Merger Sáp nhập: Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức kết hợp một hoặc một số công ty cùng loạicông ty bị sáp nhập vào một công ty khác công ty nhận sáp nhập trên cơ sở chuyểntoàn bộ tà
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I:
LÝ THUYẾT VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT 1
1.1 Định nghĩa và Quy trình mua bán sáp nhập 1
1.1.1 Định nghĩa 1 1.1.2 Quy trình mua bán sáp nhập 4 1.2 Mục đích thực hiện hoạt động mua bán sáp nhập 4
1.3 Các vấn đề phải giải quyêt sau khi thực hiện mua bán sáp nhập 5
1.4 Hoạt động M&A trong lĩnh vực Ngân hàng 6
1.4.1 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước phát triển 6 1.4.2 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước đang phát triển 7 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ QUYẾT ĐỊNH HỢP NHẤT BA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN, VIỆT NAM TÍN NGHĨA, ĐỆ NHẤT 8 2.1 Thực trạng tổ chức hoạt động và yêu cầu tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam 8
2.2 Tính đúng đắn khi quyết định hợp nhất 3 ngân hàng SCB, VNTN, FB 12
2.2.1 Thực trạng 3 ngân hàng trước hợp nhất 13 2.2.2 Xét tính đúng đắn trong quyết định hợp nhất 15 CHƯƠNG III: CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH KHI HỢP NHẤT BA NGÂN HÀNG 18 3.1 Tài chính 18
3.2 Bộ máy quản lý & mô hình tổ chức 18
3.3 Chiến lược kinh doanh 20
3.4 Nhân sự 19
3.5 Quản trị rủi ro 20
3.6 Công nghệ thông tin 21
Trang 2CHƯƠNG I:
LÝ THUYẾT VỀ MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT
1.1 Định nghĩa và Quy trình mua bán sáp nhập
1.1.1 Định nghĩa
Theo lý thuyết Merger and Acquisition (M&A)
Mua bán, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp là một thuật ngữ mới xuất hiện ở ViệtNam, đặc biệt là khi thị trường chứng khoán Việt Nam có những bước phát triểnnhanh chóng Thuật ngữ này được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Merger &Acquisition” hay còn được viết tắt là M&A M&A thực chất là hoạt động giành quyềnkiểm soát doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phầnhoặc toàn bộ doanh nghiệp đó Mục đích của M&A là giành quyền kiểm soát doanhnghiệp ở mức độ nhất định chứ không đơn thuần chỉ là sở hữu một phần vốn góp hay
cổ phần của doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ, lẻ Vì vậy, khi một nhà đầu tư đạtđược mức sở hữu phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp đủ để tham gia, quyết địnhcác vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì khi đó mới có thể coi đây là hoạt độngM&A Ngược lại, khi nhà đầu tư sở hữu phần vốn góp, cổ phần không đủ để quyếtđịnh các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tưthông thường
Merger (Sáp nhập):
Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức kết hợp một hoặc một số công ty cùng loại(công ty bị sáp nhập) vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) trên cơ sở chuyểntoàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập vào công ty nhận sáp nhập.Công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại Công ty nhận sáp nhập vẫn tồn tại và kế thừatoàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập
Các hình thức sáp nhập rất đa dạng và có nhiều cách phân loại:
Dựa vào cấu trúc của từng doanh nghiệp:
Trang 3- Sáp nhập ngang (hay còn gọi là Sáp nhập cùng ngành): Diễn ra đối với hai công ty
cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường
- Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, ví dụ giữa
một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó
- Sáp nhập kiểu tập đoàn: Trong trường hợp này, hai công ty không có cùng lĩnh vực
kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngànhnghề
Dựa trên cách thức cơ cấu tài chính:
- Sáp nhập mua: Như chính cái tên này thể hiện, loại hình Sáp nhập này xảy ra khi
một công ty mua lại một công ty khác Việc mua công ty được tiến hành bằng tiềnmặt hoặc thông qua một số công cụ tài chính
- Sáp nhập hợp nhất: Với hình thức Sáp nhập này, một thương hiệu công ty mới
được hình thành và các công ty được hợp nhất dưới một pháp nhân mới Tài chínhcủa hai công ty sẽ được hợp nhất trong công ty mới
Dựa trên phạm vi lãnh thổ:
- Sáp nhập các doanh nghiệp trong nước
- Sáp nhập các doanh nghiệp nước ngoài
Dựa trên phương thức ra quyết định quản lý:
- M&A đồng thuận
- M&A không đồng thuận
Mua lại (Acquisitions):
Mua lại là một công ty mua lại hoặc thôn tính công ty khác mà không tạo ra phápnhân mới Dù là giao dịch thân thiện hay thù địch thì giao dịch mua lại xảy ra khi bênmua giành được quyền kiểm soát đối với công ty mục tiêu (đối tượng bị mua lại)
Có thể thấy hoạt động Mua bán chỉ khác đôi chút so với hình thức Sáp nhập Trênthực tế, nó có thể chỉ khác về mặt thuật ngữ Giống như Sáp nhập, Mua bán cũngnhằm mục đích đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả và thị phần Không giống như
Trang 4tất cả các loại hình Sáp nhập, Mua bán liên quan đến một công ty mua lại một công tykhác chứ không phải hợp nhất để tạo thành công ty mới Mua bán luôn diễn ra tốt đẹpnếu quan hệ hai bên là ăn ý nhau và cảm thấy thỏa mãn với thương vụ đó Tuy nhiên,cũng có trường hợp, hoạt động Mua bán được diễn ra rất căng thẳng - khi mà hai đốithủ dùng tiềm lực tài chính để thâu tóm nhau nhằm triệt tiêu sự cạnh tranh lẫn nhau.
Theo khung pháp lý Việt Nam
Theo Luật Doanh Nghiệp năm 2005, không có khái niệm mua bán doanh nghiệp
mà chỉ có khái niệm hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp (quy định tại điều 152 vàđiều 153):
- Hợp nhất là hình thức hai hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị hợp nhất) có
thể hợp nhất thành một công ty mới (công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộtài sản quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấmdứt sự tồn tại của các các công ty bị hợp nhất
- Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số công ty (công ty bị sáp
nhập) sáp nhập vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyểntoàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập,đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập
Theo Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11 tháng 2 năm 2010 của NHNN quyđịnh việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng, các khái niệm này trong lĩnhvực tài chính ngân hàng được định nghĩa như sau:
- Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (tổ chức
tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụngnhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợppháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổchức tín dụng bị sáp nhập
- Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (tổ chức
tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới (tổ chức tín dụnghợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
Trang 5sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tíndụng bị hợp nhất.
- Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng mua
lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụngkhác (tổ chức tín dụng bị mua lại) Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng bị mua lại trởthành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại
1.1.2 Quy trình mua bán sáp nhập
Bất kỳ một giao dịch M&A nào cũng phải trải qua các bước sau để rút ngắn đượcthời gian tái tổ chức và giảm thiểu các rủi ro:
- Giai đoạn 1: Xem xét/đánh giá hiện trạng và các hoạt động trù bị
- Giai đoạn 2: Hoạch định lộ trình và chương trình sáp nhập
- Giai đoạn 3: Thực hiện sáp nhập và truyền thông
- Giai đoạn 4: Hợp nhất tổ chức/quản lý và tối ưu hóa nguồn lực
1.2 Mục đích thực hiện hoạt động mua bán sáp nhập
Xuất phát từ lợi ích dự tính của thương vụ M&A mà ban quản trị công ty ra quyếtđịnh đối với M&A Thực chất quyết định mua bán và sáp nhập doanh nghiệp khôngphải là một quyết định bình thường hay mang tính tình thế mà nó là quyết định mangtính chiến lược, tạo nên một sự thay đổi lớn trong doanh nghiệp cũng như tầm nhìn vàhướng đi của doanh nghiệp về sau
Chính vì vậy, chúng ta phải đề cập đến những lợi ích của M&A mà các nhà quản trị
Trang 6Củng cố vị thế thị trường
- Tăng thị phần, tăng khách hàng
- Tận dụng quan hệ khách hàng cũng như khả năng bán chéo dịch vụ
- Tận dụng kiến thức sản phẩm để tạo cơ hội kinh doanh mới
- Nâng cao năng lực cạnh tranh
Giảm thiểu chi phí ngắn hạn
- Giảm thiểu trùng lặp trong mạng lưới phân phối
- Tiết kiệm chi phí hoạt động
- Tiết kiệm chi phí hành chính quản lý
Tận dụng quy mô dài hạn
- Tối ưu hóa kết quả đầu tư công nghệ
- Tận dụng kinh nghiệm thành công của các bên
- Giảm thiểu chi phí chung cho từng đơn vị sản phẩm
- Giảm thiểu chi phí khi mua với khối lượng lớn
1.3 Các vấn đề phải giải quyêt sau khi thực hiện mua bán sáp nhập
Vấn đề lớn nhất sau khi M&A là làm
sao để các doanh nghiệp riêng lẻ với
những đặc điểm, văn hóa kinh doanh
khác nhau cùng hòa hợp để hướng tới
những lợi ích mục tiêu đã xác định
trước Do đó, hậu M&A doanh nghiệp
cần giải quyết những vấn đề quan trọng
như: Tài chính, Chiến lược kinh
doanh, Mô hình tổ chức, Quản trị rủi
ro, Nhân lực, Công nghệ thông tin.
Trang 7Sẽ có rất nhiều đụng chạm giữa các vị quản lý và nhân viên các bên, giữa quyền lợiriêng từ từng cá nhân, giữa những thị phần và thương hiệu đối chọi Nếu không khéogiải quyết, công ty sẽ mất rất nhiều thì giờ cũng như nhân lực, đồng nghĩa với việcmất doanh thu và lợi nhuận.
1.4 Hoạt động M&A trong lĩnh vực Ngân hàng
1.4.1 H oạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước phát triển
Các ngân hàng ở những quốc gia này đã phát triển đến mức bão hòa với qui luậtlợi nhuận giảm dần nên doanh thu, lợi nhuận cũng giảm do đó chúng đã sáp nhập, hợpnhất và mua lại lẫn nhau nhằm cắt giảm chi phí, mở rộng mạng lưới hoạt động, bổsung, đa dạng hoá sản phẩm, tăng cường qui mô kinh doanh cũng như lợi thế cạnhtranh đáp ứng với xu thế phát triển của nền kinh tế khu vực hoá và quốc tế hoá
Ví dụ, tại Mỹ thời gian qua đã có nhiều cuộc sáp nhập do những lý do như: (1) Cácngân hàng Mỹ đã cho vay các nước đang phát triển quá nhiều nên nguy cơ thiếu vốngia tăng; (2) Sự khác biệt về luật pháp làm cho nguồn dự trữ của hệ thống dự trữ liênbang không lớn; (3) Mạng lưới chi nhánh của các ngân hàng Mỹ không lớn do các hạnchế về mở chi nhánh ở các bang khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung, tùy thuộc vào qui
mô của các ngân hàng mà lý do sáp nhập cũng khác nhau
Đối với các ngân hàng lớn
Lý do quan trọng nhất là cắt giảm chi phí hoạt động và gia tăng qui mô kinh doanhnhờ việc sáp nhập, hợp nhất sẽ tăng vốn huy động, tăng vốn điều lệ và giới hạn chovay từng khách hàng đơn lẻ Ngoài ra cũng có thể để đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụkinh doanh, tăng uy tín của ngân hàng hoặc tiết kiệm chi phí thành lập chi nhánh
Đối với các ngân hàng nhỏ
Các ngân hàng nhỏ sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại cho những ngân hàng lớn vìthiếu vốn điều lệ theo luật hoặc tránh phá sản hoặc để tối đa hoá lợi ích của các cổđông Ngoài ra, các ngân hàng nhỏ cũng có thể tiến hành sáp nhập, hợp nhất để thànhmột ngân hàng lớn hơn
Trang 81.4.2 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước đang phát triển
Tại các quốc gia đang phát triển hoặc chuyển đổi, hệ thống ngân hàng hầu như cònrất non trẻ, nên qui mô không lớn, kinh nghiệm kinh doanh chưa nhiều, sản phẩm cònnghèo nàn, luật lệ kinh doanh chưa rõ ràng, đầy đủ nên lý do dẫn đến việc sáp nhập,hợp nhất các ngân hàng ở các nước chủ yếu là do chính phủ muốn sắp xếp, củng cố hệthống ngân hàng nhằm tăng cường qui mô vốn, an toàn trong kinh doanh ngân hàngnhư các nước Nga, Bungari, các nước Đông Nam Á sau khủng hoảng tài chính tiền tệ1997
Việt Nam cũng đang tiến hành đồng thời hai cuộc cải cách nhằm thúc đẩy nền kinh
tế phát triển đó là cải cách các doanh nghiệp nhà nước và cải cách hệ thống ngân hàngvới nhiều biện pháp khác nhau Theo đó, một trong những biện pháp quan trọng làthực hiện việc M&A đối với các ngân hàng thương mại cổ phần nhằm hình thànhnhững ngân hàng lớn, đủ sức cạnh tranh trong tương lai, đồng thời tránh sự lập lại củacuộc đổ bể tín dụng vào những năm 1989-1990
Trang 9CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ QUYẾT ĐỊNH HỢP NHẤT BA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN,
VIỆT NAM TÍN NGHĨA, ĐỆ NHẤT
2.1 Thực trạng tổ chức hoạt động và yêu cầu tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam
Có thể nói rằng cho đến nay, hệ thống NHTM Việt Nam đã có sự phát triển trên cả
2 phương diện: số lượng và chất lượng
Xét về số lượng:
Từ chỗ chỉ tồn tại hệ thống ngân hàng một cấp (trước nam 1990), cho đến nay, thịtrường tín dụng Việt Nam có sự khởi sắc nhanh chóng, các TCTD đã ra đời ngày càngnhiều hơn, đa dạng hơn Đặc biệt, kể từ 1992, khi NHNN ban hành văn bản chấpthuận sự gia nhập của các văn phòng đại diện nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nướcngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh vào Việt Nam thì thịtrường tín dụng của Việt Nam thực sự có bước phát triển về chất với sự hiện diện vàhoạt động của hàng loạt các TCTD nước ngoài như ANZ, Citibank hoặc HSBC… lầnlượt đăng kí đặt van phòng đại diện, chi nhánh Thậm chí, HSBC và ANZ còn thànhlập ngân hàng 100% vốn nước ngoài Đi cùng với sự tăng lên về số lượng, các TCTDcũng đua nhau mở thêm nhiều Phòng giao dịch, chi nhánh trên toàn quốc nhằm đápứng nhu cầu về dịch vụ tài chính ngân hàng ngày càng tăng lên của các khách hàngtrong nền kinh tế
Xét về mặt chất lượng:
Trước năm 1986, mọi chu chuyển tiền tệ đều thực hiện theo kế hoạch và qua mộtngân hàng duy nhất là NHNN, cho nên không có vấn đề cạnh tranh trong giai đoạnnày Nhưng kể từ khi chuyển đổi hệ thống ngân hàng gắn với cơ chế thị trường, thìcạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và các dịch vụ tài chính – ngân hàng từng bướcđược hình thành và ngày càng gia tăng Đặc biệt, cùng với lộ trình thực hiện các camkết mở cửa hội nhập trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, thị trường tín dụng hoạt
Trang 10động ngày càng sôi động, tính chất và mức độ cạnh tranh ngày càng thêm quyết liệt.
Sự cạnh tranh được thể hiện trên các giác độ:
Cạnh tranh giữa các TCTD với nhau:
Đầu những năm 1990, bốn NHTM Nhà nước chiếm gần như toàn bộ thị trườngtiền gửi và cho vay ờ Việt Nam Nhưng đến nay theo số liệu của NHNN, hiện cả nước
có 52 NHTM được cấp phép hoạt động và 50 chi nhánh NHTM nước ngoài, đưa tổngcon số lên hơn 100 ngân hàng Cùng với đó là việc thành lập và hoạt động của hàngloạt công ty tài chính (17 Cty tài chính, 13 Cty cho thuê tài chính), quỹ tín dụng từtrung ương tới địa phương (96 QTDND cơ sở, 1 QTDND TW và 23 chi nhánh) Cóthể nói, với thời gian trên 20 năm thực hiện quá trình đổi mới kinh tế, hệ thống ngânhàng và định chế phi ngân hàng đã có sự phát triển vượt bậc, đóng góp vai trò to lớnđối với những thành tựu về kinh tế - xã hội nước ta trong những năm qua Do số lượngcác TCTD tăng lên quá nhanh trong thời gian qua, nên tính chất và mức độ cạnh tranhgiữa các TCTD cũng ngày càng thêm gay gắt
Cạnh tranh giữa các TCTD với các định chế tài chính khác:
Từ 1992 trở về trước, cả nước chỉ có 2 Cty tài chính, 2 Cty bảo hiểm Đến năm
2001, đã có 7 Cty tài chính, 8 Cty cho thuê tài chính, 18 Cty bảo hiểm, 8 Cty chứngkhoán Ngoài ra, còn có các Cty đầu tư, quỹ đầu tư, quỹ tiết kiệm bưu điện Số lượngcác định chế tài chính phi ngân hàng hoạt động trên thị trường Việt Nam thườngxuyên thay đổi theo thời gian và đã có sự tăng lên đáng kể so với đầu năm 2000 Tínhđến nay, tại Việt Nam, có sự hiện diện của 17 Cty tài chính, 13 Cty cho thuê tài chính,
105 Cty chứng khoán, 78 Cty môi giới chứng khoán, 2 Cty bảo hiểm nhà nước, 16CTCP Bảo hiểm, 3 Cty liên doanh Bảo Hiểm, 17 Cty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài,
1 CTCP tái bảo hiểm quốc gia, 10 Cty môi giới bảo hiểm Các định chế tài chính này
đã và đang có sự cạnh tranh khá quyết liệt với các NHTM trong một số lĩnh vực dịch
vụ ngân hàng truyền thống Một thực tế là sự cạnh tranh giữa các định chế tài chínhtrong lĩnh vực huy động vốn và cho vay diễn ra rất quyết liệt khiến môi trường tíndụng trong nhiều giai đoạn rất bất ổn Hơn nữa, xét về nguyên lý thì sự cạnh tranh sẽ
có tác dụng giảm dần chi phí về vốn Nhưng thực tế tại Việt Nam những năm qua
Trang 11hoàn toàn ngược lại – sự cạnh tranh thái quá làm lãi suất huy động vốn và cho vay đềutăng lên.
Sự cạnh tranh quyết liệt cũng đang thúc đẩy các NHTM Việt Nam không thực sự chú trong chất lượng trong kinh doanh Điều này được thể hiện trên một số góc độ
sau đây:
Thứ nhất, mức độ đa dạng hóa các loại hình dịch vụ không cao, chủ yếu tập
trung vào cung ứng các dịch vụ ngân hàng truyền thống là huy động vốn, cho vay vàthanh toán, các loại hình dịch vụ khác, nhất là các dịch vụ mới tiện ích khó triển khai.Điều này xuất phát từ lý do khách quan là trinh độ phát triển của kinh tế Việt Namchưa cao, nền tảng hạ tầng kỹ thuật chung chưa cho pháp các ngân hàng thương mạitriển khai các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại Hơn nữa, một bộ phận không nhỏkhách hàng trong nền kinh tế chưa có nhận thức đúng về vai trò và vị trí của các dịch
vụ ngân hàng mới nên các dịch vụ NHTM mới sẽ khó triển khai Nhưng chủ yếu lý dovẫn thuộc về các yếu tố chủ quan chính của các NHTM Thực tế là việc triển khai cácloại hình dịch vụ mới đòi hỏi điều kiện về hạ tầng kỹ thuật công nghệ ở mức tươngthích, nhưng để có thể triển khai được các kỹ thuật công nghệ hiện đại luôn đòi hỏi chiphí cao Trong khi năng lực tài chính của hầu hết các NHTM còn rất thấp Thực tế chođến cuối năm 2010, còn có tới 9 NHTM có vốn điều lệ chưa đủ 3000 tỷ VND ( thậmchí có ngân hàng vốn điều lệ chỉ có khoảng 1000 tỷ đồng, tức là chưa tới 50 triệuUSD) Ngoài ra, theo số liệu thu thập được, có 13 ngân hàng khác có mức vốn điều lệdưới 4500 tỷ đồng Với mức vốn điều lệ như vậy thì có khá nhiều NHTM không thểtriển khai một cách bài bản các kỹ thuật công nghệ và điều này cũng có nghĩa là hầuhết các NHTM Việt Nam rất khó khăn trong việc đa dạng hóa loại hình dịch vụ trongkinh doanh Ngoài yếu tố kỹ thuật công nghệ thì cũng không đề cập đến yếu tố về chấtlượng nguồn ngân lực của các NHTM do kinh doanh ngân hàng là kinh doanh trên cơ
sở chấp nhận rủi ro, nhưng suy cho cùng thì rủi ro đều xuất phát từ yếu tố con người,nên để giảm rủi ro thì chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống ngân hàng luôn phảiđược đặt ra một cách cấp thiết Thực tế thì chất lượng nguồn nhân lực ở không ít cácNHTM Việt Nam chưa thực sự tương thích với việc triển khai các loại hình dịch vụmới, tuy có nhiều tiện ích nhưng tiềm ẩn rủi ro rất cao Hơn nữa, Bản thân nhiều loại