Những nghiên cứu liên quan đến phẩm cách nhân vật và nhân vật nam trong ba tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục Trong tiểu luận “Tìm hiểu khuynh hướn
Trang 1(Khảo sát qua ba tác phẩm Thánh Tông di thảo,
Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
CHU THỊ THANH NHÀN
NHÂN VẬT NAM TRONG TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(Khảo sát qua ba tác phẩm Thánh Tông di thảo,
Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ NHÀN
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới Ts Nguyễn Thị Nhàn - người trực tiếp
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn với đề tài: “Nhân vật nam trong truyền kì trung đại Việt Nam (Khảo sát qua ba tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục)
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam đã cung cấp kiến thức và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 7 năm 2018
HỌC VIÊN
Chu Thị Thanh Nhàn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là khách quan, trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Hà Nội, tháng 7 năm 2018
HỌC VIÊN
Chu Thị Thanh Nhàn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu: 7
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
7 Đóng góp của đề tài 7
8 Cấu trúc luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9
1.1 Khái lược về thể loại truyền kì 9
1.1.1 Khái niệm truyền kì 9
1.1.2 Nhân vật trong truyện truyền kì 10
1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục 12
1.2.1 Giới thuyết quan niệm nghệ thuật về con người 12
1.2.2 Cơ sở hình thành quan niệm nghệ thuật về con người/nhân vật nam trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục 13
1.2.3 Biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người/nhân vật nam qua Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục 19
1.3 Giới thiệu ba tác phẩm: Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục 23
1.3.1 Thánh Tông di thảo 23
1.3.2 Truyền kì mạn lục 25
1.3.3 Lan Trì kiến văn lục 26
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT NAM TRONG THÁNH TÔNG DI
THẢO, TRUYỀN KÌ MẠN LỤC VÀ LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC 30
2.1 Thống kê số lượng nhân vật nam trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục 30
2.2 Các loại nhân vật nam trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục 36
2.2.1 Nhân vật kì ảo 36
2.2.2 Nhân vật tôn giáo 48
2.2.3 Nhân vật nam phàm trần 53
2.3 Giá trị biểu hiện của hình tượng nhân vật nam trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục 66
2.3.1 Giá trị giáo huấn 66
2.3.2 Giá trị hiện thực 69
2.3.3 Giá trị nhân đạo, nhân văn 74
2.3.4 Nhân vật nam và sự vận động hình tượng nghệ thuật qua ba tác phẩm 78
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN NHÂN VẬT NAM TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO, TRUYỀN KÌ MẠN LỤC VÀ LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC 82
3.1 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 82
3.1.1 Miêu tả ngoại hình 82
3.1.2 Miêu tả hành động 84
3.1.3 Miêu tả tâm lí nhân vật 88
3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 91
3.2.1 Không gian gia đình, xã hội 91
3.2.2 Không gian thiên nhiên và thời gian đêm tối 94
3.2.3 Không gian/thời gian linh thiêng 97
3.3 Một số thủ pháp nghệ thuật 98
3.3.1 Phàm trần hóa nhân vật kì ảo 98
3.3.2 Siêu nhiên hóa nhân vật phàm trần 100
3.3.3 Yếu tố kì ảo tín ngưỡng dân gian 100
Trang 73.3.4 Yếu tố kì ảo tôn giáo 101
3.4 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 103
3.4.1 Ngôn ngữ người trần thuật 103
3.4.2 Ngôn ngữ nhân vật 105
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Cùng với truyện thơ Nôm, văn xuôi tự sự thời trung đại đã góp phần tạo
nên diện mạo văn học Việt Nam Nó không chỉ là bộ phận cấu thành mà còn phản ánh trình độ tư duy nghệ thuật của nền văn học dân tộc Đồng thời, văn xuôi Việt Nam thời trung đại cũng gắn liền với lịch sử văn học nước nhà
Truyền kì là một thể loại ra đời trong tiến trình phát triển của văn xuôi tự sự
Đó là một dạng thức sáng tác có cội nguồn từ Trung Quốc, được người Việt Nam tiếp thu, làm giàu cho kho tàng văn hóa dân tộc Truyền kì có sức hấp dẫn ngòi bút tác giả cũng như độc giả văn chương Nhắc đến truyền kì không thể không kể đến những tác
phẩm tiêu biểu: Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh)
1.2 Nhân vật là một trong những yếu tố làm nên linh hồn của tác phẩm tự sự
Nhân vật giúp tác giả gửi gắm, bộc lộ ý tưởng nghệ thuật Nhân vật cũng là phương diện giúp nhà văn nhận thức, phản ánh thế giới nhân sinh, thể hiện những quan niệm,
tư tưởng của mình Bên cạnh cốt truyện, thế giới nhân vật đa dạng phong phú trong truyền kì góp phần làm nên thành công của các tác phẩm Cùng với nhân vật nữ, nhân vật nam cũng chiếm số lượng khá nhiều Thời trung đại, người đàn ông là trung tâm của xã hội Tác giả truyền kì đã tập trung thể hiện họ trong tác phẩm Đặc biệt, nhân
vật nam trong ba tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục có những điểm gặp gỡ, tương đồng Qua nhân vật nam, người cầm bút phản
ánh hiện thực cuộc sống, thể hiện tư tưởng nhân đạo, nhân văn, bộc lộ tài năng văn chương Hình tượng nhân vật nam có ý nghĩa thẩm mỹ riêng Chính vì vậy, việc tìm hiểu nhân vật nam trong ba tập truyện trên là một việc làm hết sức cần thiết Điều đó
sẽ giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn, toàn diện hơn về tác phẩm Đồng thời cũng cho thấy vai trò, vị trí của nhân vật nam trong tác phẩm, nhân vật nam trong đời sống văn hóa Nho giáo thời trung đại
1.3 Thể loại truyền kì được đưa vào chương trình giảng dạy ngữ văn ở phổ
thông với một số sáng tác tiêu biểu: Con hổ có nghĩa, Chuyện người con gái Nam
Trang 9Xương, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Trong đó, nhân vật nam là một trong
những hình tượng nhân vật chính được tìm hiểu Thực hiện đề tài này sẽ giúp tác giả luận văn có cái nhìn sâu sắc hơn về thể loại truyền kì, hiểu rõ đặc điểm nhân vật trong truyền kì nhằm phục vụ tốt hơn cho việc giảng dạy ngữ văn ở phổ thông
Với những lí do khoa học và thực tiễn trên, người viết quyết định chọn đề tài:
“Nhân vật nam trong truyền kì Việt Nam thời trung đại (Khảo sát qua ba tác phẩm
Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục)”
2 Lịch sử vấn đề
Căn cứ vào tình hình nghiên cứu hiện nay, có thể thấy loại hình nhân vật nam
trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Lan Trì kiến văn lục là vấn đề chưa
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm một cách toàn diện như một công trình chuyên biệt Những bài nghiên cứu thường đi vào từng tác phẩm riêng lẻ, hoặc kiểu loại nhân vật nào đó Trong khả năng tiếp cận tư liệu, tác giả luận văn điểm qua một số bài viết, một số công trình có đề cập đến nhân vật nam trong ba tác phẩm trên
2.1 Những nghiên cứu liên quan đến phẩm cách nhân vật và nhân vật
nam trong ba tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục
Trong tiểu luận “Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ” (Tạp chí Văn học số 2/1987), Nguyễn Phạm Hùng có nhận xét về biểu
hiện tư tưởng của Nguyễn Dữ Đây cũng là vấn đề quyết định lớn tới việc xây dựng
thế giới nhân vật trong trong tác phẩm của nhà văn Ông viết: “…bản thân tư tưởng, thế giới quan của Nguyễn Dữ cũng biểu hiện sự vận động đầy phức tạp và không loại trừ khả năng có những mâu thuẫn nhất định Nhưng về cơ bản, có thể nói các mâu thuẫn, xung đột của nhiều truyện được triển khai khá thống nhất, tần số lặp lại các
mô thức nghệ thuật trong mối thể hiện các xung đột ở một loạt các tác phẩm viết về người phụ nữ, người trí thức hay các lực lượng thống trị đã làm cơ sở đáng tin cậy cho việc xác định khuynh hướng sáng tác của nó”.[21, tr.15] Cũng trong tiểu luận này, tác giả đã đề cập đến vấn đề người trí thức phong kiến: “Chưa bao giờ trong văn học viết, cho tới lúc đó, vua chúa, quan lại, lại được thể hiện một cách hèn kém, bất
Trang 10tài đến thế […] Quan lại thì độc ác, dâm bạo, bất nhân hoặc có thể như Trụ quốc họ Thân, tướng quân họ Lý, hoặc cách điệu như thần thuồng luồng…Cũng phải kể đến
cả lưc lượng thần quyền nữa.” [21, tr.114 -115]
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam đã có nhận xét về thế giới nhân vật trong Thánh Tông di thảo và Truyền
kì mạn lục như sau: “Khác với các tập truyện thần linh, ma quái, anh tú nêu trên, nhân vật ở đấy đều là nhân vật lịch sử, nhân vật của Thánh Tông di thảo và Truyền
kì mạn lục đều là những người rất đỗi bình thường”[44, tr.350]
Tác giả Trần Thị Băng Thanh khi viết lời tựa Truyền kì mạn lục đã nhấn mạnh:
“vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đạt, bọn gian hiểm, nịnh hót đầy triều đình; những
kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người [ ] đến Hộ Pháp, Long Thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò, thương nhân, nhiều kẻ chìm đắm trong sắc dục” [22, tr.202] Nhà nghiên cứu Lại Văn Hùng cho rằng giọng điệu của Truyền kì mạn lục là giọng biếm trích, ám chỉ: “Nguyễn Dữ đã kéo các nhân vật từ thế giới thần linh, anh kiệt xuống thế giới người với đầy đủ những khổ ải, chết chóc, bi thương, hoan lạc, vui thú, họa phúc, tốt xấu, chính tà” [20, tr.59 - 60]
Trong công trình Văn học Việt Nam từ thế kì X đến giữa thế kỉ XVIII (Tập 2 -
Đinh Gia Khánh chủ biên), tác giả Bùi Duy Tân đã bàn về thế giới nhân vật trong
Truyền kì mạn lục và đặc biệt có nhiều nhận xét dành cho những nhân vật nam trong tác phẩm này: “Nguyễn Dữ đã nhìn thấy sự thật: Bọn quan lại thời đại ông nhiều kẻ không hề có ý tưởng “trí quân trạch dân”, mà dùng thủ đoạn xấu xa để trèo lên bậc thang danh vọng, để vinh thân phì gia” [23, tr 513] Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định đạo Nho, Phật lúc này đã bộc lộ nhiều mặt tiêu cực Vì vậy: “Kẻ sĩ chỉ chuộng
hư văn, bo bo mưu lợi ích cho mình Hơn nữa kẻ sĩ lắm khi chạy theo sự hưởng lạc đồi bại.” [23, tr.513]; còn sư sãi thì: “là bọn vô lại chuyên nghề trộm” [23, tr.514] Mặt khác trong bài viết của mình, tác giả Bùi Duy Tân cũng bổ sung: “Trong nhiều truyện của Truyền kì mạn lục, đối lập với những nhân vật phản diện, tiêu cực, đại
Trang 11biểu cho những cái xấu xa, ông đã xây dựng những nhân vật có nhiều mặt tích cực”
[23, tr.517]
Cùng dòng cảm hứng với các nhà nghiên cứu trên, tác giả Vũ Thanh khi bàn
về vai trò của Nguyễn Dữ trong Truyền Kì mạn lục đối với truyện truyền kì Đông Á
đã có nhận định sau: “Vua thì thường dối trá, tính nhiều tham dục (Chuyện đối đáp của tiều phu ở núi Na), quan lại thì hung tợn, tham lam, hiếu sắc như Lí Hữu Chi (Lý tướng quân), hoặc nham hiểm và thâm độc như Thân trụ quốc (Chuyện nàng Thúy Tiêu)”[46, tr.5]
Trong cuốn Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tác giả Trần Nho Thìn đã trình bày về thế giới nhân vật trong Truyền
kì mạn lục Ở mục này, ông đã khái quát đặc điểm của các nhân vật trí thức, nhân vật
đạo sĩ và người nhà chùa Từ đó, tác giả chỉ ra quan niệm, tư tưởng của Nguyễn Dữ trong tác phẩm
Trong bài “Chân dung nho sĩ và tư tưởng của Nguyễn Dữ trong Truyền kì mạn lục” (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1/2015) tác giả Ngô Thị Phượng đã khảo sát, phân loại nhân vật nho sĩ trong tác phẩm Truyền kì mạn lục và chỉ ra giá trị tư tưởng
của dạng thức nhân vật này
Cũng trong Tạp chí trên, tác giả Đỗ Mĩ Phương có bài “Nhân vật mang màu sắc kì ảo trong truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại” Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra đặc điểm của nhân vật mang màu sắc kì ảo và đóng góp của loại hình nhân vật này cho thể loại truyền kì Việt Nam
2.2 Những vấn đề liên quan đến nghệ thuật xây dựng nhân vật nam trong
ba tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục
Tác giả Bùi Văn Nguyên trong công trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập II (1978), có đưa ra nhận xét chung về nội dung và nghệ thuật của Truyền kì mạn lục như sau: “Truyền kì mạn lục là một tập văn hay, cái hay ở đây không riêng về nội dung phong phú, chi tiết sinh động, nhưng cái hay ở đây còn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, phân tích tâm lý, phô diễn ngôn ngữ” [35, tr.131]
Trang 12Tiểu luận “Yếu tố hư ảo trong Thánh Tông di thảo” của Lê Nhật Ký, in trong
công trình Hoàng đế Lê Thánh Tông - nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc
(Nguyễn Huệ Chi chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 1998), đã khẳng định yếu tố kì ảo
có một vai trò quan trọng và là một trong những yếu tố khắc họa hình tượng nhân vật được sử dụng một cách linh hoạt, đem đến cho tác phẩm những giá trị nhất định Cũng trong công trình trên, tác giả Vũ Thanh trong bài “Thánh Tông di thảo
- bước đột khởi trong tiến trình phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam trung
cổ” đã khẳng định vị trí của Thánh Tông di thảo trong toàn bộ sự phát triển của truyện ngắn trung đại Việt Nam Tác giả nhận xét: “Thánh Tông di thảo là một bước tiến mới trong xu hướng ngày càng mở rộng khả năng sáng tạo nghệ thuật, từng bước tiến tới thoát khỏi ảnh hưởng thụ động của lối ghi chép đơn thuần […] và là sự bắt đầu của lối tư duy kiểu mới của người sáng tác thật sự mang bản sắc của nghệ thuật sáng tạo”[6, tr.422]
Trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử có bàn về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Truyền kì mạn lục Tác giả khẳng định: “Nội tâm các nhân vật được thể hiện bằng thơ - các nhân vật hầu hết đều làm được thơ […] Tuy nhiên chưa hẳn đã ý thức đầy đủ về đời sống nội tâm nhân vật […] Ngôn ngữ nhân vật phần nhiều do tác giả nói thay, chưa có sắc thái cá tính” [44,
tr.352 - 353]
Một tiểu luận của tác giả Trần Nho Thìn có tên “Thi pháp truyện ngắn trung
đại Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9 và 10/2006) cũng đã đề cập đến các
môtip nhân vật trong truyện trung đại Việt Nam Ở đây, tác giả chú ý đến nghệ thuật
xây dựng nhân vật, ông cũng chỉ ra: “Lý tưởng của các học thuyết Nho, Phật, Đạo thường hướng tới những giá trị siêu việt [ ] Lí tưởng ấy chi phối đến việc thể hiện con người nói chung, trong truyện ngắn nói riêng Nhưng cũng có lúc, con người với giá trị trần thế, hiện thực lại hấp dẫn các tác giả hơn Điều đó đã quy định sự thay đổi của các yếu tố thi pháp tả nhân vật” [48, tr.184]
Trong công trình Văn học Việt Nam từ thế kì X đến giữa thế kỉ XVIII (Tập 2 –
Đinh Gia Khánh chủ biên), tác giả Bùi Duy Tân cũng có đề cập đến nghệ thuật xây
Trang 13dựng nhân vật trong Truyền kì mạn lục Ông viết: “Nguyễn Dữ đã xây dựng thành công những nhân vật tiểu thuyết có diện mạo tính cách riêng, có cuộc sống riêng bằng những tình tiết chọn lọc” [23, tr.522]
Tác giả Bùi Duy Tân trong Từ điển văn học (bộ mới) cũng đã đề cập đến nghệ thuật trong Truyền kì mạn lục: “T ruyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật Nó vượt xa những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vào nội tâm nhân vật Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động.” [18, tr.1125].
Nhìn chung khi tìm hiểu về loại hình nhân vật nam, các tác giả chủ yếu tìm hiểu khảo sát nhân vật tri thức, nhân vật nho sĩ, nhân vật kì ảo và đặc điểm của các kiểu nhân vật này Các loại hình này có thể chỉ được xem xét ở từng tác phẩm riêng
lẻ (chủ yếu là Truyền kì mạn lục), có khi lại khảo sát ở mức độ rộng (truyện ngắn
trung đại) Về nghệ thuật xây dựng nhân vật nam, các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vai trò của yếu tố kì ảo, nghệ thuật phô diễn tâm lí nhân vật…Tuy nhiên, các công trình hoặc chỉ đi vào một biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật hoặc chỉ khái quát chung Hình tượng nhân vật nam trong ba tác phẩm tiêu biểu chưa được đánh giá bằng một công trình chuyên sâu nào Vì vậy, tác giả luận văn đi vào nghiên cứu loại hình nhân vật nam trong ba tác phẩm của các tác giả trên
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Luận văn nghiên cứu nhân vật nam trong truyền kì qua ba tác phẩm Thánh
Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục một cách toàn diện: đặc điểm
các loại hình nhân vật nam, giá trị biểu hiện, các phương thức thể hiện nhân vật nam
3.2 Luận văn góp phần khẳng định giá trị của những sáng tác truyền kì qua ba
tác phẩm Trong chừng mực, người viết tìm hiểu về quan niệm nghệ thuật về con người, những giá trị nhân văn, nhân đạo, giá trị thẩm mĩ của hình tượng nhân vật
Trang 14nam, tư tưởng nghệ thuật của người nghệ sĩ, sự vận động của hình tượng nghệ thuật qua việc thể hiện loại hình nhân vật nam trong ba tác phẩm trên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Luận văn làm rõ những khái niệm liên quan đến đề tài: truyền kì, nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người
4.2 Luận văn tìm hiểu hình tượng nhân vật nam trong ba tác phẩm được khảo
sát để chỉ ra các loại hình nhân vật nam, đặc điểm phẩm chất, tính cách, phương thức
xây dựng nhân vật
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dự định sẽ sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu văn học theo loại thể
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp phân loại, thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Các phương pháp và thao tác khác: Thi pháp học, phân tích, miêu tả…
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tìm hiểu, nghiên cứu về nhân vật nam trong truyện truyền kì Việt Nam (đặc điểm loại hình nhân vật nam, giá trị biểu hiện và các phương thức thể hiện)
qua ba tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục
- Luận văn khảo sát ba tác phẩm qua ba văn bản sau:
+ Thánh Tông di thảo, Tủ sách văn học cổ - trung đại Việt Nam, Nxb Văn hoc
Luận văn khảo sát nhân vật nam qua ba tác phẩm tiêu biểu: Thánh Tông di thảo,
Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục một cách toàn diện, hệ thống và sâu sắc hơn Từ đó chỉ ra đặc điểm cuộc đời, phẩm chất, số phận của nhân vật và làm rõ một
Trang 15số phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật nam trong ba sáng tác Luận văn cũng chỉ ra giá trị nhân đạo, nhân văn, thái độ của nghệ sĩ đối với nhân vật nam trong ba sáng tác, thấy được quan niệm nghệ thuật về con người của các tác giả Trong một chừng mực nào đó, luận văn cũng hướng tới một số nhận xét về sự vận động hình tượng nghệ thuật nhân vật nam qua các giai đoạn khác nhau thông qua ba tác phẩm khảo sát
Từ việc khảo sát nhân vật nam qua ba tác phẩm, luận văn giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại nói chung, thể loại truyền kì nói riêng tốt hơn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái lược về thể loại truyền kì
1.1.1 Khái niệm truyền kì
Truyền kì là một loại hình tự sự bằng văn xuôi, thuộc văn học viết, có nguồn gốc từ Trung Quốc Theo các nhà nghiên cứu, thể loại này xuất hiện từ đời Đường và tiếp tục phát triển ở các thời đại sau
Về khái niệm “truyền kì”, có một số cách giải thích như sau:
Giáo sư Trần Đình Sử khi bàn về thi pháp văn học trung đại Việt Nam cho rằng:
“Hai chữ “truyền kì” bao hàm mấy nghĩa sau Một là có ý chuộng lạ (hiếu kì), […] Hai là […] chứa đựng nhiều thể, có thể nhận thấy có tài viết sử, tài làm thơ, tài nghị luận.” [45, tr.349]
Theo tác giả Nguyễn Đăng Na, trong bài viết “Truyền kì mạn lục dưới góc độ
so sánh văn học” (in trong tập Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam), truyền
kì: “là một thể tài của truyện ngắn trung đại Do các nhân vật, tình tiết, kết cấu… của truyện phần lớn là lạ kì đặc biệt, nên người ta gọi chúng là truyền kì”
Đinh Phan Cẩm Vân định nghĩa: “Truyền kì: sách chép những chuyện kì quái” (Tạp chí văn học số10/2000)
Như vậy, chúng ta có thể thấy, quan điểm của các nhà nghiên cứu về thể truyền
kì khá thống nhất Ở đây, chúng tôi đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ
Chi trong Từ điển Văn học (bộ mới), (2004): “Truyện truyền kì là hình thức văn xuôi
tự sự cổ điển Trung Quốc, bắt nguồn từ truyện kể dân gian, sau được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học sử dụng những mô-típ kì quái hoang đường, lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế nhằm gợi hứng cho người đọc”
Truyền kì du nhập vào Việt Nam khá muộn nhưng là thể loại tạo được giá trị và thành công lớn Mặc dù còn chịu ảnh hưởng của truyền kì Trung Quốc, nhưng các tác giả Việt Nam đã có ý thức tiếp thu sáng tạo để truyền kì thành một thể loại quan
trọng của văn học dân tộc Với các tác phẩm tiêu biểu như: Thánh Tông di thảo (Lê
Trang 17Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh)…, thể loại này đã khẳng định sự đột phá và chín
muồi của tự sự Việt Nam thời trung đại
1.1.2 Nhân vật trong truyện truyền kì
1.1.2.1 Khái niệm nhân vật
Về khái niệm nhân vật, hiện nay có khá nhiều tác giả có những cách hiểu, cách trình bày khác nhau
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân cho rằng: “Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống con người” [2, tr.241]
Giáo trình Lí luận văn học tập 2 do Trần Đình Sử chủ biên đã trình bày khái niệm nhân vật như sau: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo thể hiện bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ” [45, tr.114]
Như vậy, mỗi tác giả đã trình bày những cách hiểu khác nhau về khái niệm nhân vật Tuy nhiên, có thể thấy điểm chung ở các khái niệm này là: nhân vật văn học là đối tượng được tập trung miêu tả trong tác phẩm, là nơi tác giả gửi gắm ý đồ nghệ thuật Từ sự nhận thức đó, tác giả luận văn có thể trình bày cách hiểu của mình về khái niệm nhân vật như sau: nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật được nhà văn xây dựng trong tác phẩm bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ Nó giúp nhà văn thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm Nhân vật văn học cũng được hiểu đa dạng,
có thể là con người, có thể là thần linh, ma quỷ…cũng có thể là các con vật, các loài cây…được gắn cho những đặc điểm giống như con người
Về vai trò của nhân vật trong tác phẩm, nhà nghiên cứu G.N.Pospelov đã khẳng
định: “Nhân vật là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm Nó quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu” [38,
tr.157] Như vây, tác giả đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của yếu tố nhân vật trong
Trang 18việc tạo nên giá trị của một tác phẩm.Nhân vật có vai trò khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, tác giả luôn gắn liền với việc thể hiện những vấn đề của đời sống hiện thực
Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm là tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người và quan niệm về thế giới hiện thực mà nhân vật đó đang sống
1.1.2.2 Thế giới nhân vật trong truyện truyền kì
Thể truyền kì có được thành công cũng một phần nhờ thế giới nhân vật được xây dựng công phu trong tác phẩm Nhân vật chính là một trong các yếu tố tạo nên sức cuốn hút cho các sáng tác truyền kì Bởi thế giới nhân vật trong thể loại truyện này vô cùng phong phú đa dạng Nhân vật trong truyền kỳ gồm cả người, ma quỷ, thần thánh Chúng có những mối quan hệ với nhau, có thể xâm nhập vào thế giới của nhau Xét về nguồn gốc, đặc điểm, nhân vật trong truyền kì gồm hai loại: nhân vật kì
ảo và nhân vật là con người phàm trần Nhân vật kì ảo là kiểu nhân vật kì lạ, siêu nhiên, có năng lượng thần kì, không tồn tại trong đời sống hiện thực ở cõi nhân gian Những nhân vật ấy thường là thần, tiên, ma, quỷ, yêu tinh…Nhân vật là con người phàm trần là những con người sống ở cõi trần, không có năng lực siêu nhiên Tuy nhiên cũng có một số nhân vật là con người nhưng có cuộc đời, hành trạng chứa đựng những điều kì lạ
Dựa vào vai trò của nhân vật đối với cốt truyện, trong truyền kì có nhân vật chính và nhân vật phụ Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện trực tiếp (có thể là người hay nhân vật kì ảo), tham gia trực tiếp vào việc dẫn dắt cốt truyện và thể hiện chủ đề
tư tưởng của tác phẩm Loại nhân vật xuất hiện ít hoặc chỉ xuất hiện qua lời kể, lời giới thiệu của nhân vật khác có thể coi là nhân vật phụ
Ngoài ra, xét về đặc điểm phẩm chất, thế giới nhân vật trong truyện truyền kì cũng được phân biệt thành nhiều loại Nếu ở thế giới loài người có người hiền, kẻ ác, người tốt, kẻ xấu thì trong thế giới nhân vật kì ảo cũng vậy Thế giới thần có những
vị thần cứu nhân độ thế (thường là thần, tiên, phật), và cũng có cả những kẻ tác yêu, tác quái gây họa cho con người (thường là ma, quỷ, yêu quái) Bên cạnh những kiểu
Trang 19nhân vật trên, trong truyền kì còn có một số nhân vật không bộc lộ rõ phẩm chất, tích cách
1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Thánh Tông di thảo, Truyền
kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục
1.2.1 Giới thuyết quan niệm nghệ thuật về con người
Đề tài luận văn tìm hiểu về nhân vật nam trong truyện truyền kì qua ba tác phẩm
tiêu biểu: Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục Khi bàn
đến nhân vật nghĩa là bàn đến con người Vì vậy, ở mục này, người viết muốn trình bày quan niệm nghệ thuật về con người thông qua việc thể hiện các nhân vật nam trong ba tác phẩm được khảo sát Từ việc tìm hiểu đó, ta có thể thấy được ý đồ nghệ thuật của các tác giả gửi gắm qua hình tượng thẩm mĩ
Cho đến nay, khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người vẫn còn nhiều cách
lí giải khác nhau:
Đại văn hào Nga thế kỉ XX, M Gor ki từng nói: “Văn học là nhân học” Cùng quan điểm với Gorki, Nhà thơ Tố Hữu cũng khẳng đinh “Con người chính là điểm xuất phát cũng là đích hướng đến của văn học” Trong khi đó, trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học, GS Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người chính là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó”[42, tr.55]
Tiếp thu các khái niệm của các nhà nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật về con người, ta có thể hiểu một cách khái quát như sau: Quan niệm nghệ thuật về con người
là cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn đồng thời cũng là cách nhà văn thể hiện con người trong tác phẩm của mình Quan niệm ấy gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan của chủ thể sáng tạo Mặt khác, nó quy định phương thức biểu hiện nhân vật mà nhà văn lựa chọn Chính vì vậy, nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học
Con người trong thể loại truyền kì cũng mang đặc trưng riêng của thể loại đồng thời nó cũng thể hiện cách nhìn nhận riêng về cuộc sống ở mỗi tác giả Quan niệm
Trang 20của Lê Thánh Tông, của Nguyễn Dữ, và Vũ Trinh cũng có những điểm tương đồng
và khác biệt do mỗi tác giả ở mỗi giai thời khác nhau Vì vậy, tìm hiểu nhân vật nam trong các sáng tác sẽ giúp ta khám phá quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn
1.2.2 Cơ sở hình thành quan niệm nghệ thuật về con người/nhân vật nam trong
Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục
Quan niệm nghệ thuật của một tác giả chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách
quan và chủ quan Các yếu tố khách quan có thể kể đến như lịch sử, xã hội, văn hóa,
tư tưởng, thời đại; các yếu tố chủ quan như tính cách, phẩm chất, năng lực, thị hiếu thẩm mĩ… của tác giả Trong phạm vi của đề tài, luận văn tìm hiểu những yếu tố cơ
sở cho việc hình thành quan niệm nghệ thuật về con người của các tác giả Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ và Vũ Trinh Trong các yếu tố cơ sở ấy có thể kể đến một số yếu
tố then chốt sau:
1.2.2.1 Yếu tố tín ngưỡng dân gian
Văn hóa Việt Nam là văn hóa nông nghiệp Con người vốn sùng bái tự nhiên Trong đời sống tâm linh, người Việt sớm hình thành tín ngưỡng thờ nhiên thần (thần núi, thần sông, thần cây…)
Việt Nam lại là nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn hóa khác nhau Người Việt không tiếp nhận một cách thụ động những văn hóa ngoại lai mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa Sự kết hợp hai yếu tố
đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Trong tín ngưỡng của người Việt, một số lượng lớn các vị thần được thờ phụng và đặc biệt là các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức của họ Họ không thờ duy nhất một vị thần Những thần sông, thần núi, thần rừng, thần biển, thổ thần,…ngay cả giao long, thuồng luồng, rắn,… đều được thờ cúng ở bất kì đâu trên dải đất hình chữ S này Quan niệm này có sự chi phối mạnh mẽ đến thế giới quan của các tác giả truyền kì Các nhân vật là thần xuất hiện ở cả ba tác phẩm cho thấy, thế giới nhân vật nam có
cơ sở từ tín ngưỡng thờ thần của người Việt
Trang 21Dân gian cũng quan niệm vạn vật hữu linh (tất cả mọi vật kể cả những vật vô tri, vô giác đều có linh hồn) Từ cây cối, đồ vật đến các con vật đều đều có thể trở thành những sinh thể Ảnh hưởng từ quan niệm này, trong ba tác phẩm khảo sát xuất hiện các nhân vật nam là tinh của con vật
Đặc biệt, người Việt còn thờ vong hồn người đã mất Họ coi trọng sự sống chết, tin rằng bản thể con người gồm 2 phần: hồn và xác Quan niệm này chính là cơ sở cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ thần Người ta thờ cúng vong hồn vì tin rằng vong hồn của người đã chết có thể tồn tại ở cõi âm và có thể hiện về cõi dương gian mà phù trợ, báo ứng, mà hưng oai, tác quái…
Ngoài ra, tín ngưỡng nhân thần có ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống dân tộc ta Theo quan niệm tâm linh (như đã nói ở trên), con người khi chết đi đều có vong hồn Tuy nhiên, với những người có công lao với cộng đồng, có trí tuệ lớn lao, khi chết đi sẽ được hiển linh thành thần Để phục vụ cho tập tục này, người ta đã xây dựng hệ thống đình, đền, miếu mạo ở khắp mọi nơi Tín ngưỡng thờ thần cũng trở thành một nét văn hóa phổ biến trong cộng đồng Vì vậy, thế giới nhân vật trong truyền kì cũng mang đậm dấu ấn của văn hóa này
Như vậy, tín ngưỡng dân gian chính là một trong những cơ sở cho quan niệm nghệ thuật về con người của ba tác giả truyền kì Chúng ta sẽ thấy rất rõ sự khúc xạ này khi đi sâu tìm hiểu nghiên cứu cụ thể nhân vật nam trong ba tác phẩm khảo sát
1.2.2.2 Tư tưởng Nho giáo
Văn hóa Nho giáo suy cho cùng là văn hóa nam quyền, đề cao uy quyền của nam nhân Các chuẩn mực giá trị của nam nhi tập trung trong các mối quan hệ và các phẩm chất cần có Đó là tam cương, ngũ thường Trong quan niệm của đạo nho, cái học luôn được đề cao Học hành, thi cử là một trong những con đường chủ yếu giúp nam nhi trong xã hội phong kiến lập công, lưu danh Họ thực hiện tốt câu chuyện “tu,
tề, trị, bình” Đây là điểm tích cực của Nho gia Những lí tưởng tốt đẹp này đã thúc đẩy sự đóng góp của người nam nhi cho cộng đồng, cho xã hội Bản thân là những nhà nho và chịu ảnh hưởng lớn từ tư tưởng của nho gia, các tác giả Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ, Vũ Trinh đã thể hiện tư tưởng ấy qua thế giới nhân vật nam Tầng lớp
Trang 22tri thức nho sĩ chiếm số lượng khá đông đảo trong ba tác phẩm khảo sát Từ các nho sinh chưa đỗ đạt đến quan lại đều là những tín đồ của nho gia
Trong gia đình, Nho giáo chủ trương đàn ông là trụ cột Đó là mô hình gia đình phụ quyền Trong gia đình ấy, người đàn ông làm chủ, quyết định đời sống tinh thần cũng như công việc Người phụ nữ chỉ thuận tòng Họ thuận tòng cả những điều phi
1.2.2.3 Phật giáo và Đạo giáo
Cùng với Nho giáo, Phật giáo vá Đạo giáo sớm du nhập vào Việt Nam Trong quá trình phát triển của văn học trung đại, tôn giáo đã cung cấp cảm hứng, chủ đề và gợi ý một số thể loại văn học, trong đó có thể truyền kì
Phật giáo có sức ảnh hưởng và tác động rộng khắp đến hầu hết các tầng lớp trong xã hội, nhất là tầng lớp bình dân Tư tưởng triết học Phật giáo là tư tưởng triết học hướng nội, đề cao chữ “tâm”, là tôn giáo vì con người và về con người, hướng con người vươn tới cái thiện Trong nhiều cảnh giới, Phật giáo cũng kêu gọi con người phải từ bỏ những bản năng thấp hèn như ái dục (ham muốn), vô minh (kém sáng suốt), tham - sân - si (lòng tham, giận dữ, ngu dốt) Phật giáo chi phối sâu sắc đời sống sinh hoạt của con người, của tác giả văn học thời trung đại Những quan niệm nhân quả báo ứng, luân hồi, chuyển kiếp được biểu hiện khá rõ qua những sáng tác truyền kì khảo sát
Bên cạnh Nho giáo và Phật giáo thì Đạo giáo cũng là một trong những tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống của người Việt Nam Đạo giáo có nguồn gốc từ Trung Quốc là một trong những hệ tư tưởng lớn của đất nước có nền văn minh cổ xưa nhất này Đạo giáo có nhiều phái Ảnh hưởng tới giới trí thức Việt Nam thời trung đại sâu sắc nhất là đạo tu tiên với chủ trương dạy tu luyện, luyện đan, cầu trường sinh bất tử Mặt khác, Đạo giáo phù phù thủy dễ dàng bắt rễ, ăn sâu vào văn hóa của người
Trang 23Việt bởi từ xưa họ đã rất sùng bái ma thuật, những quyền lực siêu nhiên, phù phép…Họ tin người chết có thể giao tiếp với người sống, vong hồn đã chết cần được thờ cúng, lập đàn tràng giải oan, các phép thuật bói toán, trừ tà, trừ bệnh có thể cứu giúp, giải thoát con người
Bên cạnh đó, tư tưởng Lão - Trang có ảnh hưởng sâu xa trong tâm thức của người Việt Nam Tư tưởng Lão - Trang đề cao tự nhiên, quay trở về cuộc sống hòa hợp với
tự nhiên, chủ trương bất tranh, không tham dự vào tranh quyền đoạt lợi, xa lánh những
hệ lụy cuộc đời Ảnh hưởng từ học thuyết tư tưởng này, tác giả truyền kì đã xây dựng rất nhiều hình tượng nhân vật trí thức có tư tưởng phóng khoáng tự do, không thích đem thân vào vòng danh lợi, tìm cảnh an nhàn, ung dung, tự tại
Tóm lại, tín ngưỡng tôn giáo là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đền đời sống văn hóa dân gian đồng thời chi phối tư tưởng, quan điểm của các người cầm bút thời trung đại Đọc các tác phẩm truyền kì, chúng ta có thể nhận thấy rất rõ điều này trong các sáng tác
1.2.2.4 Hiện thực đời sống xã hội đương thời
Văn học phản ánh hiện thực và con người bao giờ cũng là sản phẩm của một hoàn cảnh cụ thể nào đó Nhân vật nam trong văn học trung đại nói chung và trong các tác phẩm truyền kì cũng góp phần tái hiện đời sống xã hội Xây dựng hình tượng nhân vật nam, tác giả truyền kì đã chịu sự chi phối mạnh mẽ từ hoàn cảnh hiện thực
Trong Thánh Tông di thảo, tác giả ngợi ca cuộc sống thanh bình của một xã hội
phong kiến thịnh trị Chủ thể sáng tác cũng đề cao trật tự phong kiến và những con người chấp chính Nội dung ấy phản chiếu một phần gương mặt xã hội đương thời nửa cuối thế kỉ XV.Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về thời Lê Thánh Tông như sau:: "Vua sáng lập chế độ văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được”
[36, tr.429]
Sau thời đại thịnh trị của Lê Thánh Tông, chế độ phong kiến bắt đầu có những biểu hiện khủng hoảng Những hôn quân xuất hiện như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực Ngoài xã hội, tình trạng đạo đức xuống cấp, nhân tình thế thái rối loạn Các tập đoàn
Trang 24phong kiến tranh giành quyền lực, nội chiến liên miên Trước thực tại đó, tầng lớp trí thức bắt đầu phân hóa Lý tưởng kẻ sĩ lung lay Nguyễn Dữ chọn con đường ở ẩn nơi núi rừng để giữ mình trong sạch Ông chỉ buông bỏ công danh mà không lãng quên hiện thực đang diễn ra Mượn xưa để nói nay, mượn cái kì ảo để để nói cái thật, ông
viết Truyền kì mạn lục để tái hiện thực trạng xã hội
Nếu Nguyễn Dữ sống trong giai thời chế độ phong bắt đầu đi xuống thì Vũ Trinh sống trong giai đoạn đầy biến động, thăng trầm của lịch sử nước nhà Tây Sơn đánh đuổi quân Thanh xâm lược, triều Lê sụp đổ, rồi Nhà Nguyễn tiêu diệt Tây Sơn
Biết bao biến cố lớn của lịch sử diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn Lan Trì kiến văn lục ra đời trong bối cảnh lịch sử đó (thời gian ông sống ẩn dật ở Hồ Sơn
(Nam Định), khoảng những năm 1793-1794 cuối đời Tây Sơn, đầu đời Gia Long) Với những câu chuyện thật, hoặc hư cấu, Vũ Trinh đã phản ánh một cách sinh động thời cuộc bể dâu và nỗi đau đớn của con người trước hưng vong của lịch sử
1.2.2.5 Yếu tố tác giả - chủ thể sáng tạo
Bên cạnh những yếu tố tác động từ bên ngoài, cá nhân nhà văn/chủ thể sáng tạo
có vai trò quyết định trực tiếp đến quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm Các yếu tố về bản thân tác giả như tiểu sử, cuộc đời, con người, quan điểm, tư tưởng
sẽ chi phối tư duy nghệ thuật, quan điểm của nhà văn trong cách nhìn nhận con người, cắt nghĩa hiện thực và thể hiện hình tượng trong tác phẩm
Qua ba tác phẩm: Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục, ta thấy quan niệm nghệ thuật về con người của ba tác giả có sự khác biệt Căn
nguyên của nó chính là do các tác giả sống ở những thời đại khác nhau, thân phận, địa vị, con người và số phận khác nhau
Lê Thánh Tông (1442-1497) là hoàng đế thứ năm của vương triều Hậu Lê
nước Đại Việt Đây là vị vua anh minh, sáng suốt Suốt 38 năm trị vì, Lê Thánh Tông
đã thi hành nhiều chính sách cải cách quan trọng trong lịch sử nước nhà Thời Lê Thánh Tông, nhà nước vững vàng, nho học cực thịnh Thời đó, trí thức được tôn vinh, người tài được trọng dụng
Những đặc điểm riêng về phẩm chất cá nhân, quan điểm của Lê Thánh Tông
được thể hiện rất rõ trong các sáng tác thơ văn của ông cùng quần thần qua tập Hồng
Trang 25Đức quốc âm thi tập Ở tập thơ này, cảm hứng tụng ca xuyên suốt các sáng tác Vua
tôi Lê Thánh Tông tập trung vào các chủ đề: vua sáng, tôi hiền; tái hiện bức tranh xã
hội thái bình thịnh trị; đạo đức phong kiến Có thể kể đến một số bài như: Vịnh năm canh, Tự thuật, Quân thần, Huynh đệ, Khổng Thánh Văn Miếu, Quân tử trúc… Trong Thánh Tông di thảo cảm hứng ngợi ca giang sơn, xã tắc và tư tưởng giáo huấn vẫn là
cảm hứng chủ đạo Dù nói về chuyện yêu ma hay thần phật nhưng nhà vua vẫn hướng người đọc đến những tấm gương đạo đức hoặc nhắc nhở con người về trách nhiệm với đất nước
Nguyễn Dữ xuất thân trong một gia đình khoa bảng (Cha ông là tiến sĩ đời Lê Thánh Tông), bản thân ông cũng là người học rộng, tài cao Giống như nhiều trí thức đương thời, ông chỉ làm quan một năm rồi xin về quê ẩn dật Chiến tranh kéo dài, xã hội rối ren kéo theo sự đổ vỡ lí tưởng của tầng lớp nho gia Bản thân Nguyễn Dữ cũng không nằm ngoài vòng xoáy ấy Điều đặc biệt ở ông so với các nhà nho ẩn dật khác thời trung đại như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Ngô Thế Lân hay Nguyễn Khuyến chính là: từ sự bất đắc chí, bất hợp tác với triều đại đương thời, Nguyễn Dữ
đã nhanh chóng chuyển ẩn dật trở thành một lẽ sống, một lối sống Ông thoả mãn, yên tâm và yên tĩnh với lối sống đó cho đến hết cuộc đời Sáng tác của ông theo đó
mà không mang cảm xúc dằn vặt đến đớn đau, khắc khoải, không mang tâm trạng lưỡng lự giữa sự ở và về như một số nhà nho ở ẩn khác Nguyễn Dữ cũng chính là một trong số ít nho sĩ ẩn dật phát biểu và mô tả khá trực diện về đặc điểm lối sống ẩn
dật của mình Đặc biệt trong tác phẩm Truyền kì mạn lục, ông thể hiện khá rõ điều này (Cuộc đối đáp của người tiểu phu núi Na)
Khác với Nguyễn Dữ, Vũ Trinh lại là một nhà nho có lối hành xử đặc biệt hơn
Ông sinh ra trong gia đình nho học và quan lại nhưng cuộc đời lại nổi chìm cùng những dâu bể của một thời loạn lạc Vũ Trinh dốc hết sản nghiệp phò Lê nhưng bất
thành Khi triều Tây Sơn chấm dứt, Vũ Trinh làm quan cho Gia Long Nhưng sau vụ bênh con trai Nguyễn Văn Thành - tổng trấn Bắc Hà có thơ phản nghịch, Vũ Trinh bị bắt đi đày ở Quảng Nam 12 năm, ông mất lúc 70 tuổi
Trang 26Xét về chính trị, ông là người trung quân, phò Lê dẫu tập đoàn Lê - Trịnh đã vào thời mạt Cũng như bao nho sĩ trẻ tuổi cùng thời như Nguyễn Du (1765-1820), Nguyễn Án (1770-1815), Phạm Đình Hổ (1768-1839) , Vũ Trinh cũng bị cuốn vào
dòng thời cuộc với tâm trạng: "Một phen thay đổi sơn hà/ Mảnh thân chiếc lá biết là
về đâu"
Với tâm trạng ấy, Vũ Trinh viết Lan Trì kiến văn lục (Chép những chuyện nghe
và thấy của Lan Trì) Mục đích viết sách của ông không chỉ nhằm ghi lại những việc tai nghe mắt thấy mà còn thể hiện tấm lòng ưu thời mẫn thế, ý tưởng giữ gìn truyền thống, sửa sang phong tục Truyện của ông nói đến nhiều việc, nhiều mặt khác nhau của đời sống, lúc thật lúc ảo, nhưng hầu hết đều ngụ ý sâu xa như một nỗi niềm tâm
sự, khao khát cuộc sống yên bình
1.2.3 Biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người/nhân vật nam qua Thánh
Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục
1.2.3.1 Con người, “phức thể” của những tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo
Trong phần tìm hiểu về cơ sở của quan niệm nghệ thuật của ba tác phẩm khảo sát, chúng ta thấy, quan niệm nghệ thuật về con người/nhân vật nam là sự phức hợp, cộng hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy thế giới nhân vật trong các tác phẩm cũng phong phú, đa dạng Đặc biệt đối với lực lượng được coi là trung tâm của xã hội phong kiến (người đàn ông), sự thể hiện đó lại càng rõ rệt Họ là sản phẩm của tư duy tôn giáo phức hợp Ta gặp trong truyện những vị thần như thần núi, thần sông,
thần trong các đền miếu: Thần núi, Thần sông (Ngọc nữ về tay chân chủ), Thần Sơn
Âm và thần Sơn Dương (Truyện hai thần hiếu đễ) Các vị thần này chính là sản
phẩm của văn hóa thờ Thần của người Việt Nhân vật thần tiên còn là sản phẩm của Đạo giáo Với ảnh hưởng của đạo này, các tác giả đưa người đọc cùng Phạm Tử Hư lên chốn thiên tào, lại cùng với chàng Từ Thức đến với thế giới thần tiên Là quốc gia đón nhận đạo Phật từ rất sớm, quan niệm và giáo lí nhà Phật ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam Vì vậy thế giới nhân vật trong các tác phẩm truyền kì cũng mang đậm dấu ấn này Họ chính là những nhân vật đầu thai, là sản phẩm của thuyết luân
hồi (Chuyện gã Trà Đồng giáng sinh, Nghiệp oan của Đào Thị) Đồng thời, xuất phát
Trang 27từ tín ngưỡng thờ vong linh người chết, những nhân vật là các hồn ma cũng xuất hiện
tương đối nhiều trong ba tác phẩm (Nghiệp oan của Đào Thị, Chuyện cây gạo…) Ngoài ra, nhân vật nam trong ba tác phẩm này còn là tinh của các loài vật (Truyện tinh chuột, Đứa con của rắn…)
Đặc biệt nhân vật nam trong các tác phẩm khảo sát còn mang đậm dấu ấn của Nho giáo Họ là những bậc quân vương, quan lại, nho sĩ, học trò ….luôn thấm nhuần
tư tưởng nho gia Dù được phân hóa theo những chiều hướng khác nhau nhưng tựu chung họ đều là sản phẩm chịu ảnh hưởng của Nho giáo Đó là chàng Chu Sinh
(Duyên lạ ở Hoa quốc), quan Tư Lập (Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều), hay
Đỗ Uông (Thượng thư họ Đỗ)…
1.2.3.2 Con người với những trải nghiệm nhân sinh
Dù thế giới nhân vật trong tác phẩm được tái hiện là ma quỷ hay thần tiên, các tác giả đều nhằm mục đích thể hiện những vấn đề liên quan đến con người Con người trong ba tác phẩm khảo sát đều trải qua những hoàn cảnh, những số phận khác nhau
Điều này cho thấy các nhà văn đã ngày càng đưa truyền kì tới gần hơn với cuộc sống
và những con người bình thường Nếu ở Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái nhân vật chủ yếu được xây dựng từ lịch sử, từ văn học dân gian, thì đến Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Lan Trì kiến văn lục tác giả lựa chọn vị trí trung tâm cho tác
phẩm của mình là hình tượng con người trần tục Họ được khai thác ở những khía cạnh của cuộc sống với những khát khao rất đỗi bình thường mang tính người Có những khát khao dấn thân hành đạo, có những khát khao hạnh phúc cá nhân, có những dục vọng sa đọa lạc lối… Con người hiện lên trong cái nhìn tổng thể, họ không chỉ
có trách nhiệm với đời mà còn có những khát vọng, khát khao được yêu đương và được thỏa mãn những nhu cầu về bản năng con người Mặt khác, ba tác giả cũng chú trọng thể hiện sự đa dạng trong thế giới nhân vật Họ có thể thuộc tầng lớp quân
vương (nhân vật xưng tôi trong Thánh Tông di thảo), có thể là quan lại quý tộc (Trịnh thái thú trong Chuyện đối tụng ở Long cung,Từ Thức trong Từ Thức lấy vợ tiên…), cũng có thể đó là những người lao động bình dân (Thúc Ngư trong Chuyện lạ nhà thuyền chài, anh học trò trong Truyện Tinh chuột…) Về phẩm chất và số phận, họ
Trang 28có thể là những nhà nho thành đạt, những con người tận hiếu, tận trung (Ngô Tử Văn
trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Dương Thiên Tích trong Chuyện gã Trà Đồng giáng sinh…), họ cũng có thể là những con người tha hóa (Hà Nhân trong Cuộc
kì ngộ ở trại Tây, người đàn ông họ Hoàng trong Con hổ hào hiệp); có khi là con người với những bi kịch trong cuộc đời (Trọng Quỳ trong Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, sư Vô Kỉ trong Nghiệp oan của Đào Thị…) Tóm lại, thế giới nhân vật ở đây
cũng trải qua cuộc sống trần ai với những hỷ, nộ, ái, ố…, cũng có lý tưởng, cũng có thành công và cũng có những đam mê, lầm lạc như biết bao con người bình thường trong cõi nhân sinh
1.2.3.3 Con người thách thức, vượt lên trên số phận
Nhân vật trong ba tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Lan Trì kiến văn lục còn là những con người vượt lên trên số phận, không cam chịu trước sự
an bài của số phận Điều này được thấy rõ ở các nhân vật: Chu Sinh (Duyên lạ ở Hoa quốc), Dương Thiên Tích trong (Chuyện gã trà đồng giáng sinh), Vũ Khâm Lân (Ca
kĩ họ Nguyễn), Nguyễn Thực (Phu nhân Lan quận công)… Mặc dù gia tư nghèo khó,
song việc học luôn luôn được các nho sinh coi trọng Đằng sau sự nghèo túng ấy là một ý chí, nghị lực vượt qua số phận Chính niềm tin và nghị lực vươn lên trong cuộc sống đã giúp nho sinh chiến thắng khó khăn và khẳng định mình Nghèo khổ, đói rét
là những thử thách nhưng không làm chùn bước chân đến với cửa Khổng sân Trình của họ Qua những nhân vật này, các tác giả đã đưa người đọc đến một niềm tin: cuộc đời của mỗi con người đều gặp những khó khăn, gian khổ, chỉ cần có đủ kiên nhẫn
để chịu đựng và vượt qua khó khăn thì sẽ thành công
Ngoài ra, ta còn gặp những con người không chịu an bài trước số phận như Từ
Thức (Từ Thức lấy vợ tiên) hay Vô Kỉ (Nghiệp oan của Đào Thị) Từ Thức đã đạt
được thành công nhất định trên con đường công danh khoa cử Nhưng chàng nho sinh
ấy không dừng lại ở việc làm quan bình thường mà lại có những đam mê phóng khoáng, tự do Chàng đã lựa chọn con đường riêng để thỏa mãn đam mê, trả ấn tín,
từ quan Sư Vô Kỉ đã quy y cửa Phật mà lòng trần không dứt vẫn chạy theo ái tình cùng Đào Thị, ngay cả khi chết đi rồi vẫn tìm cách hóa kiếp khôn lường để được thỏa
Trang 29nguyện Xây dựng những nhân vật như vậy, phải chăng các tác giả truyền kì muốn thể hiện một quan điểm nhân sinh mới mẻ Đó chính là tư tưởng vượt ra khỏi khuôn phép, lễ giáo để sống thật với chính mình, để khẳng định bản thân mình Đây là điều vượt thoát trong tư duy văn học trung đại, nhưng cũng đã phần nào khẳng định tư tưởng nhân đạo mới mẻ của các tác giả
1.2.3.4 Con người với những “mâu thuẫn phức tạp đa chiều”
Nếu trong văn học dân gian, con người được phản ánh là con người nhất phiến, một chiều thì tới truyền kì, con người được các nhà văn tái hiện là những con người với những mâu thuẫn phức tạp đa chiều Con người tồn tại trong xã hội chịu sự chi phối của rất nhiều mối quan hệ chằng chằng chéo Nhân vật nam trong các thiên truyền kì cũng được đặt trong những mối quan hệ đa dạng đó Họ được đánh giá trong các quan hệ như vua tôi, cha con, thầy trò, vợ chồng… Có những nhân vật, ở mối quan hệ này họ là chuẩn mực nhưng ở mối quan hệ khác lại chưa hẳn như vậy Chẳng
hạn chàng Thúc Ngư (Truyện lạ nhà thuyền chài), đứng trên phương diện người con
trong gia đình, chàng là người con hiếu thảo Từ góc độ là người đàn ông trong xã hội, Thúc Ngư lại không có lí tưởng, không chịu đèn sách để thi thố với đời Như vậy, chàng cũng chưa phải là người đàn ông chuẩn mực theo quan niệm nho gia Vũ
Khâm Lân (Ca kĩ họ Nguyễn) cũng là nhân vật được xây dựng “đa nhân cách” Vũ
Khâm Lân là chàng nho sinh có ý chí, là người con hiếu thảo với gia đình Nhưng xét trong mối quan hệ với cô ca kĩ họ Nguyễn, người con gái đã nuôi chàng ăn học thành tài tài, Vũ Khâm Lân trở thành kẻ bội bạc Như vậy, nhân vật nam trong các sáng tác truyền kì hiện lên là những con người đa diện, được nhìn nhận ở những phương diện, những khía cạnh khác nhau, được soi chiếu qua nhiều mối quan hệ
Do ảnh hưởng đan xen của nhiều hệ tư tưởng tôn giáo khác nhau nên nhân vật nam trong truyền kì cũng có những mâu thuẫn trong suy nghĩ và hành động.Nổi bật
là mâu thuẫn của lẽ “xuất - xử” Theo quan niệm nho gia, người đàn ông phải học
hành, đỗ đạt để ra làm quan, để phò vua, giúp nước Tâm thế của họ luôn là “nhập thế” và “hành đạo” Tuy nhiên, một số nhà nho lại không thực hiện theo lí tưởng ấy Sau khi học hành, đỗ đạt, họ lựa chọn cho mình con đường ẩn dật, lánh đục về trong
Trang 30Như vậy, bản thân họ đã mâu thuẫn với chính mục tiêu, lí tưởng của mình Hành động
đó của họ lại có cơ sở từ tư tưởng Lão - Trang Điều đáng lưu ý là, một số nhân vật trong ba tác phẩm khảo sát còn được tái hiện với những mâu thuẫn ngay trong bản
thân con người họ Thầy Dương Trạm (Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào) đã
chỉ ra những mục ruỗng, thối nát của xã hội nơi trần thế, hướng Phạm Tử Hư đến với một thế giới thiên tào lí tưởng Tuy nhiên, thầy vẫn khuyên Tử Hư phải chăm chỉ đèn
sách, bút nghiên để đỗ đạt và ra làm quan Người tiều phu (Chuyện người tiều phu ở núi Na) mặc dù đã sống lánh đời, ẩn dật nhưng lòng vẫn hướng về cuộc sống trần tục với nỗi niềm canh cánh với dân, với nước Từ Thức (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên) đã
xác định ngao du sơn thủy, phóng khoáng tự do mới là lẽ sống, vậy mà khi ở cõi tiên vẫn không nguôi nhớ nhà, nhớ về cõi trần mà chàng đã từng buông bỏ Điều này vẫn cho thấy tinh thần nhập thế của nho sĩ đương thời
Qua tìm hiểu, ta có thể khẳng định, nhân vật nam trong các tác phẩm khảo sát được tái hiện với những mâu thuẫn phức tạp Điều đó phản ánh sự lung lay, đổ vỡ trong lí tưởng nho gia của người cầm bút, sự tác động chi phối của nhiều luồng tư tưởng, tôn giáo, của thực trạng đời sống nhân gian Đồng thời đó cũng là những khao khát vượt ra khỏi khuôn khổ lễ giáo phong kiến Qua đó, tác giả thể hiện giá trị nhân đạo của hình tượng, của các tác phẩm.
1.3 Giới thiệu ba tác phẩm: Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục
1.3.1 Thánh Tông di thảo
Thánh Tông di thảo được coi là tác phẩm mở đầu cho thể loại truyền kì Việt
Nam Đồng thời, đây cũng là cái tên do người đời sau đặt cho một tác phẩm gồm 19 thiên, được viết theo thể loại truyền kỳ, tạp ký và ngụ ngôn (sau gọi chung là truyện)
Về tác giả, hiện nay trong giới nghiên cứu còn những ý kiến chưa đồng nhất Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na khẳng định Lê Thánh Tông là tác giả của tập truyện
này, nhưng ông cũng thận trọng lưu ý: “trong đó có những thiên có thể không phải
do Lê Thánh Tông viết” [29, tr.151] Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân cũng khẳng định:
“Có thể xem Thánh Tông di thảo là một tập sách, trong đó có những bài do Lê Thánh
Trang 31Tông viết, người đời sau sửa chữa; có những bài do người đời sau viết them [18, tr.1636 -1637] Một luồng ý kiến nữa cho đây là tác phẩm khuyết danh Chúng tôi theo ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na và một số nhà nghiên cứu khác.
Theo tài liệu chúng tôi khảo sát, tác phẩm gồm một lời tựa và 19 thiên Lời tựa được cho là của chính tác giả Tài liệu in gộp cả hai quyển thượng và quyển hạ Quyển
thượng gồm: Truyện yêu nữ Châu Mai, Truyện dòng dõi thiềm thừ, Truyện hai Phật cãi nhau, Truyện người hành khất giàu, Truyện hai thần nữ, Phả kí sơn quân, Bức thư của con muỗi, Duyên lạ ở Hoa quốc, Trận cười ở núi Vũ Môn, Truyện lạ nhà thuyền chài, Lời phân xử cho anh điếc và anh mù, Ngọc nữ về tay chân chủ, Truyện hai thần hiếu đễ Quyển hạ gồm: Truyện chồng dê, Người trần ở thủy phủ, Gặp tiên
ở hồ Lãng Bạc, Truyện một giấc mộng, Truyện tinh chuột, Một dòng chữ lấy được gái thần Trong đó có 15/19 thiên viết về nhân vật nam
Nếu Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục, thường ghi lại những tích có
sẵn, thì trong Thánh Tông di thảo, tác giả hoặc dựa vào truyện dân gian, hoặc dựa
vào những sự kiện lịch sử (có liên quan đến thời kháng chiến chống Minh và thời của vua Lê Thánh Tông), hoặc dựa vào văn liệu hay thực tế cuộc sống để cấu tạo nên
truyện mới Như vậy, Thánh Tông di thảo là một tác phẩm, trong đó có phóng tác, có
tái tạo và có cả hư cấu
Trong Thánh Tông di thảo có những truyện bộc lộ lòng căm thù giặc Minh của nhân dân; có truyện phê phán Phật giáo, đả kích rất mạnh giới sư sãi vô dụng; có truyện về thần tiên; có truyện đề cập đến tình yêu lứa đôi với những nhân vật nữ nết
na, đức hạnh và chung thủy; lại có truyện mang nội dung giáo huấn Cuối mỗi thiên lại kèm lời bàn của Sơn Nam Thúc, nhằm bộc lộ thái độ, tư tưởng, tình cảm của tác giả.Tuy nhiên tất cả đều hàm ẩn những điều giáo huấn sâu sắc về đạo đức đối với nhiều tầng lớp: từ đấng quân vương cho đến kẻ thường dân như đạo làm vợ, làm con,…Về nghệ thuật, nhiều truyện rất hấp dẫn, bút pháp vững vàng, hình tượng sinh động, lời văn trau chuốt Bên cạnh đó, tác phẩm còn toát lên tiếng cười trào phúng
đầy chất trí tuệ Với những thành công ấy, Thánh Tông di thảo chính là một cột mốc
Trang 32đánh dấu bước tiến của văn tự sự, từ chỗ nặng về ghi chép sự tích cũ đến chỗ sáng tạo những truyện mới
Như vậy, Thánh Tông di thảo có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt
Nam Đây là mốc đánh dấu cho sự ra đời của thể truyền kì ở nước ta Sự sáng tạo của chủ thể mở đường cho lối viết văn mang tính nghệ thuật ở những giai đoạn sau
Dữ viết ra tập lục trong thời gian ông ẩn cư ở rừng núi xứ Thanh Tuy nhiên, theo
giới nghiên cứu, có thể Nguyễn Dữ đã sáng tác Truyền kì mạn lục trong nhiều giai
đoạn của cuộc đời và được hoàn thiện trong thời gian ông cáo quan về ở ẩn (sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527)
Tác phẩm gồm 20 thiên, viết bằng chữ Hán, theo nhiều thể loại tản văn (văn xuôi), xen lẫn biền văn (văn có đối) và thơ ca, từ, cuối mỗi truyện có lời bình của tác giả hoặc của một người có cùng quan điểm của tác giả Giống như nhiều sáng tác thời trung đại, 20 thiên trong tác phẩm này cũng được ghi dưới nhiều thể tài khác nhau ở nhan đề: truyện (6 thiên), kí (5 thiên), lục (9 thiên)
Theo tài liệu khảo sát, mở đầu tác phẩm là lời tựa của Hà Thiện Hán và Nguyễn
Lập Phu Hai mươi truyện trong Truyền kỳ mạn lục bao gồm: Câu chuyện ở đền Hạng vương, Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện cây gạo, Chuyện gã Trà Đồng giáng sinh, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện đối tụng ở long cung, Chuyện nghiệp oan của Đào Thị, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào, Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na, Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, Chuyện nàng Thúy Tiêu, Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện Lý tướng quân, Chuyện
Lệ Nương, Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa, Chuyện tướng Dạ Xoa
Hầu hết các truyện ghi lại những việc xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc
đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục, hình như Nguyễn
Trang 33Dữ muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của một người chỉ ghi chép, góp nhặt các truyện
cũ Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại, kết cấu, xây dựng lại nhân vật; thêm bớt tình tiết, nhân vật; trau chuốt ngôn từ sáng tạo thành những thiên truyện mới Vì vậy, tuy dấu hiệu là
những truyện cũ nhưng Truyền kỳ mạn lục lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỉ XVI
Căn cứ vào tính chất của các truyện, Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục mà là một sáng tác văn học
mang đậm bản chất đặc trưng văn chương nghệ thuật Đó là một tập truyện phóng tác, mang dấu ấn của cá nhân Nguyễn Dữ, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán
Chúng tôi xin trích nhận xét của nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân để đánh giá
Truyền kì mạn lục một cách khái quát nhất: “ Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian” [18, tr.1125]
Tóm lại, trong 20 truyện của Truyền kỳ mạn lục, truyện nào cũng thể hiện một
quan điểm chính trị, một thái độ nhân sinh, một ý tưởng đạo đức của Nguyễn Dữ Ông gửi gắm những mơ ước, khát vọng về một xã hội mà mọi người được sống yên bình trong nền đức trị, trong sự công bằng, trong tình cảm yêu thương nhân ái giữa con
người với con người Đó chính là giá trị nhân văn lớn lao của Truyền kỳ mạn lục
1.3.3 Lan Trì kiến văn lục
Lan Trì kiến văn lục là tác phẩm do Vũ Trinh chấp bút vào thời gian ông sống
ẩn dật ở Hồ Sơn (khoảng những năm 1793-1794 cuối đời Tây Sơn, đầu đời Gia
Long) Lan Trì kiến văn lục tiếp nối dòng truyện truyền kỳ, bắt đầu từ thế kỉ XVI với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Lan Trì kiến văn lục là tập truyện gồm 4 lời tựa và 45 truyện, viết bằng văn xuôi
chữ Hán Theo tài liệu khảo sát, bốn lời tựa lần lượt được viết bởi các tác giả: Ngô Hoàng, Tín Như Thị, Trần Danh Lưu, Nguyễn Tử Kính 45 truyện trong tác phẩm cụ
thể là: Dốc đầu sấm, Thần cửa Cờn, Đứa con của rắn, Tiên trên đảo, Nguyễn Quỳnh,
Trang 34Phạm Viên, Tiên ăn mày, Con hổ có nghĩa, Đẻ lạ, Sống lại, Gái biến thành trai, Thằng trộm, Ca kĩ họ Nguyễn, Câu chuyện tình ở Thanh Trì, Cá thần, Khỉ, Con hổ hào hiệp,
Bà đồng, Phu nhân Lan quận công, Nhớ kiếp trước, Thượng thư họ Đỗ, Thần giữ của, Ma trơi, Người con gái trinh liệt ở Cổ Trâu, Người đàn bà trinh tiết ở Thạch Thán, Đánh ma, Điềm báo trước, Nguyễn Danh Dược, Nhớ ba kiếp, Rắn thiêng, Thầy tướng, Thần đền Chiêu Trưng, Hang núi giữa biển, Người khổng lồ, Gấu hổ chọi nhau, Con giải, Ma cổ thụ, Liên Hồ quận công, Con hổ nhân đức, Nguyễn Trật, Tháp Báo Ân, Trạng nguyên họ Nguyễn, Núi trên biển, Đá nổi, Mộng lạ.Trong đó số lượng
truyện về nhân vật nam tương đối lớn (34/45 truyện)
Chủ đề của tập truyện này cũng khá phong phú Có những chuyện viết về tình yêu nam nữ, có chuyện kể về những báo ứng luân hồi hay đền ơn trả nghĩa, có chuyện
về giáo dục thi cử, lại có những chuyện kì quái khó tin…Hầu hết các truyện đều có
cơ sở từ những truyền thuyết dân gian đương thời mà Vũ Trinh sưu tập được trong thời gian về ở ẩn
Mặc dù viết về những chuyện tản mạn nhưng lập trường tư tưởng và phong cách nghệ thuật của tác giả khá nhất quán Thế giới nhân vật của Lan Trì Ngư giả được thể hiện ở hai chiều hướng Theo chiều hướng tiêu cực, Vũ Trinh tái hiện hững con người tàn bạo, phi nhân tính Ở phương diện này, ông thể hiện thái độ phê phán sâu sắc Còn theo chiều hướng tích cực, ông chủ yếu tái hiện những con người có hoàn cảnh
bi đát, cùng cực nhưng vẫn ngời sáng những phẩm chất tốt đẹp cao quý
Trong 45 truyện của Lan Trì kiến văn lục, có những truyện khá hấp dẫn nhưng
cũng có truyện chưa thực sự có sức thu hút mạnh mẽ Tuy nhiên, tất cả đều được Vũ Trinh viết bằng văn phong ngắn gọn, chặt chẽ, súc tích
Vũ Trinh là người khá bảo thủ trong quan điểm chính trị, nhưng trong văn chương nghệ thuật, ông lại là cây bút khá nhạy bén với cái mới Ông tiếp cận nhanh chóng với những thay đổi Ở Giai đoạn thế kỉ XVIII – XIX, tư duy văn học của người Việt đã chuyển sang tư duy của con người cận hiện đại, truyện truyền kì cũng cần có
sự chuyển biến mạnh mẽ bởi quan điểm sáng tác thay đổi Đây là thời kì lịch sử đầy bão táp và biến động Các tác giả văn học thường hướng về hiện thực Với bản chất
Trang 35đặc trưng, văn xuôi tự sự có lợi thế trong việc phản ánh trực tiếp, phản ánh tức thời
về “người thật, việc thật”, những điều tai nghe mắt thấy Quan điểm sáng tác của các nhà văn là viết về những điều “sở kiến”, “sở văn”, các tác giả truyện truyền kì không chỉ viết theo kiểu truyền thống mà còn có cơ sở để phát triển, và có những cải tiến thích hợp Lúc này, Vũ Trinh không gọi tác phẩm của mình bằng tên “truyền kì” nữa
mà gọi là “kiến văn lục”, tức là ghi chép những điều mắt thấy tai nghe Sự cách tân truyện truyền kì của Vũ Trinh trên quan điểm hiện thực là tiến bộ, nhưng về quan điểm nghệ thuật thì đó là bước thụt lùi, bởi lẽ, chất thực càng tăng lên thì chất kì ảo
lại giảm đi Tuy nhiên, không thể phủ định vai trò của Lan Trì kiến văn lục trong dòng
chày văn học trung đại Việt Nam Đó là cống hiến tiêu biểu của Vũ Trinh cho nền văn học nước nhà Với những câu chuyện thật, hoặc hư cấu, Vũ Trinh đã phản ánh một cách sinh động thời cuộc bể dâu và nỗi đau đớn của con người trước hưng vong của lịch sử Đồng thời, đằng sau hiện thực ấy là một tấm lòng bao la độ lượng, ẩn
chứa một nhân sinh quan tiến bộ, sâu sắc Nhân sinh quan ấy được thể hiện trong Lan Trì kiến văn lục là sự đề cao phẩm chất trung liệt của con người, ở hiền gặp lành…
Con người, quỷ, thần, yêu, ma, loài vật đều xuất hiện qua những câu chuyện kể của Lan Trì Ngư giả Thông qua những câu chuyện đó, người đọc như được truyền tải thông điệp đã có từ ngàn xưa: ở hiền gặp lành, gieo nhân nào gặt quả nấy Điều này cũng chính là khát khao của mọi tầng lớp nhân dân về phần thưởng cho tâm hồn thiện lương và ước mơ về công bình xã hội
Tiểu kết:
Tóm lại, ở chương 1, chúng tôi đã trình bày khái lược về thể loại truyền kì, khái niệm truyền kì, khái niệm nhân vật Đồng thời tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người, các yếu tố cơ sở của việc hình thành quan niệm nghệ thuật về con người của các tác giả truyền kì Qua việc tìm hiểu trên, ta có thể khẳng định con người trong
Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục là con người tổng hợp
của các yếu tố tín ngưỡng dân gian, các yếu tố lịch sử văn hóa Mặt khác, việc tìm hiểu biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người trong ba tác phẩm trên đã cho thấy sự vận động của thể loại truyền kì được thể hiện rất rõ trong ba tác giả ở ba giai
Trang 36đoạn khác nhau Nếu như trong Thánh Tông di thảo, các nhân vật nam xuất hiện nhằm mục đích giáo huấn thì đến Truyền kì mạn lục, họ lại xuất hiện khá đa dạng phong phú, được nhìn nhận với cái nhìn đa chiều Và ở Lan Trì kiến văn lục nhân vật nam
lúc này đã gần gũi hơn với con người thật, con người của lịch sử Luận văn cũng giới
thiệu cụ thể ba tác phẩm: Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Lan Trì kiến văn lục làm cơ sở cho việc tìm hiểu nhân vật nam và các phương thức thể hiện loại nhân
vật này trong ba tác phẩm truyền kì tiểu biểu
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT NAM TRONG THÁNH TÔNG DI
THẢO, TRUYỀN KÌ MẠN LỤC VÀ LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC
2.1 Thống kê số lượng nhân vật nam trong Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục
Qua khảo sát các tác phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục và Lan Trì kiến văn lục, chúng tôi nhận thấy, thế giới nhân vật nam trong ba tác phẩm khá phong
phú, đa dạng Hầu hết các thiên trong ba tác phẩm trên đều xuất hiện nhân vật nam Dựa vào nguồn gốc của nhân vật, chúng tôi thống kê số lượng nhân vật nam gồm: nhân vật kì ảo, nhân vật tôn giáo và nhân vật phàm trần Sau đây là bảng thống kê:
Ca
3 Truyện hai thần nữ Nhà Nho già Cháu trai của
Long Vương, sơn thần Đông Ngu
Trang 38Thanh Tông), anh điếc và anh mù
8 Ngọc nữ về tay chân
chủ
Thủy thần, Ngọc hoàng
dê (viên quan đánh xe cho Ngọc Hoàng)
Yêu tinh chuột,
Đổng Thiên Vương
17 Chuyện người nghĩa
phụ ở Khoái Châu
Trọng Quỳ, Đỗ Tam, Đình Thần, Lập Ngôn
19 Chuyện gã Trà
Đồng giáng sinh
Thiên Tích Quân Phòng
Trang 3922 Chuyện nghiệp oan
của Đào Thị
Vân, sư
Vô Kị, Đạo sĩ
23 Chuyện Chức Phán
sự đền Tản Viên
Ngô Tử Văn Bách hộ họ
Thôi, Thổ thần
Quan họ Hoàng Diêm Vương Đạo sĩ
27 Chuyện đối đáp của
tiều phu ở núi Na
phu
28 Chuyện cái chùa
hoang ở Đông Triều
Quan Tư Lập, người thợ săn
Ma quỷ (Hộ pháp và Thủy Thần)
29 Chuyện nàng Thúy
Tiêu
Dư Nhuận Chi (Tạo Nhân), Quan Trụ quốc họ Thân
30 Bữa tiệc đêm ở Đà
Giang
Vua Trần Phế, Thuộc tướng Quý
Ly
Tú tài họ Viên (con cáo), xử
sĩ họ Hồ (con vượn)
Trang 4031 Chuyện người con
gái Nam Xương
Trương Sinh, Phan Lang
32 Chuyện Lí tướng
quân
Lí Hữu Chi, thầy tướng, Thúc Quản
Nguyễn Quỳ, Diêm Vương
33 Chuyện Lệ Nương Phật Sinh
34 Cuộc nói chuyện thơ
36 Đứa con của rắn Người chồng Yêu tinh rắn
37 Tiên trên đảo Nguyễn Lộc Hai cụ già
40 Tiên ăn mày Nguyễn Ất,
Nguyễn Giáp, ông già bán tương