: quản trị học, quản trị nhân sự, hành chính nhân sự, sơ đồ hành chính nhân sự, tổ chức hành chính nhân sự
Trang 1CHƯƠNG 1
QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CĂN BẢN
Tài chính có 3 lĩnh vực chủ yếu bao gồm: (1) thị trường và các thể chế tài chính, (2)đầu tư tài chính, và (3) quản trị tài chính Các lĩnh vực này thường liên quan như nhau đếnnhững loại giao dịch tài chính nhưng theo góc độ khác nhau Trong phạm vi môn học nàychúng ta chỉ tập trung xem xét những vấn đề liên quan đến quản trị tài chính các công ty đaquốc gia, còn thị trường tài chính và đầu tư tài chính sẽ được xem xét ở những môn họckhác
Mục tiêu của chương này nhằm trả lời các câu hỏi : Quản trị tài chính là gì? Mục tiêucủa quản trị tài chính trong doanh nghiệp? Bản chất của các yếu tố trong các báo cáo tàichính cơ bản? Sử dụng các tỷ số tài chính để phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp như thế nào?
1.1 KHÁI NIỆM VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
Như chúng ta đã biết “Quản lý tài chính không có phương pháp là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự thất bại của các Doanh nghiệp, dù đó là doanh nghiệp nhỏ và vừa hay các tập đoàn công ty lớn” Các chuyên gia tài chính của bất kỳ một doanh nghiệp nào đều phải
đối mặt với 3 câu hỏi quan trọng :
(1) Trong rất nhiều cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định lựa chọn cơhội đầu tư nào?
(2) Doanh nghiệp nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn đầu tư
đã được hoạch định đó?
(3) Doanh nghiệp nên thực hiện chính sách cổ tức như thế nào?
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc chi tiêu tiền, câu hỏi thứ hai liên quan đến huy độngvốn và câu hỏi thứ 3 liên quan đến sự kết hợp giữa hai quyết định (1) và (2)
Vậy quản trị tài chính là gì? Quản trị tài chính là một môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất – kinh doanh của một doanh nghiệp hay một tổ chức Nói cách khác, quản trị tài chính quan tâm đến việc đầu tư,
mua sắm, tài trợ và phân chia cổ tức doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra Qua định nghĩanày có thể thấy quản trị tài chính liên quan đến 3 loại quyết định chính: quyết định đầu tư,quyết định tài trợ và quyết định chi trả cổ tức
Quyết định đầu tư :Quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất vì nó tạo ra giá trị cho
doanh nghiệp Quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến: (1) tổng giá trị tài sản
và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản lưu động và tài sản cố định) cần có và (2) mối quan
hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp
Trang 2Trong môn học kế toán bạn đã làm quen với hình ảnh bảng cân đối tài sản của doanhnghiệp Quyết định đầu tư gắn liền với phía bên trái bảng cân đối tài sản Cụ thể nó baogồm những quyết định như sau:
Doanh nghiệp cần những loại tài sản nào phục vụ cho sản xuất kinh doanh?
Mối quan hệ giữa tài sản lưu động và tài sản cố định nên như thế nào?
Doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào tài sản lưu động? Bao nhiêu vào tài sản cốđịnh? Chi tiết hơn, doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào hàng tồn kho, bao nhiêutiền mặt cần có trong hoạt động kinh doanh hàng ngày? Nên mua sắm những loại tàisản cố định nào? v.v…
Quyết định tài trợ : Nếu như quyết định đầu tư liên quan đến bên trái thì quyết định tài trợ
lại liên quan đến bên phải của bảng cân đối tài sản Nó gắn liền với việc quyết định nên lựachọn loại nguồn vốn nào tài trợ cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hayvốn vay, nên dùng vốn ngắn hạn hay vốn dài hạn Ngoài ra, quyết định tài trợ còn xem xétmối quan hệ giữa lợi nhuận để lại tái đầu tư và lợi nhuận được phân chia dưới hình thức cổtức Một khi sự lựa chọn giữa tài trợ bằng vốn vay hay bằng vốn của doanh nghiệp, tài trợbằng vốn vay ngắn hạn hay vốn vay dài hạn, hoặc lựa chọn giữa lợi nhuận để lại và lợinhuận phân chia đã được quyết định thì bước tiếp theo nhà quản trị còn phải quyết định làmthế nào để huy động được các nguồn tài trợ đó Nên sử dụng lợi nhuận tích lũy hay nên kêugọi thêm vốn từ cổ đông, nên vay ngân hàng hay nên huy động vốn bằng cách phát hành cáccông cụ nợ, nên phát hành trái phiếu hay thương phiếu,… Đó là những quyết định liên quanđến tài trợ trong hoạt động của doanh nghiệp
Quyết định chi trả cổ tức : Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận của công ty được
đem ra phân phối như thế nào Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay đượcchi trả cho các cổ đông Lợi nhuận giữ lại là một nguồn quan trọng cho việc tài trợ vốn cổphần cho khu vực tư nhân Mặc dù việc phân chia giữa phát hành cổ phần mới và lợi nhậungiữ lại có xu hướng thay đổi theo thời gian, lợi nhuận giữ lại vẫn là nguồn vốn quan trọnghơn phát hành cổ phần mới Một mặt, lợi nhuận giữ lại có thể được dùng để kích thích tăngtrưởng lợi nhuận tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần tương lai Mặtkhác, cổ tức cung cấp cho các cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên Có rất nhiềuyếu tố kết hợp để ấn định chính sách cổ tức của một doanh nghiệp
1.2 MỤC TIÊU CỦA QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
1.2.1 Mục tiêu của công ty
Để đánh giá quản trị tài chính có hiệu quả hay không chúng ta cần có chuẩn mực nhấtđịnh Chuẩn mực để đánh giá hiệu quả quản trị tài chính ở đây chính là mục tiêu mà công ty
đề ra Dĩ nhiên công ty có rất nhiều mục tiêu được đề ra nhưng dưới giác độ quản trị tàichính mục tiêu của công ty là nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu Tuy nhiên mụctiêu này không phải diễn ra trong chân không mà trong môi trường kinh doanh, do đó, nóphải được xem xét trong mối quan hệ với các vấn đề khác như quan hệ lợi ích giữa chủ sởhữu và người điều hành công ty, giữa lợi ích công ty và lợi ích xã hội nói chung
Trang 3Tạo ra giá trị: Đứng trên giác độ tạo ra giá trị, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu chính của
công ty Mục tiêu này nhằm không ngừng gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu doanhnghiệp Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được cụ thể và lượng hoá bằng các chỉ tiêu sau:
+ Tối đa hoá chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế (Earning after tax – EAT) Tuy nhiên nếu chỉ cómục tiêu tối đa hoá lợi nhuận sau thuế chưa hẳn gia tăng được giá trị cho cổ đông Chẳnghạn, giám đốc tài chính có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách phát hành cổ phiếu kêu gọi vốnrồi dùng số tiền huy động được để đầu tư vào trái phiếu kho bạc thu lợi nhuận Trong tườnghợp này, lợi nhuận vẫn gia tăng nhưng lợi nhuận trên vốn cổ phần giảm vì số lượng cổ phầnphát hành tăng Do đó chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận cần được bổ sung bằng chỉ tiêu tối đahoá lợi nhuận trên vốn cố phần
+ Tối đa hoá lợi nhuận trên cổ phần (Earning per share – EPS) Các cổ đông thường uantâm đến chỉ tiêu EPS hơn là chỉ tiêu tổng thu nhập của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này có thể bổ sung cho những hạn chế của chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận sauthuế Tuy nhiên chỉ tiêu này vẫn còn có những hạn chế của nó (1) Tối đa hoá EPS khôngxét đến yếu tố thời giá tiền tệ và độ dài của lợi nhuận kỳ vọng, (2) tối đa hoá EPS cũng chưaxem xét đến yếu tố rủi ro, và cuối cùng tối đa hoá EPS không cho phép sử dụng chính sách
cổ tức để tác động đến giá trị cổ phiếu trên thị trường Bởi vì nếu chỉ vì mục tiêu tối đa hoáEPS có lẽ công ty sẽ không bao giờ trả cổ tức!
+ Vì những lý lẽ như đã phân tích trên đây, tối đa hoá thị giá cổ phiếu (market price pershare) được xem như là mục tiêu thích hợp nhất của công ty vì nó chú ý kết hợp nhiều yếu
tố như độ dài thời gian, rủi ro, chính sách cổ tức và những yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá
cổ phiếu
Giám đốc là người điều hành công ty cần biết rõ mục tiêu của chủ sở hữu (cổ đông) làgia tăng giá trị tài sản của mình và điều này thể hiện qua giá cả cổ phiếu trên thị trường.Nếu cổ đông không hài lòng với hoạt động của công ty và giám đốc thì họ sẽ bán cổ phiếu
và rút vốn đầu tư vào nơi khác Điều này đòi hỏi giám đốc công ty phải tập trung vào việctạo ra giá trị cho cổ đông nhằm làm cho cổ đông hài lòng vì thấy mục tiêu của họ được thựchiện
Vấn đề đại diện: Đặc điểm của công ty cổ phần là có sự tách rời giữa chủ sở hữu và người
điều hành hoạt động công ty Sự tách rời quyền sở hữu khỏi việc điều hành tạo ra tìnhhuống khiến giám đốc hành xử vì lợi riêng của mình hơn là vì lợi ích cổ đông Điều này làmphát sinh những mâu thuẩn lợi ích giữa chủ sở hữu và giám đốc điều hành công ty
Để khắc phục những mâu thuẩn này chủ công ty nên xem giám đốc như là người đạidiện cho cổ đông và cần có sự khích lệ sao cho giám đốc nỗ lực điều hành công ty tốt hơn vìlợi ích của cổ đông cũng chính là lợi ích của giám đốc Bên cạnh việc tạo ra cơ chế giám sát
và kiểm soát cần có chế độ khuyến khích để giám đốc hành xử vì lợi ích của cổ đông Chế
độ khuyến khích bao gồm tiền lương và tiền thưởng thoả đáng, thưởng bằng quyền chọnmua cổ phiếu công ty, và những lợi ích khác mà giám đốc có thể thừa hưởng nếu hành xử vìlợi ích của cổ đông
Trách nhiệm đối với xã hội :Tối đa hoá giá trị tài sản cho cổ đông không có nghĩa là ban
điều hành công ty lờ đi vấn đề trách nhiệm đối với xã hội chẳng hạn như bảo vệ người tiêudùng, trả lương công bằng cho nhân viên, chú ý đến bảo đảm an toàn lao động, đào tạo vànâng cao trình độ của người lao động … và đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường Chính
Trang 4trách nhiệm xã hội đòi hỏi ban quản lý không chỉ có chú trọng đến lợi ích của cổ đông(shareholders) mà còn chú trọng đến lợi ích của những người có liên quan khác(stakeholders).
1.2.2 Mục tiêu của quản trị tài chính
Như vậy, mục tiêu của quản trị tài chính trong doanh nghiệp là gì? Mục tiêu quantrọng nhất để thành công trong việc quản trị tài chính của một doanh nghiệp là phải làm giatăng được giá trị của doanh nghiệp trên thị trường Có thể hình dung như lời khuyên chungchung của các nhà đầu tư chứng khoán là phải làm thế nào để có thể “phải mua với thấp vàbán với giá cao”
Hình 1.1 : Mô hình quản trị tài chính
1.3 GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH (CFO- Chief Financial Officer)
Thuật ngữ Giám đốc tài chính để chỉ những người có trách nhiệm đưa ra những quyệtđịnh đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định chính sách cổ tức Chỉ có những công ty nhỏmới sử dụng duy nhất một cá nhân để thực hiện tất cả những quyết định trên, còn hấu hếtnhững công ty khác, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, trách nhiệm này được phân bổ vàcùng thực hiện bởi nhiều người
Trang 5Hình 1.2 : Vai trò của giám đốc tài chính
Note : Chi tiêu vốn ở đây liên quan đến việc đầu tư dài hạn, dễ tạo nhầm lẫn với việc thu chi
tiền
Đối với các công ty nhỏ thì không có sự phân chia rõ ràng giữa các chức danh, hầunhư do một người chịu trách nhiệm tất cả công việc Đối với các công ty lớn đều bổ nhiệmchức danh Giám đốc tài chính để điều hành trực tiếp cả hai vị trí giám đốc vốn và Kế toántrưởng Bạn có thể nhận thấy rằng giám đốc vốn và kế toán trưởng có những chức năngkhác biệt nhau hoàn toàn : Giám đốc vốn có trách nhiệm chính là làm sao huy động và quản
lý được các nguồn tài trợ của doanh nghiệp sao cho luôn đối đa hóa giá trị doanh nghiệp.Trong khi đó kế toán trưởng có trách nhiệm đảm bảo rằng tiền luôn được sử dụng một cáchhiệu quả và tuân thủ các quy định của luật pháp như lập các báo cáo tài chính theo quy định,quản lý hệ thống kế toán nội bộ công ty, theo dõi các khoản thuế phải nộp …
Giám đốc tài chính có trách nhiệm chính trong việc hoạch định các chính sách tàichính và các kế hoạch tài chính phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp Ngày nay vai tròcủa các CFO ở các công ty lớn càng trở nên quan trọng đến mức độ quyết định của họ cóthể tác động đến thị trường tài chính nước đó và thế giới Chẳng hạn như những rúng độngtrên thị trường tài chính Mỹ vào những năm 2001, 2002 qua sự kiện phá sản lớn nhất tronglịch sử nước Mỹ từ các công ty lớn như Enron, Worldcom…mà một trong những nguyênnhân chính là cách thức điều hành và quản trị của CFO đã vi phạm những chuẩn mực trongnguyên tắc nghề nghiệp cũng như những chuẩn mực đạo đức
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
Giám đốc tài chính
Giám đốc vốn(Treasurer)
Kế toán trưởng(chief accountant)
Bộ phận quản
trị tín dụng
Bộ phận quảntrị tiền mặt
Bộ phận chi
tiêu vốn *
Bộ phận lập kếhoạch tài chính
Bộ phận quản
lý thuế
Bộ phận kếtoán chi phí
Bộ phận kếtoán tài chính
Bộ phận quản lý
hệ thống dữ liệu
Trang 61.4 CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo tổng hợp từ các số liệu kế toán của công tytheo những mẫu biểu đã được qui định, nó phản ảnh tính hình sử dụng vốn, nguồn vốn; kếtquả kinh doanh của công ty trong kỳ báo cáo
Hệ thống báo cáo tài chính công ty bao gồm 3 bảng báo cáo chính :
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Mục đích của việc phân tích báo cáo tài chính nhằm đánh giá mức độ rủi ro cũng nhưkết quả về mặt tài chính thông qua các hệ số và các tỉ suất sinh lời của vốn
Những người phân tích báo cáo tài chính có thể là bản thân công ty hoặc nhữngngười bên ngoài công ty như ngân hàng, các công ty tài chính, công ty chứng khoán, cácnhà cung cấp… những người đã hoặc đang xem xét có nên cho công ty vay hoặc mua cổphiếu của công ty hay không
Đối với bản thân công ty, việc phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp cho các nhà quảntrị tài chính công ty đánh giá được tình hình tài chính của công ty một cách hệ thống đầy đủ,trên cơ sở đó có thể đưa ra những hoạch định phù hợp nhằm duy trì hoặc cải thiện tình hìnhtài chính công ty ngày càng tốt hơn
Tùy theo mối quan hệ của các đối tác đối với công ty mà các tổ chức bên ngoài công
ty sẽ quan tâm đến các khía cạnh khác nhau về tài chính của công ty Chẳng hạn như cácchủ nợ ngắn hạn thường quan tâm đến khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty thông quacác đảm bảo về tài sản lưu động và ngân lưu ròng mang lại từ hoạt động kinh doanh Trongkhi đó các chủ nợ dài hạn và các nhà đầu tư lại quan tâm đến khả năng sinh lời trong dàihạn và rủi ro trong hoạt động cũng như trong cơ cấu tài chính của công ty
1.4.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán của một công ty phản ánh bức tranh về tất cả các nguồn ngân quỹnội bộ (được gọi là nợ và vốn của chủ sở hữu) và việc sử dụng các nguồn ngân quỹ đó tạimột thời điểm nhất định Phương trình cơ bản xác định bảng cân đối kế toán được trình bàynhư sau:
47.026
30.000
30.000
77.026
Trang 781.890
8.340 5.635 2.000 4.900 20.875 24.000 44.875 32.151
+ Tài sản (phần bên trái bảng cân đối kế toán) : phản ánh giá trị toàn bộ tài sản thuộc quyền
quản lý và sử dụng của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo
Các khoản mục trong bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo thứ tự tính thanhkhoản giảm dần Ví dụ, bạn có thể thấy rằng kế toán viên liệt kê đầu tiên là những tài sảnhầu như có thể chuyển thành tiền mặt trong một tương lai gần Chúng bao gồm: tiền mặt,các chứng khoán thị trường, các khoản phải thu, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang vàthành phẩm Những tài sản này gọi là tài sản lưu động
Tài sản còn lại trên bảng cân đối kế toán gồm các tài sản dài hạn thường ít có tínhthanh khoản như văn phòng, nhà kho, thiết bị.v.v Bảng cân đối kế toán không cập nhật giáthị trường của các tài sản dài hạn này Thay vào đó, kết toán viên ghi chép giá trị nguyênthuỷ và sau đó, khấu trừ hàng năm một giá trị cố định gọi là khấu hao Bảng cân đối kế toánkhông bao gồm hết tất cả tài sản của công ty Một vài tài sản có giá trị nhất lại là tài sản vôhình như bản quyền, danh tiếng, kỹ năng quản lý và lực lượng lao động lành nghề thườngkhông được phản ánh trong bảng cân đối kế toán Các kế toán viên thường cân nhắc khi ghicác tài sản này vào bảng cân đối kế toán trừ khi chúng được xác định và đánh giá
Về mặt kinh tế, số liệu bên phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấucác loại tài sản đang tồn
tại dưới hình thái vật chất cụ thể là ; Tài sản lưu động bao gồm : tiền mặt, đầu tư ngắn hạn,các khoản phải thu và tồn kho Tài sản cố định bao gồm : TSCĐ hữu hình và TSCĐ vôhình, TSCĐ thuê dài hạn, đầu tư dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang, ký cược, ký quỹdài hạn
Về mặt pháp lý, số liệu bên phần tài sản thể hiện số tài sản đang thuộc quyền quản lý và sử
dụng của doanh nghiệp
+ Nguồn vốn (phần bên phải bảng cân đối kế toán) : phản ánh nguồn hình thành các loại tài
sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo
Phần bên phải của bảng cân đối kế toán cho thấy nguồn tiền nào dùng để mua tài sản.Trước tiên đó là những khoản nợ gồm nợ phải trả trong năm gọi là nợ ngắn hạn Chênh lệchgiữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn gọi là vốn luân chuyển ròng Tiếp theo là các khoản
nợ dài hạn của công ty do phát hành trái phiếu hay vay trực tiếp ở ngân hàng Phần còn lại
là vốn cổ phần Vốn cổ phần của công ty đơn giản chỉ là tổng giá trị của vốn luân chuyển
Trang 8ròng và tài sản cố định trừ cho nợ dài hạn Một phần của vốn cổ phần có được là do bán cổphần cho các nhà đầu tư, phần còn lại là từ lợi nhuận giữ lại nhân danh các cổ đông để táiđầu tư vào công ty.
Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể sử dụng các khoản phải trả để làm nguồn vốn hoạtđộng của mình (chiếm dụng vốn) như : phải trả nhà cung cấp, lương nhân viên, nợ thuế phảinộp, tiền khách hàng ứng trước…
- Sau mỗi kỳ kế toán (thường là một năm), doanh nghiệp trích một phần lợi nhuận để lậpcác quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng – phúc lợi… Các quỹ này cũngtạo nên nguồn vốn hoạt động cho doanh nghiệp
Về mặt kinh tế, căn cứ vào các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn có thể đánh giá khái quát khả
năng, mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp và thời hạn tài trợ của các nguồn vốn
Về mặt pháp lý, số liệu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp
đối với chủ sở hữu, đối với ngân hàng, đối với khách hàng và các đối tượng khác
Ở cả hai bên tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toán đều bao gồm các cột chỉtiêu : số đầu năm, số cuối kỳ
1.4.2 Bảng kết quả sản xuất kinh doanh
Trong khi bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp tại một thờiđiểm nhất định, thì bảng kết quả hoạt động kinh doanh được các nhà đầu tư quan tâm nhiềuhơn vì nó cho biết hiệu quả sản xuất kinh doanh trong một kỳ, một giai đoạn nhất định,thường là một năm Nó có thể được sử dụng như một bản hướng dẫn để dự đoán phần nàotương lai của doanh nghiệp Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợpnhất về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinhnghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả từ hoạt động kinh doanh là kết quả có được từ những hoạt động chính, thườngxuyên của doanh nghiệp như mua bán, sản xuất, gia công…
Kết quả từ hoạt động tài chính bao gồm các khoản như lãi vay phải trả, lãi phát sinhđược hưởng, tiền lời do bán chứng khoán, tiền phạt khách hàng do trả quá hạn…
Kết quả từ hoạt động bất thường có được từ những hoạt động không thường xuyên,khôngnằm trong dự tính của doanh nghiệp như sự giảm giá hàng tồn kho, khách hàng quỵt
nợ, các khoản thu tưởng chừng đã mất…
Bảng 1.2: Báo cáo thu nhập của công ty X đến ngày 31-12-2006.( Đvt:triệu$)
Chi phí quản lý (trong đó khấu hao 520)
17 Toàn bộ chi phí hoạt động
18 Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT)
19 Lãi vay
112.760 85.300 27.460
6.5409.400 15.940 11.520 3.160
Trang 920 Lãi trước thuế
21 Thuế thu nhập doanh nghiệp(40%)
1.4.3 Bảng lưu chuyển tiền tệ
Bảng lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và
sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Dựa vào lưu chuyển tiền tệ, người phân tích có thể đánh giá được khả năng tạo ra tiền,
sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp và dự đoán luồng tiền trong kỳ tiếp theo
Nội dung của bảng lưu chuyển tiền tệ bao gồm 3 phần :
i) Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh : phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào vàchi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như : tiền thu bánhàng, tiền thu từ các khảon phải thu thương mại, các khoản chi phí bằng tiền như : chi phítrả lương cho người lao động, chi phí kinh doanh và một số chi phí khác,…
ii) Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư : phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi raliên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Bao gồm đầu tư cơ sở vật chất
kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp : xây dựng cơ bản, mua sắm TSCĐ… và đầu tư chođơn vị khác như : góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay không phân biết đầu tưdài hạn hay ngắn hạn
Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản thu do bán, thanh lý TSCĐ,thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác… và các khảon chi mua sắm, xây dựng TSCĐ,chi đầu tư vào các đơn vị khác…
iii) Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính : phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi
ra liên quan liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Hoạt động tàichính bao gồm các nghiệp vụ làm tăng giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như : chủdoanh nghiệp góp vốn, vay vốn, nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, trả nợvay…
Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khỏan thu chi liên quan như tiềnvay nhận được, tiền thu nhận được do nhận góp vốn kinh doanh bằng tiền mặt, do phát hành
cổ phiếu, trái phiếu, tiền chi trả lãi cho các bên góp vốn, trả lãi cổ phiếu, trái phiếu, thu lãitiền gửi…
Để phân tích tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích cần thiết phải đọcđược các báo cáo tài chính để thấy được những trọng tâm của các tỷ số tài chính và trọngđiểm phân tích của mình Đọc báo cáo tài chính đòi hỏi phải hiểu chi tiết và rõ ràng từngkhoản, từng mục trong các báo cáo
Trang 10Bảng 1.3 : Bảng lưu chuyển tiền tệ (Theo phương pháp trực tiếp)
Chỉ tiêu Số tiền
I LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG SXKD
1 Tiền thu bán hàng
2 Tiền thu từ các khoản phải thu
3 Tiền thu từ các khoản khác
4 Tiền thu trả cho người bán
5 Tiền đã trả cho công nhân viên
6 Tiền đã nộp thuế và các khoản khác cho NN
7 Tiền đã trả cho các khoản phải trả khác
8 Tiền đã trả cho các khoản khác
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động SXKD
II LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HĐ ĐẦU TƯ
1 Tiền thu hồi các khoản ĐT vào đơn vị khác
2 Tiền thu từ lãi các khoản ĐT vào đơn vị khác
3 Tiền thu do bán tài sản cố định
4 Tiền đầu tư vào các đơn vị khác
5 Tiền mua tài sản cố định
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐ đầu tư
III LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HĐ TÀI CHÍNH
1 Tiền thu do đi vay
2 Tiền thu do các chủ sở hữu góp vốn
3 Tiền thu từ lãi tiền gởi
4 Tiền đã trả nợ vay
5 Tiền đã hoàn vốn cho các chủ sở hữu
6 Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư vào DN
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐ tài chính
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐ trong kỳ
Hiểu quá khứ là bước mở đầu cần thiết để dự tính cho tương lai Vì thế, chúng ta bắtđầu bằng việc xem xét tóm tắt các báo cáo tài chính của công ty và xem bạn có thể sử dụng
số liệu tài chính để phân tích toàn bộ thành quả và đánh giá tình hình tài chính hiện hành
Trang 11của công ty như thế nào Ví dụ bạn có thể cần biết liệu các thành quả tài chính của riêngcông ty có nằm trong phạm vi chuẩn hay không; hoặc bạn có thể muốn các chính sách củanhững nhà cạnh tranh hoặc muốn kiểm tra sức khoẻ tài chính của một khách hàng.
Các nhà phân tích tài chính tính toán một vài chỉ số tài chính chủ yếu để đo lườngthành quả của công ty Các chỉ số tài chính này không thể thay thế cho quả cầu pha lênhưng chúng có thể giúp bạn đưa ra những câu hỏi đúng Giả dụ, giám đốc tài chính có thể
dự kiến một vài câu hỏi về chỉ số nợ của công ty và phần lợi nhuận giảm do lãi vay Tương
tự, các chỉ số tài chính có thể cảnh giác giám đốc về các lĩnh vực khó khăn tiềm ẩn Nếumột chi nhánh có tỷ suất sinh lợi trên vốn thấp bạn có thể đoán chắc rằng giám đốc sẽ yêucầu chi nhánh này phải giải thích
Các công ty đang tăng trưởng cần đầu tư vào vốn luân chuyển, nhà xưởng và thiết bị,đầu tư cho phát triển sản phẩm,v.v tất cả đều cần tiền mặt Vì thế, chúng ta sẽ giải thíchlàm thế nào các công ty sử dụng các mô hình kế hoạch tài chính để giúp họ hiểu những tiềm
ẩn tài chính trong các kế hoạch kinh doanh và để khảo sát các kết quả của chiến lược tàichính
Các loại tỷ số quan trọng nhất là :
Tỷ số thanh toán đo lường khả năng thanh toán của công ty
Tỷ số hoạt động đo lường mức độ hoạt động liên quan đến tài sản của công ty
Tỷ số đòn bẩy cho thấy việc sử dụng nợ của công ty có ảnh hưởng như thế nào đếnhiệu quả hoạt động kinh doanh
Tỷ số sinh lợi biểu hiện khả năng tạo lãi của tài sản và vốn chủ sở hữu
Tỷ số giá trị thị trường cho thấy các công ty được các nhà đầu tư đánh giá như thếnào
Chúng ta sẽ phân tích các tỷ số dựa trên các số liệu từ bảng cân đối và bảng báo cáo thunhập của công ty X để tính toán
1.5.1 Tỷ số thanh toán – Liquidity Ratios
Tỷ số thanh toán hiện hành – Current ratio: Một trong những thước đo khả năng thanh toán
của một công ty được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành