1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy định pháp luật hiện hành về chăm sóc sức khỏe và quyền lợi bảo hiểm y tế cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện

11 351 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 33,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, vì thế mà nhu cầu chăm sóc sức khỏe là nhu cầu quan trọng và tất yếu của con người, điều đó càng cần được quan tâm với đối người khuyết tật (NKT) . Do NKT là những người có những khiếm khuyết về mặt thể chất hoặc tinh thần nên những khiếm khuyết này gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc chăm sóc cho bản thân mình so với người bình thường. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho NKT, nhóm chúng em xin lựa chọn tìm hiểu đề bài số 5 : “ Quy định pháp luật hiện hành về chăm sóc sức khỏe và quyền lợi bảo hiểm y tế cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện ? Phân tích một một số tình huống cụ thể, chỉ ra những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nội dung này cho NKT”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, vì thế mà nhu cầu chăm sóc sức khỏe là nhu cầu quan trọng và tất yếu của con người, điều đó càng cần được quan tâm với đối người khuyết tật (NKT) Do NKT là những người có những khiếm khuyết về mặt thể chất hoặc tinh thần nên những khiếm khuyết này gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc chăm sóc cho bản thân mình so với người bình thường Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề chăm sóc sức khỏe

cho NKT, nhóm chúng em xin lựa chọn tìm hiểu đề bài số 5 : “ Quy định pháp luật hiện hành về chăm sóc sức khỏe và quyền lợi bảo hiểm y tế cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện ? Phân tích một/ một số tình huống cụ thể, chỉ

ra những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nội dung này cho NKT”.

NỘI DUNG

I Khái quát về chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế cho NKT

1 Chăm sóc sức khỏe NKT

Sức khỏe NKT là tình trạng ổn định toàn diện về thể chất, tâm thần, xã hội và

để đạt được sự ổn định đó, việc chăm sóc sức khỏe phải quan tâm hợp lí đến cả ba mặt của sức khỏe là: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần , sức khỏe xã hội Theo

đó, chăm sóc sức khỏe NKT là sự chăm sóc toàn diện, đặt trong mối liên hệ chặt chẽ và tác động giữa các yếu tố môi trường bên ngoài (thức ăn, nước uống,…) và các yếu tố môi trường bên trong (di truyền, gen, tế bào,…) giữa các hoạt động đề phòng sự phát sinh ra bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật… đến việc điều trị kịp thời

và phục hồi sức khoẻ cho NKT Bao gồm: chăm sóc y tế (chăm sóc do ngành y tế đảm nhiệm như chăm sóc về phòng bệnh; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng, phục hồi chức năng…) và chăm sóc ngoài y tế (do các ngành khác đảm nhiệm như tập luyện thể dục thể thao; chăm sóc về dinh dưỡng; nước uống, vệ sinh môi trường; nhà ở; )

Theo quy định pháp luật hiện hành về NKT, có thể hiểu Chế độ chăm sóc sức khỏe NKT: là tổng hợp các quy định về quyền của NKT được nhà nước, cộng đồng

xã hội thực hiện trong các hoạt động phòng bệnh, khám chữa bệnh, chỉnh hình, phục hồi chức năng nhằm giúp NKT ổn định sức khỏe, vượt qua nỗi khó khăn bệnh tật, vươn lên hòa nhập cộng đồng Việc chăm sóc sức khỏe NKT được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản là đa dạng hóa, xã hội hóa và nguyên tắc ưu tiên hợp lí

Trang 2

Chăm sóc sức khỏe NKT mang lại những ý nghĩa to lớn về mặt xã hội, pháp lí

và kinh tế Sự giúp đỡ về các điều kiện vật chất và tinh thần trong chăm sóc sức khỏe nhằm đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của NKT, từ đó giúp họ khắc phục những bất lợi từ khuyết tật, vượt lên mặc cảm tự ti để vươn lên khẳng định bản thân Bằng việc quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật chyên ngành, pháp luật người khuyết tật đã tạo cơ sở pháp lí để ghi nhận và đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe cho NKT Nhờ đó, NKT có nền tảng sức khỏe để tham gia vào các hoạt động kinh tế

2 Bảo hiểm y tế cho NKT

Theo khoản 1 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi , bổ sung năm 2014 , “Bảo

Hiểm y tế” là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc

sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT

Hiện nay bảo hiểm y tế ở Việt Nam là bảo hiểm y tế toàn dân nên tất cả mọi người đều phải tham gia , trong đó có NKT Bảo hiểm y tế được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nên gắn liền với việc chăm sóc sức khỏe, thể hiện sự chia

sẻ, hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng đối với mọi người và NKT nói riêng khi không may bị ốm đau, bệnh tật Quyền lợi bảo hiểm y tế của NKT được quy định tại Luật Người khuyết tât năm 2010 và Luật bảo hiểm xã hội sửa đổi bổ sung năm 2014

II Quy định pháp luật hiện hành về chăm sóc sức khỏe và quyền lợi bảo

hiểm y tế cho người khuyết tật

1 Quy định pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho NKT

1.1 Chăm sóc sức khỏe ban đầu

Hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban đầu do WHO và UNICEF cùng đứng ra tổ chức tại Alma Ata năm 1978 đưa ra khái niệm về chăm sóc sức khỏe

ban đầu là “những chăm sóc sức khỏe thiết yếu dựa trên những phương pháp và kĩ

thuật thực hành đưa đến tận cá nhân và từng gia đình, đươc mọi người chấp nhân thông qua sự tham gia đấy đủ của họ, với giá thành mà họ có thể chấp nhận được nhằm đạt được mức sức khỏe cao nhất” Ở Việt Nam, trên cơ sở vận dụng hợp lí,

hiệu quả trong chính sách chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhà nước ta, Luật Người khuyết tật năm 2010 đã quy định về chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NKT cụ thể tại Điều 21 như sau:

Trang 3

“1 Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm sau đây:

a) Triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật; hướng dẫn người khuyết tật phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng;

b) Lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe người khuyết tật;

c) Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho người khuyết tật.

2 Kinh phí để thực hiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này do ngân sách nhà nước bảo đảm.”

Theo đó, việc chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với NKT thuộc trách nhiệm của

cơ sở y tế cấp xã Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NKT bao gồm : giáo dục sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa và quản lí sức khỏe

- Giáo dục sức khoẻ: thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về chăm sóc sức khỏe bằng các hình thức, biện pháp phong phú như tổ chức lớp học, thông tin qua hệ thống truyền thông ở địa phương hoặc lồng ghép vào các hoạt động văn hoá xã hội khác ở địa phương Nội dung giáo dục sức khoẻ gồm: cải thiện điều kiện dinh dưỡng và ăn uống hợp lí, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em,…Đối với trẻ em khuyết tật, giáo dục sức khoẻ còn thể hiện ở chương trình giáo dục đặc biệt, đó là giáo dục hoà nhập hoặc giáo dục chuyên biệt tùy thuộc vào mức độ khuyết tật cũng như khả năng phục hồi sức khoẻ của trẻ em

-Thực hiện các biện pháp phòng ngừa: hoạt động phòng ngừa được thực hiện rất đa dạng, phong phú như phòng ngừa dựa vào dạng tật, phòng ngừa dựa vào khả năng thực tế của địa phương, hoàn cảnh gia đình, phòng ngừa dựa vào nhu cầu của người khuyết tật, Tuy nhiên, có thể khái quát hoạt động phòng ngừa khuyết tật bao gồm: phòng ngừa không để xảy ra khuyết tật, phòng ngừa để ngăn ngừa tình trạng ốm đau, tai nạn, rủi ro trở thành khuyết tật, phòng ngừa để ngăn ngừa khuyết tật gây nên hậu quả nặng hơn

-Quản lí sức khoẻ: mục tiêu lâu dài mà ngành y tế đặt ra là quản lí sức khoẻ cho toàn dân, trước mắt là thực hiện quản lí sức khoẻ cho các đối tượng ưu tiên như trẻ

em dưới 1 tuổi, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, các đối tượng có công với cách mạng và NKT Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 21 Luật Người Khuyết tật năm 2010 , trạm y tế cấp xã có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi, quản lí sức khoẻ NKT Mục đích của chế độ này nhằm quản lí theo dõi tình trạng khuyết tật ở địa phương, từ đó giúp cơ quan chức năng đưa ra các giải pháp hợp lí để chăm sóc sức khoẻ hiệu quả hơn Quản lí sức khoẻ NKT cũng được coi là nội dung quan trọng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với NKT

Trang 4

1.2 Khám bệnh, chữa bệnh

Điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009 quy định: “Khám bệnh là việc hỏi

bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận ” “Chữa bệnh được hiểu là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh”.

Theo đó, khám bệnh, chữa bệnh là quyền cơ bản của tất cả mọi người trong xã hội khi có nhu cầu, cụ thể nó bao gồm các quyền được quy định từ Điều 7 đến Điều 13 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009 Bên cạnh những quyền được quy định tại Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009 thì Luật Người khuyết tât năm 2010 cũng có những quy định riêng về quyền được khám chữa bệnh cho NKT, theo đó Nhà nước phải đảm bảo để NKT được khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp (khoản 1 Điều 22) và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần thực hiện những biện pháp khám bệnh, chữa bệnh phù hợp cho NKT (khoản 1 Điều 23 )

NKT là đối tượng yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống nhưng NKT là trẻ em, phụ nữ có thai, người cao tuổi, người có công với cách mạng và NKT nặng, đặc biệt nặng còn chịu nhiều khó khăn, thiệt thòi trong cuộc sống hơn nữa Vì vậy, bên cạnh quyền được khám chữa bệnh thì nhóm đối tượng NKT trên còn được hưởng những quyền ưu tiên trong khám chữa bệnh nhằm hỗ trợ, giúp đỡ họ trong việc chăm sóc sức khỏe thông qua các hình thức như: miễn, giảm viện phí; hỗ trợ sinh hoạt phí; chi phí đi lại; chi phí điều trị… Quy định này thể hiên sự thống nhất phù hợp với Luật Người cao tuổi, Luật khám bệnh chữ bệnh , Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân và luật khác về ưu tiên, ưu đãi với những đối tượng có hoàn cảnh sức khỏe đặc biệt

1.3 Phục hồi chức năng

Phục hồi chức năng đối với NKT không chỉ bó hẹp trong phạm vi các biện pháp

y học như trước đây (còn gọi là phục hồi chức năng truyền thống), mà đã mở rộng phạm vi phục hồi chức năng đến các lĩnh vực giáo dục, xã hội, hướng nghiệp v.v (còn gọi là phục hồi chức năng hiện đại hay phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng) Trong đó, không chỉ có sự tham gia của thầy thuốc tại các cơ sở y tế, mà còn có sự tham gia của chính quyền địa phương, cộng đồng, gia đình và chính bản thân NKT vào quá trình chăm sóc sức khoẻ NKT

Trang 5

Theo quy định của pháp luật về NKT, cụ thể tại Điều 24 và Điều 25 Luật NKT

2010 quy định nội dung phục hồi chức năng NKT bao gồm: Phục hồi chức năng thông qua các cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Theo đó:

- Phục hồi chức năng thông qua các cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng

Căn cứ vào loại hình của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng, có cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng công lập và ngoài công lập Khác với trước đây, việc thực hiện chỉnh hình, phục hồi chức năng cho NKT chủ yếu được tiến hành tại các

cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng của Nhà nước,hiện nay, với việc quy định đa dạng các loại hình, phong phú các hình thức, mở rộng phạm vi hoạt động của các

cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng, pháp luật không chỉ đảm bảo quyền hiến định, mà thể hiện trách nhiệm sâu sắc của Nhà nước, cộng đồng xã hội trong việc chăm sóc sức khoẻ cho những người kém may mắn trong xã hội, đảm bảo mục đích an sinh xã hội

- Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là biện pháp thực hiện tại nơi, với những người mà NKT cùng sinh sống, nhằm chuyển giao kiến thức về vấn đề khuyết tật, kĩ năng phục hồi và thái độ tích cực đến NKT, gia đình của họ và cộng đồng, tạo sự bình đẳng về cơ hội và hoà nhập cộng đồng cho NKT Pháp luật quy định Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng , tạo điều kiện cho cơ quan,

tổ chức, cá nhân tổ chức hoặc tham gia thực hiện hoạt động phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Ngoài ra, pháp luật còn quy định những biện pháp hỗ trợ thực hiện chăm sóc sức khỏe cho NKT, cụ thể trong Luật Người khuyết tật năm 2010 như Nghiên cứu khoa học về người khuyết tật ( Khoản 1, Điều 26 ), Đào tạo nguồn nhân lực y tế ( Khoản 6 Điều 5 ), Chính sách tài chính hỗ trợ thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật( Khoản 1, 2 Điều 26 ), Hợp tác quốc tế ( Điều 12 )

2 Quy định pháp luật về quyền lợi bảo hiểm y tế cho NKT

Khoản 2 Điều 22 Luật người khuyết tật năm 2010 quy định “Người khuyết tật được hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế”

Theo đó:

- Đối với người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng

Trang 6

Theo điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định số 136/2013 NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội về cấp thẻ bảo hiểm y tế, người khuyết tật nặng và đặc biệt năng thuộc đối tượng bảo trợ xã hội và được nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế Thủ tục cấp thẻ bảo hiểm y tế căn cứ theo điểm b, Khoản 2 Điều 4 Thông tư 41/2014/TTLT-BYT-BTC

Mức hưởng bảo hiểm y tế đối với đối tượng trên được quy định:

Theo điểm g Khoản 3 Điều 12 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng thuộc vào nhóm do ngân sách nhà nước đóng Căn cứ tại Điều 22 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi

bổ sung năm 2014 quy định mức hưởng bảo hiểm y tế đối với người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng khi đi khám, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi bảo hiểm y tế

- Với người khuyết tật nhẹ

Người khuyết tật nhẹ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Luật người khuyết tật năm 2010 được hiểu là người không thuộc trường hợp người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng Pháp luật không có những quy định riêng

về quyền lợi bảo hiểm y tế cho người khuyết tật nhẹ nên việc thực hiện bảo hiểm y

tế của họ được lồng ghép với các nhóm đối tượng Cụ thể:

Nếu là trẻ em khuyết tật dưới 6 tuổi hoăc người khuyết tật thuộc hộ gia đình nghèo thì được hưởng bảo hiểm y tế do ngân sách nhà nước đóng 100% ( khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014)

Nếu người khuyết tật thuộc hộ cận nghèo thì được hưởng bảo hiểm y tế Ngân sách nhà nước hỗ trợ 70 % ( khoản 4 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014)

Nếu người khuyết tật là học sinh, sinh viên hoặc thuộc hộ gia đình làm nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình thì được ngân nhà nước hỗ trợ 30%

Nếu người khuyết tật tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình thì căn cứ số lượng người tham gia, mức đóng bảo hiểm y tế đươc giảm dần từ người thứ hai trở

đi Theo đó, Người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất ( khoản 3 điều 13 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014) Người khuyết tật tham gia BHYT khi khám bệnh, chữa bệnh theo đúng quy định tại Điều 26, 27, 28 của Luật BHYT thì được Quỹ BHYT thanh toán chi phí khám

Trang 7

chữa bệnh theo các mức 100%, 95% và 80% tùy theo đối tượng; trường hợp tự khám chữa bệnh không đúng tuyến, phải nằm điều trị nội trú thì được thanh toán mức 40% chi phí điều trị nội trú (tuyến trung ương), 60% (tuyến tỉnh), 70% ( tuyến huyện) Và để được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế thì người khuyết tật phải được cấp thẻ bảo hiểm y tế Theo đó quy trình tham gia bảo hiểm y tế gồm 3 bước : lâp

tờ khai tham gia bảo hiểm y tế, tổng hợp hoàn thiện danh sách tham gia bảo hiểm y

tế để chuyển đến cơ quan bảo hiểm xã hôi và cấp thẻ bảo hiểm y tế

III Thực tiễn thực hiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe và quyền lợi bảo

hiểm y tế cho người khuyết tật

Trước khi đi vào khái quát thực tiễn , nhóm xin nêu và phân tích một tình huống liên quan đến chăm sóc sức khỏe và quyền lợi của người khuyết tật Cụ thể như sau

1 Tình huống

Em Nguyễn Thị A 15 tuổi có hộ khẩu thường trú tại phường Đông Thành ,thành phố Ninh Bình, hiện đang là học sinh lớp 9 tại một trường trên địa bàn thành phố

Em A bị di chứng sốt bại liệt dẫn đến chân phải bị teo và ngắn hơn chân trái, nên đi lại khó khăn Em A vẫn thường xuyên mặc cảm, tự ti với khiếm khuyết của mình Trường hợp cuả em A sẽ được chăm sóc sức khỏe và đảm bảo quyền lợi y tế theo quy định cuả pháp luật Cụ thể, em A được chăm sóc sức khỏe ban đầu Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho em A theo quy định của Luật Người khuyết tật thuộc trách nhiệm của trạm y tế xã nơi em cư trú, cụ thể là Trạm y tế phường Đông Thành, Thành phố Ninh Bình Trạm y tế phường có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe của em A Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho em Thực hiện các biện pháp phòng ngừa để ngăn ngừa khuyết tât gây nên hậu quả nặng hơn Cùng với đó, em A sẽ được tiếp cận dịch vụ y tế khám , chữa bệnh phù hợp với khuyết tật của mình Do A được xác định là người khuyết tật nhẹ và đang là học sinh nên em được Ngân sách nhà nước hỗ trợ 30% chi phí bảo hiểm y tế Đối với di chứng ở chân do sốt bại liệt , em A được kiểm tra thăm khám tại các cơ sở y tế để bác sĩ đưa ra hướng điều trị phù hợp Hiện nay, đối với trường hợp như em A, ở Việt Nam đã ghi nhận phương pháp phẫu thuật kéo dài chân bằng cách tiến hành cắt xương và gắn vào xương một dụng cụ chuyên dụng có thể làm tăng chiều dài xương, sẽ giúp bệnh nhân có tư thế đi thăng bằng không còn khập khiễng, tránh thoái hóa các khớp, đau khớp cổ chân, khớp gối, khớp háng, và đau cột sống kéo dài Các cơ sở khám, chữa bệnh có trách nhiệm

Trang 8

thực hiện khám, chữa bệnh phù hợp cho A Về phục hồi chức năng, A có thể tập vật lý trị liệu để cải thiện khả năng đi lại của mình, sử dụng các dụng cụ hỗ trợ như mang giày nẹp ở chân , tham gia các hoạt động giáo dục , vui chơi hòa nhập cộng đồng Những phân tích về quyền lợi của em A dựa vào quy định pháp luật , tuy nhiên em A có thể gặp những khó khăn nhất định khi chăm sóc sức khỏe như không được bảo hiểm y tế chi trả phương tiện trợ giúp vận động,…

Trên đây chỉ là một trong số nhiều tình huống về chăm sóc sức khỏe cho NKT

có thể diễn ra trên thực tế Mặc dù pháp luật quy định việc đảm bảo quyền lợi cho NKT trong chăm sóc sức khỏe và hưởng bảo hiểm y tế nhưng thực tiễn thực hiện vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định

2 Khái quát thực tiễn

2.1 Những kết quả đạt được trong thực hiện chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế cho người khuyết tật

Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu những năm qua, việc tuyên truyền, giáo dục kiến thức, kĩ năng chăm sóc sức khỏe NKT được thực hiện thường xuyên

và rộng khắp với nhiều hình thức như tư vấn cộng đồng thông qua các tổ chức thanh niên, phụ nữ, người làm nghề công tác xã hội, tư vấn tại gia đình NKT với nội dung được xây dựng phong phú, phù hợp Pháp luật quy định trách nhiệm chăm sóc sức khỏe ban đầu của cơ sở y tế cấp xã và Nhà nước ta ngày càng chú trọng hơn đến việc đầu tư về số lượng cũng như chất lượng tại các cơ

sở này Trên cơ sở thực hiện phòng ngừa khuyết tật, từ năm 2012 – 2015, có đến 70% trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh, rối loạn phát triển và được can thiệp sớm các dạng khuyết tật

Đối với hoạt động khám bệnh, chữa bệnh hiện nay nhiều NKT đã được tiếp cân với dịch vụ y tế phù hợp NKT khi ốm đau, bệnh tật được khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám, chữa bệnh nơi họ cư trú Trong trường hợp bệnh, tật diễn biến xấu hơn, NKT được giới thiệu lên y tế tuyến trên để được tiếp tục theo dõi, chăm sóc, điều trị theo quy định của Luật Khám, chữa bệnh và Luật Bảo hiểm y

tế, khi đó, sẽ được bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám chữa bệnh Năm

2016 cả nước có 896.644 người khuyết tật nặng được cấp thẻ Bảo hiểm y tế theo quy định của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP và trên 150.000 người khuyết tật nhẹ thuộc các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ chính sách xã hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe

Về phục hồi chức năng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1109/QĐ–TTg, phê duyệt đề án hỗ trợ NKT giai đoạn 2012 – 2020 Nhằm thực

Trang 9

hiện đề án này, Bộ y tế đã chủ động xây dựng và phát triển chương trình phục hồi chức năng cho NKT Đến nay cả nước có 38 Bệnh viện/Trung tâm Điều dưỡng – Phục hồi chức năng trực thuộc tỉnh/thành phố; Có 23 Bệnh viện/Trung tâm Điều dưỡng – Phục hồi chức năng trực thuộc các Bộ, ngành; 100% bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 100% bệnh viện đa khoa tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương có khoa Vật lý trị liệu Nhiều công trình nghiên cứu, sản xuất thiết bị trợ giúp NKT đã được thực hiện như : thiết bị dẫn đường cho người mù,

hệ thống điều khiển bằng giọng nói cho xe lăn điện… Bên cạnh đó, trong những năm qua, chương trình phục hồi chức năng dưa vào cộng đồng đã được triển khai rộng khắp tại 51 tỉnh, thành phố với 337 quận, huyện và 4.604 xã, phường trong cả nước, góp phần làm giảm tỷ lệ khuyết tật, tăng khả năng hòa nhập, tái hòa nhập cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống của người khuyết tật Cũng trong năm 2016, cùng với các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật của

Bộ Y tế, các tổ chức xã hội, tổ chức của/vì người khuyết tật và chính quyền các địa phương cũng tích cực triển khai các hoạt động trợ giúp y tế cho người khuyết tật trong cộng đồng Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam

đã hỗ trợ 6.992 người phẫu thuật thay thủy tinh thể, 349 người khuyết tật phẫu thuật chỉnh hình phục hồi chức năng, cấp thẻ BHYT cho 10.387 người khuyết tật, khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho 80.000 lượt người khuyết tật và trẻ

mồ côi…

2.2 Những hạn chế trong thực hiện chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế cho người khuyết tật

Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác chăm sóc sức khỏe và thực hiện bảo hiểm y tế cho NKT vẫn còn tồn tại một số hạn chế Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NKT, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa khuyết tật chưa được thực hiện đầy đủ, hiệu quả Việc lập hồ sơ theo dõi NKT tại các trạm

y tế xã chưa được thực hiện nghiêm ngặt, số lượng hồ sơ được lập so với số lượng NKT thực tế là rất thấp Mặc dù nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ phục hồi chức năng cho NKT nhưng tỷ lệ NKT được tiếp cận các chương trình phục hồi chức năng còn tương đối thấp Trên thực tế, tỉ lệ người khuyết tật sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đi khám tại các cơ sở y tế không cao, chất lượng phục

vụ chưa thật sự tốt, trang thiết bị chưa đảm bảo yếu tố tiếp cận với người khuyết tật, những khó khăn khi dùng thẻ bảo hiểm y tế, cụ thể như phải khám đúng tuyến, trong khi đó trạm y tế tuyến địa phương lại chưa có đủ trang thiết bị tiếp cận với người khuyết tật Khi NKT đi chữa bệnh, Bảo hiểm y tế chỉ chi trả cho các khoản về khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con, chuyển tuyến theo đúng quy định Còn các trường hợp như thay chân, tay giả, phương tiện trợ giúp vận động thì không được chi trả trong bảo hiểm Ðối với trẻ khuyết tật, luật quy định trẻ em dưới sáu tuổi được Nhà nước cấp thẻ

Trang 10

khám, chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế công lập thuộc Bộ Y tế, các bộ, cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương Với trẻ khuyết tật sứt môi, hở hàm ếch có nhu cầu phẫu thuật chỉnh hình, nhưng không được Bảo hiểm y tế chi trả,

vì cho rằng đây là phục vụ thẩm mỹ

IV Kiến nghị hoàn thiện pháp luật chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế

cho NKT

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho NKT Theo đó, cần rà soát, nghiên cứu sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến NKT, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện Công ước quốc tế về quyền của NKT, ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện hiệu quả chính sách pháp luật và các chương trình , đề

án cho NKT Cần quy định rõ ràng, thống nhất pháp luật về bảo hiểm y tế để khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong quá trình sử dụng thẻ bảo hiểm y tế như đơn giản hóa thủ tục thực hiện dịch vụ

Thứ hai, nâng cao nhận thức về NKT Trong đó,cần tuyên truyền rộng rãi hơn

để các đối tượng người khuyết tật biết và hiểu được quyền được khám và chữa bệnh của mình Đối với cộng đồng, cần tuyên truyền, giáo dục trách nhiệm cộng đồng đối với NKT trong việc chia sẻ, giúp đỡ NKT vượt qua các rào cản về tâm lý, bệnh tật , sự phân biệt kì thị để hòa nhập xã hội Ví dụ như tổ chức các chương trình văn hóa nghệ thuật giao lưu giữa người khuyết tật với mọi người; tổ chức các

mô hình kinh tế phù hợp với người khuyết tật…

Thứ ba, tạo cơ sở nhân lực, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ chăm sóc khỏe NKT Để khắc phục tình trạng thiếu nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe cho NKT, cần có chương trình đào tạo trước hết là nhân viên y tế cơ sở, đảm bảo mỗi trạm y

tế cấp xã có ít nhất hai nhân viên có kĩ năng chăm sóc sức khỏe NKT Chú trọng giáo dục y đức, kĩ năng chăm sóc NKT song song với đào tạo chuyên môn để có nguồn nhân lực đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe toàn dân, trong

đó có NKT Cơ sở vật chất như tổ chức mạng lưới y tế, trang thiết bị phục vụ khám, chữa bệnh , hệ thống cơ sở phục hồi chức năng cần phải được củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng

Thứ tư, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quá trình triển khai thực hiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe NKT, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luât NKT nói chung và pháp luật về chăm sóc sức khỏe NKT nói riêng Cần kiểm soát chặt chẽ hơn việc trạm y tế xã lập hồ sơ quản lý đối tượng, theo dõi tình hình sức khỏe của NKT theo quy định

KẾT LUẬN

Ngày đăng: 05/11/2018, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w