng sâu của ngọn Thạch Bàn thuộc sơn hệ Tam Đảo Cóphải vì thấy cảnh trí nơi đây giống với cảnh trí bên Tây Trúc mà các vị caotăng đầu tiên khi đến đây đã dựng chùa và đặt tên là Tây Thiên để gợi nhớ vềmảnh đất khai sinh ra đạo Phật?

Cũng như Tây Thiên (Ấn Độ), Tây Thiên ở Vĩnh Phúc - Việt Nam làmột địa chỉ Phật giáo Cái tên Tây Thiên cũng đã in đậm vào trong tâm trí củakhách hành hương và Phật tử Việt Nam Từ những công trình xây dựng cóquy mô khác nhau đến tên các con cầu, con suối ở đây đều được đặt chonhững cái tên cao quý: suối Trường Sinh, suối Giải Oan, suối Bát Nhã, đỉnhPhù Nghì, Thạch Bàn, Chân Tiên, Đồng Cổ,…Tây Thiên thể hiện ý nghĩathoát tục gắn liền với ngôn từ, giáo lý nhà Phật

Tóm lại, đây chỉ là một ý tưởng để lý giải về sự xuất hiện của thuật ngữ

“Tây Thiên” Nhưng dù sao, trải qua các triều đại phong kiến cường thịnh như

Lý, Trần, Lê, thì Tây Thiên vẫn là một trung tâm Phật giáo Việt Nam với quầnthể các đền, chùa tập trung dày đặc trong cùng trong một khu vực Điều đó đãkhẳng định tính chất lâu dài và tính “thiêng” của Tây Thiên

Trang 16

1.3.3 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển khu danh thắng Tây Thiên.

Cho đến nay, lịch sử khu vực Tam Đảo - Tây Thiên được phản ánh rấtsớm qua các truyền thuyết dân gian và ghi chép của sử thành văn

- Theo truyền thuyết dân gian, khu vực Tây Thiên có từ thời HùngVương dựng nước (truyền thuyết về vua Hùng thứ 7, truyền thuyết về QuốcMẫu Lăng Thị Tiêu có công đánh giặc được sắc phong "Tam Đảo Sơn, TrụQuốc Mẫu, Thái Phu Nhân Chi Thần"…) Từ đó, qua các thời kỳ lịch sử, TâyThiên - Tam Đảo đã trở thành nơi luôn gắn với nhiều sự kiện, nhân vật nổitiếng trong lịch sử

- Thời Lý: sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long xong, vua Lý Thái

Tổ xây dựng và phát triển chùa chiền ở kinh đô Đồng thời “lệnh cho cáchương ấp nơi nào có chùa quán đổ nát đều phải sửa lại” (Đại Việt sử ký toànthư) Nhân dân vùng Sơn Đình, Đông Lộ đã tu sửa những am thiền, độngthiền thành sơ thiền bằng tre gỗ, hoặc xây bằng gạch đá khang trang hơn.Thời nhà Lý, Phật giáo phát triển thành quốc giáo nên nhân dân đã phối thờPhật với Mẫu Tam Đảo, thờ Phật ở chùa, thờ Mẫu ở đền, đình

- 1279: trong thời vua Trần Nhân Tông (1279- 1293) niên hiệu ThiệuBảo, một năm đại hạn, cho cầu đảo các thần ở khắp nơi mà không có mưa.Đến khi cầu đảo thần núi Tam Đảo (Tây Thiên) thì có mưa, nhà vua sắcphong thần núi là “Thanh Sơn Đại Vương” (Theo Việt Điện U Linh do tiến sỹNguyễn Văn Chất với cương vị là Hành tẩu bộ lễ, viết năm 1446)

- 1408: giặc Minh đến tàn phá khu vực chùa Tây Thiên, ngoài việc tìmcủa, tìm vàng còn nhằm triệt hạ long mạch đế vương của nước ta, hủy hoạinền văn hóa và tâm thức tín ngưỡng truyền thống của nhân dân ta HoàngPhúc - thượng thư triều Minh và các tướng Trương Phụ, Mộc Thạch dùng bùa

Trang 17

ngải để yểm triệt những nơi đất thiêng Ngoài ra còn lập đàn tế trời đất và cầuthần linh Tam Đảo phù hộ cho đất nước Việt Nam do nhà Minh đô hộ không

bị loạn lạc – Đặt bia “La Thành bất loạn” và tám khối đá lớn tượng trưng cho

“bát vị Kim Cương” bảo vệ bia đá

- 1427: Vua Lê Thái Tổ khởi binh ở Lam Sơn đem quân đi đánh LiễuThăng ở Lạng Sơn Một cánh quân đi qua Tây Thiên, có chư tướng là LưuChú, đêm nằm trong đền được nữ thần là họ Lăng tên Tiêu còn gọi là bà CầmGiang ở thôn Đông Lộ huyện Tam Dương thoát ẳn thoắt hiện báo mộng sẽ âmphù cho nhà vua thắng trận Về sau ứng nghiệm như lời thần phán, Lê Thái Tổ

đã sắc phong: “Tam Đảo sơn trụ quốc mẫu, tối linh đại vương”

- 1450: đời vua Lê Nhân Tông dựng 1 tấm bia đá, ghi lại sự kiện ông

Lê Khắc Phục là quan Tư khấu bách tác chư cục vâng mệnh triều đình đến lễ

và vãn cảnh chùa Tây Thiên, để lại một đôi câu đối ca ngợi thần núi Tam Đảolinh thiêng

- 1724: năm Thái Bảo thứ 5 đời vua Lê Dục Tông, lập 1 tấm bia đá bốnmặt, chép về công cuộc tu tạo đền Thõng, là “hữu thần cung’ của Tây ThiênQuốc Mẫu

- 1842: Vua Thiệu Trị nhà Nguyễn cho đúc quả chuông đồng ghi bốnchữ : “Phù Nghì Tự chung”, hiện tại đang được đặt tại đền Thõng vì chùa PhùNghì đã đổ nát

- 1924: năm Khải Định thứ 5, sắc phong cho đình Đông Lộ, tặng thêmchữ “Trai tĩnh trung đẳng thần” Cùng sắc phong cho đình thôn Sơn Đình,tặng thêm các chữ “Trai tĩnh trung đẳng thần” Ngay trên mảnh đất ấy, nhândân lập một ngôi đền và một ngôi chùa gọi là đền Ngò và chùa Ngò

- Đền chùa trong khu danh thắng đều được các triều đại phong kiến cho

tu sửa tôn tạo thế nhưng do thời gian và sự hủy hoại của chiến tranh, loạn lạc

Trang 18

Đến thế kỉ XX khu danh thắng chỉ tồn tại trong Vườn quốc gia Tam Đảo vớinhững đình, chùa, đền…chỉ là những lều tranh vách nứa, thậm chí nhiều côngtrình còn bị đổ nát chỉ còn lại nền móng.

- Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 do phong trào “Bài trừ mê tín dịđoan” ở một số nơi làm một cách quá khích nên tạm thời đình chỉ việc thờcúng, đền chùa Tây Thiên lại ở sâu trong rừng, không có người quản lý bịđóng cửa

- 1946 : Do “Tiêu thổ kháng chiến” trong kháng chiến chống Pháp nênđền chùa bị phá hoại lần nữa

- Năm 1963: cụ Vũ Văn Kỳ - quê ở đền Thõng xã Đại Đình là côngnhân lâm nghiệp Lâm trường 13, trong một lần đi rừng, đã phát hiện trong núi

có ngôi đền bỏ hoang, rêu phong, mái tốc, cây cối rậm rạp Do lòng mộ đạo,

cụ đã từ tâm phát đường, tu tạo kè đá, đường đi từ đền Cậu, đền Cô, đến đềnThượng Tại đây cụ đã tu sửa các công trình mục nát, xây dựng thêm dãy tamquan, nhà đại bái, nhà khách, tôn tạo cảnh quan đẹp đẽ

- Năm 1970 các cơ quan văn hóa và chính quyền địa phương các cấpbắt đầu tổ chức khảo sát tìm hiểu về danh thắng Tây Thiên

- Từ những năm 1980 - 1990 kiểm kê lại, làm hồ sơ văn bản lập tờ trìnhlên các cấp địa phương và Trung ương để đề nghị xét cấp bằng “Di tích lịch

sử - văn hóa”

- Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức cấp bằng công nhận là khu di tíchlịch sử - văn hóa và Danh lam thắng cảnh Tây Thiên Quyết định số 1371/QĐ

- VHTT ngày 3/1/1991

- Năm 1995 thành lập ban quản lý khu danh thắng Tây Thiên cấp huyện

do UBND huyện Tam Dương quản lý chỉ đạo

Trang 19

- Năm 1995 UBND tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt dự án tổng quan về khu

di tích danh thắng Tây Thiên

- Năm 1998 phục hồi và tôn tạo đền Thõng - một điểm quan trọng trong

hệ thống di tích, đồng thời bước đầu đầu tư làm một số hạng mục hạ tầngnhư : đường giao thông, sân vườn trong khu di tích,…do tiền đầu tư của Nhànước và địa phương cùng sự đóng góp của khách thập phương

- Năm 2002, UBND tỉnh Vĩnh Phúc giao cho Sở Văn hoá Thông tintriển khai dự án quy hoạch chi tiết khu đền Thượng và cải tạo nâng cấp tuyếnđường giao thông từ đền Thõng lên đền Thượng

- Ngày 4/4/2004 (15/2 âm lịch) khởi công xây dựng thiền viện TrúcLâm Tây Thiên với tổng số vốn 30 tỷ đồng Sau hơn 2 năm xây dựng côngtrình này đã chính thức hoàn thiện và được khánh thành ngày 25/11/2005 Từngày khánh thành thiền viện đến nay số lượng du khách đến tham quan chiêmbái tăng lên đáng kể Điều đó cho thấy khu danh thắng Tây Thiên nói chung

và thiền viện Trúc Lâm nói riêng có ảnh hưởng lớn đến đời sống tín ngưỡngtâm linh của nhân dân

- Năm 2007, UBND tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt quy hoạch tổng thể khudanh thắng Tây Thiên với diện tích 28,7ha

- Đến tháng 6 năm 2009 đã điều chỉnh và phê duyệt quy hoạch theophương án mới với diện tích hơn 160 ha

- Ngày 5/12/2009, lễ khởi công xây dựng Trung tâm Văn hóa – Lễ hộiTây Thiên và Cáp treo Tây Thiên đã diễn ra tại đền Thõng

- Ngày 7/3/2012, Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cùng Công ty Cổphần Đầu tư Lạc Hồng tổ chức khai mạc lễ hội Tây Thiên và khai trương

Trang 20

tuyến cáp treo Tây Thiên xuân Nhâm Thìn 2012 tại khu di tích danh thắngTây Thiên

Tóm lại, trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm, dù có lúc thịnh lúcsuy thế nhưng Tây Thiên vẫn là nơi chứa đựng khí thiêng sông núi, luôn làtrung tâm tôn giáo – tín ngưỡng của cả nước, ăn sâu vào tiềm thức của mỗingười dân Việt Nam

1.3.4 Tài nguyên du lịch của khu danh thắng Tây Thiên.

1.3.4.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên.

Khu vực Tây Thiên nằm trong khu vực vườn quốc gia Tam Đảo, làvùng có đa dạng sinh học lớn Theo kết quả điều tra môi trường khu vực TamĐảo thì hiện nay(4) sinh vật tại Tây Thiên gồm có :

Về thực vật: có 130 họ, 344 chi và 490 loài Trong số đó có một số loài

có giá trị khoa học và giá trị kinh tế quý như Pơ mu, La Hán, Kim Giao, SamPông, trầm hương,… tập trung ở đỉnh Rùng Rình và phân bố ở độ cao trên

800 m

Về hệ động vật: Động vật ở Tây Thiên khá phong phú, qua nghiên cứucho thấy có 4 lớp, 26 bộ, 86 họ và 281 loài, trong đó có rất nhiều loài độngvật đặc hữu như: cá cóc Tam Đảo, Rùa Vàng, Gà Lôi Trắng, Cheo Cheo,Vọoc đen má trắng, Vọoc mũi hếch,

Về khí hậu: do khu vực khu danh thắng Tây Thiên nằm trọn vẹn trongdãy núi Tam Đảo nên nó chịu ảnh hưởng của khí hậu Tam Đảothuộc chế độnhiệt đới ẩm gió mùa vùng cao với nhiệt độ hàng năm trung bình khoảng

210C, lượng mưa khá lớn là nguồn tạo ra các suối, khe, hồ, tiêu biểu là ThácBạc, suối Giải Oan, suối Bát Nhã, Cái độc đáo của khí hậu Tam Đảo là sự

4() Lương Hiền Danh thắng Tây Thiên NXB Văn hóa thông tin HN – 2003, trang 80-83.

Trang 21

cảm nhận cả bốn mùa trong một ngày Buổi sáng dìu dịu mát mùa xuân Buổitrưa nắng vàng mùa hạ Buổi chiều lãng đãng mùa thu Và đêm xuống, sươnggiăng mang theo một chút lạnh mùa đông Chất lượng không khí ở khu vựcTây Thiên còn khá tốt Qua nghiên cứu các chỉ tiêu ô nhiễm không khí như:nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, bụi,…đều đạt mức độ tiêu chuẩn cho phép Chính

vì thế mà khí hậu Tây Thiên rất thích hợp cho việc nghỉ dưỡng hoặc thựchành thiền

Thủy văn: mạng lưới sông suối trên sườn núi Tam Đảo chảy xuốngsông phó Đáy, có dạng chân rết khá dày đặc và ngắn; có cấu trúc dốc và hẹplòng từ đỉnh xuống chân núi Do đặc điểm khí hậu mưa lớn, mùa mưa dài,lượng nước bốc hơi ít nên cán cân nước dư thừa, đó là nguyên nhân làm chocác dòng chảy từ đỉnh Tam Đảo xuống có nước quanh năm Các suối ở TâyThiên chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, từ chân núi trở đi sông lại códạng uốn khúc phức tạp trên mặt cánh đồng khá bằng phẳng Mật độ sôngsuối khá dày đặc (trên 2km/km2), với bảy con suối: suối Giải Oan, suốiTrường Sinh, suối Tối (Đối), suối Đá Liền, suối Chùa Rọ, suối Sơn Đình, suốiĐền Cả, suối Cầu Tre, suối Võng Các suối có thung lũng hẹp, đáy nhiềughềnh thác, độ dốc lớn cho nên không có khả năng vận chuyển thủy mà chỉ cótác dụng tưới tiêu và làm một số thủy điện nhỏ phục vụ nhu cầu điện sinh hoạtcho các hộ dân dưới chân núi

Bên cạnh đó thì địa hình Tây Thiên cũng rất đặc sắc Đây là vùng trungchuyển giữa châu thổ sông Hồng và núi cao phía Bắc trung du, Tây Thiên cónhiều đồi núi xe lẫn thung lũng đất bồi, do đó Tây Thiên vừa có những dãynúi cao của Tam Đảo với những ghềnh thác, suối rất đẹp, có sức hấp dẫn, cógiá trị phục vụ du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm khám phá

Trang 22

1.3.4.2 Tài nguyên du lịch nhân văn.

Tây Thiên là một quần thể di tích danh thắng với nhiều loại hình di tíchlịch sử văn hoá đa dạng Có được những giá trị to lớn ấy là do Tây Thiênđược thừa hưởng bởi tạo hoá kỳ thú và bàn tay, khối óc sáng tạo của các cưdân sớm cư trú ở nơi đây Có thể thấy ở đây có rất nhiều chùa (cả một hệthống chùa) và các di vật có liên quan Hiện có nhiều ngôi chùa còn vết tíchhoặc đã mất song đều được dân gian nhắc tới: chùa Chân Tiên, chùa Thiên

Ân, chùa Đồng Cổ, chùa Đổ, chùa Dốc Gạo, chùa Tây Thiên, chùa Phù Nghì,chùa Thõng… Đặc biệt, năm 2005 đã khánh thành thiền viện Trúc Lâm TâyThiên, đây là công trình có ý nghĩa lớn với các Phật tử, và là điểm nhấn củakhu danh thắng Tây Thiên Ngoài ra còn có các di tích liên quan đến Phật giáokhác như các am thờ, tượng thờ, bia đá (thời Lê, Nguyễn), mộ chí, chuôngđồng (Phù Nghì Tự Chung)… Ngoài ra còn có am Lưỡng Phong, am SongTuyền… Những địa danh, tên gọi phần nào phản ánh nội dung tín ngưỡng nơiđây bao gồm cả Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian tạo nên mộtbức tranh tôn giáo hỗn dung phong phú Ngoài ra, nơi đây cũng là nơi sinhsống của cộng đồng các dân tộc bao gồm người Việt và người Sán Dìu Đồngbào nơi đây vẫn lưu giữ được nhiều nét sinh hoạt văn hóa truyền thống, cácnghề thủ công mà tiêu biểu là hình thức hát Soọng cô của người Sán Dìu

Lễ hội truyền thống Tây Thiên xã Đại Đình được tổ chức hàng năm vào

ba ngày từ 15-17 tháng 2 âm lịch hàng năm đã thu hút hàng chục vạn lượtkhách trong và ngoài nước về hành hương và tham quan vãn cảnh, tạo nênkhông khí lễ hội vừa trang nghiêm vừa long trọng, đúng với bản sắc dân tộccủa địa phương

Đây là một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn để thu hútkhách du lịch đến với Tây Thiên

Trang 23

1.4 Vị thế của khu danh thắng Tây Thiên đối với phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc.

Nói đến khu danh thắng nổi tiếng Tây Thiên cần thấy rõ 3 yếu tố cấuthành quần thể này:

- Một là, rừng Quốc gia Tam Đảo vừa là nơi tham quan ngắm cảnh vừa

là nơi nghiên cứu khoa học với hệ sinh thái nhiệt đới và á nhiệt đới RừngTam Đảo chạy dài khoảng 50km từ đền Sóc Sơn (Hà Nội) qua Tây Thiên(Vĩnh Phúc) tới giáp Tuyên Quang Đây là rừng nguyên sinh nên có một thảmthực vật quý hiếm với nhiều lớp che phủ khác nhau tạo ra một khí hậu lýtưởng và là lá phổi khổng lồ của thủ đô Hà Nội Đặc biệt, trong qua trình pháttriển công nghiệp, khi mà hiệu ứng nhà kính toàn trái đất tăng lên, lỗ thủngôzôn của khí quyển trái đất rộng ra, thì rừng Tam Đảo bên cạnh khu côngnghiệp tập trung như Hà Nội lại càng có giá trị cho sự phát triển bền vữnghôm nay và mai sau Rừng Tam Đảo tạo ra một không gian hài hoà, phongphú cảnh sắc, môi trường trong lành rất phù hợp cho loại hình du lịch sinhthái tự nhiên

- Hai là, núi Tam Đảo có địa hình hấp dẫn, nằm giữa dải đồng bằngchâu thổ sông Hồng, có vị trí chiến lược về quân sự và kinh tế, rất thích hợpvới việc phát triển du lịch Tam Đảo có 3 ngọn núi cao là: Thiên Thị(1.375m), Thạch Bàn (1.388m), Phù Nghĩa (1.400m); ở độ cao 1.000m nhiệt

độ bình quân năm khoảng 210C và lượng mưa bình quân hàng năm cũng rấtcao 2.463 mm là nguồn tạo ra các suối, khe, hồ, thác rất đẹp, tiêu biểu là thácBạc cao 40m, tung bọt trắng xóa hấp dẫn du khách mọi nơi và tạo ra khảnăng du lịch nghỉ dưỡng, mạo hiểm như leo núi, đua xe địa hình

Trang 24

- Ba là, một vùng giàu có về tài nguyên nhân văn, bao gồm hệ thốnglàng xóm, thôn bản của dân tộc Kinh, dân tộc Sán Dìu với những phong tụcđộc đáo, lễ hội riêng biệt, các đình, chùa, miếu mạo cổ thờ các vị tướng lĩnh,thành hoàng làng có công dựng nước và giữ nước theo chiều dài lịch sử.

Quần thể di tích danh thắng Tây Thiên là sự kết tinh nguyên khí nhânvăn của cả khu vực rộng lớn tạo ra một tam giác địa linh bao gồm: đền Hùng(Phú Thọ), đền Sóc (Hà Nội) và Tây Thiên (Vĩnh Phúc), trong đó, Tây Thiên

là điểm tụ hội tâm linh của người Việt xưa

Tam Đảo là một trong hai dãy chủ sơn kiến tạo nên hình thế nước nonthời quốc gia Văn Lang Về mạch địa phong thủy của bộ Văn Lang xưa, thấychép trong ngọc phả Hùng Vương xã Hy Cương như sau(5): “Mạch bên trái từnúi Lôi Hà theo về đến các huyện Đông Lan, Sơn Dương, Đương Đạo và TamDương, chót vót nổi lên núi Tam Đảo là cung tiên rồng xanh ở bên trái (do cóchữ “Tả thanh long”); núi Tản Viên là cung tiên Bạch hổ ở bên phải chầu về(do có chữ “Hữu bạch hổ”); sông Bạch Hạc là nội minh đường Tất cả nghìnnúi vạn sông chầu về núi Nghĩa Lĩnh tôn làm núi Tổ” Bởi vậy trong khônggian văn hóa vùng đất núi Tổ, bao hàm đầy đủ hình tượng núi sông trong mộtcâu đối xưa ở đền Thượng :

“Tây hưởng vu thiên: Tản, Đảo, Thao, Lô hợp tác nhất vũ trụ

Nam tổ kỳ quốc: Đinh, Lê, Trần, Lý trường lưu ức tải dư đồ”

Nghĩa là:

“Trời đất miền tây: Tản (núi Tản), Đảo (núi Tam Đảo), Thao (sông Thao), Lô(sông Lô) cùng họp một trời vũ trụ

Nước Tổ phương nam: Đinh, Lê, Trần, Lý dài lâu nhớ mãi địa đồ”

5 Sở văn hóa, thể thao và du lịch Vĩnh Phúc Tam Đảo xưa và nay, Vĩnh Phúc - 2009

Trang 25

Như vậy trong các địa danh sông núi của Văn Lang, địa danh núi TamĐảo thời nào (Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn) cũng ngự cao, mang hồnthiêng sông núi

“ Tam Đảo núi mẹTản Viên núi chaCùng Tổ Nghĩa Lĩnh là ba trường thành”(6)

Ba đặc điểm nêu trên làm cho quần thể Tây Thiên trở thành khu danhthắng có một không hai của Việt Nam cả về thiên nhiên và xã hội Khu danhthắng Tây Thiên đã được đưa vào trong chiến lược quy hoạch du lịch của tỉnhVĩnh Phúc Theo đó, chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc đã chia

ra 4 vùng du lịch có những nội dung riêng biệt, đó là: khu Tam Đảo - TâyThiên; khu Vĩnh Yên và vùng phụ cận; khu Phúc Yên - Mê Linh; và khu SángSơn - Lập Thạch, trong đó khu Tam Đảo - Tây Thiên là quan trọng nhất, phấnđấu trở thành khu trung tâm lễ hội và du lịch lớn nhất tỉnh Vĩnh Phúc

Để cho Tây Thiên trở thành trung tâm lễ hội - du lịch thì việc xây dựngThiền viện Trúc Lâm là một bước đi đúng đắn và đã tạo ra hiệu quả tích cực.Bởi vì trước hết, Thiền viện là một sản phẩm du lịch đặc biệt có kiến trúc hấpdẫn theo quan điểm kiến trúc Phật giáo, từ quy hoạch không gian đến kết cấucông trình, từ đường nét chi tiết đến hình thể tổng quan Nhưng quan trọngnhất có lẽ là việc chấn hưng Phật giáo ở một trong những cái nôi của Phậtgiáo Việt Nam Và việc hành hương về với Tây Thiên (đất Phật - chỉ cõi TâyThiên bên Ấn Độ và cũng là đất Phật của Việt Nam) là một hành động hết sức

có ý nghĩa đối với mỗi Phật tử Chính vì thế nó thu hút được sự quan tâm chú

ý của hàng triệu người dân Việt Nam cũng như khách nước ngoài muốn tìmhiểu về Phật giáo Việt Nam Đấy chính là một trong những yếu tố quan trọng

6 Ca dao địa phương.

Trang 26

nhất tạo nên giá trị riêng biệt, độc đáo của khu danh thắng Tây Thiên mà bất

cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam đều không thể có được

Ngày nay, trước sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt của nền kinh tế thịtrường, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên là một nơi hướng thiện, một tâm điểmtập hợp con người Và như vậy, rõ ràng sự xây dựng thiền viện Trúc Lâm ởTây Thiên có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với du lịch tâm linh hiện đại Sự tổnghợp và liên hoàn của một quần thể di tích danh thắng với những giá trị vềkhảo cổ, lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật; với hệ thống cơ sở thờ tự của nhiều tôngiáo, tín ngưỡng; với phong cảnh tự nhiên kỳ vĩ và đa dạng; với ruộng đồngtrù phú, rừng rậm nguyên sinh, cây đại ngàn, hàng trăm loài muông thú, địahình lúc ghềnh thác cheo leo, khi suối reo nước chảy; v.v…khiến cho dukhách thưởng ngoạn không thấy đơn điệu, càng tham quan càng say sưa, lýthú

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ DU LỊCH CỦA KHU DANH THẮNG TÂY THIÊN

Trang 27

2.1 Giá trị cảnh quan.

Cảnh đẹp Tây Thiên - Tam Đảo được tạo thành do cấu tạo địa chấtmiền này Đó là miền núi cao trung bình, có lịch sử hình thành và trải qua quátrình kiến tạo địa chất cách nay vài chục triệu năm, mang tính chất bìnhnguyên được nâng lên và rửa xói mãnh liệt, là nguyên nhân của sự phân cắt

bề mặt địa hình ở độ cao trung bình từ 1.200 m–1.400 m Hình thành các bậcthế bào mòn, lộ rõ là miền nền có nhân là các trầm tích phong phú gồm cácloại đá dạng khối như các đá sét phiến, cuội kết, sỏi kết, các đá granít (đá hoacương) và đá vôi dọc theo các triền núi và các vực suối, các nếp uốn bị cắt xẻ

do bị bào mòn, rửa xói đã lộ ra các nhân đá này, làm nên những tên đất cực kìhấp dẫn và nên thơ về đá như Thạch Bàn (Bàn Đá); Thiên Thị (Chợ Tiên)gồm những đá khối cao thấp lô nhô như chợ họp; suối Đá liền, Thác Bạc (suốinước chảy ra từ khe đá, đổ theo vách đá cao chừng 40 mét, tiếng nước ầm ầmvang khắp núi rừng, vọng vào vách đá), khe Trường Sinh, suối Bát Nhã…

Địa hình, thảm động thực vật, những công trình tín ngưỡng - tôn giáo…tạo cho con đường lên đền Thượng Tây Thiên đẹp như một bức tranh thủymặc, cao, xa vời vợi Đối với những du khách muốn tự mình khám phá thì lênnúi không có con đường nào khác là phải men theo các lối mòn ngay bên bờsuối Càng lên cao, độ dốc càng lớn, phong cảnh khiến người chinh phục ngạcnhiên với từng đoạn đường khác nhau chạy song song và đan xen với suối,trùng điệp cây rừng tỏa bóng mát Suối Tây Thiên nằm lọt giữa hai bờ váchnúi hút lên trời cao, dốc ngược liên tiếp với vô vàn những khối đá tảng vuôngvức chặn ngang dòng nước âm vang đêm ngày Con đường chinh phục TâyThiên càng như muốn thử thách lòng người khi xuyên thẳm giữa núi rừng lànhững bậc thang cao vời vợi, dài hun hút để rồi khi gối đã mỏi, chân đã chồn

ấy cũng là lúc đền Thượng cổ kính, oai nghiêm thấp thoáng dưới rừng thông

cổ kính Đứng trên đỉnh núi, cái mỏi, mệt của gần 2 giờ vượt quãng đường

Trang 28

hơn 5km băng suối, xuyên rừng, vượt núi như tan biến trước một vùng rộnglớn núi non liên hoàn, rừng cây thâm u rậm rạp, có tiếng suối chảy, thác reo,cảnh trí u nhã, thanh tịnh khiến lòng người không thể thanh khiết hơn Đứnggiữa đất trời Tam Đảo đưa tầm mắt vút ra xa ta như ngỡ ngàng nhận thấynhững lớp mây trắng như bông đang bao bọc, giao hòa vào ba ngọn núi caovút là Phù Nghĩa, Thạch Bàn và Thiên Thị Ba ngọn núi nhìn từ xa trông như

ba hòn đảo nổi bồng bềnh giữa những lớp đá sóng trập trùng của mây trờimiền Bắc, như mang “linh khí núi sông đất Việt” Mây Tam Đảo luôn quanhquẩn lưng chừng núi, bao bọc lấy những ngôi đền chùa nơi đây Mây trắngquyện vào núi, vào cây, vào từng công trình kiến trúc thắt ẩn, thoắt hiện nhưđang che giấu một kho báu trong mình Đặc biệt, núi rừng Tây Thiên nhìn từtrên xuống cũng hết sức đẹp và lãng mạn Từ cáp treo nhìn xuống là bạt ngànmột màu xanh của dãy Tam Đảo, nếu du khách may mắn đi vào mùa xuân thì

cả dãy núi Tam Đảo như bồng bềnh trong sương, thấp thoáng có những vạtrừng nở hoa trắng xóa, hoặc đỏ rực một góc trời, tạo cho con người một cảmgiác hết sức lãng mạn, cứ ngỡ mình đang sống giữa chốn bồng lai tiên cảnh

Từ đằng xa du khách đã có dịp chiêm ngưỡng dòng thác Bạc từ trên cao đổxuống Tiếng suối ầm ầm xua tan đi sự tĩnh lặng của núi rừng, tạo nên một dảilụa trắng phất phơ giữa bầu trời Đứng giữa đất trời Tây Thiên con ngườibỗng cảm thấy mình hết sức nhỏ bé, cảm nhận được sự bao la hùng vĩ củathiên nhiên nhưng cũng hết sức tự hào trước những công trình kiến trúc ẩnhiện giữa núi đồi, du khách như thấy mình đang lạc vào cõi mộng giữa chốnnhân gian

2.2 Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa.

2.2.1 Hệ thống di tích thờ Thần

Trang 29

Hầu hết các đình, đền, miếu tại di tích Tây Thiên thờ Tây Thiên QuốcMẫu Lăng Thị Tiêu Miền đất Vĩnh Phúc từ xa xưa, vốn vẫn được coi là mộttrong những trung tâm hội tụ và lan tỏa của tục thờ Mẫu mà tục thờ QuốcMẫu Tây Thiên, một trong hai vị Quốc Mẫu xuất hiện từ thời Hùng Vươngdựng nước là điều dễ nhận thấy Tục thờ Quốc Mẫu Tây Thiên không chỉ làmnên sự đa dạng văn hóa của Vĩnh Phúc, một vùng đất có lịch sử lâu dài hàngnghìn năm, mà xét trên phương diện nào đó thì trong vài năm gần đây, các địađiểm thờ Quốc Mẫu Tây Thiên còn tạo ra sự phát triển đa dạng, đầy tiềm năngcho ngành du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc.

Hiện tại có mấy di tích quan trọng nhất, là trung tâm của tục thờ QuốcMẫu Tây Thiên, đó là đền Thượng Tây Thiên trên ngọn núi Thạch Bàn, bêncạnh có chùa Tây Thiên; đền Mẫu Sinh ở Đông Lộ, thuộc xã Đại Đình, huyệnTam Đảo; đền Xóm Xím, thuộc Đông Lộ, là đền Mẫu Hóa, đền Ngò thuộc xãĐại Đình là nơi xưa kia Mẫu luyện quân đánh giặc Thục; đền Thõng (Thỏng,Lan Thông…) – hữu thần cung, cạnh chùa Thiên Ân Như vậy, không gianphân bố các đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên đã tạo thành không gian thiêng,không gian văn hóa thờ Quốc Mẫu Ngoài địa bàn này ra, ở nước ta không cónơi nào có tục thờ Quốc Mẫu Tây Thiên như ở đây

Vì thế trước khi đi tìm hiểu về các di tích thờ thần Tam Đảo Sơn TrụQuốc Mẫu (hay là Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu) thì trước hết chúng ta nên tìmhiểu về thân thế của ngài trước tiên để có những cái nhìn khái quát về cuộcđời cũng như những công trạng và hoạt động của ngài lúc sinh thời để tìmthấy được sự gắn bó giữa cuộc đời của ngài với các di tích

Sự tích Tây Thiên Quốc Mẫu được ghi trong bản Ngọc Phả đền TâyThiên (Tây Thiên Quốc Mẫu ngọc phả lục) được phụng sao lại vào năm Khải

Trang 30

Định thứ 2 (1917) viết bằng chữ Hán, do nhà nghiên cứu Hán nôm NguyễnQuang Quỳnh phụng dịch dưới đây:

Vào thời Việt Nam các Vua Hùng dựng nước lấy tên nước là Văn Lang,đạo Sơn Tây, phủ Đoan Hùng, động Tam Dương, trang Đông Lộ, có ôngtrưởng động Lăng Vĩ và bà Đào Liễu đã hơn 40 tuổi Ông trưởng động thểhiện là con người hào phóng anh hùng thuộc dòng dõi vua Hùng Trong mộtngày ông bà nằm mộng đi lên núi Tam Đảo, đến chùa Tây Thiên thắp hươngcầu tự, cầu khấn ở trong chùa, đến khoảng canh ba, bà chợt thấy trong ngườibàng hoàng, thấy có mây ngũ sắc trong chùa hiện lên một dải như phượng baylượn trong mây đồng thời thấy một bầy tiên khoảng bảy đến tám người đềumặc mũ áo, người thì ca hát, người thì nhảy múa, người thì gảy đàn, người thìngâm thơ Bà tỉnh dậy mới biết là mộng lành, từ ấy trở đi tinh thần chuyểnđộng, mang thai mười bốn tháng, ngày mồng 10 tháng 5 năm Giáp Thân sinh

hạ được một người con gái nhan sắc, mặt mũi sáng sủa huy hoàng Thể hiện

là người con gái nết na, tuấn tú, long nhan, phượng cảnh dòng dõi Lạc Hồng.Năm lên năm đến sáu tuổi đã thông minh, hiểu âm, biết luật đặt tên là Tiêu.Ông bà động chủ rất yêu quý, chăm sóc cho ăn học, thể hiện là con người nữtắc, nữ công, lúc mới mười một tuổi lại xuất hiện tài năng võ nghệ, binh thưthao lược, thật là người con gái anh hùng hào kiệt, đến tuổi hai mươi đã làmột anh hùng dũng mãnh, có tài thao lược Tiếng đồn trong trang Đông Lộcũng như xung quanh huyện thấy quả là một phụ nữ tài ba có nhiều phù phépthần thông biến hoá, lúc thì là Tiên, lúc thì là Thánh, thực là bậc quần thoahào kiệt nhất bậc trượng phu

Thời bấy giờ giặc phương Bắc xâm lược, trong nhân dân dao động hếtsức lo sợ, có chiếu vua Hùng loan báo trong cả nước kêu gọi ai có tài ra giúpnước đánh giặc Lệnh nàng nghe thấy chiếu chỉ đứng ra phân bổ kêu gọi traitráng trong vùng lập tức triệu tập được: trang Đông Lộ: 50 người, Sơn Đình:

Trang 31

100 người, Quan Nội: 150 người, Quan Ngoại: 150 người, Quyết Trung: 70người Trai tráng trong huyện được tất cả ba ngàn tướng sĩ về Phong Châu -Việt Trì xin được vào yết kiến vua Hùng Vua Hùng thấy nàng là một anhhùng hào kiệt có tài năng, lấy làm vui mừng liền tăng thêm cho nàng mườivạn tinh binh, ba ngàn kỵ binh, giao cho nàng thống chế thuỷ bộ quân sự,ngày 29/2 xuất quân đánh giặc Nàng nhận lệnh xuất quân từ kinh thành, chiaquân làm ba đạo

Một đạo binh gồm ba vạn kỵ binh, một đạo một ngàn người từ PhongChâu tiến vào Hưng Hoá Một đạo từ Phổ Châu sông Giang, các đạo quâncùng giáp chiến với quân giặc là một đạo hùng binh năm vạn quân tướng, kỵbinh một ngàn người Từ Đà Giang tiến thẳng đến Mã Giang chiến đấu vớiquân giặc, lại đem thêm một đạo kỵ binh trên bốn vạn, một ngàn thuyền chiếntiến thẳng tới Tuần Giáo cùng quân giặc hội chiến Tất cả các đạo quân tậptrung ở Quỳnh Nhai, trên một vạn quân giặc đại bại, còn lại bỏ chạy khôngdám trở lại

Nàng thu quân trở về triều, khải hoàn, triều đình lấy làm vui mừng liền

ra lệnh mở tiệc Tây chinh đại thắng, gia quan tước cho quân sĩ, lệnh phong là

"Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Đại Vương" vào ngày 28/2, cả huyện làm lễ ănmừng thắng lợi, sau đó về bản động làm lễ tam sinh mổ trâu, bò, dê làm lễ bái

tạ gia đường, tổ chức mời các bô lão, anh hùng hào kiệt trong cả huyện mởyến tiệc đại thắng tây chinh

Khi đó ông bà động chủ tuổi đã hơn 80, cả hai ông bà đều mất màkhông bệnh tật gì, lệnh nương cho làm lễ an táng cha mẹ vào ngày 12/1 Côngchúa nhân lúc nhàn rỗi nên ngắm cảnh sông núi Truyền trong tổng nội: lậpđền thờ xã Quan Nội lập làm tả cung; Quan Đình, Nhân lý lập làm hữu cung;

xã Quyết Trung lập làm hạ cung Tây Thiên lập miếu sự, chợt thấy mây ngũ

Trang 32

sắc từ trên trời buông xuống, trong khoảnh khắc có một sứ giả nhà trời xuấthiện trong đám mây truyền rằng: "Vâng mệnh thượng đế mời công chúa vềtriều" Sau đó, Người làm lễ tắm gội (mộc dục) Công chúa cùng với quan sứgiả bay về trời, chỉ còn lại một dải Tây Thiên Như vậy người hóa vào ngày15/2 Trong trang nội thấy người là bậc Tiên Thánh bèn tâu về triều.Vua Hùngtruyền với các quan chức là người thực sự là một nữ anh hùng có công vàtặng thêm một sắc phong là "Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Đại Vương đệ nhấtThượng đẳng phúc thần".

Hàng năm cứ vào mùa xuân, mùa thu khắp nơi trên cả nước và nướcngoài đều ghi nhớ công ơn của người Truyền lập miếu thờ hương hoả lưutruyền của đất Việt từ Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng đất nước, đại định thiên hạnhất nhất tuân theo Truy phong lịch đại bách thần phong như các triều trước

Ngoài ra dân gian cũng như trong các sách vở viết về Tây Thiên QuốcMẫu người ta còn truyền tụng truyền thuyết gắn cô gái Lăng thị Tiêu với VuaHùng thứ 7 là Hùng Chiêu Vương (Lang Liêu) Có thể tóm tắt dị bản củatruyền thuyết như sau : “Cô gái Lăng Thị Tiêu sinh ra trong một gia đình hiếmcon, lớn lên thành cô gái xinh đẹp, giỏi giang, hiền thục, được bố mẹ rất yêuchiều Đời Hùng Vương thứ 7 là Lang Liêu lên nối ngôi cha Một lần vuaHùng Chiêu Vương (Lang Liêu) đi cầu Tiên, Phật ở núi Tam Đảo, đã gặpngười con gái xinh đẹp, nết na, ăn nói giỏi giang liền đem lòng yêu quý vàđưa về triều ở Phong Châu, lập làm Chính Phi Nàng đã hết lòng yêu quýHùng Chiêu Vương và đem tài của mình ra thi thố, giúp chồng trị quốc, ứng

xử trong ngoài chu tất với các Lạc hầu, Lạc tướng, khiến quốc gia Văn Langtrở nên thịnh trị suốt hơn 200 năm Một lần, Văn Lang bị giặc nhà Thục đedọa, đem quân vây hãm kinh thành, Nguyên phi Lăng Thị Tiêu đã chiêu mộbinh sỹ kéo về Phong Châu đánh tan quân Thục, giải cứu triều đình Khi Nàngmất (hóa) về trời, được các triều vua sắc phong là Tây Thiên Quốc Mẫu”

Trang 33

2.2.1.1 Đền Thõng (đền Thỏng, đền Trình)

Đền Thõng được tọa lạc ngay chân núi Thạch Bàn thuộc địa phận thônKhổn Thông xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Đền Thõng đượccoi là "Hữu Thần cung" của đền Tây Thiên Sở dĩ ngôi đền này có tên là đềnThõng là vì nơi đây có thôn Lan Thông hay Khổn Thông, hơn nữa trước cửađền còn có xứ Đồng Thỏng vì vậy qua thời gian mà đền có tên gọi như vậy.Đền còn có tên gọi nữa là “đền Trình”, theo các nhà nghiên cứu ở địa phươngthì do đền nằm ở chân núi Thạch Bàn, nơi cửa rừng lên đền Thượng TâyThiên, nên gọi là “đền Trình”, với nghĩa là đưa lên bề trên và mang ý nghĩagiữ lễ

Đền Thõng xưa là một ngôi miếu nhỏ ở cửa rừng do làng Sơn Đìnhtrông coi Ngôi đền hiện nay được xây dựng trên nền cũ vào năm 1998 Đền

có kết cấu xây dựng theo hình chữ “đinh” gồm có tòa đại bái 3 gian 2 chái, 4mái; gian hậu cung một gian hai chái chồng diêm hai tầng tám mái Bài tríđiện thờ ở đền Thõng: Quốc Mẫu Tây Thiên ở khám cao trên cùng, còn ở haibên phía dưới: bên phải là Mẫu đệ tam, bên trái là Mẫu đệ nhị, phía trước làbát hương công đồng, lùi vào phía trong, dưới khám thờ Quốc Mẫu là thờNgũ hổ Các cụ ở đền Thõng cho biết việc giữ lại kiến trúc thờ Mẫu trongkhám thờ ở đền Thõng hiện nay là mô phỏng và giữ lại kiến trúc ngôi đền thờMẫu bằng nhà sàn nhỏ xưa kia Hiện nay, đền còn một bia đá 4 mặt “TâyThiên thiền tự” được tạo dựng năm Bảo Thái thứ 5 (đời vua Lê Dụ Tông -năm 1723); một quả chuông Phù Nghì tự chung (chuông chùa Phù Nghì)được đúc vào năm Thiệu Trị thứ 2 (1842); một khánh đồng trên đó có hàngchữ : “Tam Đảo sơn” mặt sau có ghi ngày 13 tháng Giêng năm thứ 2 nhưngkhông ghi đời nào và một số hoành phi và câu đối

Trang 34

Ngoài ra, trước sân đền Thõng còn có cây đa Chín Cội Cây đa lớn, tỏabóng xuống Hữu thần cung chính là hình ảnh thiêng, tiêu biểu và đặc trưngcủa Tây Thiên Theo cụ từ kể lại thì xưa gốc đa không phải ở vị trí này mà nónằm ở sau đền, theo thời gian rễ của cây đa vươn ra ngoài và phát triển thànhchín nhánh như ngày hôm nay, chính vì vậy mà nó được gọi là cây đa ChínCội Tuy nhiên, do đã quá già cỗi nên cây đa bị mục nát dần, và để giữ lại cho

nó có thể tồn tại thì một dự án làm rễ giả cho cây đa đã được các chuyên giathiết kế và thực hiện Nhờ vậy, bất chấp sự hủy hoại của thời gian cây đa ChínCội vẫn hiên ngang tồn tại để lớp con cháu có dịp chiêm ngưỡng một trongnhững tuyệt tác của núi rừng Tây Thiên

2.2.1.2 Đền Cậu - đền Cô

Đền Cậu

Hiện nay, hai ngôi đền này đã được xây dựng khá khang trang (đền Cậu

do người dân bỏ tiền ra, xây một cách tự phát, đền Cô đã được tỉnh đầu tư), vàcũng mới xuất hiện ở Tây Thiên chưa lâu Theo các cụ thủ từ thì cách đâykhoảng 30 năm thì nơi lập đền Cô và đền Cậu cũng chỉ là một hòn đá lớn vàmột bát hương, người dân đi lễ đền Thượng qua đây thắp hương, đặt ít tiền lẻ

Về sau được một người đại diện đứng ra xây thành đền, dần dần mở rộng vàđược như ngày nay

Giải thích về nguồn gốc của ngôi đền có một giả thiết cho rằng nó cóliên quan đến tục thờ đá của người Sán Dìu Ma Khánh Bằng (7) cho biết,người Sán Dìu có tín ngưỡng thờ “cúi”(8) “Cúi” ở đây không phải chỉ là ma

mà bao hàm một nghĩa rộng, chỉ tất cả thần thánh, ma quỷ trên đời Trong thếgiới “cúi” đó, người Sán Dìu có niềm tin đặc biệt vào đá, họ thường chọn một

7 Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc.

115-116

Trang 35

hòn đá nào đó để ký gửi con mình vào đá bảo hộ, đứa bé nhận hòn đá là “bốnuôi”, tết nhất thì phải sửa lễ vật đến cúng, đến tuổi trưởng thành mới làm lễ

tạ, gọi là “cởi khóa” và thay tên Vậy thì những tảng đá trên núi Thạch Bànđược thắp hương lễ bái có thể là những tảng đá bản mệnh, những bố nuôi củacác em bé Sán Dìu nào đó sống trong vùng này Và hiện nay, các ngôi đềndựng lên đều theo cách thờ cúng của các ban thờ Cô, thờ Cậu của tín ngưỡng

Tứ phủ Trong đền Cậu hiện nay có hai pho tượng đầu đội khăn cuốn vàng,hai bên phía tai có hai bông hoa rũ xuống, mình mặc áo chẽn thắt đai vàng.Tượng nữ đầu đội khăn cuốn vòng màu xanh, cũng có hoa tai rủ xuống, mìnhmặc áo chẽn màu xanh, có áo choàng xanh

Đền Cô

Rời đền Cậu, men theo con đường mòn nằm ẩn mình dưới bóng câycủa núi rừng, sau khoảng 30 phút đi bộ chúng ta sẽ đến tới đền Cô Ngày nayđền Cô trở thành ngôi đền thờ Tứ phủ thánh Cô Ngoài cổng đề biển : “Đền

Cô Bé suối Giải Oan” tức là cô thứ 12 trong hàng Cô theo tín ngưỡng Tứ Phủ.Theo như lời kể lại, Cô Bé là con nhà trời, toạ lạc tại đây cùng Mẫu Thiêngiúp dân, giúp nước Ngôi đền hiện nay được xây dựng trên nền của ngôichùa cũ được khánh thành vào tháng 10 năm 2009 Theo lời của những nhânviên của ban quản lý làm việc tại đền thì đền Cô Bé trước đây không phảinằm ở vị trí như ngày nay mà nó nằm cạnh bờ suối Giải Oan trước mặt ngôiđền như ngày nay chúng ta thấy Trước đây thì đền thực ra chính là một hangđộng nằm cạnh bờ suối, bên trong bàn thờ chỉ có bát nhang không có tượng.Trước những năm 1990, việc lễ đền Cô Bé hết sức vất vả khó nhọc Do đềnchỉ là một ban thờ nhỏ trong một hang động bên bờ suối nên nó chỉ đủ cho 3-

4 người đứng lễ Khoảng những năm 1994-1995 nhân dân thập phương côngđức và nhất là sau khi Tây Thiên được công nhận là khu di tích - danh thắng

Trang 36

cấp quốc gia thì đã được đầu tư xây dựng nên thành nơi thờ tự như ở vị tríngày nay chúng ta thấy.

Về mặt cấu trúc thì đền Cô có cấu trúc dạng chữ “Đinh”, qua tam quan

có một miếu Mẫu Cửu Trùng Thiên, tòa chính điện 3 gian làm bằng gỗ, giangiữa có một khám thờ được sơn son thếp vàng đặt ba bức tượng màu trắng -xanh – hồng (từ phía trái sang phải) Trước sân đền có thờ tượng: Hộ pháp vi

đà tôn thiên theo thế một võ tướng, tay phải cầm gươm chống xuống đất, taytrái hướng lòng bàn tay về phía trước, ngồi trên lưng linh thú và phía bên phải

có một con rồng đang uốn lượn Bên phía phải là nền của ngôi đền ở vị trí đầutiên sau khi di dời từ bờ suối lên Hiện nay trên nền đất này vẫn có một bànthờ Mẫu, với những cột tạm bằng sắt và mái tôn che mưa nắng

Phía trước đền Cô là dòng suối Giải Oan trong vắt, hiền hòa ngày đêm rócrách chảy Theo tương truyền thì dòng suối Giải Oan trước cửa đền là nơiMẫu Tây Thiên đã khao quân sỹ khi thắng trận trở về và Mẫu đã dùng nướcsuối này để tế lễ và giải oan cho các quân sỹ hy sinh ngoài trận mạc

Dòng suối thơ mộng này còn liên quan tới một truyền thuyết cũng hếtsức huyền ảo gắn với Mẫu Tây Thiên Truyện kể rằng: ngày xưa có một đôi

vợ chồng hiếm hoi không có con Một ngày nọ hai vợ chồng quyết định lênnúi Tây Thiên cầu tự và họ đã được thỏa ước nguyện Về nhà người vợ bỗng

có mang Và khi đó người vợ có hứa là trước khi sinh sẽ đi lên núi để tạ ơnMẫu Đã sắp đến ngày sinh tức là cũng đến ngày phải đi tạ ơn Mẫu, người vợnghĩ nếu không đi tạ ơn thì có tội với Mẫu, chính vì thế mặc dù sắp tới thời kỳsinh nở nhưng người vợ này vẫn cố gắng lên núi để tạ ơn Mẫu Tây Thiên.Nhưng thật không may mắn, người vợ đi đến đoạn đường của đền Cô ngàynay thì đau bụng dữ dội và sinh ngay tại nơi đây Người vợ cảm thấy quá ấm

ức vì chưa lên đến nơi đã đẻ dọc đường nên mới lập một ngôi đền ngay tại nơi

Trang 37

mình sinh để mong rửa sạch nỗi oan ức của mình Chính vì thế mà dòng suốinơi đây mới có tên là dòng suối Giải Oan – rửa sạch những oan ức của conngười khi đến với Mẫu

2.2.1.3 Đền Thượng Tây Thiên.

Trước đây đền Thượng được giao cho làng Sơn Đình trông coi, từ đền

do làng Sơn Đình cắt cử Sau đó khu vực Tây Thiên bị Pháp phá, một thờigian dài đền Thượng không có người trông coi Đến năm 1987, sau khi có chủtrương của huyện Tam Dương khu di tích đền Thượng mới được khôi phụclại

Trước khi vào đền Thượng du khách ghé vào làm lễ tham quan đền CôChín Nằm tọa lạc trước ngưỡng cổng của khu di tích đền Thượng, quy môkhông hoành tráng, kiến trúc cũng không cầu kì, đền Cô Chín nằm khép mìnhdưới tán của những cây thông cổ thụ nghìn năm tuổi Theo các cụ cao tuổi kểlại: cụ Vũ Văn Kỳ - cựu thủ nhang đền Thượng do sát căn Cô Chín nên đã xinchân nhang từ đền Sòng (Thanh Hóa) về để lập nên đền này

Bước ra khỏi không gian của đền Cô Chín, du khách sẽ lên tới đềnThượng Đền Thượng Tây Thiên được xây dựng trên độ cao 530m, theo tâmthức của người dân nơi đây thì đền Thượng là nơi ở của Quốc Mẫu Lăng ThịTiêu, đồng thời cũng là nơi thờ tự chính Cũng giống như chùa, đền cũ đã bị

đổ nát từ lâu Chùa và đền được tu sửa lại năm 1937, nhưng đều có quy môkiến trúc đơn giản Đến tháng 11 năm 2009 đền được đầu tư lớn, xây dựng lạirất khang trang và bề thế

Khu di tích đền Thượng gồm bảy ban thờ độc lập và 1 chùa Từ tráisang phải, tọa lạc chính giữa trung tâm là đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên LăngThị Tiêu Trước đây ngôi đền không phải nằm ở vị trí này, có diện mạo kiếntrúc như ngày nay mà là một đền nhỏ có kết cấu 5 gian, 2 chái như ngôi nhà

Trang 38

truyền thống của người Việt Trong đền một bên thờ Mẫu, một bên thờ Phật,ngoài ra còn phối thờ nhiều đối tượng thờ tự khác Ngôi đền ngày nay có kếtcấu dạng chữ Đinh gồm 2 tầng 8 mái Không gian đền được chia làm ba tầng:tầng hạ ban đặt ban công đồng, bên trái là khám thờ Vương cô đệ nhất, bênphải là Vương cô đệ nhị - hai hầu cận giúp việc cho Mẫu Tầng chính điện đặtcung Mẫu ngự, được trang trí sơn son thếp vàng, uy nghi lộng lẫy TượngMẫu ngồi trong khám nét mặt đoan trang, phúc hậu toát lên vẻ quý phái củabậc mẫu nghi thiên hạ Tầng trên cùng thờ nón và thờ Ông Lốt (thờ Rắn)

Bên cạnh đền thờ Mẫu là đền thờ Đức thánh Trần : Quốc công tiết chếHưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Ngài được thờ tự trong một banriêng, được tọa trong long ngai, đầu đội mũ có cánh chuồn, mình mặc triềuphục sắc đỏ có cân đai, bối tử, trong phong cách của một vị quan đại triều.Bên tả, hữu ban thờ có hai cô gái đứng hầu, đó chính là hai con gái của Ngài,một bà là Khâm Từ Bảo Khánh hoàng thái hậu (mặc áo màu đỏ) hay còn gọi

là Quyền Thanh công chúa; bà còn lại (khoác áo xanh) là Tuyên Từ hay ĐạiHoàng công chúa Tất cả hai bà được gọi là Nhị vị vương cô

Gian thờ kế tiếp Đức thánh Trần được gọi là Tam Tòa Thánh Mẫu Tạiđây có đặt ba pho tượng : Mẫu Thượng Thiên - Mẫu Thoải - Mẫu ThượngNgàn Cả ba pho tượng có kích thước bằng nhau, chỉ khác nhau về màu sắctrang phục và cùng tọa lạc trên hàng cao nhất trong điện thờ Mẫu ThượngThiên tọa lạc ở ngôi giữa, mang trang phục màu đỏ Mẫu Thoải ngự bên tráiMẫu Thượng Thiên, mang trang phục màu trắng Tọa lạc bên phía tay phải làMẫu Thượng Ngàn, ngài mặc sắc phục màu xanh Bên cạnh tam Tòa ThánhMẫu là ban thờ Ngũ Hổ (quan Năm Dinh) Ngoài ra, còn có một ban thờ SơnTrang

2.2.1.4 Đền Ngò (đền Tụ Nghĩa).

Trang 39

Đền Ngò (hay còn gọi là đền Tụ Nghĩa) thôn Lan Thông, xã Sơn Đình,tổng Quan Ngoại nay là xã Đại Đình, huyện Tam Đảo Tương truyền nơi đâyQuốc Mẫu đã tuyển mộ quân lính để giúp vua Hùng dẹp giặc Đây là ngôiđình mới được xây dựng lại, đình gồm 3 gian, gian giữa kéo dài vào phíatrong thành hậu cung thờ tự, hậu cung hai tầng tám mái, theo kiểu bê tông giả

gỗ Gian giữa gồm hai lớp tượng, lớp thứ nhất là tượng ngũ vị tôn quan đặttrong 5 khám thờ, phía sau là hậu cung đặt tượng Tam tòa thánh Mẫu với bứctượng Mẫu Tây Thiên là bức tượng cổ, ngay cả các cụ trong làng và thủ từcũng không rõ có từ khi nào Hai gian bên cạnh thì bên trái là ban thờ SơnTrang Gian bên phải là ban thờ Đức Thánh Trần, trước đây trên bàn thờ chỉ

có bát nhang nhưng trong mấy năm gần đây nhân dân đã công đức nên mộtbức tượng Đức Thánh Trần để thờ Ngoài ra, tại đền Ngò còn có các ban thờ 5dinh ngũ hổ, Thần hoàng bản thổ và Cô bé - Cậu bé bản đền Đặc biệt ban thờThành hoàng bản thổ được lập ngay cạnh dưới gốc của cây lim cổ thụ, theocác cụ cao niên truyền lại thì cây lim này cũng có tuổi thọ đến nghìn năm, tỏabóng mát che kín khu vực ngôi đền

Tuy nhiên theo thủ đền Ngò, thì lại cho rằng đền Ngò mới là di tíchquan trọng nhất trong việc thờ Mẫu Tây Thiên, bởi vì đây là nơi bà hiểnthánh, bà có quyền phép thu quân và luyện quân đánh giặc Thục, còn khi ởĐông Lộ, bà cũng chỉ là một phụ nữ cấy hái bình thường Hiện nay, trong đền

có một cái kiệu bát cống rất đẹp, hàng năm đám rước từ đền Mẫu Sinh, MẫuHóa đều phải tập trung về đền Ngò, khiêng kiệu bát cống về đền Thõng

2.2.1.5 Đền Mẫu Sinh

Đền Mẫu Sinh nằm trên một gò đất khá cao nhìn ra cánh đồng trướcmặt Theo trí nhớ của nhiều cụ cao niên trong làng thì ngôi đền cổ được xâydựng cách đây khá lâu và trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo Lần trùng tu gần

Trang 40

đây nhất là vào thời Nguyễn, ngôi đền có kiến trúc bằng gỗ hoàn toàn, quy

mô không lớn và cấu trúc khá đơn giản Hậu cung của đền được nâng sàn lêncao làm khám thờ với cửa bức bàn chắc chắn nhưng đến năm 1972 đền bị pháhủy Cho đến trước năm 1945, đây là ngôi đình của làng Đông Lộ Ngôi đềnhiện nay có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, bao gồm tòa đại bái được xây dựngnăm 1998 và hậu cung được phục dựng năm 2006 Trước đây, trên khám chỉđặt ngai thờ Quốc Mẫu và hai người hầu nhưng hiện nay hệ thống tượng trongđền được bổ sung khá nhiều và cùng với đó là sự thay đổi trong bài trí Hậucung đền được xây thành bệ thờ thay cho khám thờ trước đây, được bổ sungcác vị thánh của mẫu Tứ phủ và được hệ thống hóa một cách khá hoàn chỉnhtheo các hàng, các lớp Ở vị trí cao nhất là tượng Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu,tiếp đó là Tam tòa Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên (áo đỏ, ở giữa), MẫuThượng Ngàn (áo xanh, bên phải) và Mẫu Thoải (áo trắng, bên trái); ngũ vịvương quan (từ quan đệ nhất đến quan đệ ngũ), Tam hoàng Ở bên dưới đặtban thờ Quan Ngũ Hổ và phía trên điện là ông Lốt Có thể sơ đồ hóa hậu cungđền Mẫu Sinh như sau:

Ngày đăng: 06/11/2018, 12:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ma Khánh Bằng, Người Sán Dìu ở Việt Nam, Nxb. KHXH, HN- 1983 3. Nguyễn Phan Thương Điệp: “ Tìm hiểu hoạt động du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc”. Luận văn tốt nghiệp trường Đại học Văn hóa Hà Nội – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hoạt động du lịch của tỉnh VĩnhPhúc
Nhà XB: Nxb. KHXH
1. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, tập I – Dư địa chí, nhân vật chí. NXB sử học, HN – 1960 Khác
4. Lê Quý Đôn toàn tập, tập 2 – Kiến văn tiểu lục. NXB KHXH. HN 1977 Khác
5. Lương Hiền. Danh thắng Tây Thiên. NXB VHTT. HN, 2003 Khác
6. Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tập I). NXB tp HCM, 2001 Khác
7. Lê Kim Thuyên – Lê Kim Bá Yên. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Vĩnh Phúc. Sở Văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc, 2009 Khác
8. Tam Đảo xưa và nay. Sở Văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc, 2009 Khác
9. Tổng cục du lịch. Non nước Việt Nam, HN – 2009 Khác
10. UBND huyện Tam Đảo. Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội huyện Tam Đảo đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Khác
11. Viện nghiên cứu tôn giáo. Sở Văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc. Mấy vấn đề về Phật giáo ở Tây Thiên – Tam Đảo – Vĩnh phúc (Kỉ yếu hội thảo khoa học), 2006.Các trang web Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w