Trong học tập, HS không thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các giải pháp đã có sẵn được đưa ra, nên phương pháp dạy học PPDH truyền thống trước đây lấy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Tưởng Duy Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Tưởng Duy Hải, người đã tận tình hướng dẫn động viên hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo, cán bộ trong tổ bộ môn phương pháp giảng dạy vật lí đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với ban giám đốc, giáo viên chủ nhiệm và học sinh lớp 12A1, 12A3 trường THPT Đỗ Huy Liêu - Nam Định đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè động viên, tạo mọi điều kiện cho việc học tập nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 6 năm 2018
Tác giả
Ninh Viết Hợp
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong luận văn này là kết
quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Tưởng Duy Hải Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của
các tác giả khác
Hà Nội, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Ninh Viết Hợp
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Gỉả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của đề tài 6
8 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Phương pháp dạy học tích cực 8
1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực 8
1.1.2 Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 8
1.1.3 Các biểu hiện của tính tích cực của học sinh trong học tập 12
1.1.4 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập 12
1.1.5 Những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh trong học tập 13
1.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 14
1.2.1 Tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo với việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh 14
1.2.2 Hoạt động sáng tạo 16
1.2.3 Những tư tưởng về học tập trải nghiệm trên thế giới 19
1.2.4 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 22
1.3 Định hướng nghề nghiệp cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ” – VẬT LÍ 12 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH 42
Trang 62.1 Tầm quan trọng của giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh
trong trường phổ thông 42
2.1.1 Quan điểm về giáo dục hướng nghiệp của các nước trên thế giới 42
2.1.2 Quan điểm về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở Việt Nam 44
2.2 Phân tích chương trình 49
2.2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 49
2.2.2 Đồng vị 50
2.2.3 Phản ứng hạt nhân 52
2.3 Thiết kế tiến trình tổ chức dạy học định hướng nghề nghiệp 56
2.3.1 Thiết kế định hướng học sinh được khám phá môi trường nghề nghiệp 56
2.3.2 Các nội dung để xây dựng hoạt động cho học sinh khám phá nghề nghiệp 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 86
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 88
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 88
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 88
3.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 88
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 88
3.1.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 89
3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm 89
3.3.1 Những thuận lợi trong thực nghiệm sư phạm 89
3.3.2 Một số khó khăn trong thực nghiệm sư phạm 90
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 90
3.4.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 90
3.4.2 Phân tích diễn biến của quá trình thực nghiệm sư phạm 92
3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 92
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 108
KẾT LUẬN CHUNG 110
KIẾN NGHỊ 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DCTN : Dụng cụ thí nghiệm PPDH : Phương pháp dạy học DHDA : Dạy học dự án
CHKQ : Câu hỏi khái quát
CHBH : Câu hỏi bài học
CHND : Câu hỏi nội dung
THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sở
GDNN : Giáo dục nghề nghiệp GDTX : Giáo dục thường xuyên GDHN : Giáo dục hướng nghiệp TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra lần 1 93
Bảng 3.2: Xếp loại kiểm tra lần 1 93
Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 1 95
Bảng 3.4: Bảng lũy tích kết quả kiểm tra lần 1 96
Bảng 3.5: Bảng các tham số thống kê lần 1 96
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra lần 2 97
Bảng 3.7: Bảng xếp loại kiểm tra lần 2 98
Bảng 3.8: Bảng phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 2 99
Bảng 3.9: Bảng lũy tích kết quả kiểm tra lần 2 100
Bảng 3.10: Bảng các tham số thống kê lần 2 101
Bảng 3.11: Kết quả tổng hợp hai lần kiểm tra 102
Bảng 3.12: Bảng xếp loại kiểm tra 102
Bảng 3.13: Bảng phân phối tần suất kết quả kiểm tra 104
Bảng 3.14: Bảng lũy tích kết quả kiểm tra 105
Bảng 3.15: Tổng hợp các tham số thống kê qua hai bài kiểm tra TNSP 105
Trang 10DANH MỤC BIỂU, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ xếp loại kiểm tra lần 1 94
Biểu đồ 3.2: Đồ thị đường phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 1 95
Biểu đồ 3.3: Đồ thị đường phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 1 96
Biểu đồ 3.4: Biểu đồ xếp loại kiểm tra lần 99
Biểu đồ 3.5: Đồ thị đường phân phối tần suất kết quả kiểm tra lần 2 100
Đồ thị 3.6: Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra lần 2 101
Biểu đồ 3.7: Biểu đồ xếp loại kiểm tra 103
Biểu đồ 3.8: Đồ thị đường phân phối tần suất 104
Đồ thị 3.9: Đồ thị đường lũy tích kết quả kiểm tra 105
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) Nghị quyết đai hội đảng toàn quốc lần thứ nêu rõ: “Phấn đấu đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi nhiều nhân tố quan trọng song yếu tố quan trọng và quyết định nhất là con người, là nguồn lực cần đầu tư phát triển
Để đào tạo được nguồn nhân lực có trình độ cao, phù hợp với nhu cầu hội nhập quốc tế thì bắt buộc nền giáo dục của nước ta phải đổi mới toàn điện, trong đó có nội dung và phương pháp giáo dục trong các trường phổ thong sao cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn Nghị quyết TW2 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thống một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh …”
Ngày với sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ thể hiện qua sự ra đời của nhiều thuyết, thành tựu mới cũng như khả năng ứng dụng chúng vào thực tế cao cho nên nhà trường phổ thông không thể trang bị hết mọi kiến thức mong muốn Do đó, trong dạy học phải coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách đi tới kiến thức của loài người, trên cơ sở đó học tập suốt đời Xã hội đòi hỏi người có hoc vấn hiện đại không chỉ có khả năng sử dụng tri thức dưới dạng có sẵn mà con phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá sự kiện, hiện tượng mới, khả năng giải quyết vấn đề và hành động tự chủ, sáng tạo Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, HS tiếp nhận nhiều nguồn thông
Trang 12tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt cuả cuộc sống, năng động hơn, linh hoạt
và thực tế hơn so với các thế hệ truớc đây Trong học tập, HS không thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các giải pháp đã
có sẵn được đưa ra, nên phương pháp dạy học (PPDH) truyền thống trước đây lấy hoạt động của người thầy làm trung tâm, chủ yếu là truyền thụ một chiều thông báo kiến thức, thiên về lí thuyết xa rời thực tiễn, ít chú ý đến kĩ năng thực hành, kĩ năng vận dụng vào đời sống thực tế, chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người học không còn phù hợp
Vật lí là một môn học có nhiều ứng dụng quan trọng trong các lĩnh vực khoa học và đời sống Những hiện tượng thực tế diễn ra trong tự nhiên vô cùng phong phú và thú vị Tuy nhiên việc dạy học vậy lí hiện nay ở trường phổ thông phần lớn là chỉ dạy những kiến thức thuần túy và tập trung vào việc luyện giải bài tập Điều đó phần nào làm giảm hứng thú của HS đối với môn học, làm cho kiến thức học sinh học được ở trường chưa gắn với thực tiễn vì vậy việc gấn liền tri thức được học với những ứng dụng trong cuộc sống rất cần được quan tâm nghiên cứu
Hiện nay, điều kiện về môi trường học tập và cơ sở vật chất nhìn chung
đã được đảm bảo Đồ dùng và phương tiện dạy học trong nhà trường được trang bị tương đối đầy đủ Công nghệ thông tin đã được đưa vào trong trường học làm cho HS không còn xa lạ với máy tính, máy chiếu, các thí nghiệm vật
lí đơn giản; làm cho khả năng cập nhập thông tin cũng như tiếp cận tri thức mới của HS cũng khá hơn nhiều
Những điều kiện trên đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc đổi mới PPDH, trong đó có tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học, đặc biệt là dạy học những ứng dụng kĩ thuật của vật lí
Trang 13Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là PPDH tích cực lấy người học làm trung tâm Ngoài mục tiêu hướng dẫn HS cách tìm ra kiến thức, nó còn kích thích hứng thú, say mê nghiên cứu, giúp phát triển năng lực sáng tạo, gắn
lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, rèn luyện năng lực cộng tác làm việc theo nhóm
Chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 là chương có nhiều kiến thức gắn liền với thực tiễn, các ứng dụng này rất gần gũi trong cuộc sống đặc biệt
là ở các nước phát triển Vì vậy, HS có nhiều điều kiện để tiếp cận, tìm tòi các ứng dụng của lí thuyết vào thực tiễn, tạo cho HS cảm giác hứng thú và thiết thực khi nghiên cứu nó
Mặt khác, mỗi con người đều ý thức được yếu tố quan trọng nhất quyết định tương lai của mình là nghề nghiệp Vì thế lựa chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp luôn là vấn đề được nhiều bạn trẻ quan tâm, đặc biệt là những học sinh phổ thông (HSPT) Trong xã hội hiện nay, HS THPT có nhiều lựa chọn sau khi tốt nghiệp: học đại học, cao đẳng, học nghề, du học, đi làm… Khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường, có nhiều yếu tố tác động đến việc lựa chọn nghề nghiệp của các em HS Ví dụ: sở thích của bản thân, ý kiến định hướng của gia đình, lời khuyên của bạn bè… khi đứng trước nhiều ý kiến tác động, nhiều khi các em cảm thấy hoang mang, cảm thấy mâu thuẫn, không biết mình nên chọn nghề nào Có người chọn đúng nghành nghề với sở thích, năng lực của bản thân nhưng lại có người không chọn đúng nghành nghề nên không phát huy hết năng lực của bản thân, thậm chí gặp nhiều khó khăn trong quá trình làm việc, hay có người chọn nghành nghề không theo mong muốn bản thân mà lựa chọn theo ý kiến của người khác , gây ra tính bị động trong việc chọn lựa Việc dạy học theo định hướng nghề nghiệp cho học sinh rất quan trọng Nó giúp phân luồng học sinh theo định hướng nghề nghiệp của địa phương và giảm tải cho các trường đại học, cao đẳng
Trang 14Nói đến nghành công nghiệp hạt nhân, hầu hết mọi người đều nghĩ đến
vũ khí hạt nhân và các nhà máy điện hạt nhân Tuy nhiên, công nghệ hạt nhân được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực trong đời sống nhiều hơn mọi người nghĩ Trong các lĩnh vực y tế, công nghiệp, nông nghiệp, tài nguyên và môi trường… cụ thể như xạ trị, chuẩn đoán hình ảnh (điện quang), nghiên cứu về đột biến tạo giống, xây dựng các trạm quan trắc phóng xạ để dự báo và phòng ngừa thiên tai, xây dựng những dây chuyền công nghệ chiếu xạ thực phẩm nông sản xuất khẩu Ở các nước phát triển hạt nhân được ứng dụng rất sâu và rộng còn ở Việt Nam có thể nói chúng ta mới chỉ đang ở điểm xuất phát trên con đường dài khai thác lĩnh vực hạt nhân
Với các lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” –Vật lý 12 THPT theo định hướng nghề nghiệp cho học sinh”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức của chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lý 12THPT nhằm định hướng nghề nghiệp cho HS
3 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lý 12 THPT
- Hoạt động dạy và học chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lý 12 THPT theo định hướng nghề nghiệp cho học sinh
4 Gỉả thuyết khoa học
Nếu dựa trên cơ sở lí luận về các phương pháp dạy học tích cực, đồng thời nghiên cứu nội dung kiến thức khoa học thì có thể xây dựng được tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lý 12 theo định hướng nghề nghiệp cho HS
Trang 155 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về:
5.1.1 Phương pháp dạy học tích cực
5.1.2 Việc định hướng nghề nghiệp cho HS
5.1.3 Chương trình SGK hiện hành, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung kiến thức chương “ Hạt nhân nguyên tử”
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn:
5.2.1 Thực tế dạy và học môn vật lý đặc biệt là nội dung kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lý 12 THPT
5.2.2 Thực tế việc hướng nghiệp và phân luồng học sinh THPT
5.2.3 Tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử”- Vật lý 12 THPT theo phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm định hướng nghề nghiệp cho HS
5.2.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo nội dung và tiến trình đã soạn thảo Phân tích kết quả đã thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của đề tài, sơ bộ đánh giá hiệu quả của việc tổ chức dạy học một số kiến thức chương
“Hạt nhân nguyên tử” – Vật lý 12 THPT với việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh Từ đó, nhận xét, rút kinh nghiệm, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để có thể vận dụng linh hoạt phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào thực tiễn dạy học các nội dung kiến thức khác trong chương trình Vật lý THPT
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Các kiến thức thuộc chương “Hạt nhân nguyên tử” – Sách giáo khoa vật lý 12
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu luận
Trang 16+ Nghiên cứu các tài liệu về quan điểm, sự định hướng dạy và học tích cực cũng như đổi mới PPDH; về lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học môn Vật lý nói riêng
+ Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK, sách giáo viên, sách bài tập
và các tài liệu liên quan
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tìm hiểu việc dạy (thông qua phiếu điều tra, dự giờ, trao đổi với giáo viên) và việc học (thông qua trao đổi với học sinh, phân tích các sản phẩm học tập của học sinh) nhằm đánh giá sơ bộ thực trạng dạy học nội dung kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” – Vật lý 12
Phương pháp thống kê toán học
Xử lí các số liệu thống kê thu được từ phiếu điều tra và các kết quả thực nghiệm sư phạm
7 Đóng góp của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận về phương pháp dạy học tích cực
- Góp phần xây dựng cơ sở giúp định hướng nghề nghiệp cho HS trong dạy học vật lý
- Có thể làm tài liệu tham khảo về dạy học vật lý theo mục tiêu định hướng nghề nghiệp cho học sinh
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho GV vật lý và sinh viên các trường sư phạm
Trang 178 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” – vật lý 12 theo định hướng nghề nghiệp cho học HS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Phương pháp dạy học tích cực
1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực
“Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được
dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động” [17]
1.1.2 Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
1.1.2.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
“Trong PPDH tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”,
đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và hướng dẫn, thông qua đó tự lực tìm tòi, khám phá những điều mình chưa biết hoặc chưa rõ chứ không phải tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt một cách máy móc, thụ động Khi được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học có cơ hội trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới,nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và thể hiện khả năng của bản thân Qua đó, HS tự tích lũy kinh nghiệm cho bản thân Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức một cách giản đơn mà còn hướng dẫn HS hành động Hoạt động
Trang 19dạy phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các
chương trình hành động cộng đồng” [17]
1.1.2.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
PPDH tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu của quá trình dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh, thông tin, khoa học kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể nhồi nhét vào đầu óc HS khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho HS phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
“Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu
rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nâng lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển khả năng tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài
lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên” [17]
1.1.2.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học, khi các HS có khả năng tư duy và trình độ kiến thức khác nhau thì khi áp dụng PPDH tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết
kế thành một chuỗi các nhiệm vụ độc lập
Áp dụng PPDH tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
Trang 20“Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ,
năng lực đều được hình thành bằng những hoạt động của từng cá nhân độc lập Lớp học là môi trường giao tiếp giữa thầy và trò, trò và trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được thể hiện, khẳng định hay bác bỏ, thông qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, tự thu nhận cho mình những kinh nghiệm mới có giá trị” [17] 1.1.2.4 Kết hợp giữa đánh giá của thầy với đánh giá của trò
“Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy” [17]
Trước đây, GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong PPDH tích cực, giáo viên phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng đánh giá và tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động học kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
Có thể so sánh đặc trưng của dạy học thụ động và dạy học tích cực như sau:[17]
Dạy học thụ động Dạy học tích cực Quan
Học là quá trình kiến tạo; học sinh
tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện
tập, khai thác và xử lý thông tin,…
tự hình thành hiểu biết, năng lực
và phẩm chất
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lí của
giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học sinh cách tìm ra
chân lí
Trang 21Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo Học để đối
phó với thi cử Sau khi thi
xong những điều đã học
thường bị bỏ quên hoặc ít
dùng đến
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương
pháp và kĩ thuật lao động khoa
học, dạy cách học Học để đáp
ứng những yêu cầu của cuộc sống
hiện tại và tương lai Những điều
đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển của xã hội
Nội
dung
Từ sách giáo khoa + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,
GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế…; gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm
Các phương pháp tìm tòi, điều tra,
giải quyết vấn đề; dạy học tương tác
Hình
thức tổ
chức
Cố định: Giới hạn trong 4 bức
tường của lớp học, giáo viên
đối diện với cả lớp
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên
Trang 221.1.3 Các biểu hiện của tính tích cực của học sinh trong học tập
Tính tích cực học tập – về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng
ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Theo Kharlarmop: “Tính tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có định hướng rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn” Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như:
+ Học sinh tự nguyện tham gia vào hoạt động học tập, sẵn sàng, đón nhận nhiệm vụ mà giáo viên giao cho Học sinh tự giác thực hiện các công việc mình đảm nhận mà không cần sự đôn đốc, nhắc nhở của giáo viên
+ HS nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề mình chưa rõ Học sinh mong muốn được đóng góp ý kiến với giáo viên, bạn bè những thông tin mới mẻ thu được từ những nguồn khác nhau, vượt ngoài phạm vi bài học
+ Tận dụng tất cả thời gian rảnh rỗi để thực hiện công việc của mình, thường xuyên trao đổi, tranh luận với bạn bè để tìm phương án giải quyết vấn
đề, không nản chí khi gặp khó khăn, có thể hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch Xin nhận thêm nhiệm vụ để thực hiện…
1.1.4 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực của học sinh trong học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp đến cao như sau:
Cấp độ 1 – Bắt chước: Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của giáo
viên và của bạn bè Trong hành động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của thần kinh và tay chân, cơ bắp
Cấp độ 2 – Tìm tòi: Học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề, thử
nghiệm nhiều cách khác nhau để giải quyết hợp lí vấn đề
Trang 23Cấp độ 3 – Sáng tạo: Học sinh nghĩ ra cách giải quyết mới độc đáo hoặc
cấu tạo những nhiệm vụ mới, bài tập mới hay những phương án thí nghiệm mới để chứng minh bài học
1.1.5 Những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh trong học tập
* Không khí và các mối quan hệ trong nhóm:
- Tạo ra môi trường học tập thoải mái, không căng thẳng, không gây phiền nhiễu
- Tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm, thể hiện quan điểm… và hợp tác trong các hoạt động học tập
- Cho phép có các hoạt động giải trí vui vẻ, nhẹ nhàng trong các hoạt động học tập
- Xây dựng môi trường hoạt động mang tính kích thích (cách sắp xếp không gian lớp học, trang trí trên tường…)
- Sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn: máy tính, máy chiếu, máy ảnh…
- Giao các nhiệm vụ vận dụng môn học có ý nghĩa đối với học sinh và có thể khai thác các đề tài vượt lên giới hạn của từng môn học riêng rẽ
Trang 24* Mức độ hoạt động:
- Tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực đồng thời cần hạn chế tối đa thời gian chết và thời gian chờ đợi
- Tích hợp các hoạt động học mà chơi đặc biệt là các trò chơi giáo dục
- Thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập
- Tăng cường các trải nghiệm thành công và sự tham gia tich cực
- Đảm bảo sự hỗ trợ đúng mức (sự hỗ trợ lẫn nhau của học sinh và sự hỗ trợ của giáo viên) và đủ thời gian thực hành
* Không gian sáng tạo:
- Học sinh được lựa chọn hoạt động, được lên kế hoạch đánh giá hoạt động và hoạt động theo kế hoạch
- Trong khuôn khổ một số nhiệm vụ nhất định, học sinh được tự do xác định quá trình thực hiện và bản chất sản phẩm
- Học sinh được giao nhiệm vụ trên cơ sở thực tiễn nhà trường và thực tế nhóm
1.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.2.1 Tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo với việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cùng với các môn học khác được coi là một phương pháp học của HS, làm tăng giá trị cho bản thân người học Đó là một quá trình trong đó chủ thể (HS) trực tiếp tham gia vào các loại hình hoạt động và giao lưu phong phú, đa dạng, HS tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lí thông tin từ môi trường xung quanh Quan niệm này làm vai trò của người thầy phải thay đổi: hỗ trợ, hướng dẫn, trọng tài, cố vấn nhằm phát huy cao độ tính năng động chủ quan của người học Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp HS trong quá trình trải nghiệm thể hiện được giá trị bản thân mình, thiết lập được các quan hệ giữa cá nhân với
Trang 25tập thể, với các cá nhân khác, với môi trường học và với môi trường sống Sự trải nghiệm có ý nghĩa sẽ huy động tổng thể các giá trị của cá nhân từ cảm xúc đến ý thức và hành động Sự trải nghiệm huy động toàn bộ năng lực hành động, sự liên kết trách nhiệm của bản thân với xã hội
Quá trình học tập qua trải nghiệm có thể quan sát trực tiếp được qua hành vi của người học và qua sản phẩm của quá trình học Hành vi mong đợi của người học có thể được quan sát trực tiếp qua quá trình học, qua sự tiến triển thường xuyên và qua hành vi cụ thể ở cuối các quá trình học
Các hoạt động trải nghiệm trong nhà trường là sự hiểu biết của con người không phải tạo ra một bản sao thực tế mà phải hành động để “chế biến”
và biến đổi thực tế mà họ quan sát được
Môi trường học tập tương tác trong đó có sự gắn kết giữa nhận thức với cảm xúc xã hội và hành vi của người học trong những tình huống học tập sống động Quá trình học tập được diễn ra sôi động và có ý nghĩa trong môi trường học tập, có sự tương tác, người học có thể học tập lẫn nhau, người này
có thể học tập kinh nghiệm của người khác, giá trị của mỗi cá nhân đều được thể hiện và được điều chỉnh để thích ứng và điều phối với nhau, với môi trường học
Trong quá trình người học trải nghiệm và hoạt động, một lượng lớn thông tin có thể được truyền qua lại với nhau trong môi trường kiến tạo xã hội, các học thuyết, lý thuyết, định luật, nguyên lý có thể được hình thành và củng cố bởi chính sự khám phá của người học hoặc bởi sự truyền thụ kiến thức từ người học hiểu biết hơn (đóng vai trò như chuyên gia) sang người học còn chưa biết (đóng vai trò như người hưởng thụ, người được giúp đỡ) Như vậy, kiến thức được xây dựng và chiếm lĩnh bởi chính cá nhân người học hoặc được xây dựng và củng cố trong môi trường kiến tạo xã hội
Trang 26Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp HS tăng cường sự hiểu biết và tiếp thu các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị tốt đẹp của nhân loại; nâng cao ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội; ý thức định hướng nghề nghiệp ở mỗi HS
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp HS củng cố các kĩ năng đã có, trên
cơ sở đó, tiếp tục rèn luyện và phát triển các năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, ứng xử, năng lực hoạt động chính trị-xã hội, năng lực tổ chức quản lý, năng lực hợp tác… của HS
Quá trình trải nghiệm giúp cho HS có thái độ đúng đắn trước những vấn
đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân: đấu tranh tích cực với những biểu hiện sai trái của bản thân (để tự hoàn thiện mình) và của người khác, biết cảm thụ và đánh giá cái đẹp trong cuộc sống [19]
1.2.2 Hoạt động sáng tạo
Dưới góc nhìn của tâm lí học, các nhà tâm lí đã phát hiện ra tính nhiều mặt của sáng tạo, có bao nhiêu hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu dạng sáng tạo Có thể nói, sáng tạo cũng có nhiều mặt, nhiều góc độ như chính bản chất con người (sinh lý, tâm lý, trí tuệ, xã hội, cảm xúc…), và nó cũng được xem xét theo mọi lứa tuổi, trong mọi nền văn hóa Trình độ, mức
độ, kiểu loại của sáng tạo còn được phân tích dựa trên sản phẩm và trong quá trình sáng tạo cũng như dưới góc độ nhân cách sáng tạo [18]
Theo quan điểm của Klaus K.Urban, sáng tạo không chỉ được xem xét dưới quan điểm nhận thức hoặc chỉ đơn tuyến dưới quan điểm của lý thuyết nhân cách, mà phải được xem xét đồng thời dưới cả hai quan điểm trên (nhận thức, nhân cách) Sáng tạo phải được xem xét dựa trên cơ cấu mà trong đó thể hiện cấu trúc tương tác của các yếu tố như vấn đề, tính cách, quá trình, sản phẩm và môi trường Klaus K.Urban cũng khẳng định, không có thành tố nào nêu trên có thể một mình đảm nhiệm hoặc đủ để đảm bảo cho cả quá trình
Trang 27sáng tạo Trong những mức độ khác nhau và trong từng tổ hợp khác nhau của các thành tố mà chúng có tác động đối với quá trình sáng tạo như một hệ thống chức năng Được gọi là sự sáng tạo cá nhân khi cái mới nằm trong thế giới kinh nghiệm của một người và được gọi là sáng tạo xã hội khi cái mới liên quan đến cả một nền văn hóa Sáng tạo cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân cách, cũng là tiền đề của sáng tạo xã hội, là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của một xã hội, một nền văn hóa Sáng tạo ở bình diện cá nhân thường diễn ra ở tuổi học sinh Trẻ tiểu học tự viết được đoạn văn, làm được câu thơ, vẽ được bức tranh, nặn được pho tượng, giải được bài toán… là những sáng tạo đối với chính bản thân chúng Tuy với những sáng tạo này không có ý nghĩa gì (không phải là sáng tạo thực sự) đối với thế giới người lớn, đối với thầy cô giáo, không đóng góp gì vào sự phát triển khoa học kỹ thuật, nghệ thuật hay sản xuất kinh doanh, nhưng nó lại có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ em Vì vậy sáng tạo của con người cần và có thể được giáo dục phát triển ngay từ tuổi mẫu giáo, tiểu học [18]
Hoạt động sáng tạo là hoạt động bậc cao của con người, đòi hỏi chủ thể sáng tạo phải có những nỗ lực của toàn bộ năng lực tổng hợp
* Các thuộc tính của sáng tạo:
- Tính mới mẻ: Thể hiện ở sự tư duy hay hành động qua sự phản ánh hiện thực khách quan một cách khác lạ, khác biệt không giống với những kinh nghiệm vốn có trước đó của cá nhân Cái mới này có thể là đối với cá nhân hoặc đối với xã hội
- Tính độc đáo: Thể hiện cách nhìn nhận sự vật hiện tượng, vấn đề một cách khác lạ và mới mẻ hơn so với cách nhìn nhận vốn đã quen thuộc trước
đó Tính độc đáo thể hiện ở sự khác biệt trong việc lựa chọn thực hiện các giải pháp, cách thức, các ý tưởng so với các cách giải quyết mang tính phổ biến
Trang 28thông dụng hằng ngày trong cuộc sống và trong công việc của cá nhân hoặc
xã hội
- Tính thành thục: Thể hiện ở sự biến đổi thông tin đã thu nhận một cách
dễ dàng, nhanh chóng chuyển từ góc độ quan điểm này sang góc độ quan điểm khác; là khả năng định nghĩa lại sự vật, hiện tượng đang quan tâm một cách hoàn toàn mới, hoàn toàn khác một sự vật, hiện tượng hoặc một bộ phận của nó vốn đã có, gạt bỏ sơ đồ tư duy đã có sẵn và xây dựng phương pháp mới trong những quan hệ khác, hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra hiện tượng của sự vật và của điều dự đoán
- Tính mềm dẻo: Là sự tổ hợp nhanh chóng, tạo ý tưởng mới nhanh chóng để kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, sự vật hiện tượng; là sự thể hiện khả năng nhớ được nhanh, tái hiện nhanh các từ, các câu, thành ngữ, hoặc liên tưởng về các ý tưởng đã biết được lưu giữ trong bộ nhớ, từ đó nhanh chóng hình thành giả thuyết mới và nhanh chóng sản sinh ra
ý tưởng mới
- Tính hiệu quả: Thể hiện sự tối đa về lợi ích của nhiệm vụ hay công việc hoặc vấn đề được giải quyết, và được thể hiện trong giá trị của sản phẩm mới Sáng tạo không phải là sự đoạn tuyệt với hiện thực mà là sự phản ánh hiện thực một cách tối đa – sự phản ánh trong tình huống mới, chất lượng mới và với mục đích mới Như vậy, tính hiệu quả của sáng tạo thể hiện ở tính có ích, tính hữu dụng của ý tưởng, sản phẩm sáng tạo đối với chủ thể sáng tạo, rộng hơn nó có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển của đời sống xã hội, của cả nhân loại
* Cơ chế lôgic của sáng tạo
- Giai đoạn chuẩn bị: Một người đang tìm kiếm cách giải quyết sáng tạo đối với một vấn đề quan trọng thì nói chung là phải tiêu tốn một thời gian dài nung nấu với vấn đề đó, thu thập các tri thức có liên quan và nghiền ngẫm nó
Trang 29- Giai đoạn ấp ủ: Những cách giải quyết sáng tạo thường nảy sinh sau một thời gian ấp ủ, đó là khoảng thời gian mà trong đó con người không ngừng suy nghĩ tích cực về vấn đề cần giải quyết và chuyển sang những việc khác Thời gian ấp ủ có thể làm cho con người có cơ hội để hồi phục sau giai đoạn chuẩn bị căng thẳng, mệt nhọc Trong giai đoạn ấp ủ, hoạt động bổ sung với vấn đề được quan tâm có thể diễn ra thậm chí trong trạng thái vô thức, ví
dụ trong giấc mơ
- Giai đoạn bừng sáng: Sáng tạo thường xuất hiện trong sự bừng sáng Tại thời điểm đó, con người đột nhiên nhìn thấy dưới dạng chưa hoàn chỉnh
sự le lói ban đầu của giải pháp mà họ đang phải tìm kiếm trong hàng tháng, thậm chí hàng năm
- Giai đoạn xác minh: Giai đoạn bừng sáng chưa phải là giai đoạn kết thúc quá trình sáng tạo Thường phải có sự sàng lọc cẩn thận tiếp theo Ý tưởng mới mẻ phải được tôi luyện, được chuyển sang dạng có thể thử nghiệm được, rồi thử nghiệm thực sự Chỉ khi nào các chứng cứ chỉ ra rằng nó là đúng thì giải pháp sáng tạo mới được khẳng định
Cơ chế lôgic của sáng tạo phù hợp với hoạt động học tập sáng tạo của người học được thể hiện qua ba bước trong quá trình sáng tạo:
- Nhận ra vấn đề: Người học cảm thấy có vướng mắc nào đó về lý luận hay thực tiễn, biểu đạt được vướng mắc của mình và mong muốn được giải quyết vấn đề
- Đưa ra giả thuyết, giải pháp dự kiến: Gắn vấn đề với tri thức, kinh nghiệm, đưa ra những giải pháp dự kiến rồi chọn một số giải pháp tối ưu
- Kiểm tra giả thuyết: Thực thi giả thuyết, giải pháp đã chọn Đánh giá giải pháp trên cơ sở kết quả của nó
1.2.3 Những tư tưởng về học tập trải nghiệm trên thế giới
Có thể nói tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm đã manh nha xuất
Trang 30giới, và được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới coi như triết lý giáo dục của quốc gia
Các nhà giáo dục dựa trên quan điểm triết học về giáo dục của mình đã nghiên cứu về vai trò của trải nghiệm đối với giáo dục ở những góc độ khác nhau Có thể điểm tới “quan điểm về phương pháp giáo dục coi trọng thực hành, vận dụng” của Khổng Tử (551-479 TCN); “quan điểm về dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp, ngoài thiên nhiên” của J.A Cô-men-xki; Học thuyết giáo dục của Mác-Ănghen và Lê-nin về”Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” trên cơ sở phát triển đề cương về giáo dục kỹ thuật tổng hợp cảu Crupxcaia…[18]
Công trình nghiên cứu của Lê-nin về lí luận nhận thức có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển lý luận dạy học Trong khi phát triển lý luận nhận thức duy vật biện chứng, Lê-nin đã nêu công thức điển hình phản ánh đặc trưng của quá trình nhận thức của loài người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”
Trên cơ sở nhận thức luận đó, lý luận dạy học của các nước xã hội chủ nghĩa đã lấy đó làm nền tảng phương pháp luận của mình và giải quyết vấn đề một cách khoa học như: giải thích bản chất của quá trình dạy học, bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức các hoạt động phong phú đa dạng cho người học, mối liên hệ giữa các mặt: nhận thức - tình cảm – tư duy trừu tượng – hoạt động thực tiễn (nhận thức - tình cảm - hành động) của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức
Quan điểm học qua trải nghiệm trở thành tư tưởng giáo dục chính thống
và phát triển thành học thuyết khi gắn liền với các nhà tâm lý học, giáo dục học như John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, David Kolb và các nhà giáo dục hiện đại sau này…[18]
Trang 31Có rất nhiều nghiên cứu về “học tập trải nghiệm”, nổi bật có thể nói đến chu trình học từ trải nghiệm của David Kolb Để kinh nghiệm học tập được chính xác, theo David Kolb, cần có một số điều kiện:
- Người học phải sẵn sàng tham gia trải nghiệm tích cực;
- Người học phải có khả năng suy nghĩ về những gì trải nghiệm;
- Người học phải có và sử dụng kỹ năng phân tích để khái quát hóa các kinh nghiệm có được;
- Người học phải ra quyết định và có kỹ năng giải quyết vấn đề để sử dụng những ý tưởng mới thu được từ trải nghiệm;
D.Kolb đưa ra sáu đặc điểm chính của học từ trải nghiệm:
- Việc học tốt nhất cần chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quả;
- Học là một quá trình liên tục trên nền tảng kinh nghiệm;
- Học tập đòi hỏi việc giải quyết xung đột giữa mô hình lý thuyết với cuộc sống thực tiễn;
- Học tập là sự kết nối giữa con người với môi trường;
- Học tập là quá trình kiến tạo ra tri thức, nó là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân
Chu trình học tập qua trải nghiệm của Kolb: Kolb gọi chu trình là học từ trải nghiệm bởi ông cho rằng kinh nghiệm là nguồn gốc của việc học tập và phát triển Theo ông, các bước của học tập trải nghiệm bao gồm:
- Kinh nghiệm cụ thể (cảm nhận): học từ kinh nghiệm cụ thể, chi tiết từng bước và thường liên quan đến kinh nghiệm của người đi trước Nhạy cảm với cảm nhận của người khác
- Quan sát phản chiếu (nhìn): Quan sát trước khi đưa ra một phán quyết bằng cách xem xét sự vật hiện tượng từ những quan điểm khác nhau Tìm thấy ý nghĩa của sự vật
Trang 32- Khái niệm hóa (tư duy): phân tích lôgic những ý tưởng và hành động trên sự hiểu biết về tình huống
- Thử nghiêm tích cực (làm): Khả năng hoàn thành nhiệm vụ bằng cách thu hút mọi người cùng hành động Bước này bao gồm cả việc biết chấp nhận rủi ro
1.2.4 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
* Đặc điểm của hoạt động
- Tính đối tượng của hoạt động: Để sống được trong thế giới xung quanh mình, con người phải tiến hành các hoạt động với thế giới đó Hoạt động là quá trình tác động vào điều gì đó Ví dụ: Hoạt động học tập là nhằm vào tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… để biết, để hiểu, để tiếp thu và đưa nó trở thành vốn liếng kinh nghiệm của bản thân người học Có nghĩa là, đối tượng của hoạt động học là nhằm hình thành phát triển phẩm chất và năng lực người học
- Tính chủ thể: Hoạt động có đối tượng thực hiện mối liên hệ giữa chủ thể và thế giới xung quanh bao giờ cũng là hoạt động có chủ thể Chủ thể vươn tới chiếm lĩnh đối tượng trong hoạt động sống của mình, nhằm tồn tại
và phát triển
Trang 33* Các dạng hoạt động của con người
Có nhiều cách phân loại hoạt động của con người
- Căn cứ vào quan hệ giữa con người với vật thể (chủ thể và khách thể)
và quan hệ giữa con người với con người (chủ thể và chủ thể), thì con người
có hai dạng hoạt động: hoạt động lao động và hoạt động giao tiếp
- Xét về phương diện cá thể, loài người có ba loại hình hoạt động kế tiếp nhau Đó là: hoạt động vui chơi, hoạt động học tập và hoạt động lao động
- Căn cứ vào nguồn gốc và đặc điểm của hoạt động, có thể chia hoạt động thành hai dạng: hoạt động thực tiễn (hoạt động bên ngoài) và hoạt động
lý luận (hoạt động tinh thần, hoạt động bên trong, hoạt động tâm lý)
- Căn cứ vào bản chất của hoạt động, có một cách phân loại khác chia hoạt động của con người thành các dạng:
+ Hoạt động biến đổi: Thường được gọi là hoạt động sáng tạo Nó bao hàm cả hoạt động biến đổi thiên nhiên, cả hoạt động biến đổi xã hội Dạng điển hình của loại này là hoạt động lao động, bao gồm hoạt động cải tạo và xây dựng, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới…; cải tạo biến đổi con người như hoạt động giáo dục và tự giáo dục
+ Hoạt động nhận thức: Là một dạng hoạt động tinh thần, không làm biến đổi các vật thể thực, quan hệ thực… trong môi trường tự nhiên và xã hội
Nó chỉ phản ánh sự vật, quan hệ… mang lại cho chủ thể các hình ảnh, các tri thức về sự vật và quan hệ đó Hoạt động này giúp con người phân tích, tổng hợp, khái quát, ghi nhớ hình ảnh Nó là một dạng hoạt động chuẩn bị cho hoạt động lao động Có hoạt động nhận thức ở mức độ kinh nghiệm thực tiễn, có hoạt động nhận thức ở mức độ khoa học lý luận, cả hai mức độ đều cần thiết
và hỗ trợ cho nhau Hoạt động dạy và học với tư cách là hoạt động nhận thức,
có nhiệm vụ truyền đạt cho trẻ tiếp thu các tri thức khoa học…; giúp trẻ hình thành được hoạt động nhận thức khoa học, có hệ thống khái niệm khoa học,
Trang 34có tư duy khoa học, say mê khoa học, có tinh thần ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật – công nghệ Hoạt động học tập, một bộ phận của hoạt động dạy và học là một loại hoạt động nhận thức nhằm lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội nói chung, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nói riêng, chuẩn bị cho học sinh trở thành chủ thể thực sự của hoạt động lao động
+ Hoạt động định hướng giá trị: Là một dạng hoạt động tinh thần, xác định ý nghĩa của thực tại đối với bản thân chủ thể, tạo ra phương hướng của hoạt động Trong hoạt động dạy và học, khâu định hướng giá trị trở thành vấn
đề giáo dục, động cơ học tập của người học và đông cơ dạy học của người dạy + Hoạt động giao tiếp chủ yếu là các quan hệ người – người (bao gồm cá nhân – cá nhân, nhóm với thành viên của nhóm, tập thể với cá nhân…) Hoạt động của con người có bản chất xã hội – lịch sử, giao tiếp là điều kiện không thể thiếu được của hoạt động con người nói chung
1.2.4.2 Trải nghiệm
Nói đến trải nghiệm là nói đến hoạt động của con người Con người từng trải, biết đời, hiểu đời học từ sách vở, nhà trường, từ thực tế cuộc đời, có nhiều kinh nghiệm sống, biết gắn liền tri thức lý luận với thực tiễn đời sống, học đi đôi với hành
Bản chất của trải nghiệm[18]
Trải nghiệm hiểu đơn giản nhất là những gì con người đã từng kinh qua thực tế, từng biết, từng chịu
Trải nghiệm để phục vụ lại cho cuộc sống Chúng ta sống trong thực tại, trao đổi thông tin với thực tại, nhờ đó chúng ta thu được những kiến thức và kinh nghiệm sống cho riêng bản thân chúng ta Nhờ nó, con người sẽ tự hoàn thiện mình, cải tạo được thực tại và sống tốt hơn Như vậy, sống và trải nghiệm là hai khía cạnh luôn song hành cùng nhau, bổ sung và hoàn thiện cho nhau
Trang 35Quá trình trải nghiệm sẽ chứa đựng yếu tố “thử” và “sai” Sự trải nghiệm
sẽ mang lại cho con người những kinh nghiệm phong phú Quá trình trải nghiệm là quá trình tích lũy kinh nghiệm, giúp con người hình thành vốn kinh nghiệm, vốn sống, hình thành phẩm chất và năng lực người
* Đặc điểm của trải nghiệm[18]
- Con người được trực tiếp tham gia vào các loại hình hoạt động và các mối quan hệ giao lưu phong phú đa dạng một cách tự giác
- Con người được thử nghiệm, thể hiện bản thân trong thực tế từ đó hiểu mình hơn, tự phát hiện những khả năng của bản thân
- Con người được tương tác, giao tiếp với người khác, với tập thể, với cộng đồng, với sự vật hiện tượng… trong cuộc sống
- Con người thực sự là một chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo
- Trải nghiệm luôn chứa đựng hai yếu tố không thể tách rời, đó là: hành động và xúc cảm, thiếu một trong hai yếu tố đó đều không thể mang lại hiệu quả
- Kết quả của trải nghiệm là hình thành được kinh nghiệm mới, hiểu biết mới, năng lực mới, thái độ, giá trị mới…
* Các dạng trải nghiệm
Có rất nhiều dạng trải nghiệm phong phú và đa dạng:
- Căn cứ vào phạm vi diễn ra hoạt động của học sinh, sẽ có các dạng: trải nghiệm trên lớp học; trải nghiệm ngoài trời…;
- Căn cứ vào các cơ quan tham gia hoạt động, sẽ có các dạng: trải nghiệm trong đầu (các thao tác tưởng tượng, tư duy trong đầu); trải nghiệm bằng các thao tác tay chân, trải nghiệm các giác quan…
- Căn cứ vào các quá trình tâm lý:
+ Trải nghiệm các cảm giác bên ngoài: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác; trải nghiệm các cảm giác bên trong: cảm giác vận động và tiếp
Trang 36xúc trực tiếp với sự vật, cảm giác thăng bằng, cảm giác rung, cảm giác cơ thể…
+ Trải nghiệm về tri giác: tri giác không gian, tri giác thời gian, tri giác vận động, tri giác con người…
+ Trải nghiệm tư duy và tưởng tượng
+ Trải nghiệm về ghi nhớ
+ Trải nghiệm các cung bậc xúc cảm: vui, buồn, giận, bực tức…để hình thành tình cảm
- Căn cứ vào các nội dung giáo dục sẽ có các dạng trải nghiệm: trải nghiệm cảm xúc, trải nghiệm đạo đức, trải nghiệm giá trị, trải nghiệm sáng tạo…
Vận dụng vào nhà trường phổ thông: Vì trải nghiệm rất đa dạng và phong phú bởi những loại hình khác nhau nên học sinh khi tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo do nhà trường tổ chức cũng sẽ rất đa dạng và khác nhau Vì thế, không nên hiểu một cách cứng nhắc là bắt buộc phải tổ chức hoạt động cho các em học sinh ở ngoài trời mới là trải nghiệm Trên thực tế, khi học sinh được tham gia trực tiếp vào hoạt động trên lớp, được tương tác trực tiếp với sự vật hiện tượng, con người và hình thành được kinh nghiệm cho bản thân, như vậy có nghĩa là học sinh đã được trải nghiệm Hiểu đúng bản chất của trải nghiệm, nếu không có điều kiện để tổ chức hoạt động cho học sinh ngoài trời, có thể tổ chức trong phạm vi lớp học, sử dụng các phương pháp, hình thức phù hợp như: giải quyết tình huống, tổ chức câu lạc bộ…tạo điều kiện tốt cho học sinh có những trải nghiệm phong phú
1.2.4.3 Sáng tạo
Sáng tạo là một đặc trưng nổi bật nhất của tâm lý người Thời đại kinh
tế tri thức, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kéo theo sự chuyển động, đổi thay đáng kể tâm lý con người, nhất là năng lực thích nghi và sáng tạo
Trang 37* Bản chất của sáng tạo[18]
Sáng tạo không phải là một hoạt động “rập khuôn” có sẵn hay lặp lại một cách máy móc Mà đó là việc tạo ra những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của con người và xã hội Quá trình sáng tạo là quá trình diễn ra từ ý nghĩ (ý tưởng) cho đến lúc tạo ra kết quả sáng tạo (sản phẩm) Đó là sự chuẩn bị, suy nghĩ, nảy sinh ý tưởng mới, là sự huy động cao độ toàn bộ sức mạnh trí tuệ của chủ thể sáng tạo
Sáng tạo là một năng lực đặc biệt của tiến hóa văn hóa và là năng lực đặc biệt của cá nhân, cũng có nghĩa nó trở thành một trong những năng lực quan trọng nhất để mỗi người chuẩn bị cho cuộc sống của mình Bên cạnh đó, thái độ sống sáng tạo giúp chúng ta chế ngự được những hoàn cảnh luôn biến đổi thay vì để các hoàn cảnh đó chế ngự chúng ta Sáng tạo là năng lực quyết định và biến đổi những tình huống chưa rõ ràng và khắc phục chúng một cách
có ý thức Một người sáng tạo sẵn sàng đương đầu với sự rủi ro nhiều hơn người khác, vì người đó luôn có quan hệ chặt chẽ với môi trường ngoại cảnh của mình và tham gia một cách sống động vào môi trường đó Người sáng tạo không chỉ thích ứng với những cái mới mà còn có năng lực tham gia hết mình vào việc lập kế hoạch thay đổi môi trường ấy và thực hiện bằng được kế hoạch ấy Sáng tạo trở thành một dạng năng lực quan trọng trong cấu trúc năng lực của con người, tồn tại như một tiềm năng ở con người Tiềm năng sáng tạo có ở mọi người bình thường và được huy động trong từng hoàn cảnh
cụ thể Đứng trước một vấn đề cần được giải quyết, nếu khả năng tư duy tìm kiếm được câu trả lời hợp lý và giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau, chứa đựng tính mới mẻ, độc đáo, tối lợi và mở rộng được phạm vi tri thức hay kinh nghiệm đã có, đưa ra giải pháp công nghệ, xã hội tối ưu vào giải quyết vấn đề thì đó được xem như là biểu hiện của sáng tạo
Trang 38* Đặc điểm của sáng tạo
- Chứa đựng tri thức và trình độ chuyên môn
- Khả năng tư duy nhạy bén, uyển chuyển và linh hoạt
- Căn cứ vào loại hình hoạt động của con người: sáng tạo trong học tập, sáng tạo trong lao động sản xuất…
- Căn cứ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội: sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo khoa học, sáng tạo công nghệ, sáng tạo kỹ thuật…
- Căn cứ vào tính chất của sản phẩm sáng tạo:
+ Sáng tạo biểu đạt: Ở cấp độ cơ bản đầu tiên này, không đòi hỏi những
kỹ năng quan trọng hay những nỗ lực cao của năng lực con người, nhưng ở thời điểm này, yêu cầu tính bộc phát “hứng khởi” và sự tự do, khoáng đạt Theo các nhà tâm lý học sáng tạo, đó lại chính là điều kiện cần để phát triển tiềm năng sáng tạo của con người
+ Sáng tạo sáng chế: Là bậc cao hơn sáng tạo biểu đạt Nó đòi hỏi kỹ năng nhất định (xử lý thông tin hoặc kỹ năng, kỹ thuật) để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý kiến của cá nhân Ở cấp độ này, tính bộc phát, hứng khởi đã nhường bước cho các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi của người sáng tạo, đòi hỏi những nỗ lực cao của cá nhân Chủ thể sáng tạo phải có khả năng tìm tòi, đánh giá các kinh nghiệm đang được vận dụng, phải có khả năng vượt qua
Trang 39những khuôn mẫu, giải pháp thông thường Kết quả sáng tạo phải có ý nghĩa nhất định đối với xã hội và được xã hội chấp nhận
+ Sáng tạo phát kiến: Là sự phát hiện ra, tìm ra những tồn tại sẵn có trong tự nhiên, trong con người mà người ta chưa biết tới, nhờ đó chúng làm thay đổi nhận thức con người
+ Sáng tạo cải biến: Là cấp bậc sáng tạo cao Nó thể hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật, kỹ thuật hay sản xuất, tức đòi hỏi một trình độ trí tuệ nhất định, từ đó xây dựng được các ý tưởng cải tạo, cải cách có ý nghĩa xã hội
1.2.4.4 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một khái niệm mới trong dự thảo về
“Đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau 2015”
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới công bố tháng
8-2015: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục trong đó từng
học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng của cá nhân Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học, đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau” [17]
Theo Đinh Thị Kim Thoa: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt
động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống mà nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực”
Theo Bùi Ngọc Diệp: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một biểu
hiện của hoạt động giáo dục đang tồn tại trong chương trình giáo dục hiện
Trang 40hành Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động mang tính xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường để học sinh tự chủ trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, gí trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục”
Nhìn chung, dù được diễn đạt bằng những cách khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất ở một điểm, coi hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, được tổ chức theo phương thức trải nghiệm và sáng tạo nhằm góp phần phát triển toàn diện nhân cách HS
Theo nghĩa chung nhất: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động
giáo dục, trong đó nội dung và cách thức tổ chức tạo điều kiện cho từng học sinh được tham gia trực tiếp và làm chủ thể của hoạt động, tự lên kế hoạch, chủ động xây dựng chiến lược hành động cho bản thân và cho nhóm để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của công dân trong xã hội hiện đại, qua hoạt động học sinh phát huy khả năng sáng tạo để thích ứng và tạo ra cái mới, giá trị cho cá nhân và cộng đồng” [18]
* Bản chất của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Thứ nhất, bản chất của hoạt động trải nghiệm sáng tạo chính là hoạt động giáo dục, được tổ chức theo phương thức tạo điều kiện tối đa để người học tham gia trực tiếp vào các hoạt động và mối quan hệ xã hội (giao lưu)
- Thứ hai, việc tổ chức quá trình giáo dục nói chung và hoạt động trải nghiệm sáng tạo nói riêng theo phương thức trải nghiệm là làm theo đúng bản chất của quá trình giáo dục, nghĩa là: thông qua hoạt động và bằng hoạt