1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thơ hoàng cầm từ góc nhìn địa văn hóa

115 319 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2013, tác giả Trần Đức Hoàn cũng nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm qua luận án Văn hóa Kinh Bắc – vùng thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm cũng đi sâu khai thác những ảnh hưởng của văn hóa Kinh B

Trang 1

BÙI THỊ TRANG

THƠ HOÀNG CẦM

TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BÙI THỊ TRANG

THƠ HOÀNG CẦM

TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Tuấn Anh

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tác giả luận văn xin được chân thành cảm ơn BGH trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2, khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2, cùng các thầy, cô giáo, cán bộ giảng viên đã giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho tác giả

Đặc biệt, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

PGS.TS Vũ Tuấn Anh - người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ

tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Dù đã hết sức cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo và các bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 07 năm 2018

Tác giả luận văn

Bùi Thị Trang

Trang 4

Tôi – Bùi Thị Trang là học viên lớp cao học khóa 20, trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi trình bày trong luận văn là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân trong suốt quá trình học tập và công tác Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể

Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên

Hà Nội, tháng 07 năm 2018

Tác giả luận văn

Bùi Thị Trang

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Những đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc của luân văn 5

CHƯƠNG 1 VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA VÀ THƠ HOÀNG CẦM 6

1.1 Văn hóa và văn học Địa văn hóa và văn học 6

1.1.1 Văn hóa và văn học 6

1.1.2 Địa văn hóa với văn học 11

1.2 Tiếp cận thơ trữ tình từ góc nhìn địa văn hóa 13

1.2.1 Thơ trữ tình kết tinh giá trị địa văn hóa 13

1.2.2 Nghiên cứu giá trị địa văn hóa của thơ trữ tình 15

1.3 Địa văn hóa Kinh Bắc – cội nguồn thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm 18

1.3.1 Kinh Bắc – mảnh đất địa linh nhân kiệt 18

1.3.2 Văn hóa địa Kinh Bắc – miền nghệ thuật hấp dẫn trong thơ Hoàng Cầm 24

CHƯƠNG 2 THƠ HOÀNG CẦM - SỰ KẾT TINH CÁC GIÁ TRỊ ĐỊA VĂN HÓA 31

2.1 Thiên nhiên địa Kinh Bắc – Biểu tượng in đậm trong thơ Hoàng Cầm 31

2.1.1 Những dòng sông Kinh Bắc 31

Trang 6

2.2 Sinh hoạt văn hóa – nét đẹp của người Kinh Bắc 50

2.2.1 Hội hè Kinh Bắc 50

2.2.2 Hát quan họ - biểu tượng địa văn hóa độc đáo 55

2.3 Con người Kinh Bắc dưới góc nhìn địa văn hóa 59

2.3.1 Con người bất tử trong lịch sử và truyền thuyết 59

2.3.2 Người phụ nữ Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm 63

CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TRONG THƠ HOÀNG CẦM 71

3.1 Thể thơ 71

3.1.1 Thể thơ truyền thống 71

3.1.2 Thơ tự do 74

3.2 Ngôn ngữ 82

3.2.1 Ngôn ngữ giàu nhạc điệu 83

3.2.2 Ngôn ngữ thơ mang đậm màu sắc truyền thống 88

3.2.3 Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, có tính biểu tượng cao 91

3.3 Giọng điệu………

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học là một trong những bộ phận quan trọng của cấu trúc văn hóa Văn học là sự biểu hiện văn hoá, trong tác phẩm văn học có hình ảnh của văn hoá thông qua cái nhìn và sự phản ánh của nhà văn Có thể nói văn học là văn hóa lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật Từ mối quan hệ mật thiết này nên việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đã được hết sức chú ý và đóng góp tích cực vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, Hoàng Cầm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc Thơ ông hấp dẫn như một bông hoa lạ giữa văn đàn bởi một phong cách thơ vừa gần gũi và độc đáo Hoàng Cầm chọn cho mình một lối đi riêng trong thơ dù đời ông đã trải qua không ít những thăng trầm, đắng cay Ông vắt kiệt sức mình cho thơ và vì lẽ đó những câu thơ đầy

ma lực quyến rũ người đọc ra đời Người ta “phải lòng” thơ ông và không dễ dứt ra được những ám ảnh của thơ ông

Một trong những yếu tố góp phần tạo nên phong cách thơ Hoàng Cầm phải kể đến ảnh hưởng của văn hóa gia đình và quê hương ông Kinh Bắc có

lẽ là điều kỳ diệu nhất tạo hóa ban tặng cho ông, là “thiên mệnh” của đời thơ ông Từ góc nhìn địa văn hóa người viết hy vọng sẽ giúp bạn đọc khám phá

và tiếp cận đầy đủ hơn những đóng góp của nhà thơ Hoàng Cầm trong tiến trình phát triển thơ Việt thế kỷ XX

2 Lịch sử vấn đề

Đất nước ta có những vùng văn hóa thật kì diệu mà chỉ nói đến tên, hồn

ta đã xốn xang bao cảm xúc, hiện lên bao hình ảnh May mắn thay chúng ta

có những nhà văn, nhà thơ được sinh ra, lớn lên hoặc gắn bó lâu dài với những mảnh đất ấy Tâm hồn họ được nuôi dưỡng, vun đắp bằng văn hóa, phong tục, bằng sự duyên dáng riêng, những vần thơ của họ như được mã hóa

Trang 8

bằng cái hồn điệu của quê hương Một trong những vùng đất như thế là Kinh Bắc, và một trong những tác giả như thế là Hoàng Cầm Phải chăng Hoàng Cầm sinh ra để viết về Kinh Bắc và chỉ ở thơ Hoàng Cầm thì Kinh Bắc mới cuốn hút đầy ma lực như thế?

Văn hóa địa Kinh Bắc đã giúp Hoàng Cầm chiếm được trái tim của biết bao bạn đọc Chính vì thế nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm đã có rất nhiều tác giả đã lựa chọn các góc độ khác nhau để tiếp cận, khám phá thơ ông

Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, tác giả Phạm Thị Hoài có bài viết Mưa

Thuận Thành đăng trên tạp chí Thơ 1997 đã nhận xét: “Cái hệ lời ới hời vi vút

sấp ngửa khép nép nghiêng ngửa mê và tê tê vời vợi ấy lại đi đôi với một âm vận rất riêng, dường như đã được gọt rũa tính toán cho không còn một chút ngẫu nhiên nào lọt lưới, đồng thời cũng dường như chỉ cảnh vẻ thế thôi, chẳng mấy bận tâm, nên lắm chỗ cứ ngang phứa lên, phá kỷ lục của cả những tay chơi thượng thặng…” [1, 360] Tác giả đã phát hiện được những nét độc đáo, mới mẻ trong thơ Hoàng Cầm về phương diện ngôn ngữ Các tác giả

khác như Đặng Tiến, Chu Văn Sơn khi bàn về Cây tam cúc của Hoàng Cầm

cũng có viết rằng đây chính là thứ ngôn ngữ của thơ mới, trẻ trung và có sức hấp dẫn lạ kỳ Đỗ Lai Thúy cũng nêu ý kiến: “Thơ Hoàng Cầm là thơ ẩn dụ

Hệ thống ẩn dụ của ông, một phần lấy nguyên từ cái kho trời chung của văn hóa dân gian, phần khác lấy có cải biến, còn lại là cá nhân ông sáng tạo…” [1, 131] Còn khá nhiều công trình nghiên cứu về mặt ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm như Đỗ Đức Hiểu, Phan Huy Dũng, Hoàng Hưng… họ đều chỉ ra được thế giới ảo, siêu thực, vô thức trong thế giới thơ Hoàng Cầm

Về góc độ phân tâm học, không thể bỏ qua công trình Đi tìm ẩn ngữ

trong thơ Hoàng Cầm của tác giả Đỗ Lai Thúy Tác giả này đã cho người đọc

thấy được những ẩn ức tính dục, những tâm tư sâu kín mà chưa ai có thể phân tích kỹ lưỡng, rạch ròi

Trang 9

Về góc độ văn hóa, có rất nhiều công trình đã đi sâu vào khai thác các

yếu tố văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm Đầu tiên Nguyễn Thị Bắc trong luận văn của mình có khẳng định văn hóa vùng chính là yếu tố quan trọng, có tính quyết định để tạo nên hiện tượng thơ Hoàng Cầm

Tác giả Lại Nguyên Ân năm 2011 có xuất bản cuốn Hoàng Cầm – hồn

thơ độc đáo tập hợp nhiều bài viết về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca Hoàng

Cầm Tác phẩm khá đặc sắc bởi ở đó tập trung nhiều công trình nghiên cứu, bài viết có giá trị của những nhà nghiên cứu tên tuổi như Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trọng Tạo

Năm 2012, Lương Minh Chung trong luận án tiến sĩ cũng chọn đề tài

Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa đã đi sâu nghiên cứu vấn đề văn hóa

trong thơ Hoàng Cầm Công trình này có khai thác các biểu tượng trong thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa nhưng vẫn chưa giải thích cụ thể được cội nguồn sâu xa ảnh hưởng đến văn hóa, phong tục, con người Kinh Bắc đối với thơ Hoàng Cầm

Năm 2013, tác giả Trần Đức Hoàn cũng nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm

qua luận án Văn hóa Kinh Bắc – vùng thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm cũng đi

sâu khai thác những ảnh hưởng của văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm Tác giả này chỉ ra cội nguồn văn hóa để tạo ra vùng thẩm mỹ độc đáo, ảnh hưởng lớn đến phong cách, tư tưởng của cây bút xứ Kinh Bắc - Hoàng Cầm Tuy vậy, công trình công phu này vẫn chưa khẳng định, đi sâu vào vấn đề địa văn hóa, chưa chú ý đến tính chất địa phương, vùng miền sâu đậm

Trong các bài báo, các nghiên cứu phê bình về nhũng đóng góp của Hoàng Cầm với văn chương nước nhà đều có nói đến ảnh hưởng của văn hóa Kinh Bắc đối với thơ Hoàng Cầm, song hầu như các bài viết đều chưa nhấn mạnh đến khía cạnh địa văn hóa, ảnh hưởng, tác động của địa văn hóa Kinh Bắc là mạch nguồn nuôi dưỡng thơ ca Hoàng Cầm Chính địa văn hóa với

Trang 10

những đặc trưng riêng biệt về văn hóa, phong tục mới chính là thứ tạo nên màu sắc riêng, sức hấp dẫn riêng, cái lạ trong thơ Hoàng Cầm

Từ nguyên nhân trên, người viết muốn chọn khai thác vấn đề địa văn hóa để đi vào khai thác tầng sâu của văn hóa Kinh Bắc, chất địa phương, những ảnh hưởng không trộn lẫn mang màu sắc Kinh Bắc trong thơ Hoàng

Cầm Từ việc nghiên cứu đó sẽ đi đến khẳng định: Địa văn hóa Kinh Bắc

chính là nét độc đáo, riêng biệt trong thơ Hoàng Cầm

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm nghiên cứu những yếu tố địa văn hóa vùng Kinh Bắc xuyên suốt chặng đường sáng tác của thơ Hoàng Cầm Dựa vào các phạm trù văn hóa, người viết sẽ làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học ở tầm khái quát.Từ đó đi sâu vào thơ Hoàng Cầm như một hiện tượng cụ thể của văn hóa – văn hóa Kinh Bắc

Làm rõ các yếu tố địa văn hóa trong sáng tác của Hoàng Cầm từ đó sẽ khẳng định vị trí, đóng góp của thơ Hoàng Cầm trong nền văn học Việt Nam hiện đại và với quê hương Kinh Bắc về phương diện văn hóa

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn bao quát toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm,chú ý những tác phẩm liên quan đến địa - văn hóa Kinh Bắc Đó là các tập thơ kết tinh giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống vùng Kinh Bắc

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các văn bản thơ của Hoàng Cầm đã được xuât bản Đọc và tham khảo những bài nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm của các tác giả, các nhà nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê phân loại

Trang 11

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

- Phương pháp so sánh văn học

6 Những đóng góp của luận văn

Đây là luận văn nghiên cứu toàn diện, hệ thống thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn địa văn hóa Người viết sẽ đi sâu tìm hiểu những yếu tố địa văn hóa, tính chất vùng miền, những phong tục, nét văn hóa riêng, những nét đẹp của quê hương Kinh Bắc, của mảnh đất giàu truyền thống văn hóa ấy hiện lên trong thơ Hoàng Cầm một cách đầy đủ và sâu sắc nhất Điều đó sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu và giảng dạy thơ Hoàng Cầm toàn diện hơn

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Văn học từ góc nhìn địa văn hóa và thơ Hoàng Cầm

Chương 2: Thơ Hoàng Cầm – sự kết tinh các giá trị địa văn hóa

Chương 3: Các phương thức thể hiện trong thơ Hoàng Cầm

Trang 12

CHƯƠNG 1 VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA VÀ THƠ HOÀNG CẦM 1.1 Văn hóa và văn học Địa văn hóa và văn học

1.1.1 Văn hóa và văn học

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm rất rộng, có thể hiểu là tất cả những sản phẩm

con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển Đó là những sản phẩm thuộc lĩnh vực vật chất mà con người sáng tạo ra, nhưng nó cũng là những giá trị phi vật chất của đời sống tinh thần như tín ngưỡng, phong tục, tôn giáo… Văn hóa phản ánh sự sáng tạo của con người trong thế giới tự nhiên, bởi vậy ở đâu

có con người thì ở đó có văn hóa

Về phương diện vật chất, tất cả những sáng tạo hữu hình của con người giúp họ nâng cao chất lượng cuộc sống đều là văn hóa Trong quá trình sáng tạo ra của cải vật chất, con người tác động, cải tạo và chinh phục thiên nhiên Thiên nhiên được nhìn nhận, đánh giá bằng ngôn ngữ, nghệ thuật , được cải biến bằng lao động thì lúc ấy thiên nhiên trở thành văn hóa Hành động cải biến thiên nhiên của con người cũng được gọi là hành động văn hóa Nhưng ngược lại, nếu hành động của con người vào thiên nhiên gây hủy diệt thiên nhiên, đi ngược lại quy luật của thiên nhiên thì đó lại là hành động phi văn hóa Như vậy, bản thân văn hóa chính là sự phản ánh giá trị đời sống con người, thấm đẫm giá trị người

Về phương diện tinh thần, đó là tổng thể các tư tưởng, gía trị, lí luận được sáng tạo ra trong hoạt động tinh thần của con người Nhưng những sản phẩm sáng tạo ra đó phải mang tiêu chí cơ bản của chất người, giá trị người là chân, thiện, mĩ Nếu những sản phẩm không đạt tới hoặc đi ngược các giá trị này thì trái với văn hóa, còn gọi là phi văn hóa hay phản văn hóa

Trang 13

Như vậy, nói tới văn hóa là nói tới con người, là việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người Do đó, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên các hoạt động thực tiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội

Khi nói tới văn hóa thì mỗi phương diện, mỗi thành tố của văn hóa sẽ là đối tượng của một ngành nghiên cứu riêng Vì không có điều kiện đi sâu nên chúng ta chỉ tìm hiểu một số đặc trưng quan trọng của văn hóa

Đặc trưng đầu tiên của văn hóa là tính hệ thống Ở ngay trong định

nghĩa người đọc có thể thấy: Văn hóa là một hệ thống các giá trị chân lý, chuẩn mực, mục tiêu mà con người cùng thống nhất trong quá trình tương tác

và hoạt động sáng tạo Tính hệ thống còn giúp con người phân biệt hệ thống với tập hợp, giúp tìm ra mối liên hệ giữa các hện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa Hiểu được tính hệ thống của văn hóa sẽ có cái nhìn biện chứng,

sự cân nhắc khi xây dựng, sáng tạo một loại hình văn hóa

Đặc trưng thứ hai là tính giá trị Đây được xem là một đặc trưng quan

trọng của văn hóa Giá trị được xem là: “Thước đo mật độ nhân bản của con

người”, bởi văn hóa vốn dĩ là một giá trị ngay từ khi sinh ra: giá trị người, giá

trị nhân văn, nhân sinh… Các giá trị đó sẽ được nhìn nhận, đánh giá tùy theo tác dụng của nó trong việc nâng cao tính người, chất lượng cuộc sống Nền tảng vững chắc của xã hội sẽ được tạo nên từ tổng các giá trị văn hóa đó Nó giúp tạo nên sức mạnh của dân tộc, sức mạnh để vượt qua những khó khăn, thử thách từ các thế lực ngoại xâm và cả sự hung dữ của thiên nhiên

Tính giá trị của văn hóa còn biểu hiện ở sự chuẩn mực Chính tính giá

trị của văn hóa đã thể hiện được chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội được duy trì ở trạng thái cân bằng, liên tục tự hoàn thiện và thích ứng với sự thay đổi của môi trường, định hướng các chuẩn mực Khi một sự kiện, một hiện tượng, hành động… được coi là chuẩn mực thì có nghĩa sự kiện, hiện

Trang 14

tượng, hành động… ấy được coi là một thước đo, một hình mẫu, hơn thế đó là một tấm gương Rõ ràng, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội Đó là sự đánh giá đầy đủ nhất về giá trị của văn hóa

Đặc trưng thứ ba là tính lịch sử Văn hóa được hình thành qua một quá

trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, đó là sự biến đổi, sự phát triển của con người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên - xã hội sáng tạo

và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị Một hiện tượng văn hóa sẽ sinh ra trong một thời đại, một giai đoạn nhất định.Nó có thể phát huy,

kế thừa hoặc phủ định những thành quả của tời đại trước, nó mang dấu ấn của thời đại nó sinh ra Bởi vậy, cần nắm được tính lịch sử của văn hóa để khi phân tích, đánh giá các hiện tượng, sự kiện văn hóa một cách khách quan, chính xác

Thứ tư, tính nhân sinh Văn hóa là hiện tượng thuộc về xã hội loài

người, sinh ra cùng với sự sinh ra của con người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, ở trong con người và mang dấu ấn người Có thể thấy, con người vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa Vì thế, đấu tranh về văn hóa, trong văn hóa cũng chính là quy luật tiến hóa của nhân sinh Hơn nữa, muốn hiểu con người phải

có sự hiểu biết nhất định về văn hóa Bới đó là chía khóa để lý giải hành động, tâm lý, ứng xử của con người

1.1.1.2 Quan hệ giữa văn hóa và văn học

Văn học được xem là sản phẩm của văn hóa, bản thân tác phẩm văn học khi ra đời đã là sản phẩm tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, nó phản ánh đời sống của giai đoạn mà nó ra đời Văn học như là tấm gương phản ánh đời sống xã hội và văn hóa dân tộc Chính vì vậy mà người ta đã đưa ra một

nhận định rằng:“Người cầm bút chỉ trở thành nhà văn lớn khi nào đạt đến

Trang 15

tầm vóc của một nhà văn hóa – tư tưởng” Như vậy, văn học cũng là sự phản

ánh văn hóa trên nhưng khía cạnh, những góc độ nào đó, ta thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của các nhà văn Người đọc có thể nhận

ra bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương với những trò chơi dân gian, những câu đố tục giảng thanh đầy hóm hỉnh Hay vẻ đẹp của văn hoá truyền thống trong truyện ngắn và tuỳ bút Nguyễn Tuân Văn hóa, lịch sử

của Hà Nội qua “Hà Nội 36 phố phường” của Thạch Lam… Ngoài đề tài văn

hóa còn tác động đến văn học ở toàn bộ hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Chính không gian văn hoá đã chi phối cách

xử lý đề tài, cách thể hiện chủ đề, cách xây dựng nhân vật, sử dụng biện pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác, đồng thời cũng chi phối cách đánh giá, thưởng thức… trong quá trình tiếp nhận Vì lẽ đó nhiều nhà nghiên cứu đã căn cứ vào dữ liệu văn hóa để lí giải văn hóa của một thời đại, một giai đoạn lịch sử nào đó Vì văn học là một sản phẩm đặc biệt của văn hóa nên khi nghiên cứu tác phẩm văn học người đọc hay nhà nghiên cứu cần chú ý đặt tác phẩm văn học trong bối cảnh rộng lớn của văn hóa thời đại đó, xem văn bản văn học là sản phẩm của văn hóa thì cần giải mã nó trong ngữ cảnh văn hóa Văn học kết tinh các giá trị văn hóa bởi yếu tố quan trọng nhất trong tác phẩm chính là giá trị thẩm mĩ Giá trị thẩm mĩ riêng của mỗi dân tộc sẽ có mối liên hệ mật thiết với địa văn hóa bởi môi trường sống, thế giới xung quanh sẽ tác động, chi phối đến sự cảm nhận và biểu hiện của nhà văn Một tác phẩm văn học không chỉ là quan niệm về con người đươc thể hiện qua nghệ thuật ngôn từ mà ở đó còn có cả chuẩn mực ứng xử của một cộng đồng, một dân tộc nào đó trong một thời đại lịch sử nhất định Tác phẩm văn học ấy phải mang trong mình văn hóa đặc trưng của dân tộc nó sinh ra Tính văn hóa của tác phẩm ấy cho người đọc hiểu hơn giá trị của nó qua hệ thống hình tượng, hình ảnh… để từ đó có thể liên hệ, so sánh với tác phẩm khác, nền văn

Trang 16

hóa khác Một tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật ngôn từ tái hiện đời sống tinh thần của một dân tộc, là sự kết tinh cao nhất văn hóa của một đất nước Tác phẩm mang tính văn hóa cao sẽ trở thành tài sản, niềm tự hào của một dân tộc

Văn học không chỉ kết tinh các giá trị văn hóa mà văn học còn là một ứng

xử văn hóa Ứng xử (behaviour) là thái độ, hành động của con người trước hiện thực khách quan Ứng xử thể hiện quan niệm của con người trong các mối quan hệ với môi trường và thế giới xung quanh Ứng xử với môi trường được biểu hiện ở quan niệm của con người với môi trường, còn ứng xử với thế giới xung quanh chính là ứng xử giữa người với người, là các quan hệ xã hội Trong tác phẩm văn chương các nhân vật được đặt trong quan hệ giao tiếp, đối thoại với nhau, trong phạm vi ứng xử văn hóa với nhau Tất cả những ứng xử đó đều mang đặc trưng văn hóa dân tộc, tạo ra màu sắc dân tộc để tác phẩm mang màu sức riêng ko giống với các tác phẩm cùng thể, cùng loại khác

Văn hóa là của con người, cho con người và vì con người Không có văn hóa nằm ngoài con người Vì vậy, tác phẩm văn chương phải lấy con người làm đối tượng trung tâm để phản ánh và đó cũng là việc tập trung khắc họa tính chất văn hóa của con người Văn hóa phản ánh sự phát triển của con người, biểu hiện năng lực sáng tạo của con người trong quá trình tồn tại, phát triển, vươn lên làm chủ cuộc sống và hoàn thiện nhân cách để tạo ra giá trị con người qua mỗi thời đại

Tóm lại, tính văn hóa của tác phẩm văn học chính là việc thể hiện qua cái nhìn nghệ thuật mang tính dân tộc về con người và cuộc đời, qua quan niệm ứng xử thẩm mỹ mang đặc trưng và phù hợp với chuẩn mực đạo đức tâm lí của dân tộc Tính văn hóa của tác phẩm văn học còn được thể hiện ở việc xây dựng nhân vật, cốt truyện, qua các hình thức ngôn từ nghệ thuật được dùng để diễn tả hình tượng Tác phẩm văn học chính là một chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ

Trang 17

Bởi vậy, khi nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn học không nên chỉ chú ý cảm thụ cái hay, cái đẹp của của hình tượng nghệ thuật mà nên bàn về sự độc đáo của văn hóa dân tộc trong đó Từ đó, có thể khẳng định, việc nghiên cứu tính văn hóa trong tác phẩm văn học là hết sức cần thiết Có như vậy tác phẩm văn học mới hiện lên đầy đủ vẻ đẹp toàn diện của nó

1.1.2 Địa văn hóa với văn học

1.1.2.1 Địa văn hóa

Nếu văn hóa là sản phẩm tinh thần và vật chất của con người trên con đường tiến hóa thì khi nghiên cứu văn hóa, người ta nhận thấy những nét chung của văn hóa, của nền văn hóa có những nét riêng của từng vùng, từng miền Những nét riêng ấy do tác động của những điều kiện nhân sinh, xã hội, lịch sử, địa lý khác nhau ở từng vùng, từng miền mà có Bởi vậy, nói đến địa văn hóa là nói đến một thực thể văn hóa bao gồm những nét riêng, đặc trưng, những sắc thái khác biệt mà ở các vùng miền khác không có hoặc không tiêu biểu, điển hình Ở địa phương ấy con người và thiên nhiên, văn hóa và địa lý tương tác qua lại với nhau tạo nên những tính cách, ứng xử văn hóa khác nhau

Như vậy, địa văn hóa được hiểu là văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc, một địa phương, khu vực, vùng miền nhất định Đặc trưng của địa văn hóa chính là các bản sắc văn hóa của địa phương ấy Theo định nghĩ của

Unesco thì: “Bản sắc văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo

của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ, các hoạt động sáng tạo đã cấu thành hệ thống gía trị, truyền thống, thị hiếu, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, dân tộc khẳng định được bản sắc riêng của mình”

1.1.2.2 Địa văn hóa và văn học

Mỗi nhà văn đều sống và viết ở một miền đất nhất định và hầu hết những yếu tố của miền đất đó như lịch sử, địa lý, văn hóa, con người đều tác động

Trang 18

đến nhà văn tạo nên những nét riêng đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật Nội dung và nghệ thuật đó tất nhiên mang đặc điểm chung của đất nước, dân tộc, thời đại Nhưng đó là tác động của lịch sử vào văn học đất nước và sẽ không làm mất đi những nét riêng, đặc sắc của vùng đất, quê hương nơi tác giả đó sống và viết trong tác phẩm văn chương của mình Hay có thể nói đó chính là những ảnh hưởng của yếu tố địa văn hóa vào văn học

Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn địa văn hóa là điểm khởi đầu của nghiên cứu tác giả, giống như việc nghiên cứu dòng sông từ chính cội nguồn của nó vậy Tuy nhiên, đây không phải là việc địa phương hóa văn hóa, bó hẹp cái nhìn của sáng tạo văn học Ngược lại, đó là cách đào sâu, mở rộng, đi sâu, tìm hiểu kỹ một trường hợp cụ thể nào đó của thời đại trong một khu vực địa dư, một giai đoạn lịch sử và càng thấy nét đặc sắc của một tác giả vào giá trị của nền văn học nói chung

Trong sáng tác văn học, hiểu biết văn hóa càng rộng thì hình tượng văn học càng sâu Sự hiểu biết về văn hóa nói chung, văn hóa vùng nói riêng không bao giờ thừa Vốn sống của nhà văn khi đi vào văn học đã trở thành văn hóa và được nhìn dưới con mắt văn hóa nghĩa là đã được đánh giá về nhân sinh Văn học đã và đang tận dụng tốt văn hóa để làm tốt chức năng của mình, đóng góp vào sự đa dạng, nâng cao văn hóa của dân tộc, nhân loại Hơn nữa, văn hóa thể hiện quan niệm cách ứng xử của con người trước cuộc sống xung quanh còn văn học thì lưu giữ những thành quả đó một cách tốt nhất, hiệu quả nhất Thành quả văn hóa của một dân tộc, vùng miền phải đi qua quá trình tìm kiếm, lựa chọn, đấu tranh và sáng tạo để tạo ra những giá trị trong xã hội Trên con đường tìm kiếm ấy, văn học chính là nơi lưu giữ, định hình những giá trị quý báu của vùng đất, dân tộc đó Như vậy, địa văn hóa có vai trò nhất định, nó tạo nên các giá trị thẩm mỹ để văn học lên tiếng bằng ngôn

từ nghệ thuật, đồng thời thể hiện những bản sắc riêng ấy của địa văn hóa trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

Trang 19

1.2 Tiếp cận thơ trữ tình từ góc nhìn địa văn hóa

Thơ trữ tình là một thể loại thơ ca có đặc trưng là bày tỏ, nói lên tư tưởng, tình cảm của tác giả, thông qua tư tưởng, tình cảm phản ánh cuộc sống

Vì thế, thơ trữ tình không đi vào miêu tả quá trình, sự kiện, không kể tình tiết câu chuyện, không miêu tả nhân vật… mà mượn cảnh vật để bày tỏ tình cảm Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó nhà thơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tư, cá thể về đời sống, thể hiện tư tưởng về con người, cuộc đời và thời đại nói chung Thơ trữ tình biểu hiện tư tưởng, tình cảm, làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới sâu kín của tâm tư, nỗi niềm Đó là một sản phẩm tinh thần vì thế trong thơ trữ tình cũng biểu hiện, kết tinh văn hóa của cộng đồng, của dân tộc thông qua việc sử dụng đầy sáng tạo ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ, hình ảnh… Quá trình sáng tạo ấy của nhà thơ chính là việc họ đang đưa các giá trị thẩm mỹ của văn hóa truyền thống vào trong tác phẩm của mình, đồng thời họ cũng tạo ra nét riêng, dấu ấn của cá nhân trên phông nền của văn hóa truyền thống

1.2.1 Thơ trữ tình kết tinh giá trị địa văn hóa

Trong thơ trữ tình, dấu ấn địa văn hóa là vô cùng đậm nét Các nhà thơ

sẽ bị chi phối ảnh hưởng sâu sắc từ những quan niệm thẩm mỹ chung của cộng đồng Từ đó các nhà thơ vừa thể hiện được những sáng tạo của cá nhân nhưng cũng thể hiện nhiều nét tương đồng với những sáng tác truyền thống Đây chính là cơ sở để người đọc nhận thấy được những ảnh hưởng chung của lịch sử, thời đại, dấu ấn bản sắc riêng của cộng đồng, dân tộc

Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, văn học và địa văn hóa rất sâu sắc

và bền vững Như đã nói, văn học vừa kết tinh, vừa biểu hiện tâm thức của văn hóa dân tộc, địa phương, bởi thế những tác phẩm văn học ưu tú sẽ ẩn chứa giá trị văn hóa bền vững Đó có thể là phong tục, tập quán, lễ nghi, hội

Trang 20

hè nhưng cũng có khi nó được khai thác ở chiều sâu, là những giá trị ẩn sâu

trong tâm thức văn hóa cộng đồng Chúng ta coi Truyện Kiều của Nguyễn Du như một thứ “căn cước” văn hóa đầu tiên của Việt Nam được giới thiệu đến

bè bạn phương Tây Bởi vì Nguyễn Du giúp cho thế giới phương Tây ấy hiểu được cái nhìn sâu sắc về bộ mặt tinh thần của dân tộc ta Cho họ thấy rõ hơn

về con người và tâm hồn Việt Nam Nguyễn Du đã làm rạng danh cho non sông đất nước, làm phong phú hơn cho văn hóa của dân tộc như thế Người ta

biết đến Việt Nam, biết đến Truyện Kiều như một tài sản văn hóa tinh thần

quý báu của dân tộc.Điều đó đã chúng minh rõ nhất, tác phẩm văn học nói chung, thơ trữ tình nói riêng mang đậm dấu ấn của văn hóa cộng đồng Văn học Việt Nam ta, với chiều dài hàng ngàn năm văn hiến đã có nhiều tác phẩm văn học in đậm dấu ấn của văn hóa tạo nên diện mạo của một nền văn chương đặc sắc, góp phần làm phong phú cho nền văn học dân tộc

Tuy vậy, mỗi cá nhân lại tạo ra bản sắc cá nhân trên nền văn hóa chung

Đó chính là việc nhà văn “thâm canh” ở một vùng đất nào đó Nghĩa là họ tạo

được dấu ấn riêng mang bản sắc của một địa phương nào đó trong sáng tác

của mình: dấu ấn địa văn hóa Nơi đó có thể là quê hương hay mảnh đất mà

tác giả đã sống, gắn bó thân thuộc và trở thành đề tài, nguồn cảm hứng và nguyên mẫu nhân vật trong tác phẩm của họ Ta bắt gặp Nguyễn Đình Chiểu với vùng đất Nam Bộ; Tú Xương với Thành Nam; Tản Đà, Ngô Quân Miện với xứ Đoài; Hoàng Cầm với Kinh Bắc; Nguyễn Bùi Vợi, Mai Hồng Miên với xứ Nghệ… Nghiên cứu những sáng tác của họ dưới góc nhìn địa văn hóa, chắc chắn sẽ khám phá được nhiều điều thú vị và sâu sắc

Nghiên cứu tác phẩm văn học nói chung, thơ trữ tình nói riêng, muốn hiểu đúng, hiểu sâu sắc và tòa diện cần đặt nó trong mạch nguồn văn hóa địa phương, dân tộc và giai đoạn lịch sử mà nó sinh ra Hơn thế hiểu biết về văn hóa nói chung và văn hóa vùng nói riêng không bao giờ là thừa Văn hóa địa

Trang 21

phương, vùng miền đã tạo nên nét đặc sắc riêng trong phong cách tác giả để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc Bởi vậy, dù phản ánh tình cảm tiêu biểu, khái quát nhưng kết hợp với cái hay, cái đẹp của địa văn hóa thì tác phẩm ấy càng có ý nghĩa và sống lâu bền hơn trong tâm trí độc giả Điều đó cũng giúp ta khẳng định: Thơ trữ tình chính là sự kết tinh các giá trị địa văn hóa của dân tộc, vùng miền

1.2.2 Nghiên cứu giá trị địa văn hóa của thơ trữ tình

Thơ trữ tình thường gợi lên cho người đọc những hình ảnh sống động về đời sống tâm hồn, tình cảm, tinh thần của nhà thơ trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, riêng biệt Nhưng tình cảm riêng ấy chỉ có ý nghĩa khi nó thống nhất, nằm trong tình cảm chung, mang ý nghĩa khái quát Cái chung ấy chính

là cội nguồn địa văn hóa trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ Các nhà thơ phải tự vượt lên những cảm xúc vụn vặt, những tâm trạng lạc lõng để nâng cảm xúc, suy nghĩ,tâm trạng ấy trở nên tiêu biểu để ở đó bạn đọc cảm nhận được những tình cảm cao thượng, sâu sắc của nhà thơ, vừa riêng tư lại cũng

có nét chung, sự tương đồng Bạn đọc nhớ đến thơ Tố Hữu bởi giọng điệu

ngọt ngào tha thiết Giọng điệu ấy như là tài sản “trời phú” cho Tố Hữu do

thừa hưởng tâm hồn của quê hương và con người xứ Huế mà ông yêu tha thiết Chính Tố Hữu đã xác nhận: “Người ta nói thơ tôi có giọng hò, tiếng ca

xứ Huế Đúng vậy, tôi rất thích ca nhạc quê hương tôi” Rõ ràng thơ Tố Hữu mang đậm dấu ấn của cội nguồn văn hóa địa phương xứ Huế Để rồi từ cội nguồn văn hóa truyền thống ấy Tố Hữu dã tạo cho mình cái giọng tâm tình, ngọt ngào, đằm thắm vừa riêng lại vừa chung, vừa hấp dẫn, lay động lại vừa tha thiết, thân quen đến vậy Đọc thơ Nguyễn Bùi Vợi người đọc lại bắt gặp tính cách và con người của tiểu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh trong thơ ông Là người xứ Nghệ gốc nên ông gắn bó với quê hương, bạn bè, làng xóm Ông hiểu sâu sắc miền đất,tính cách con người nơi đây Tình yêu máu thịt của ông với xứ

Nghệ được biểu hiện ngay trong những vần thơ mang đậm hơi thở quê hương:

Trang 22

“Vẫn tím trong tôi đồi sim cằn rú mít Nhớ cái chuôm sâu ở đồng Hới, đồng Chùa Nay quê mình đã xanh trùm bóng mát Bao ân tình mình xin gửi vào thơ…”

Rồi những câu thơ ông viết về nét riêng của quê mình:

“Gió Lào thổi rạc bờ tre Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc nhằn Chắt từ đá sỏi đất cằn

Nên yêu thơ mới sâu đằm đó em”

Nguyễn Bùi Vợi đã đem tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ của quê hương mình vào thơ, từ địa phương khá nhiều Đó là địa văn hóa, là chất địa phương hoà lẫn với cách nhìn của con người cá nhân tạo ra sự đa dạng trong văn học Nguyễn Bùi Vợi tuy không phải là người viết nhiều về xứ Nghệ nhất nhưng thơ ông đậm chất Nghệ nhất Tính cách xứ Nghệ biểu hiện ở giọng thơ chân thực mà đằm thắm, cách nói trực tiếp mà lại cuốn hút Có lẽ đó là sức cuốn hút của địa văn hóa với thơ ca thời hiện đại?

Nghệ thuật ngôn từ dưới sự sáng tạo của người nghệ sĩ còn kết tinh những quan niệm nghệ thuật của dân tộc Góc nhìn địa văn hóa cho thấy cái nhìn nghệ thuật trong thơ trữ tình chính là sự khúc xạ giá trị văn hóa của các tộc người Tìm hiểu đôi nét về thơ của các tác giả dân tộc thiểu số sẽ thấy được điểm này Thơ của họ giàu tính biểu tượng và có sức ám ảnh, các tác giả luôn bám sát truyền thống thơ ca của dân tộc mình Họ âm thầm sáng tạo, khám phá và học hỏi để tìm ra cái mới, cái lạ mà hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Đọc những dòng thơ của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai bạn đọc sẽ bắt gặp đời sống sinh hoạt phong phú của người Mường với tiếng hát ru da diết qua cái nhìn độc đáo của tác giả:

Trang 23

“Ngủ đi Con ong ra nhiều mật Cho con gà mơ cục tác Con lợn to như đống gạch Ngủ đi

Cho mẹ ôm cha…”

(Hát ru)

Rồi lời thơ tự nhiên, dân dã mà lại hấp dẫn, lôi cuốn trong những câu thơ của Lò Ngân Sủn:

“Người đẹp trông như tuyết

Chạm vào lại thấy nóng

Người đẹp trông như lửa

Sờ vào lại thấy mát

Người không khát – nhìn người đẹp cũng khát

Người không đói – nhìn người đẹp cũng đói

Người muốn chết – gặp người đẹp lại không muốn chết nữa”

(Con của núi nhất)

Rõ ràng trong thơ của các tác giả miền núi, dấu ấn địa văn hóa thật đậm nét Đó là sự độc đáo, riêng biệt, khác lạ không tìm thấy ở bất cứ một phong cách thơ nào Những cái riêng ấy là sự kết tinh giá trị địa văn hóa để làm giàu vốn văn hóa của dân tộc, làm phong phú cho nền văn học nước ta Đồng thời

họ cũng đang làm cho chính cộng đồng, vùng miền của họ phát triển trên cơ

sở tiếp thu, học hỏi, giao lưu với cái mới Chính những thành quả, bản sắc riêng của mỗi vùng đất cộng hưởng với sáng tạo cá nhân sẽ tạo ra được nhũng tác phẩm văn chương như thế Góc nhìn địa văn hóa khi nghiên cứu thơ trữ tình cho phép người đọc tìm hiểu được khả năng làm giàu các giá trị văn hóa của cộng đồng

Trang 24

Cần tìm hiểu sự liên hệ giũa các biểu tượng văn hóa và hệ thống mô tip, hình ảnh trong thơ trữ tình bởi hệ thống biểu tượng hàm chứa trong bản thân

nó những giá trị tư tưởng sâu sắc của dân tộc, cộng đồng trong việc thể hiện những ứng xử, quan hệ trong đời sống văn hóa xã hội Hệ thống hình tượng, hình ảnh trong thơ trữ tình cũng góp phần hình thành phong cách cá nhân của

nhà thơ Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa: “Phong cách nghệ thuật là

phạm trù thẩm mỹ chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học dân tộc” Như vậy, những hình ảnh, biểu tượng trong thơ có thể làm cho người đọc cảm thấy thỏa mãn những nhu cầu về trí tuệ, cảm xúc thẩm mỹ Thế nên để đi tới cội nguồn của vấn đề trong tác phẩm văn học không thể bỏ qua vai trò của hệ thống hình ảnh, biểu tượng trong tác phẩm

Tóm lại, tìm hiểu văn chương nói chung, thơ trữ tình nói riêng từ góc nhìn địa văn hóa sẽ giúp bạn đọc đánh giá được đúng giá trị của tác phẩm, vị trí, tầm vóc của nhà thơ ấy trong quá trình phát triển của nền thơ ca dân tộc ở một giai đoạn lịch sử nhất định Hơn thế, đó còn là cách đi tìm sự ảnh hưởng sâu xa của truyền thống văn học dân tộc, địa phương đối với tác phẩm văn chương Một tác phẩm chỉ được đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện khi đặt nó trong dòng chảy văn hóa của dân tộc, vùng miền và thời đại nó sinh ra

1.3 Địa văn hóa Kinh Bắc – cội nguồn thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm

1.3.1 Kinh Bắc – mảnh đất địa linh nhân kiệt

Nhắc tới Kinh Bắc, người ta nhớ ngay đến mảnh đất “địa linh nhân kiệt”

được coi là nơi khai mở nền văn minh Đại Việt, là miền đất màu mỡ nuôi dưỡng văn hóa của người Việt Đây là vùng đất đậm đặc những di tích gắn với nhiều huyền thoại lịch sử, lại say đắm lòng người bởi nhiều nét văn hóa truyền thống rất đặc trưng

Trang 25

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, Kinh Bắc xưa thuộc khu vực hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và một phần của Hà Nội, xứ Kinh Bắc được hình thành từ khi lập quốc với một lịch sử lâu đời nhất

Ở thời Hùng Vương, đất nước dưới sự thống trị của nhà Tần (214 – 209 trước Công nguyên) thì Kinh Bắc thuộc bộ Vũ Ninh Về sau, nhà Hán thống trị (110 – 210 trước Công nguyên) thì Kinh Bắc cũng thay đổi nhiều cả về tên gọi và cương vực địa lý

Thời Lý – Trần theo sử sách ghi chép gọi là “Bắc Giang lộ” và “Như

Nguyệt giang lộ” Ở thời Trần lại thấy chép là “Kinh Bắc”, lộ Bắc Giang đến

giờ cũng gọi là lộ Kinh Bắc Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) Lý Thái Tổ chia đất nước ra thành 5 đạo, trong đó Bắc đạo chính là vùng Kinh Bắc Năm

1466 khi vua Lê Thánh Tông tổ chức đất nước thành Thừa tuyên rồi chia cả nước ra thành 13 đạo thì thấy có thừa tuyên Bắc Giang hay Kinh Bắc với 4 phủ và 19 huyện

Đến 1490, năm Hồng Đức thứ 21, đất nước lại được vua Thánh Tông tổ

chức lại,lúc này “Kinh Bắc đạo” trở thành “Kinh Bắc xứ” Cách tổ chức này

giữ nguyên đến cuối triều Lê Thời vua Gia Long của triều Nguyễn (1802) lại chia đất nước thành 24 trấn, 4 doanh và 2 thành Kinh Bắc lúc này có tên là

“Kinh Bắc trấn” Về sau vua Minh Mệnh (1831) đổi lại là “Bắc Ninh phủ”

với 4 phủ, 2 phân phủ và 20 huyện

Giai đoạn sau, từ những năm đầu của thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIX cũng có nhiều thay đổi Năm Đồng Khánh thứ hai (1887) các huyện Siêu Loại, Gia Lâm, Lang Tài và một số tổng của Bắc Ninh phủ được tách ra và sát nhập về với tỉnh Hưng Yên Sau đó năm Thành Thái thứ bảy (1895) thêm một số huyện của Kinh Bắc là Hiệp Hòa,Yên Dũng, Lục Ngạn, Yên Thế, Việt Yên và Hữu Lũng tách ra thành tỉnh Bắc Giang cùng phủ lạng Giang Năm

Trang 26

Thành Thái thứ 14 (1902) tiếp tục thay đổi khi một số huyện như Đa Phúc và Kim Anh cắt về tỉnh Phúc Yên Phần còn lại là khu vực tỉnh Bắc Ninh

Trải qua nhiều thay đổi với nhiều tên gọi khác nhau nhưng Kinh Bắc vẫn

là vùng đất trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, một trong tứ trấn quanh kinh thành Thăng Long về 4 phía Đây là nơi cư trú của những cư dân Việt cổ, cũng là vùng đất yên bình, màu mỡ, phì nhiêu, là nơi tinh hoa tụ họp ở đây nên có biết bao danh thần xuất thân từ nơi này

Với ba con sông chính chảy qua là sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam hợp thành hệ thống sông Thái Bình, có thêm nhánh sông Đuống từ sông Hồng đổ về tạo nên vẻ duyên dáng, nên thơ và cũng mang theo sự trù phú, màu mỡ cho những cư dân nơi này sinh sống và làm ăn Chẳng thế mà

Nguyễn Trãi trong “Dư địa chí” đã viết về vùng đất này như sau: “…Ở vùng đất ấy, đất thì trắng, mềm, ruộng thì vào hàng thương thượng …” Nơi này

còn nổi tiếng với biết bao làng nghề truyền thống như: gốm Thổ Hà, gốm làng Ngòi, tranh Đông Hồ, múa rối nước Bùi Xá… Có thể nói, từ xa xưa Kinh Bắc

là địa bàn trọng yếu để triển khai các chính sách bảo vệ đất nước, phát triển văn hóa của các triều đại phong kiến Việt Nam

Thời Pháp thuộc, vùng Kinh Bắc còn lại hai tỉnh là Bắc Ninh và Bắc Giang Nếu Kinh Bắc xưa nổi tiếng là vùng đất văn hiến, là mảnh đất địa linh nhân kiệt thì Kinh Bắc nay vẫn là vùng đất mang trong mình truyền thống văn hóa tốt đẹp, đâu đâu cũng là những dấu tích huyền thoại minh chứng cho lịch

sử ngàn xưa, những lễ hội truyền thống, những câu hát quan họ làm say lòng người… Về với Kinh Bắc, về với vùng địa văn hóa mang đậm dấu ấn của văn hóa và lịch sử, về với cội nguồn dân tộc và văn hóa Việt Nam

1.3.1.2 Về lịch sử, văn hóa xã hội

Trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi của lịch sử, vùng Kinh Bắc xưa nay chỉ còn thuộc địa phận của vùng Bắc Ninh – Bắc Giang Dù vậy vùng đất

Trang 27

này còn lưu giữ lại nhiều những di tích lịch sử và những giá trị văn hóa cổ truyền vô giá Nơi này là thành cổ Luy Lâu xưa, một trung tâm kinh tế, chính trị, tôn giáo cổ xưa nhất Việt Nam

Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Vương, họ sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp cùng với việc làm nghề thủ công Ở Kinh Bắc, người ta đã tìm thấy hàng loạt các di vật của người xưa như; trống đồng, dao găm, rìu, giáo… Ở các di tích Lãng Ngâm, Đại Trạch, Qủa Cảm, Đại Lai Những mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người

xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tác, làm gốm, làm trang sức… Ngoài việc nổi tiếng với những sản phẩm tinh xảo của các làng nghề, giá trị tinh thần tư tưởng của người Kinh Bắc cũng rất phong phú Đó là các huyền thoại về ông Đùng, bà Đùng, về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân –

Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu – Trọng Thủy… Cùng với những huyền thoại, truyền thuyết là những di tích lịch sử tiêu biểu như lăng

mộ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, đên thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du…

Truyền thống yêu nước của vùng Kinh Bắc xưa còn được nhắc đến bởi tên tuổi của những vị tướng tài ba được lưu danh sử sách như nữ tướng Ả Tắc, Ả Dị, Thánh Thiên dưới thời đại Hai Bà Trưng, thời vua An Dương Vương được biết đến với tướng Cao Lỗ, thái úy Lý Thường Kiệt dưới triều nhà Lý… Sử sách còn nhắc đến mảnh đất này với với thành tích là nơi có nhiều trạng nguyên nhất Việt Nam Trong các kì thi đình của các triều đại phong kiến Việt Nam xưa, cả nước có 47 trạng nguyên và 2991 tiến sĩ thì riêng vùng Kinh Bắc có tới 17 trạng nguyên và 622 tiến sĩ Đến nỗi dân gian còn truyền nhau câu ca về nơi này như sau:

Trang 28

“Một giỏ ông đồ Một bồ ông cống Một đống ông nghè Một bè tiến sĩ Một bị trạng nguyên Một thuyền bảng nhãn…”

Đó là niềm tự hào của biết bao thế hệ người Kinh Bắc về truyền thống thi cử, hiếu học của quê hương mình

Kinh Bắc còn là cái nôi của văn hóa, văn nghệ dân gian, vùng đất này đầy ắp những giai thoại, truyền thuyết, thơ ca, hò vè… thể hiện quan niệm của con người về thiên nhiên, xã hội trên mọi góc độ như lao động, đấu tranh, chinh phục thiên nhiên và sản xuất… Trên mảnh đất này đã nảy nở những loại hình nghệ thuật như hát đúm, hat ghẹo, hát trống quân, hát chèo… nhưng đặc biệt nhất chính là dân ca quan họ Lời ca quan họ gắn với cuộc sống, sinh hoạt, với phong tục tập quán của người Kinh Bắc Quan họ là cuộc sống, ước

mơ, khát vọng cũng là linh hồn của những con người nơi đây Quan họ đã kết tinh thành địa văn hóa của quê hương Kinh Bắc Người ta hát quan họ để cầu cho mưa thuận, gió hòa, hát để mời khách, mời trầu làm say lòng, níu chân bao tâm hồn khách đến, hát khi hái dâu, chèo thuyền, hát để thể hiện lối sống, giao tiếp Hát trong những ngày hội làng, hội đình, nghè… người ta hát suốt ngày này sang ngày khác, chính điều đó đã tạo nên vẻ đẹp riêng, đặc trưng của những lễ hội vùng địa Kinh Bắc Lời ca quan họ là thứ ngôn ngữ giàu tính hình tượng, giàu giá trị thẩm mỹ, đó là thứ ngôn ngữ được chắt lọc từ ngôn ngữ dân gian đằm thắm, trữ tình, gần với ca dao, tục ngữ cộng với vần điệu công phu đã tạo nên sức hút riêng cho loại hình nghệ thuật này Có cái gì mộc mạc, gần gũi mà lại rất trau chuốt trong câu từ quan họ, làm lời ca cứ nồng nàn mà da diết, tự nhiên mà thấm thía vô cùng Phải chăng thiên nhiên, con

Trang 29

người và những câu hát quan họ ấy như bầu sữa mẹ, như chất phù sa của dòng sông Đuống, sông Cầu đã bồi đắp nên tình cảm, nhiệt huyết của biết bao trái tim tài năng của xứ Kinh Bắc này Trong số đó, Hoàng Cầm cũng không ngoại lệ, để rồi người đọc đã may mắn được thưởng thức một hồn thơ Kinh Bắc tinh tế, sâu sắc mà lại mềm mại, duyên dáng đến thế

Kinh Bắc còn được sử sách và dân gian truyền tụng, ca ngợi là xứ sở của đình chùa, lễ hội “Với gần hai ngàn di tích, trong đó có những ngôi đình nổi tiếng như đình Đình Bảng, đình Diềm… Đó là những toà đại đình, mái ngói đao cong uốn lượn bồng bềnh, bộ khung gỗ to khoẻ chạm trổ “rồng bay, phượng múa” Những ngôi chùa nổi tiếng như: Hệ thống chùa Tứ Pháp (huyện Thuận Thành) từng là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta Song hành với lịch sử, những ngôi chùa nổi tiếng của Bắc Ninh còn đó là những di sản văn hoá vô giá như chùa Dạm, chùa Phật Tích, chùa Tiêu từng là những đại danh lam thời Lý (thế kỷ XI-XII) Tiêu biểu về giá trị kiến trúc nghệ thuật

là Đình Bảng (Từ Sơn) và chùa Bút Tháp (Đình Tổ - Thuận Thành) là những công trình kiến trúc điêu khắc nghệ thuật đặc sắc của thời Lê - Nguyễn còn bảo lưu đến nay Đặc biệt, chùa Bút Tháp với cây tháp Báo Nghiêm nổi bật trên những lớp mái ngói đao cong, cây cối tươi tốt, sóng nước dập dềnh bên

bờ Nam sông Đuống, tựa như cây bút khổng lồ vẽ lên nền trời xanh những nét văn hiến đặc sắc của quê hương Đình chùa xứ Kinh Bắc còn nổi tiếng với những lễ hội lớn như: hội Dâu, hội Lim, hội Diềm, hội Thập đình, hội Tứ Yên… đã kết tinh ở đó hàng ngàn năm những nét tinh hoa văn hoá của xứ Kinh Bắc

Con người là nhân tố chủ thể của mỗi nền văn hóa Và về với Kinh Bắc, người ta bắt gặp được những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa của con người nơi đây, từ đó có thể thấy được phẩm chất, tính cách của họ hiện lên rõ nhất

Về với văn hóa Kinh Bắc chính là trở về với cội nguồn văn hóa Mẹ - cái nôi văn hóa lớn của người Việt ta

Trang 30

Dù vậy, văn hóa địa Kinh Bắc cũng mang trong mình những nét riêng,

đó là đặc trưng về tự nhiên, xã hội, con người được quy định bởi mỗi vùng

miền khác nhau, để rồi người ta gọi chất riêng của nơi này là “cá tính xứ

Bắc”, là “sắc thái Kinh Bắc” (Trần Quốc Vượng) Xứ sở huyền thoại này đã

trở thành một vùng thẩm mỹ lớn của văn hóa dân tộc, nơi đây đã thai nghén, sản sinh, nuôi dưỡng cho đất nước bao nghệ sĩ lớn Tắm mình trong mảnh đất văn hóa thơ mộng, huê tình ấy Hoàng Cầm đã mang đến cho thơ ca Việt Nam một phong cách mới lạ, độc đáo mà quyến rũ Thơ Hoàng Cầm mang đậm dấu ấn của văn hóa địa Kinh Bắc, thấp thoáng hơi thở của mảnh đất và con người Kinh Bắc Hồn thơ Hoàng Cầm là hồn thơ Kinh Bắc Tìm hiểu thơ Hoàng Cầm, yêu thích thơ Hoàng Cầm chắc chắn người đọc sẽ phải tìm hiểu

về quê hương Kinh Bắc, về văn hóa địa Kinh Bắc bởi đó chính là gốc rễ, là cội nguồn cảm hứng trong thơ Hoàng Cầm

1.3.2 Văn hóa địa Kinh Bắc – miền nghệ thuật hấp dẫn trong thơ Hoàng Cầm

1.3.2.1 Con người và sự nghiệp văn chương của Hoàng Cầm

Hoàng Cầm tên khai sinh là Bùi Tằng Việt, quê cha ở thôn Lạc Thổ, xã Song Hồ, Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và quê mẹ ở làng Bựu Xim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Vùng đất Kinh Bắc hào hoa ấy thấm đẫm trong thơ ông Nơi đây, từ xưa đã nổi tiếng với những đền chùa, miếu mạo gắn với nhiều truyền thuyết huyền thoại, với những lễ hội dân gian nổi tiếng như: Hội Gióng, hội chùa Lim, chùa Dâu… Bắc Ninh cũng là quê hương của những làn điệu quan họ giao duyên tình tứ, thanh lịch làm say lòng người Mảnh đất phù sa màu mỡ của dòng sông Đuống, sông Cầu xanh ngút ngàn những bãi ngô, bãi dâu đã nhuộm thắm, thoa mịn làn da của các cô gái quan

họ làm xao xuyến trái tim của bao bậc quân vương… Dòng sữa ngọt ngào ấy

đã nuôi dưỡng thơ ông, thấm sâu vào máu thịt ông tạo nên một Hoàng Cầm của Kinh Bắc

Trang 31

Vốn có năng khiếu về văn chương nên ngay từ lúc còn là cậu bé tám tuổi Hoàng Cầm đã sang tác được một bài thơ lục bát để bày tỏ tình cảm với người con gái hơn mình tám tuổi – chị Vinh Người con gái Kinh Bắc có giọng hát quan họ ngọt lịm, có mái tóc buông dài và đôi mắt đen thăm thẳm ấy đã cuốn hút cậu bé, để đến mãi sau này, trở thành một nhân vật trữ tình đặc biệt trong thơ Hoàng Cầm, và suốt đời em “đi đầu non cuối bể” cầm lá Diêu Bông tìm chị Dấu ấn tuổi thơ cộng với tài thơ thiên bẩm và tình yêu Kinh Bắc đã tạo nên một Hoàng Cầm tài ba

Trước Cách mạng Tháng 8, Hoàng Cầm đóng góp đáng kể cho phong

trào kịch thơ Bắt đầu bằng “Hận Nam Quan” (1942) và đặc biệt là với “Kiều

Loan” (1942) Hoàng Cầm thực sự tỏa sáng

- Thơ Hoàng Cầm thời kháng chiến chống Pháp

Có thể nói thời kháng chiến chống Pháp chính là thời kì vàng son nhất của thơ Hoàng Cầm Kháng chiến bùng nổ, Hoàng Cầm tham gia kháng chiến với tư cách một nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn Đây là khoảng thời gian thật sôi nổi và đáng nhớ của ông Hoàng Cầm mang bầu máu nóng vào trong thơ, mang cả sự nhiệt huyết và say sưa, chân thành của một trái tim yêu nước, sâu

nặng với quê hương Những tác phẩm như “Đêm liên hoan”, “Tiếng hát sông

Lô”… và đặc biệt là “Bên kia sông Đuống” đã trở thành đỉnh cao của thơ ca

kháng chiến, và cũng là đỉnh cao của thơ ca Hoàng Cầm về Kinh Bắc

Thơ kháng chiến của Hoàng Cầm có một sức truyền cảm, lay động lớn đối với người đọc Âm hưởng hào sảng thể hện niềm tin lớn lao vào nhân dân, cách mạng Nhiều người đọc, chép và chuyền tay nhau những bài thơ của

Hoàng Cầm Lê Đạt nhận xét: “Trong hàng ngũ các nhà thơ kháng chiến, ngoài Tố Hữu có lẽ ít người nổi tiếng như Hoàng Cầm”(“Tôi vẫn chưa hết

bênh Hoàng Cầm”,1997)

Trang 32

- Thơ Hoàng Cầm thời kì “Nhân văn – giai phẩm”

Có một thời kỳ đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời và sự nghiệp thơ

Hoàng Cầm Đó là khoảng thời gian 1959: Vụ “Nhân văn – giai phẩm” đã khiến cho ông gặp nhiều khó khăn Hoàng Cầm bị khai trừ khỏi Hội nhà văn

và không được phép xuất bản trong ba năm Tuy vậy, Hoàng Cầm vẫn bền bỉ

sáng tác và rút ruột mình để cho ra đời những đỉnh cao nghệ thuật như “Về

Kinh Bắc”, “Lá Diêu Bông”…

Tưởng rằng Hoàng Cầm có thể gục ngã trước sóng gió của cuộc đời thì ngược lại, trước những thử thách, giữa cơn ác mộng kinh hoàng ấy thơ Hoàng Cầm vẫn toát lên niềm tin yêu với đời Người nghệ sĩ ấy vẫn sáng tạo, khám phá, vẫn tự mình bước qua những cay đắng, đớn đau của cuộc đời Thơ

như là thứ linh dược chữa lành những buồn đau và cô đơn của kiếp người Về

Kinh Bắc chính là viên ngọc kết tinh những sáng tạo ấy

- Thơ Hoàng Cầm thời kỳ đổi mới

Sau những ngày tháng khó khăn, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới thơ Hoàng Cầm không còn bị cấm đoán nữa Con “chim oanh vàng” đất Kinh Bắc lại cất cao tiếng hót say sưa

Tác phẩm của Hoàng Cầm lần lượt được xuất bản lại Thời gian đã tìm lại giá trị đích thực cho thơ Hoàng Cầm Bạn đọc vẫn yêu mến Hoàng Cầm,

có nhiều nhà phê bình, nhiều công trình nghiên cứu về thơ ông Như vậy, thế giới nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm đã toát lên những giá trị văn hóa vĩnh cửu khiến người đọc trân trọng

Nhìn tổng thể, nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm nhiều tác giả đã nhắc đến yếu tố văn hóa trong thơ ông Có lẽ, Hoàng Cầm đã dựng lên một thế giới Kinh Bắc lạ và riêng không lẫn với bất cứ một ai Địa văn hóa Kinh Bắc đã

tạo nên nét riêng ấy, sức hút ấy, giá trị ấy trong thơ Hoàng Cầm

Trang 33

1.3.2.2 Địa văn hóa Kinh Bắc - vùng nghệ thuật hấp dẫn trong thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại Nhắc đến Hoàng Cầm người ta nghĩ ngay đến vùng quê Kinh Bắc, bởi địa văn hóa Kinh Bắc chính là ngọn nguồn thế giới nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm.Hay nói khác đi chính mảnh đất Kinh Bắc là nơi nuôi dưỡng tâm hồn thơ Hoàng Cầm, để rồi đọc thơ ông người ta cảm nhận những vần thơ ấy đã mã hóa được

cả hồn điệu của quê hương, xứ sở Kinh Bắc huyền diệu ấy

Cũng viết về Kinh Bắc, nhưng đọc thơ của Bàng Bá Lân và Anh Thơ

chắc chắn bạn đọc sẽ nhận ra sự khác biệt Bàng Bá Lân là “thi sĩ của thôn

quê” như cách nói của Nguyễn Nhược Pháp, ông “chỉ chú ý đến cảnh quê”

(Hoài Thanh), còn Anh Thơ lại gợi được không khí, nhịp sống của nơi đồng

quê, “vẽ được bức tranh quê” Còn với Hoàng Cầm, văn hóa quê hương Kinh

Bắc hiện lên đậm đặc với những cảnh vật, những di tích lịch sử, đền đài, miếu mạo, với bao truyền thuyết, huyền thoại Những hội Gióng, hội Lim, hội chùa Dâu, những làn điệu dân ca quan họ quan họ mượt mà, tranh dân gian Đông Hồ…, tất cả hiện lên như linh hồn ngàn xưa của dân tộc Rõ ràng, địa văn hóa Kinh Bắc đã thấm vào máu thịt, hơi thở ông để rồi từ đó thơ ông gợi lên cả mảng hồn Kinh Bắc, làm giàu thêm nhũng giá trị văn hóa của đất nước, quê hương Chính Hoàng Cầm đã nói về sự chìm đắm tâm hồn, thể xác mình vào

hồn phách quê hương qua lời Vĩ thanh trong tập thơ Về Kinh Bắc: “Tất cả, tất cả… tôi bơi, chìm trong da thịt quê hương, hồn phách quê hương Kinh Bắc” Hay khi viết những lời đầu tiên cho tập thơ Về Kinh Bắc Hoàng Cầm viết một lời cầu khấn từ đáy tâm hồn mình: “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc”

Cuộc hôn phối của linh hồn ông với quê hương đã sinh hạ ra những đứa

con tinh thần mang vẻ đẹp của địa Kinh Bắc Đó là Mưa Thuận Thành, Men

đá vàng… Nhưng có lẽ với Bên kia sông Đuống Hoàng Cầm mới chính thức

đánh dấu sự bừng thức của quê hương trong thơ mình Sông Đuống là quê

Trang 34

hương, là hy vọng, niềm tin, niềm tự hào, sông Đuống hiền hòa nhưng ẩn chứa sức sống mãnh liệt, là hồn thiêng của Kinh Bắc muôn đời Và nỗi nhớ về sông Đuống chính là nhớ về một thế giới Kinh Bắc với truyền thống văn hóa

ngàn năm, là nhớ về hội Lim, hội Dâu, hội Gióng, hát quan họ… Bên kia sông

Đuống của Hoàng Cầm đã để lại ấn tượng sâu sắc về những dư vị da diết,

nồng nàn về một vùng quê trù phú, một vùng văn hóa đắc sắc, một miền đất thơ mộng, hữu tình Đó là Kinh Bắc ngọt ngào, hài hòa thấm đẫm trong hồn thơ Hoàng Cầm Với tác phẩm này Hoàng Cầm dường như hiểu ra một điều: Quê hương Kinh Bắc chính là điều kì diệu nhất mà tạo hóa ban tặng ông, là

“thiên mệnh” đời thơ ông Về sau, bạn đọc được tận hưởng những thi phẩm khác như Tiếng hát quan họ, Trương Chi, Men đá vàng , Mưa Thuận Thành,

Lá diêu bông và đặc biệt hơn cả là tập thơ Về Kinh Bắc – tập thơ được coi là

cột sống của đời thơ Hoàng Cầm

Tuy vậy, thơ Hoàng cầm lại cuốn hút người đọc ở một khía cạnh khác,

đó là chữ “lạ” Người ta thích thơ ông, ngưỡng mộ ông nhưng không phải ai cũng thể hiểu được thơ Hoàng Cầm Thơ ông siêu thực, ông dẫn người đọc

“bồng bênh” đi vào cõi mê, ngẩn ngơ chìm đắm trong ảo giác, trong thế giới của hư thực, vô định:

“Hư vô tràn hơi ấm Cõi thực lạnh trăm chiều

Mê lộ khép đìu hiu Khi nửa mình vắng bóng”

(Vào đường mê)

Người ta thấy hiện ra trong thơ ông những hình ảnh mơ hồ, lung linh, kỳ

bí, hấp dẫn đấy mà cũng khó nắm bắt vô cùng Phải chăng đó là quái chiêu riêng của Hoàng Cầm để rồi khi nghiên cứu, người ta phải thốt ra rằng: “Thơ Hoàng Cầm là một phạm trù siêu thơ…”, thứ thơ hướng nội, đi sâu vào cõi tiềm thức, vô thức của con người và có lẽ là ở độ sâu thẳm nhất

Trang 35

Hư và thực cứ đan cài vào nhau rồi nhập vào tâm hồn ông, khiến ông mê đắm và bật thành tiếng thơ Cái thực ấy là những con sông, triền núi, những gò đồi, bến, thuyền, chùa chiền… của miền Kinh Bắc cổ kính Những cô gái Kinh Bắc cũng là những con người thực, đó là cô Tấm Ỷ Lan, bà chúa chè Đặng Thị Huệ, Chiêu Thánh, là Mẹ, là chị Vinh… Có lẽ, Mẹ là hiện thân trọn vẹn nhất, sinh động nhất của quê hương xứ sở Hình ảnh Mẹ in đậm trong tâm thức tác giả, đó là cô gái Kinh Bắc xưa có nhan sắc, có đôi mắt lúng liếng, tình tứ với

dáng đi thanh tao, đài các Khi bà mặc chiếc váy kiểu Đình Bảng, “mép váy

buông đến tận mu bàn chân khiến ai trông thấy trước mặt đều tưởng như người con gái này đang đi trên sóng dập dờn”(Vĩ thanh, trang 150)

Thiên nhiên Kinh Bắc cũng để lại ấn tượng đậm nét trong lòng bạn đọc, người ta sẽ không thể quên một dòng “sông Đuống nghiêng nghiêng”, dòng sông Thương thơ mộng hữu tình, sông Cầu nước chảy lơ thơ Còn vang vọng

mãi khúc ca hào hùng “Nam quốc sơn hà” năm xưa, rồi những dòng sông,

nương dâu năm nào còn in đậm những truyền thuyết, huyền thoại xa xưa Hoàng Cầm đã có cái nhìn sâu rộng và toàn diện về thiên nhiên, lịch sử, về con người, văn hóa và phong tục tập quán nơi đây Tất cả được phản chiếu qua tâm hồn của người nghệ sĩ đa tình, đa cảm để nó trở thành một bức tranh sống động về vùng địa Kinh Bắc mà ông yêu thương, gắn bó

Như vậy, trong thơ Hoàng Cầm người đọc cảm nhận một cách sâu sắc cái hồn cốt của địa Kinh Bắc được kết tinh, thăng hoa Ở đó, Hoàng Cầm đã thổi được cái linh hồn, cái hơi thở của thiên nhiên, văn hóa, phong tục và con người xứ sở này vào trong thơ mình Mỗi bài thơ của ông đều như một “mã” nghệ thuật riêng Đi giải mã chúng chắc chắn bạn đọc phải đi lý giải những tín hiệu thẩm mỹ độc đáo trong thơ, mà nguồn gốc của chúng, điểm khởi nguồn của chúng chính là địa văn hóa Kinh Bắc Thơ Hoàng Cầm chính là một ví dụ điển hình về địa văn hóa khi văn hóa đã trở thành tâm hồn người và

Trang 36

lại được tài năng thơ chắp cánh thành những thi phẩm tuyệt bút Để rồi khi đọc thơ ông chúng ta thấy ấm lòng, thấy gần gũi và yêu thương biết bao nhiêu khi được sống lại không khí xưa, được tiếp xúc với bản nguyên của người Việt trong cái nôi văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ

Trang 37

CHƯƠNG 2 THƠ HOÀNG CẦM - SỰ KẾT TINH CÁC GIÁ TRỊ ĐỊA VĂN HÓA

2.1 Thiên nhiên địa Kinh Bắc – Biểu tượng in đậm trong thơ Hoàng Cầm

2.1.1 Những dòng sông Kinh Bắc

Nghiên cứu về những giá trị địa văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm, nhiều nhà nghiên cứu chỉ rõ những biểu tượng đặc sắc nổi lên trong thơ ông là thiên nhiên Kinh Bắc Đó là những biểu tượng như dòng sông, đồi núi, cây cỏ,… được nhắc đến với tần suất cao Có lẽ đó chính là những sản phẩm tinh thần minh chứng cho việc gắn kết tương giao “sơn thủy hữu tình”của văn hóa phương Đông và cảm quan người Việt Hoàng Cầm viết về dòng sông quê mình như là cách ông thể hiện cảm xúc thẩm mỹ của riêng mình, là cách ông trở về với quê hương, với tình yêu tồn tại cả trong vô thức Những dòng sông bao quanh uốn lượn bên những làng quan họ ấy như là một nét riêng tạo nên vẻ đẹp nên thơ, trữ tình của vùng quê này Đó cũng là nơi chốn bình yên

để con người trở về sau những lo toan, bộn bề Dòng sông quê bình yên, hiền hòa xoa dịu bao nỗi niềm của những đứa con Nhận xét về thơ Hoàng Cầm,

nhà thơ Nguyễn Thành Kim đã nói: “Chính ba con sông, sông Cầu, sông

Thương và sông Đuống tạo nên một vùng trù phú, màu mỡ phù sa, tấp nập trên bến dưới thuyền hun đúc tính cách kiên gan của người Việt chống giặc ngoại xâm, một dân tộc hết mực tài hoa phong nhã phóng dọi vào thơ Hoàng Cầm đắm đuối, mộng mị là như vậy”

Những dòng sông của vùng địa Kinh Bắc đã xuất hiện nhiều trong thơ ca của các tác giả khác Trong thơ nữ thi sĩ Anh Thơ, không gian Kinh Bắc được

cụ thể với một không khí thanh bình, nhẹ nhàng, êm ả Người đọc cảm nhận được cái hồn quê đất Việt ẩn sâu trong đó:

Trang 38

“Trong các ngõ người đi ra từng đụm Những đàn ông vào điếm họp quân bài Các cô gái ra bờ sông hát đúm

Mấy bà già cõng cháu đến nhà chơi”

(Đêm xuân)

Những con sông cũng mang trong mình khí thế thời đại của cuộc chiến tranh giữ nước:

“Nắng hè đỏ hoa gạo Nước sông Thương trôi nhanh Trên bờ đê bước rảo

Gió nham giỡn lá cành…

… Tu hú ơi tu hú Kêu hoài chi vườn xanh

Ta còn đi đi nữa Như dòng sông trôi nhanh”

(Tiếng chim tu hú)

Trong thơ Bàng Bá Lân, sông Thương cũng hấp dẫn lạ lùng:

“Non nước sông Thương kỳ thú lạ Một trời hiu hắt gió đưa chân”

Có thể thấy sông Thương qua con mắt của mỗi thi nhân đều có cách cảm, cách nhìn khác nhau Với Hoàng Cầm, một con người mang trong mình đầy những nỗi niềm, sự buồn thương nên thơ ông, dòng sông có lẽ cũng mang tâm trạng u uất ẩn chứa sau vẻ thơ mộng, hữu tình Mối tình Chị - Em lại càng nghẹn ngào trong từng câu chữ:

“Ngày Chị bảo Em quên Tắm sông Thương không mát Lên ngọn Kỳ Cùng vục nước rửa chân

Trang 39

không mát

Về đuôi mắt xưa treo suối Cam Lồ không mát”

(Nước sông Thương)

Hay có lẽ trước sông Thương con người thường mang nặng tâm trạng như chính khởi nguồn tên của dòng sông Bởi từ xa xưa người ta kể rằng dòng sông ấy là nơi ly biệt, đưa tiễn những người lính khi phải rời quê hương đi gìn giữ biên cương Họ được gia đình, vợ con, những người thân yêu đưa tiễn đến nơi này thì chia ly Tình cảm, niềm thương nỗi nhớ được trao gửi ở đây, vì thế

mà dòng sông ấy có tên là sông Thương Kỳ lạ hơn là dòng sông Thương không giống những con sông khác một điểm nữa, ấy là khi nước chảy thành hai dòng bên đục, bên trong Chẳng thế mà ca dao xưa có câu rằng:

“Sông Thương nước chảy đôi dòng Đèn khêu đôi ngọn em trông ngọn nào?”

Dòng sông Thương uốn lượn quanh núi đồi, đồng bãi, bồi đắp và nuôi dưỡng, tưới tắm cho những cánh đồng trĩu hạt mang lại mùa vàng no đủ cho vùng Kinh Bắc này Bên dòng sông Thương còn có những bãi dâu xanh ngút ngàn càng tô đậm thêm vẻ thơ mộng, hữu tình cho làng quê Kinh Bắc Sông Thương xuất hiện trong thơ Hoàng Cầm dường như không nhiều như sông Đuống, sông Cầu song không vì thế mà nó nhạt nhòa Ngược lại dòng sông ấy vẫn giúp Hoàng Cầm thể hiện được tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước, yêu vùng đất mà mình sinh ra Dòng sông Thương vẫn độc đáo vô cùng qua cách nhìn của Hoàng Cầm:

“Em vắt quả cam đầu ngọn sông Thương Mắt tròn cối xay

Chẳng bao giờ ngủ trước sao Mai”

(Nước sông Thương)

Trang 40

Cách diễn tả tinh tế ấy có lẽ chỉ có ở thơ Hoàng Cầm Câu thơ vừa khiến người đọc trầm trồ về sự lạ, sự độc trong thơ, lại vừa dẫn người đọc đến với dòng sông Thương kỳ thú của Kinh Bắc quê hương ông – nơi khơi nguồn cảm hứng nghệ thuật cho biết bao thi nhân khi đến với xứ Kinh Bắc thơ mộng, huê tình ấy

Ngoài sông Thương, thơ Hoàng Cầm còn dẫn người đọc đến với dòng sông Cầu nổi tiếng Dòng sông gắn với miền đất quan họ xứ Bắc, với bao chiến tích lịch sử của một dân tộc anh hùng trong công cuộc chống kẻ thù xâm lăng của nhân dân ta Ở triều vua Lý Nhân Tông năm nào nổi tiếng với tên tuổi của thái úy Lý Thường Kiệt cùng bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”vẫn đời đời in trong tâm trí mỗi người dân đất Việt Ngày nay, đền thờ Lý Thường Kiệt được nhân dân xây dựng to đẹp ngay gần bến Như Nguyệt năm xưa để tỏ lòng biết ơn công lao của vị anh hùng này Trải qua bao thăng trầm dòng sông Cầu vẫn bình yên êm đềm uốn lượn trải dài qua 49 làng quan họ cổ của vùng Kinh Bắc Người ta còn gọi dòng sông này là sông Thị Cầu hay sông Như Nguyệt nhưng quen thuộc, dân dã và gắn bó nhất vẫn là cách gọi sông Cầu Trong thơ ca, sông Cầu lơ thơ nước chảy đã để lại cho người đọc, người

nghe biết bao cảm tình Những câu thơ trong bài thơ Đêm sông Cầu mà Đỗ

Trung Lai viết tặng vợ mình sau này đã gợi hứng cho nhạc sĩ Phan Lạc Hoa

viết thành ca khúc bất tử Tình yêu trên dòng sông quan họ

“Sông Cầu khi đầy khi vơi Chảy ngang qua câu quan họ Ướt đầm vạt áo bao người Vạt thương ướt cùng vạt nhớ”

Nữ sĩ Anh Thơ của quê hương Kinh Bắc cũng nặng lòng với dòng sông Cầu thơ mộng:

Ngày đăng: 05/11/2018, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2011), Hoàng Cầm hồn thơ độc đáo, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Cầm hồn thơ độc đáo
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2011
2. Nguyễn Thị Minh Bắc (2008), Thơ Hoàng Cầm với văn hóa Kinh Bắc. NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hoàng Cầm với văn hóa Kinh Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Bắc
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2008
3. Hoàng Cầm – thơ, NXB Hội nhà văn, trung tâm văn hóa Đông Tây, 2003 4. Hoàng Cầm (1999), Văn xuôi, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Cầm – thơ", NXB Hội nhà văn, trung tâm văn hóa Đông Tây, 2003 4. Hoàng Cầm (1999), "Văn xuôi
Tác giả: Hoàng Cầm – thơ, NXB Hội nhà văn, trung tâm văn hóa Đông Tây, 2003 4. Hoàng Cầm
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1999
5. Hoàng Cầm (2002), Gọi đôi – Thơ lục bát chọn lọc, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gọi đôi – Thơ lục bát chọn lọc
Tác giả: Hoàng Cầm
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2002
6. Lương Minh Chung (2012), “Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hoá”, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hoá
Tác giả: Lương Minh Chung
Năm: 2012
7. Phạm Đức Dương (2002), Từ văn hoá đến văn học, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn hoá đến văn học
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2002
8. Trần Thanh Đạm (31/10/1998), “Văn học và văn hoá”, Báo Văn nghệ, số 44 9. Phan Cự Đệ (1982), Phong trào Thơ mới (1932-1945), Nxb Khoa học Xãhội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và văn hoá"”, Báo Văn nghệ, số 44 9. Phan Cự Đệ (1982), "Phong trào Thơ mới (1932-1945)
Tác giả: Trần Thanh Đạm (31/10/1998), “Văn học và văn hoá”, Báo Văn nghệ, số 44 9. Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1982
10. Phan Cự Đệ (1984), Tác phẩm và chân dung, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm và chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1984
11. Phan Cự Đệ (1999), Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
12. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ. NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
13. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
14. Hoàng Thị Huế (2007), Thơ mới nhìn từ góc độ quan hệ văn hoá - văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới nhìn từ góc độ quan hệ văn hoá - văn học
Tác giả: Hoàng Thị Huế
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
15. Bùi Công Hùng (2000), Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
16. ĐỗViệt Hùng - Nguyễn Thị Ngân Hoa (2004), Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học
Tác giả: ĐỗViệt Hùng - Nguyễn Thị Ngân Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2004
17. Nguyễn Thanh Hùng (2001), Hiểu văn dạy văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
19. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2000
20. Nguyễn Thuỵ Kha (1999), Nguồn cảm hứng sáng tác văn học Việt Nam của người nghệ sĩ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn cảm hứng sáng tác văn học Việt Nam của người nghệ sĩ
Tác giả: Nguyễn Thuỵ Kha
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1999
21. Mã Giang Lân (2000), Tìm hiểu thơ, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thơ
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
22. Mã Giang Lân (2004), Văn học Việt Nam 1945 - 1954, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1945 - 1954
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm