Đó là tập trung hướng dẫn các kỹ năng nghề cho sinh viên tại các xưởng thực hành của Trường, theo từng giai đoạn được quy định rõ trong chương trình đào tạo của ngành/chuyên ngành.. Tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
-o0o -BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
SINH VIÊN CƠ KHÍ DỰA TRÊN NỀN TẢNG KẾT NỐI NHÀ
HỌC VIÊN: NGUYỄN HỮU QUANG
(Giảng viên trường Đại học Kinh Tế - Kỹ thuật Công nghiệp)
HÀ NỘI, THÁNG 8/2017
Trang 2ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CHO SINH VIÊN CƠ KHÍ DỰA TRÊN NỀN TẢNG KẾT NỐI NHÀ
TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
1 Đặc điểm, tình hình hướng dẫn thực hành cho sinh viên Cơ khí trong các cơ sở đào tạo hiện nay:
Hầu hết các cơ sở đào tạo sinh viên khối ngành kỹ thuật nói chung, ngành Cơ khí nói riêng đều có phương thức hướng dẫn thực hành theo kiểu
“truyền thống” Đó là tập trung hướng dẫn các kỹ năng nghề cho sinh viên tại các xưởng thực hành của Trường, theo từng giai đoạn được quy định rõ trong chương trình đào tạo của ngành/chuyên ngành Cán bộ hướng dẫn tập trung vào một nhóm các giảng viên có kinh nghiệm dạy thực hành Các máy móc, thiết bị, phần mềm sử dụng trong hướng dẫn thực hành nghề phần lớn được đầu tư từ kế hoạch và nguồn vốn hạn chế riêng của cơ sở đào tạo, của cơ quan quản lý nhà nước đối với cơ sở đào tạo hay từ các dự
án tài trợ có yếu tố nước ngoài Các máy móc, thiết bị, phần mềm thuộc các
dự án tài trợ nước ngoài thường được setup theo mô hình đào tạo nghề của các nước đó
2 Những hạn chế tồn tại trong phương thức hướng dẫn thực hành hiện nay:
Xuất phát từ đặc điểm, tình hình hướng dẫn thực hành cho sinh viên
Cơ khí như đề cập ở trên, có thể dễ dàng nhận thấy một số điểm hạn chế rất lớn còn tồn tại trong phương thức đào tạo nghề kiểu “truyền thống” Đó là:
- Hầu hết các cơ sở đào tạo đều hướng dẫn theo dạng dàn trải, chia đều các kỹ năng vận hành các máy móc thiết bị cơ khí Mỗi chương trình thực hành hay hướng dẫn tay nghề đều áp dụng cho tất cả các thiết bị, phần mềm đang có tại xưởng để đảm bảo lấp đầy khối lượng thực hành theo đúng định mức
Trang 3- Việc đào tạo, hướng dẫn thực hành hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các máy móc, thiết bị có tại các xưởng Phổ biến là các máy cắt gọt vạn năng truyền thống, cao hơn đến các máy gia công CNC phổ thông (tiện CNC, phay CNC), một số cơ sở đào tạo có thể có thêm máy gia công tia lửa điện, cắt dây hay cắt plasma, các phần mềm thiết kế cơ khí hạng trung phổ thông như Topsolid, Solidworks Yếu tố tương thích về chất lượng và mức độ hiện đại của các thiết bị sử dụng trong đào tạo thực hành giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp đều đang bị bỏ ngỏ hoặc không được quan tâm đúng mức
- Các giảng viên hướng dẫn thực hành tại các cơ sở đào tạo tập trung chủ yếu vào một nhóm nhỏ, không phải tất cả nhưng rất nhiều trong số đó
là các giảng viên trẻ, mới vào, chưa có kinh nghiệm thực tiễn về sản xuất Điều này xuất phát từ thực trạng ở các cơ sở đào tạo là các giảng viên lâu năm có kinh nghiệm chủ yếu được ưu tiên dạy lý thuyết, còn hướng dẫn thực hành tại xưởng là dành cho các kỹ thuật viên hoặc các giảng viên trẻ, tập sự
- Yếu tố cuối cũng có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng đào tạo thực hành nghề là kinh phí dành cho vật tư phục vụ thực hành tay nghề của các cơ sở đào tạo còn hạn chế dẫn đến việc sinh viên phải thực hành chay, thực hành với nhóm đông người Điều này dẫn đến thời lượng tối thiểu cho mỗi sinh viên để đạt tay nghề cơ bản không đảm bảo, kéo theo chất lượng đào tạo thực tế đi xuống
3 Vai trò của doanh nghiệp và đề xuất phương thức hướng dẫn thực hành dựa trên nền tảng kết nối Nhà trường – Doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là yếu tố then chốt quyết định đến phương hướng và chuẩn đầu ra của hầu hết các cơ sở đào tạo trong nước và trên thế giới hiện nay Mục tiêu của các quá trình đào tạo chính là cung cấp sản phẩm đầu ra (sinh viên tốt nghiệp) với các kỹ năng đáp ứng được yêu cầu sử dụng của
Trang 4doanh nghiệp (cho các công nghệ, dây chuyền đang vận hành của doanh nghiệp đó)
Tuy nhiên, thực tế hiện nay vai trò của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo là chưa cao, thậm chí là không có Các cơ sở đào tạo chỉ gửi sinh viên ra kiến tập hay thực tập trong các kỳ cuối khóa, khi gần kết thúc khóa đào tạo Khi đó các kỹ năng nghề và kiến thức chuyên môn của sinh viên đã được định hình, có thể rất khác với yêu cầu và đời sống sản xuất thực tế tại doanh nghiệp Trong khi đó, ngay từ khi bước vào tiếp cận với các học phần ngành và chuyên ngành thì các yếu tố thực tế về máy, thiết bị, dây chuyền sản xuất, công nghệ sản xuất, đồ gá, phụ trợ… tại các xưởng thực hành của trường và của doanh nghiệp đều cần phải được đưa vào một cách sinh động và trực quan, thay vì hình vẽ, hình ảnh và mô
tả tưởng tượng trong các bài giảng “truyền thống” của giảng viên như trước đây
Vì vậy, chúng tôi đề xuất một mô hình kết hợp hướng dẫn thực hành, thực tập có kết hợp Nhà trường và Doanh nghiệp một cách “linh hoạt” trong quá trình đào tạo như sau:
Dựa vào kế hoạch đào tạo toàn khóa của sinh viên cơ khí và kế hoạch sản xuất tổng thể / năm của Doanh nghiệp, mỗi bên lựa chọn và thống nhất
ra tối thiểu 3 khoảng thời gian để trao đổi phương thức truyền đạt, hướng
dẫn cho sinh viên Trong mỗi một khoảng thời gian tiến hành trao đổi, khoảng 20-30% thời lượng để cán bộ kỹ thuật của Doanh nghiệp đến giới thiệu sơ bộ về máy móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ và đặc biệt là kế hoạch sản xuất thực tế tại thời điểm đó và 70-80% thời lượng còn lại để cho sinh viên đến kiến tập, thực tập, lao động trực tiếp tại cơ sở sản xuất của doanh nghiệp Mục đích và nội dung cụ thể của các khoảng thời gian tiến hành trao đổi, hướng dẫn thực hành cho sinh viên như sau:
Trang 5- Khoảng thời gian 1: trùng với khoảng thời gian sinh viên chuẩn bị
bước vào học các học phần cơ sở ngành
+ Mục đích:
Nhà trường: cho sinh viên làm quen với thiết bị, nhận biết tên gọi, kiểu dáng, loại hình thiết bị, dây chuyền sản xuất thực tế để có cái nhìn tổng thể về ngành
Doanh nghiệp: giới thiệu sơ bộ cho sinh viên biết dây chuyền, máy móc thiết bị hiện có, các tính năng công nghệ và quy trình sản xuất để sinh viên làm quen và bước đầu tiếp cận với công việc
+ Nội dung:
Nhà trường: cho các em tìm hiểu về nguyên lý, cấu tạo, cách vận hành, cách quản lý sơ bộ một dây chuyền sản xuất, làm quen với các cách thức tiếp nhận thông tin
Doanh nghiệp: cho các em tìm hiểu sơ bộ về máy móc, thiết
bị, cách bảo quản, an toàn thiết bị, tiếp cận và thực hiện một số thao tác/công đoạn hỗ trợ
Hình 1: Sinh viên tìm hiểu sơ bộ dây chuyền hàn của doanh nghiệp
Trang 6+ Kết quả:
Sau giai đoạn này, sinh viên có cái nhìn tổng quan về thực tế
và làm quen được với công nghệ, thiết bị, mô hình quản lý của doanh nghiệp
- Khoảng thời gian 2: trùng với khoảng thời gian sinh viên đã học
xong các học phần cơ sở ngành, bắt đầu tiếp cận với một vài học phần chuyên ngành sâu
+ Mục đích:
Nhà trường: cho sinh viên hiểu được quá trình chi tiết về thiết
kế sản phẩm, vận hành dây chuyền thiết bị và quy trình sản xuất một sản phẩm (thực tế), đặc biệt là so sánh đối chứng các công nghệ gia công cơ khí giữa lý thuyết với thực tiễn
Doanh nghiệp: cho sinh viên nắm bắt được công nghệ và dây chuyền đang vận hành sản xuất, đưa sinh viên tham gia vào quy trình sản xuất thực tế, góp phần tạo ra sản phẩm thương mại
+ Nội dung:
Nhà trường: để sinh viên hoàn toàn tìm hiểu sâu về máy móc, thiết bị, công nghệ gia công, chế tạo sản phẩm, kỹ thuật thiết kế sản phẩm, quy trình vận hành và sản xuất sản phẩm…
Doanh nghiệp: phân công sinh viên tham gia thực tế vào dây chuyền sản xuất hoặc tham gia vào một số công đoạn, nhằm hỗ trợ nhân lực và đẩy nhanh tiến độ sản xuất thực tế
+ Kết quả:
Sinh viên nắm tốt về các quy trình công nghệ gia công sản xuất thực tế, có cái nhìn thực tế và tổng hợp về ngành nghề và lĩnh vực được đào tạo chuyên sâu, doanh nghiệp được hỗ trợ nhân lực trong đúng
Trang 7giai đoạn sản xuất cần nhiều lao động, nhà trường có thêm kinh phí và kinh nghiệm từ doanh nghiệp
Hình 2: Sinh viên tìm hiểu, hỗ trợ cơ bản các công đoạn sản xuất
- Khoảng thời gian 3: trùng với khoảng thời gian sinh viên đã hoàn
thành xong tất cả các học phần chuyên ngành, chuẩn bị làm khóa luận tốt nghiệp
+ Mục đích:
Nhà trường: cho sinh viên làm chủ hoàn toàn một dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại hiện có tại doanh nghiệp, mở ra cơ hội làm việc ngay tại doanh nghiệp
Doanh nghiệp: thêm lao động có tay nghề cơ bản vào trong dây chuyền sản xuất, mở ra cơ hội tuyển dụng luôn lao động đã có sẵn tay nghề
+ Nội dung:
Nhà trường: cho sinh viên tìm hiểu toàn bộ thông tin về dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị, mô hình quản lý, từ đó có cái nhìn
Trang 8tổng thể và lựa chọn được phương hướng phát triển sau này, đồng thời lựa chọn luôn đề tài, lĩnh vực làm khóa luận tốt nghiệp
Doanh nghiệp: tiếp tục cho sinh viên tham gia vào dây chuyền sản xuất, lựa chọn các nhân tố xuất sắc để đưa thêm vào các lĩnh vực cần nhiều chuyên môn như thiết kế, quản lý…
Hình 3: Sinh viên tham gia vào dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp.
+ Kết quả:
Sinh viên có cơ hội đánh giá và hoàn thiện toàn bộ kiến thức,
kỹ năng tổng thể, gắn lý thuyết được đào tạo với thực tế, mở ra cơ hội tìm việc cho chính bản thân Doanh nghiệp có lao động cơ bản và lành nghề hỗ trợ cho quá trình sản xuất và tuyển dụng, nhà trường có thêm kinh phí hỗ trợ đào tạo
Các khoảng thời gian trong mô hình đề xuất hợp tác thay đổi phương thức đào tạo thực hành như trên đây hoàn toàn có thể được điều chỉnh bởi Nhà trường và Doanh nghiệp, có thể thay đổi theo từng năm hay từng giai
Trang 9đoạn sản xuất thực tế Đây chính là yếu tố “linh hoạt” dẫn đến hiệu quả đào tạo kiến thức tay nghề vượt hẳn so với phương thức hợp tác truyền thống
4 Những điểm nổi bật trong phương thức hướng dẫn thực hành mới:
Mô hình kết hợp đào tạo thực hành, thực tập này giúp tạo ra các lợi thế cho cả Nhà trường và Doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Với Nhà trường:
- Tận dụng được thế mạnh về kinh nghiệm, thiết bị và công nghệ sản xuất thực tế của Doanh nghiệp
- Tiết kiệm được chi phí đầu tư thiết bị, vật tư tiêu hao trong công tác hướng dẫn thực hành, thực tập, thậm chí có thêm kinh phí hỗ trợ đào tạo từ doanh nghiệp
- Tăng cường hiệu quả giảng dạy thực hành thực tập cho sinh viên với các tình huống trực quan sinh động, linh hoạt ngay vào các thời điểm học
cụ thể, không bị ràng buộc “cứng” vào chương trình đào tạo
Với Doanh nghiệp:
- Định hướng được cơ sở đào tạo để đào tạo các kỹ năng nghề và kiến thức chuyên môn theo nhu cầu sử dụng thực tế của Doanh nghiệp
- Bổ sung được nguồn lao động trực tiếp “linh hoạt” phù hợp với kế hoạch sản xuất và kế hoạch đào tạo thực tế trong năm
- Được hỗ trợ trong công tác tuyển dụng lao động hàng năm
- Tận dụng được mối quan hệ và kinh nghiệm, kiến thức của giảng viên Nhà trường trong các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ…
5 Kết luận:
Mô hình đổi mới phương thức hướng dẫn thực hành cho sinh viên Cơ khí dựa trên nền tảng kết hợp Nhà trường và Doanh nghiệp là mô hình rất tiên tiến, mang lại lợi ích trực tiếp và ngay cho cả hai phía Khác với kiểu
Trang 10“truyền thống” là kết hợp theo thời điểm cố định, tập trung chủ yếu vào giai đoạn cuối của quá trình đào tạo, mô hình mới tạo cách kết hợp linh hoạt, căn cứ đúng vào thời điểm có nhu cầu thực tế của cả hai bên: kết hoạch đào tạo của Nhà trường và kế hoạch sản xuất của Doanh nghiệp Mô hình này được triển khai áp dụng rất nhiều tại các nước tiên tiến, nhưng tại Việt Nam, do nhiều lý do mà chưa được nhân rộng Vì vậy cần cơ chế tạo điều kiện của các bên liên quan để trước mắt thí điểm cho một số cơ sở đào tạo đặc thù trên địa bàn như trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp để đúc rút kinh nghiệm, sau đó mở rộng cho các cơ sở đào tạo còn lại trong tỉnh Nam Định và khu vực đồng bằng Sông Hồng
Thông tin tác giả: Nguyễn Hữu Quang
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
SĐT: 0932.271.107
Email: nhquang@uneti.edu.vn