1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

On thi mon hanh chinh hoc

81 88 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 596 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Các bài học kinh nghiệm: - Thứ nhất là, về bảo đảm sự nhất quán, kiên trì liên tục trong triển khai cải cách hành chính bao gồm từ xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính h

Trang 1

Câu 1: Tài phán hành chính, tài phán tư pháp, thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta hiện nay.

1 Tài phán hành chính, tài phán tư pháp: Tài phán theo đại từ điển tiếng Việt là: Phân xử

phải trái, đúng sai; theo tiếng Latin (jurisdictio) là: Tổng thể những quyền hạn của tòa án hoặc

cơ quan hành chính nhà nước về việc đánh giá khía cạnh pháp lý của những sự kiện cụ thểtrong đó có việc giải quyết những tranh chấp và áp dụng các chế tài luật định

* Tài phán tư pháp: Hoạt động xét xử của các vụ án hình sự, dân sự, lao động, thương mại của

tòa án để đưa ra những phán quyết cuối cùng (phân xử ai đúng ai sai).

* Tài phán hành chính: Là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phán xét những

khiếu kiện của cá nhân, tổ chức đối với cơ quan hành chính (hoặc những cơ quan nhà nước khác) đưa ra những quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính mà cá nhân tổ chức cho là

trái pháp luật hoặc là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Hay nói cách khác, Tài phán hành chính (TPHC) là việc xem xét và ra phán quyết có giá trịpháp lý nhằm giải quyết tranh chấp liên quan đến một hành vi, quyết định hành chính Đó làtranh chấp giữa một bên là cơ quan hành chính nhà nước với một bên là đối tượng tác động của

hành vi, quyết định hành chính (công dân và các tổ chức cụ thể) Như vậy, có thể hiểu TPHC là

hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính hay các tranh chấp nảy sinh trong quá trìnhđiều hành, quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó chủ yếu là việc xem xét,phán quyết về tính đúng đắn của các quyết định hay hành vi quản lý của cơ quan quản lý nhànước

Ở nước ta, trong cải cách nền hành chính, Đảng và Nhà nước ta khẳng định phải thiết lập các

cơ quan tài phán hành chính Quan điểm này đã trở thành hiện thực từ nửa cuối năm 1996.Hiện tại, địa vị của tài phán hành chính được xác định bởi địa vị chính trị-pháp lý của hoạtđộng Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân với tư cách là Tòa chuyên trách

Tòa hành chính có chức năng xét xử về hành chính, giải quyết các tranh chấp phát sinh tronglĩnh vực quản lý hành chính nhà nước giữa công dân, cơ quan, tổ chức với cơ quan hành chínhnhà nước và các cơ quan khác khi thực hiện việc chấp hành và điều hành và nhân viên nhànước trong bộ máy đó khi thi hành công vụ

Trong khi xét xử, Tòa hành chính có quyền và nghĩa vụ kiểm tra tính hợp pháp của các quyếtđịnh hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện; xét xử các vụ kiện hành chính

Việc thiết lập Tòa hành chính ở nước ta hiện nay đáp ứng nhu cầu cần thiết, khách quan chobước đầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam, một mặt bảo đảm pháp chế, kỷ cương phápluật trong hoạt động hành chính nhà nước; mặt khác bảo đảm được các quyền, tự do, lợi íchhợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, từ đó tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà nước và côngdân

Hoạt động TPHC ở nước ta bao gồm: - Hoạt động xem xét giải quyết khiếu nại hành chính

của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoạt động thanh tra, kiểm tra trong hệ thống cơ quan

hành chính Thủ tục giải quyết theo quy định của Luật khiếu nại tố cáo 1998 (sửa đổi, bổ sung

2004, 2005).

- Hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính do Tòa án nhân dân thực hiện Thủ tục giải quyết

theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 (sửa đổi, bổ sung 1998, 2006).

2 Thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta hiện nay: Nhà nước đã có nhiều cố

gắng trong công tác lập quy, nhiều luật và các văn bản dưới luật được ban hành, phần nào đápứng được yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, bảo vệ các quyền dân chủ cơ bản của côngdân Quốc hội cũng đã giao thêm thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính cho tòa án nhằm

Trang 2

đảm bảo mọi khiếu kiện của nhân dân được giải quyết tại tòa án Tuy nhiên, hoạt động giảiquyết khiếu kiện của Tòa hành chính và các cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn nhiều bất

cập, kém hiệu quả và chưa đáp ứng được yêu cầu

Thời gian qua, các khiếu kiện của công dân xảy ra trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, với sốlượng lớn và ngày càng tăng Từ năm 2006-2008, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếpnhận 303.026 đơn khiếu nại về 238.888 vụ việc Tuy các cơ quan hành chính nhà nước đã thụ

lý, giải quyết được khá nhiều vụ việc song hiệu quả còn nhiều hạn chế Bất cập là do cơ chếgiải quyết khiếu nại hành chính hiện nay còn mang tính khép kín, chưa đảm bảo tính kháchquan, dân chủ

Quy định pháp luật hiện hành cho phép cơ quan hành chính cấp trên tiếp tục giải quyết cáckhiếu nại mà cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới đã giải quyết, nếu công dân còn khiếu nại.Điều này dẫn đến tình trạng người dân có tâm lý không tin tưởng vào việc giải quyết khiếu nạicủa các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên đối với các quyết định giải quyết khiếu nại của

cơ quan hành chính cấp dưới, vì cho rằng cấp trên bênh vực cấp dưới Trên thực tế, đa số cácquyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đều được cấp trên công nhận

Một nguyên nhân khác, là hiện nay cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính cũng chưa phânđịnh và tách bạch giữa hoạt động quản lý điều hành với hoạt động giải quyết khiếu nại của các

cơ quan hành chính nhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước phải mất nhiều thời gian, côngsức vào việc giải quyết khiếu nại nhưng hiệu quả vẫn không cao, thậm chí còn làm ảnh hưởngkhông nhỏ đến hoạt động quản lý điều hành của các cơ quan này

Để khắc phục tình trạng kém hiệu quả trong giải quyết khiếu kiện của các cơ quan hành chínhnhà nước, Quốc hội đã giao thẩm quyền xét xử các vụ án cho tòa án Tuy nhiên, số vụ việccông dân khởi kiện ra tòa tính trên số vụ việc khiếu nại cơ quan hành chính nhà nước đã giảiquyết đạt tỷ lệ rất thấp, dưới 1% Cụ thể, theo báo cáo kết quả giám sát việc thi hành pháp luật

về khiếu nại, tố cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số liệu thống kê từ 28 tỉnh, thành thìtrong số 56.788 vụ việc đã giải quyết, chỉ có 310 vụ việc công dân khởi kiện ra tòa

Tình trạng Tòa hành chính thụ lý ít, có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Trong đó,nguyên nhân được lặp đi lặp lại từ nhiều năm nay, là hệ thống pháp luật của nước ta chưa hoànchỉnh và đồng bộ Qua các lần sửa đổi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, sốlượng vụ việc tòa án có thẩm quyền giải quyết ngày càng tăng nhưng chỉ dừng lại ở một số loạiviệc nhất định Điều này mâu thuẫn với cơ chế giải quyết khiếu nại hiện nay, là một vụ việckhiếu nại được giải quyết tối đa ở 2 cấp hành chính và người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ

án hành chính tại tòa án nhân dân trong các lần giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính.Như vậy những loại việc không thuộc thẩm quyền của Tòa hành chính, người dân đương nhiên

bị giới hạn quyền khởi kiện ra tòa

* Để khắc phục cơ bản tình trạng bất cập trong cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay,Quốc hội đã thảo luận thông qua Dự án Luật Tố tụng hành chính Tuy nhiên, trong hướng tớicần nghiên cứu thành lập cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam

Xuất phát từ yêu cầu khách quan, từ tính đặc thù của việc giải quyết khiếu kiện hành chính thì

cơ quan tài phán hành chính phải được thành lập theo hệ thống dọc, thuộc hành pháp, trựcthuộc Thủ tướng Chính phủ, độc lập với cơ quan hành chính các cấp

- Cơ quan tài phán hành chính có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện của cơ quan, tổ chức, cánhân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính; có quyền phán quyết về tính hợppháp, hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính

- Việc giải quyết khiếu kiện được tiến hành theo những thủ tục chặt chẽ Cơ quan hành chính

Trang 3

bình đẳng với công dân trong quá trình giải quyết khiếu kiện Công dân có quyền nhờ luật sưthay mặt mình thực hiện việc khiếu kiện Việc giải quyết khiếu kiện được thực hiện thông quahội đồng Phán quyết của hội đồng bằng bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số

- Hệ thống cơ quan tài phán hành chính bao gồm: Cơ quan tài phán hành chính Trung ương, cơ quan tài phán hành chính vùng, cơ quan tài phán hành chính khu vực Cơ quan này độc lập với

cơ quan hành chính về tổ chức, công tác, kinh phí vì vậy sẽ độc lập trong việc phán quyết đốivối quyết định hành chính, hành vi hành chính

Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng cơ quan Tài phán hành chính trong tổng thể cải cáchnền hành chính, cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằmgóp phần đưa hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc

tế, từ đó tạo cơ sở cho kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với các nước trong khu vực

và trên thế giới

Việc xây dựng cơ quan Tài phán hành chính chuyên trách thực hiện việc giải quyết khiếu nạihành chính đồng thời với việc thiết lập cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính công khai, minhbạch góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân làviệc làm hết sức cần thiết Song đây là vấn đề mới, liên quan đến Hiến pháp và tổng thể bộ máyNhà nước, do đó việc xây dựng cơ quan Tài phán hành chính cần phải được các cơ quan cótrách nhiệm nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện và phải có lộ trình, bước đi thích hợp, saocho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của nước ta, qua đó giải quyết được nhữngvấn đề bức xúc từ thực tiễn tình hình khiếu nại và giải quyết khiếu nại đặt ra

Trang 4

Câu 2: Sơ đồ bộ máy hành chính, thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước của nước ta.

1 Sơ đồ Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam:

* Sơ đồ Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam - cách thức thành lập:

Sơ đồ Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1992:

Trang 5

2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở nước ta.

* Thành tựu:

- Kết quả quan trọng của cải cách hành chính thời gian qua, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổchức của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước được điều chỉnh, sắp xếp phù hợphơn, quản lý nhà nước ngày càng tốt hơn trong điều kiện mới

- Việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đã chú trọng sựphù hợp với tình hình thực tế, bao quát hết các lĩnh vực cần quản lý nhà nước, khắc phục sựtrùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ Đã thực hiện việc phân cấp mạnh hơn cho chínhquyền địa phương về quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư, xây dựng, đất đai, y tế, giáo dục, tổchức, cán bộ Chính phủ, các bộ, ngành trung ương tập trung vào chức năng quản lý nhà nước

ở tầm vĩ mô là xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, điều hành tổ chức thực hiện

và kiểm tra, thanh tra Đã thực hiện việc đẩy mạnh sắp xếp đổi mới doanh nghiệp và các đơn vị

sự nghiệp công, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp và các đơn vị sựnghiệp, giảm mạnh sự can thiệp và điều hành cụ thể của cơ quan hành chính đối với doanhnghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công

- Cơ cấu bên trong các cơ quan của chính phủ và chính quyền địa phương cũng đã có bước điềuchỉnh mạnh, giảm đầu mối tổ chức, khắc phục tình trạng phân tán và nhiều tầng nấc trung gian.Kết quả quan trọng nhất của việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và sắp xếp tổ chức các cơquan hành chính nhà nước là xác định rõ và ngày càng phù hợp hơn về vai trò và chức năng củanhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bộ máy hành chính nhànước từ trung ương đến địa phương từng bước được tăng cường và đã hoạt động ngày càng cóhiệu lực, hiệu quả và thông suốt hơn

- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có bước nâng lên, đáp ứng yêu cầu

- Thể chế pháp luật về quản lý tài chính công được tích cực xây dựng và hoàn thiện

- Thủ tục hành chính và hành động của các cơ quan hành chính được đổi mới, hiệu lực, hiệuquả quản lý được tăng cường hơn

* Hạn chế:

- Mặc dù đã qua một số lần điều chỉnh, nhưng nhìn chung, chức năng, nhiệm vụ của chính phủ,các bộ, của các cấp chính quyền vẫn chưa đủ rõ và phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và cơ chếquản lý mới Tư tưởng bao cấp và giành quyền làm mọi việc vẫn còn khá phổ biến trong các cơquan hành chính nhà nước Trong khi đó vẫn còn một số lĩnh vực công việc không rõ tráchnhiệm quản lý nhà nước của cơ quan nào, dẫn đến những lúng túng, chậm trễ trong quản lý,điều hành Mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường, giữa nhà nước với doanh nghiệp, nhất làvới doanh nghiệp nhà nước, cũng như giữa quản lý của nhà nước với tự quản của người dântrong xã hội trên nhiều lĩnh vực vẫn chậm được làm rõ

- Vẫn còn nhiều trùng lắp, chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các

bộ, ngành trong chính phủ và giữa các bộ, ngành với chính quyền địa phương trên một số lĩnhvực chậm được khắc phục Việc thực hiện phân cấp theo ngành và lĩnh vực giữa trung ương vàđịa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương vẫn còn chậm, chưa đạt mục tiêu và yêu cầu

đề ra; mặt khác, việc phân cấp cũng chưa đi liền với việc tăng cường quản lý thống nhất vànâng cao năng lực cho cơ quan được phân cấp và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện

- Số lượng các cơ quan của chính phủ mặc dù đã giảm, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều đầumối, tạo ra sự trùng lắp và chia cắt trong quản lý, gây khó khăn, chậm trễ trong phối hợp hànhđộng, làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo điều hành Tổ chức bên trong của các bộ,

Trang 6

ngành trung ương có chiều hướng chia nhỏ các lĩnh vực công tác để lập thêm tổ chức và có xuhướng tìm mọi lý do để nâng cấp tổ chức không hợp lý.

- Chưa làm thật rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền các cấp nên tổ chức bộ máy của chínhquyền địa phương vẫn chưa ổn định, thiếu sự phân biệt rành mạch giữa tổ chức bộ máy củachính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, giữa các địa phương có quy mô và tính chất khácnhau Tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp cơ sở vẫn chưa thật hợp lý, chưa thật gắn bósâu sát với cộng đồng dân cư

- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu, tệ tham nhũng, lãng phí, quanliêu vẫn còn nghiêm trọng

- Thể chế pháp luật về quản lý tài chính công được tích cực xây dựng và hoàn thiện

* Nguyên nhân:

Cải cách hành chính chậm, hiệu quả còn thấp có những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, công tác chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính từ Chính phủ, thủ tướng Chính phủ,

các Bộ trưởng tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khôngthật sự kiên quyết, nhất quán và cũng không bảo đảm tính thường xuyên, liên tục Hoạch địnhchính sách, thể chế vốn đã khó, thường phải kéo dài, nhưng một khi đã được ban hành thì khâu

tổ chức thực hiện lại quá chậm và kém hiệu quả Trạng thái chung là chờ đợi, chờ hướng dẫn,chờ đôn đốc, rất ít bộ, ngành và tỉnh chủ động, quyết liệt triển khai

- Thứ hai, chậm nghiên cứu, kết luận và thể chế hoá các vấn đề liên quan mật thiết tới cải cách

hành chính Thực tế cho thấy, bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa đặt ra nhiều vấn đề, đòi hỏi có thời gian nghiên cứu, nhưng một số vấn đề như “bỏ cơ chế

bộ chủ quản”, “bộ thực hiện vai trò chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp”…, tuy đã

có kết luận, nhưng khi vào cụ thể thì việc ban hành các quy định lại rất chậm Lý luận thì khẳngđịnh bộ tập trung vào thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô, không can thiệp sâuvào hoạt động của doanh nghiệp, nhưng thực tiễn thì Bộ trưởng vẫn phải xử lý khá nhiều côngviệc không thuộc tầm vĩ mô; nếu không giải quyết thì cũng không rõ ai giải quyết Mối quan hệgiữa hành chính, doanh nghiệp và sự nghiệp đang đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn, cụ thể hơn

- Thứ ba, khá nhiều vấn đề của cải cách hành chính đòi hỏi phải được giải quyết trong tổng thể các cuộc cải cách, đổi mới đang diễn ra ở nước ta Mối quan hệ, chi phối lẫn nhau giữa cải cách

hành chính, cải cách kinh tế, cải cách tư pháp, đổi mới hoạt động lập pháp và đổi mới từngbước hệ thống chính trị, nếu không được bảo đảm, thiếu đồng bộ sẽ ảnh hưởng tới tiến trình cảicách đổi mới nói chung và cải cách hành chính nói riêng Nội dung và phương thức lãnh đạocủa Đảng đối với nhà nước nói chung và đối với cơ quan hành chính nói riêng cũng chậm đổimới

- Thứ tư, chưa có biện pháp, cơ chế tạo động lực, hưởng ứng cải cách của đa số cán bộ, công

chức cũng như chưa xử lý nghiêm bộ phận cán bộ, công chức thoái hoá, kém phẩm chất trongthực thi công vụ

* Các bài học kinh nghiệm:

- Thứ nhất là, về bảo đảm sự nhất quán, kiên trì liên tục trong triển khai cải cách hành chính

bao gồm từ xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính hàng năm của Chính phủ, các

bộ, ngành trung ương và các tỉnh cần xác định rõ các mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp bảođảm thực hiện, đến tổ chức và kiểm tra thực hiện, đánh giá, kiểm điểm công tác cải cách hànhchính phải dựa vào đánh giá những mục tiêu đã đề ra cũng như tác động tới xã hội thông quacông tác cải cách hành chính

- Thứ hai là, về công tác chỉ đạo triển khai thống nhất cải cách hành chính từ Chính phủ tới

Trang 7

chính quyền địa phương các cấp đóng vai trò quyết định sự thành công của cải cách, do đó phảiđược duy trì và bảo đảm Chương trình công tác, các cuộc họp của Chính phủ các bộ và UBNDcác cấp phải có phần về cải cách hành chính, coi đây là một nội dung quan trọng thường xuyênphải đề cập.

- Thứ ba là, về sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng và hành động trong cải cách hành

chính xuất phát từ mức độ khó khăn, phức tạp của công tác này

- Thứ tư là, về bảo đảm sự đồng bộ giữa cải cách hành chính với đổi mới từng bước hệ thống chính trị, với cải cách kinh tế, cải cách lập pháp và cải cách tư pháp.

- Thứ năm là, về coi trọng công tác thí điểm, làm thử trong triển khai cải cách hành chính Quá

trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, chuyển sang nền hành chính phục vụ đặt ra nhiều vấn

đề mới, chưa kết luận được ngay, nhưng thực tiễn đòi hỏi phải thực hiện Thông qua thí điểm

để có điều kiện đánh giá, sơ kết tổng kết, rút ra những vấn đề cần xử lý tiếp và nhân rộng nếuthấy đúng Các cơ chế cải cách như “một cửa”, khoán đã được hình thành qua phương thứcthí điểm Đây là bài học tốt cần chú ý trong giai đoạn II(2006 - 2010)

- Thứ sáu là, về xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình hành động Trong giai đoạn I,

các Chương trình hành động đặt ra quá nhiều mục tiêu, vừa quá sức vừa không thiết thực ở một

số kết quả phải đạt tới Việc tổ chức thực hiện các Chương trình hành động không gắn với tổchức thực hiện các nhiệm vụ chính của các Bộ, ngành, do đó bị coi nhẹ Cơ chế tổ chức thựchiện các Chương trình hành động, sự phân công, phối hợp giữa các bộ có liên quan chưa phùhợp với tính hệ thống của chương trình tổng thể làm ảnh hưởng tới kết quả và tính thời giancủa sản phẩm các chương trình hành động

2 Phương hướng cải cách hành chính:

- Về cải cách thể chế: Đổi mới cơ bản quy trình ban hành chính sách theo hướng làm rõ trách

nhiệm của Chính phủ, các Bộ trong quá trình xây dựng thể chế, nâng cao chất lượng, tính đồng

bộ của chính sách, khắc phục tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư; Đẩy mạnhxây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ trực tiếp cải cách hành chính, đặc biệt là thể chế về tổchức bộ máy, công chức, công vụ, phân cấp, tài chính công; cải cách mạnh mẽ thủ tục hànhchính theo hướng đơn giản, thuận tiện cho dân, doanh nghiệp; nghiên cứu giảm thẩm quyền các

Bộ, ngành trung ương ban hành thủ tục hành chính, xây dựng Luật về thủ tục hành chính; Triểnkhai thực hiện đồng loạt cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính các cấp, bao gồm cả các cơquan hành chính của trung ương

- Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính: Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các

cơ quan hành chính nhà nước, điều chỉnh cơ cấu Chính phủ, các Bộ theo hướng giảm bớt các

Bộ chuyên ngành về kinh tế, tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng bộ quản lý nhà nước đangành, đa lĩnh vực, khắc phục chồng chéo chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan hànhchính; Đơn giản hóa cơ cấu tổ chức các Bộ, đổi mới phương thức làm việc của các cơ quanhành chính; Đến năm 2008, xác định xong và thực hiện các quy định mới về phân cấp quản lýhành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; tổchức hợp lý và ổn định các đơn vị hành chính, định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổchức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn; cải cách các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công,bảo đảm tách rõ hành chính với sự nghiệp, hoàn thiện thể chế tư chủ, tự chịu trách nhiệm củacác đơn vị sự nghiệp dịch vụ công trong tổ chức và hoạt động

- Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức: Rà soát, đánh giá đội ngũ

công chức hành chính để cơ cấu lại công chức, bố trí lại theo từng vị trí, rõ chức trách; Xâydựng và đưa vào thực hiện phương pháp khoa học đánh giá kết quả công tác của cán bộ công

Trang 8

chức; Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút người có tài vào làm việc trong khuvực công, tạo động lực cho cán bộ, công chức làm việc có hiệu quả; Tăng cường kỷ luật, kỷcương hành chính; xây dựng và áp dụng chế độ thanh tra, kiểm tra công vụ ở các cấp, kể cả chế

độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

- Về hiện đại hóa nền hành chính: Áp dụng CNTT và hoạt động của các cơ quan hành chính

nhà nước, xây dựng vận bành nền hành chính điện tử; Triển khai hệ thống quản lý chất lượngtrong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; Xây dựng, hoàn thiện Quy chế làm việc củacác cơ quan hành chính nhà nước; ban hành và thực hiện quy chế văn hóa công sở; Tiếp tục đổimới phương thức điều hành theo hướng tăng cường khâu tố chức thực hiện và cơ chế hậu kiềm;Nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và từng bước xóa bỏ tình trạng quan liêu trong hoạtđộng của các cơ quan hành chính nhà nước; Giải quyết xong tình trạng không có trụ sở hoặc trụ

sở không đạt yêu cầu của chính quyền cấp xã

- Về chỉ đạo, điều hành công tác cải cách hành chính: Đổi mới phương thức, nâng cao chất

lượng chỉ đạo, điều hành công tác cải cách hành chính từ trung ương tới địa phương; kiện toànBan Chỉ đạo cải cách hành chính các cấp

* Giải pháp để khắc phục những hạn chế vừa nêu, cần nhanh chóng triển khai một số nội dung

cụ thể:

- Thứ nhất là, tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác cải cách hành chính:

+ Qui định các mục tiêu quan điểm gia pháp lớn về cải cách hành chính: Quán triệt trong đảng,

hệ thống chính trị; lãnh đạo xây dựng hệ thống thể chế pháp luật

+ Qui định, giới thiệu cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực để nhà nước xét bổ nhiệm; + Tăng cường kiểm tra, chỉ đạo thực hiện chủ trương của đảng về cải cách hành chính.

- Thứ hai là, điều chỉnh, xác định rõ chức năng của từng cơ quan hành chính nhà nước Đây là

một nhiệm vụ, một công việc chúng ta phải tiến hành không chỉ trước mắt mà còn cả trong mộtthời gian dài trong những năm tới Bước chuyển từ nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi hệ thống các cơ quan hành chính nhànước vốn được thiết kế, xây dựng và vận hành phù hợp với cơ chế kinh tế cũ sẽ phải có nhữngthay đổi tương thích với cơ chế kinh tế mới, trong đó thay đổi quan trọng nhất là về chức năngcủa từng cơ quan Chính phủ tập trung thực hiện tốt hơn chức năng quản lý nhà nước trên tất cảcác lĩnh vực mà pháp luật đã quy định; tập trung làm tốt hơn việc hoạch định thể chế, cơ chế,chính sách, xây dựng giải pháp, bảo đảm các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách thủtục hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội; xây dựngchiến lược, quy hoạch, kế hoạch và nâng cao năng lực chỉ đạo thực hiện, tăng cường công táckiểm tra, thanh tra

- Thứ ba là, thực hiện mạnh việc phân cấp trung ương-địa phương, thông qua đó giảm đáng kể

những loại công việc không nhất thiết phải do chính phủ, các bộ trực tiếp quản lý, quyết định,đồng thời tăng cường được hơn nữa tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địaphương trên các nhiệm vụ được phân cấp

- Thứ tư là, trên cơ sở xác định rõ chức năng của chính phủ, các bộ và chính quyền địa phương

các cấp để sắp xếp tổ chức bộ máy gọn hơn, hợp lý hơn Nghị quyết trung ương 5 khóa Xkhẳng định tiếp tục hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, giảm số đầu mối các bộ, cơquan ngang bộ một cách phù hợp không giữ các cơ quan thuộc chính phủ có chức năng quản lýnhà nước, chỉ duy trì một số cơ quan cần thiết thuộc chính phủ là đơn vị sự nghiệp

- Thứ năm là, tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ những khác biệt giữa chính

quyền nông thôn và chính quyền đô thị Về vấn đề này, nghị quyết trung ương 5 khóa X xác

Trang 9

định 3 điểm mới như sau:

+ Tổ chức chính quyền đô thị phải bảo đảm tính thống nhất và liên thông trên địa bàn về quy

hoạch đô thị, kết cấu hạ tầng (như điện, đường, cấp thoát nước, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường) và đời sống dân cư

+ Thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường, nhưng có cơ quan hành chính làUBND để quản lý và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và phân cấp của

chính quyền cấp trên (Hiện nay vấn đề này đang được thực hiện thí điểm tại TP.HCM và ở một

số địa Phương).

+ Thí điểm việc nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch UBND xã, chủ tịch UBND cấp trên trực tiếpquyết định phê chuẩn

Trang 10

Câu 3: Yêu cầu và nội dung quản lý công sản? Giải pháp chống thất thoát tài sản công?

Công sản là những tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc cónguồn gốc từ ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước theo quy địnhcủa pháp luật, tài sản của các chương trình, dự án kết thúc chuyển giao, đất đai, rừng tự nhiên,rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên tronglòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời

1 Yêu cầu quản lý công sản:

Quản lý công sản là một tất yếu thể hiện qua một số điểm sau đây:

- Công sản là tài sản của nhà nước, của nhân dân do đó việc quản lý tốt để tạo lập, khai thác và

sử dụng tài sản công hiệu quả là đòi hỏi khách quan trong quá trình xây dựng và phát triển đấtnước

- Công sản đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phản ánh sự phát triển của mỗiquốc gia, mỗi địa phương, mỗi vùng Nhà nước cần có kế hoạch tạo lập, quản lý, khai thácphần tài sản công này một cách hợp lý, đồng thời đều nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối cácvùng, miền, lãnh thổ

- Công sản đặc biệt là phần tài sản công trong các cơ quan nhà nước, là phần vốn hiện vật của

cơ quan, được hình thành từ nguồn chi tiêu công Đó là điều kiện đảm bảo cho các cơ quan nhànước thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ đươc giao

- Quản lý công sản là yêu cầu mong muốn của mọi người dân, tạo lập, khai thác, sử dụng côngsản có ý nghĩa kinh tế, chính trị và xã hội to lớn Uy tín của nhà nước, của cán bộ, công chứcnhà nước một phần rất lớn được công dân đánh giá thông qua việc quản lý, sử dụng công sản

2 Nội dung quản lý công sản:

* Nguyên lý quản lý:

- Thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, phải có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý,

sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù riêng, đối với ngành, địa phương, tổ chức sử dụngtài sản phục vụ cho các hoạt động có tính đặc thù riêng

- Thực hiện quản lý và sửng dụng công sản theo tiêu chuẩn, định mức để công tác quản lý, sử

dụng công sản phù hợp, đạt được hiệu quả và tiết kiệm

- Thực hiện phân cấp quản lý công sản, việc phân cấp quản lý công sản phải phù hợp với phân

cấp về quản lý kinh tế – xã hội, về tổ chức bộ máy nhà nước; phải phù hợp với phân cấp vềquản lý ngân sách nhà nước; phải phù hợp với trình độ và năng lực quản lý của mỗi cấp, mỗi

ngành và đơn vị được giao trực tiếp sử dụng công sản Phân cấp quản lý công sản bao gồm 2 nội dung cơ bản:

+ Phân cấp về việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, chế độ quản lý công sản.+ Phân cấp về quản lý nhà nước đối với tài sản công

- Quản lý công sản phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước, có nghĩa là mọi cơ chế,

chính sách, chế độ quản lý, định mức, tiêu chuẩn sử dụng công sản phải phù hợp với quy định

về quản lý ngân sách nhà nước

* Công cụ quản lý:

Sử dụng tổng hợp các công cụ quản lý sau:

- Xây dựng các văn bản pháp luật về quản lý công sản

- Sử dụng các cơ chế kinh tế để quản lý tài sản công (hệ thống kế hoạch hóa, hệ thống đòn bẩy kinh tế, trong đó các cơ chế tài chính có vai trò rất quan trọng).

- Phân định rõ phạm vi, nội dung và trách nhiệm quản lý giữa cơ quan thực hiện sự quản lý nhànước với cơ quan trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản

Trang 11

* Phạm vi quản lý:

- Đối với tài sản trong các cơ quan nhà nước, nguyên tắc chung là phải được cơ quan quản lýcông sản trực tiếp quản lý chặt chẽ quá trình đầu tư, xây dựng, mua sắm, quá trình sử dụng vàkết thúc sử dụng

- Đối với tài sản được xác lập sở hữu nhà nước theo pháp luật quy định, cơ quan quản lý công

sản phải trực tiếp quản lý, xử lý tài sản này Đối với một số hàng hóa đặc biệt (vàng bác, đá quý, vũ khí…) có thể giao cho cơ quan chuyên ngành bảo quản và xử lý, nhưng về nguyên tắc

cơ quan quản lý công sản phải thực hiện quản lý ngay từ ban đầu đến kết thúc và xử lý thu vềcho ngân sách

- Đối với tài sản thuộc cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, được giao cho các đơn vị hoạtđộng sự nghiệp, một chuyên ngành nhất định bảo tồn, duy trì, bảo dưỡng… khai thác sử dụngphục vụ cho hoạt động xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước

- Đối với tài sản nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp thì doanh nghiệp có trách nhiệm bảotoàn và phát triển vốn

- Đối với tài sản là đất đai và các ngồn tài nguyên khác, các cơ quan quản lý công sản có tráchnhiệm xây dựng cơ chế quản lý tài chính trong việc xác định nguồn tài nguyên, khai thác sửdụng nguồn tài nguyên và thực hiện sự quản lý của tài chính nhà nước

- Đối với tài sản dự trữ nhà nước, đảm bảo quản lý chặt chẽ là hết sức quan trọng và cần thiết

3 Giải pháp chống thất thoát tài sản công.

Thứ nhất là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công:

- Ban hành đồng bộ, thống nhất hệ thống văn bản triển khai thi hành luật quản lý, sử dụng tàisản nhà nước; đặc biệt chú trọng hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước phùhợp với điều kiện mới đảm bảo yêu cầu tiết kiệm, chống lãng phí và phục vụ được nhu cầucông tác

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất về quản lý tài sản nhà nước thuộc kết

cấu hạ tầng theo nguyên tắc: Mọi tài sản nhà nước thuộc kết cấu hạ tầng đều phải được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng; có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan; đầu tư xây dựng và sử dụng đúng mục đích; bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định

- Hoàn thiện chính sách tài chính đối với đất đai, bao gồm sửa đổi, bổ sung luật đất đai, xâydựng luật thuế sử dụng đất, sửa đổi, bổ sung chính sách thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất,hướng dẫn cơ chế điều tiết phần giá trị tăng thêm của đất do Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng

Thứ hai là, đổi mới cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp, tiến tới chuyển

các đơn vị sự nghiệp sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp; quy định cơ chế quản lý, sửdụng tài sản nhà nước giữa đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và đơn vị sự nghiệp cônglập chưa tự chủ tài chính do phù hợp với đặc điểm của từng loại hình

Thứ ba là, đẩy nhanh tiến độ thực hiện việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước,

hoàn thành trước ngày 31/12/2010 với các mục tiêu cơ bản là:

- Tiếp tục sử dụng hệ thống công sở phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao, phù hợp với quyhoạch sử dụng đất;

- Chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất tạo quỹ đất mới cho các mục đích hiệu quả

hơn (thương mại, nhà ở, công cộng…);

- Tạo ra nguồn lực mới để tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh

Thứ tư là, trên cơ sở rút kinh nghiệm từ thí điểm mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức

Trang 12

tập trung để nghiên cứu, xây dựng cơ chế thống nhất trên cả nước Đồng thời, thiết lập hệ thốngcác công cụ hỗ trợ cho việc thực hiện mua sắm tập trung.

Thứ năm là, hiện đại hoá công tác quản lý công sản, xây dựng, cập nhật và hoàn thiện cơ sở dữ

liệu quốc gia về tài sản nhà nước

Thứ sáu là, thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Thứ bảy là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại

các cơ quan, đơn vị, tổ chức

Thứ tám là, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý công sản từ trung ương đến địa phương Với

nhiệm vụ nặng nề như vậy, tổ chức của Cục Quản lý Công sản cần được sắp xếp theo hướngchuyên sâu hơn Đặc biệt, cần nhanh chóng phát triển Trung tâm Cơ sở dữ liệu về tài sản nhànước để có thể bao quát một cách hệ thống toàn bộ hệ thống tài sản nhà nước, cập nhật được sốliệu thông qua các chương trình sử dụng công nghệ thông tin hiện đại Công khai và minh bạchhoá các số liệu về tài sản và cung cấp thông tin tài sản nhà nước phục vụ chủ trương “vốn hoá”tài sản nhà nước Tại các Bộ, Ngành, Địa phương cần có tổ chức chuyên về quản lý công sản,các Chi cục hoặc các phòng độc lập, các Trung tâm Bên cạnh đó cần nâng cao năng lực chođội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý tài sản nhà nước thông qua chương trình đàotạo ban đầu, đào tạo lại và cập nhật kiến thức hàng năm

Trang 13

Câu 4: So sánh hoạt động công vụ với các hoạt động khác không mang tính công vụ.

- Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực nhà nước và pháp lý, được thực thi bởi độingũ cán bộ, công chức nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quá trình quản lýtoàn diện các mặt của đời sống xã hội

- Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt nam: Công vụ là công việc chủ yếu thuộc về Nhà Nước, do các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước tiến hành theo các quy định của pháp luật Công vụ cũng có thể hiểu là công việc công, bao gồm cả công việc của các

cơ quan thuộc các tổ chức chính trị – xã hội tiến hành.

- Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008: Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật cán bộ, công chức và các quy định khác có liên quan.

- Hoạt động không mang tính công vụ cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, củacán bộ, công chức nhà nước nhưng không mang tính thực hiện chức năng quản lý nhà nước,không mang tính thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, côngchức theo quy định của pháp luật

Ví dụ: Tổ chức hoạt động và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của

cơ quan, đơn vị, hoặc một số hoạt động dịch vụ của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp.

- Một số điểm khác nhau cơ bản của hoạt động công vụ với các hoạt động khác không mang tính côngvụ:

Hoạt động công vụ Hoạt động khác không mang tính công vụ

Mục

đích:

Hoạt động công vụ phục vụ nhân dân và xã hội Không đặt mục tiêu

phục vụ nhân dân và xãhội lên hàng đầu

Nội

dung:

- Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước;

-Thực hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu

chung của xã hội không vì mục đích lợi nhuận

- Không nhất thiết phảiphục vụ các nhu cầuchung của xã hội, có thể

vì lợi nhuận hoặc philợi nhuận

Chủ

Tính

chất:

- Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính

quyền lực nhà nước, mà còn bao gồm cả hoạt động của

các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ

quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân Các hoạt

động này đều do công chức, nhân danh nhà nước tiến

hành Nó bao gồm các hoạt động nhân danh quyền lực và

các hoạt động của các tổ chức được nhà nước uỷ quyền

Ở các nước trên thế giới, khi đề cập đến công vụ, người

ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà thường chỉ

nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh

- Hoạt động không nhândanh nhà nước, khôngmang tính thườngxuyên chuyên nghiệpnhưng phải tuân thủpháp luật

Trang 14

nhà nước mà thôi Bởi lẽ, pháp luật là công cụ chính,

chủ yếu do nhà nước ban hành

- Nhân danh quyền lực hoặc được nhà nước uỷ quyền

- Theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của nhà nước

- Tuân theo pháp luật

- Mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp

Công vụ là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước hoặc trực tiếp phục vụ cho việc thực hiệnquyền lực đó Bắt nguồn từ bản chất của nhà nước nên hoạt động công vụ có những nguyên tắcriêng của mình bao gồm:

- Tính tối cao của lợi ích nhân dân - lợi ích nhà nước;

- Tính tối cao của quyền lực nhân dân;

- Đảng lãnh đạo;

- Bình đẳng của mọi công dân;

- Thay thế và bãi miễn;

- Đối với cán bộ - Công chức - viên chức quyền đồng thời là nghĩa vụ và ngược lại;

- Tính thống nhất giữa quyền, nghĩa vụ với trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức;

- Tính vô tư không có đặc quyền, đặc lợi về công vụ

Trang 15

Câu 5: Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự - yêu cầu và nội dung.

Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, huyện(cơ quan THADS cấp quân khu) trên cơ sở thẩm quyền được Luật thi hành án dân sự năm 2008

quy định, tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa Án cấp sơ thẩm (không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm); Tòa Án cấp phúc thẩm; quyết định tái thẩm hoặc

giám đốc thẩm của Tòa Án; bản án, quyết định dân sự của Tòa Án nước ngoài, quyết định củatrọng tài nước ngoài đã được Tòa Án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyếtđịnh xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày

có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa Án; quyếtđịnh của Trọng tài thương mại

1 Yêu cầu Quản lý Nhà nước về thi hành án dân sự:

* Thứ nhất là, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định (theo điều 4 Luật thi hành án dân sự

* Thứ hai là, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan (theo điều 5 Luật thi hành án dân sự năm 2008):

Trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ

* Thứ ba là, bảo đảm công tác pháp chế thi hành án dân sự.

* Thứ tư là, bản án phải được thực thi theo trình tự thủ tục quy định, tránh tình trạng kéo dài

làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật

* Thứ năm là, trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân

sự, Chấp hành viên (theo điều 11 Luật thi hành án dân sự năm 2008):

- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có tráchnhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành

án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2008

Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự,Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật

2 Nội dung quản lý nhà nước về thi hành án dân sự:

* Hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự bao gồm:

- Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án dân sự (Bộ tư pháp, UBND cấp tỉnh, huyện, xã; cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Quốc phòng).

- Hệ thống cơ quan thi hành án (cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, huyện; cơ quan thi hành

án dân sự quân khu và tương đương).

* Chấp hành viên:

- Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theoquy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 Chấp hành viên có ba ngạch là Chấphành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp

- Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm

- Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên

* Nội dung quản lý:

Trang 16

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước; chỉ đạocác cơ quan của Chính phủ, UBND cấp tỉnh trong thi hành án dân sự; phối hợp với Tòa ÁnNhân Dân tối cao, Viện Kiểm Sát Nhân Dân tối cao trong thi hành án dân sự; định kỳ hàng nămbáo cáo Quốc Hội về công tác thi hành án dân sự.

- Bộ Tư pháp:

+ Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thihành án dân sự;

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự;

+ Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự;

+ Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết địnhthành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hànhviên, Thẩm tra viên;

+ Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức

làm công tác thi hành án dân sự (quản lý nghiệp vụ thi hành án dân sự do Cục thi hành án dân

sự thực hiện theo sự phân công của Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp);

+ Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự; giải quyếtkhiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự;

+ Quản lý phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thihành án dân sự;

+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự;

+ Tổng kết công tác thi hành án dân sự;

+ Ban hành và thực hiện chế độ thống kê về thi hành án dân sự;

+ Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự;

+ Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư Pháp giúp Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp quản lýnhà nước về công tác thi hành án dân sự và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân

sự theo quy định của Chính phủ

- Các Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Tòa Án Nhân Dân tối cao, Viện Kiểm Sát Nhân Dântối cao có trách nhiệm với Bộ Tư Pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được quyđịnh cụ thể tại Luật thi hành án dân sự năm 2008

- UBND cấp tỉnh, huyện, xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về thi hành ándân sự theo quy định tại Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn của cơquan nhà nước cấp trên

Trang 17

Câu 6: Thực trạng thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay.

1 Về kết quả đạt được:

- Nhiều đổi mới trong thủ tục thi hành án, tạo điều kiện cho việc thi hành án được thực hiệnchặt chẽ, hiệu quả hơn Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân dự đượcđẩy nhanh tiến độ, tăng cường đối thoại, chú trọng kỹ năng công tác dân vận, giải quyết dứtđiểm hoặc một bước cơ bản nhiều vụ việc khiếu nại phức tạp, tồn đọng kéo dài Nhiều địaphương, đơn vị đã giải quyết dứt điểm khiếu nại tại cơ sở, không để xảy ra tình trạng khiếu nạivượt cấp lên trung ương

- Luật thi hành án dân sự năm 2008 và nhiều quy định mới góp phần tháo gỡ vướng mắc trongcông tác thi hành án, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết án tồn đọng, kéo dài trong nhiềunăm qua, đồng thời tạo tiền đề cho việc thực hiện chủ trương xã hội hoá trong hoạt động thihành án dân sự

- Công tác quản lý, chỉ đạo về thi hành án dân sự đã thu được những kết quả bước đầu, đồngthời tiếp tục phát huy vai trò quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án dân sự ở địaphương của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan,ban ngành ở Trung ương, sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị ở cơ sở trong công tác thihành án dân sự

- Một số tổ chức quốc tế hỗ trợ có hiệu quả về mặt kỹ thuật cho việc nghiên cứu, đề xuất hoànthiện thể chế thi hành án và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thi hành án Việc áp dụng công nghệthông tin vào hoạt động chuyên môn được đẩy mạnh hơn Công tác tuyên truyền, phổ biếnpháp luật thi hành án ở nhiều địa phương dần khắc phục được tính hình thức, dàn trải

Đạt được những kết quả tích cực nêu trên là do công tác lãnh đạo sâu sát của Đảng ta; là doChính phủ, các cấp, các ngành đã nêu cao quyết tâm, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải phápthực sự tạo chuyển biến trong công tác thi hành án dân sự; Cơ quan thi hành án đã thực hiệnnhiều giải pháp sáng tạo để giải quyết án tồn đọng; nhiều cấp ủy, chính quyền các địa phương

đã quan tâm hơn đến công tác thi hành án dân sự, đặc biệt là trong việc phối hợp kiện toàn tổchức, cán bộ, chỉ đạo thi hành án; các Đoàn Đại Biểu Quốc Hội và Mặt Trận Tổ Quốc ViệtNam các cấp đã quan tâm, giám sát đối với công tác thi hành án dân sự

2 Những hạn chế:

- Theo thống kê của Bộ Tư Pháp, năm 2009, các cơ quan thi hành án dân sự thụ lý 662.961việc, đã thi hành xong 354.490 việc, đạt 81,05% số việc có điều kiện thi hành Tuy nhiên, côngtác thi hành án dân sự vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là số lượng án tồn đọng Tình trạng khiếunại, tố cáo về thi hành án dân sự còn nhiều, nhiều vụ việc phức tạp, khiếu nại tố cáo gay gắt,kéo dài…

- Theo thống kê tại Hội nghị chuyên đề triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010 khuvực phía Bắc do Bộ Tư Pháp tổ chức, hiện nay cả nước còn 270.925 án tồn đọng Trong đó,188.000 việc chưa có điều kiện thi hành án; hơn 89.000 việc người phải thi hành án ốm nặng,chưa xác định được nơi cư trú, người phải thi hành án không có tài sản; 98.754 án tồn đọng vì

có kháng nghị; tuyên không rõ ràng, không phù hợp với thực tế, tài sản kê biên chưa xử lýđược hoặc có khiếu nại…

- Cơ chế quản lý nhà nước về thi hành án dân sự còn hạn chế hiệu quả, trách nhiệm của cơ quanthi hành án dân sự chưa được đề cao

- Các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan hữu quan chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ,quyền hạn theo quy định của pháp luật, chưa tạo được mối quan hệ phối hợp hiệu quả trongcông tác thi hành án dân sự

Trang 18

- Tình trạng khiếu nại về thi hành án ngày càng tăng, nhiều vụ việc có tính bức xúc kéo dài,chưa có cơ chế giải quyết Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở một số địa phương cònbuông lỏng, để xảy ra sai phạm Quá trình thực hiện thu hồi đất của dân chưa đúng trình tự, thủtục, thiếu công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng và trong một số trường hợp số tiền bồithường, hỗ trợ chưa đủ để người dân tạo lập chỗ ở mới tốt hơn Một số dự án thu hồi đất sảnxuất của dân nhưng không được sử dụng hợp lý, đất đai bỏ hoang, lãng phí, trong khi nông dânthiếu đất sản xuất, dẫn đến bức xúc, phát sinh khiếu nại.

Khi phát sinh khiếu nại, tố cáo, một số chính quyền địa phương chưa làm tròn trách nhiệm củamình, thiếu quan tâm giải quyết từ cơ sở, có nhiều vụ việc giải quyết chậm, thẩm tra, xác minh

sơ sài, thu thập chứng cứ không đầy đủ, kết luận thiếu chính xác, áp dụng pháp luật cứng nhắc,phương án giải quyết thiếu thuyết phục, dân không đồng tình, tiếp tục khiếu nại, tố cáo Trongkhi đó, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước để giải quyết khiếu nại, tố cáo có lúc chưa tốt,còn có hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, chuyển đơn lòng vòng, trả lời thiếu thống nhất Việctuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục, hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo và công táchòa giải ở cơ sở chưa được quan tâm thực hiện đúng mức nên có những vụ việc đơn giản vẫnphát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp

- Hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự vừa thiếu, vừa bộc lộ nhiềubất cập

- Công tác tổ chức, biên chế, đầu tư cơ sở, vật chất chưa tương xứng với nhiệm vụ ngày càngnặng nề của cơ quan thi hành án

- Ý thức thi hành án của một bộ phận nhân dân và một số cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩmquyền chưa cao, gây tình trạng ách tắc, dây dưa việc kéo dài thi hành án

3 Biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành án dân sự:

- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nơi làm việc, phương tiện hoạt động, kinh phí và các điềukiện bảo đảm khác cho cơ quan, chấp hành viên, công chức trong các cơ quan thi hành án dânsự

- Xây dựng đề án cải cách thủ tục hành chính trong công tác thi hành án, tạo điều kiện để nhândân giám sát công tác thi hành án, kịp thời phát hiện những việc làm sai trái, thiếu công minh,

vi phạm dân chủ, phát hiện và xử lý kiên quyết những hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu trong độingũ cán bộ thi hành án dân sự

- Nâng cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo, trước hết là nhờ vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, quản lý điều hànhcủa chính quyền Trong quá trình giải quyết, các cơ quan nhà nước phải thu thập đầy đủ tàiliệu, chứng cứ khách quan, làm rõ nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo, kết luận rõ đúng,sai, đề ra phương án giải quyết phù hợp, có lý, có tình Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáodục nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân Bên cạnh đó, cần tăng cường vận động,thuyết phục công dân chấp hành pháp luật và các quyết định giải quyết của cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo sự đồng bộ, nâng cao tính khả thi,

Trang 19

hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật; chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý nhà nướctrên các lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực đất đai…

- Tăng cường công tác giải thích pháp luật, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành, chỉ tiếnhành cưỡng chế trong trường hợp thật cần thiết, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thi hành án với

cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, các cơ quan Công An, Tòa Án, Kiểm Sát, các cơquan liên quan khác đảm bảo cho công tác thi hành án có hiệu lực, hiệu quả Trước mắt tổ chứclàm tốt công tác thí điểm thực hiện chế định Thừa phát lại tại TP.HCM để xã hội hóa từng bướchoạt động thi hành án dân sự cho phù hợp với lộ trình cải cách tư pháp và cải cách bộ máy nhànước, xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, huy động sức mạnh của cộng đồngvào hoạt động quản lý và thi hành án dân sự

Trang 20

Câu 7: So sánh chức năng hành chính nhà nước với chức năng lập pháp và tư pháp ở nước ta.

+ Chức năng hành chính đối với dân;

+ Chức năng quản lý nền kinh tế quốc dân;

+ Chức năng hành chính đối với xã hội;

+ Chức năng hành chính đối ngoại;

+ Chức năng quy hoạch, kế hoạch;

+ Chức năng tổ chức bộ máy hành chính;

+ Chức năng bố trí, sắp xếp cán bộ, phát triển nguồn nhân lực;

+ Chức năng điều hành, hướng dẫn, thi hành;

+ Chức năng phối hợp;

+ Chức năng tài chính;

+ Chức năng theo dõi, kiểm tra, giám sát,báo cáo;

+ Chức năng sơ kết, tổng kết, đánh giá

2) Giai đoạn soạn thảo;

3) Giai đoạn thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban;

4) Giai đoạn xem xét tại Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

5) Giai đoạn thảo luận tại các kỳ họp của Quốc hội;

6) Giai đoạn thông qua tại Quốc hội

Trang 21

+ Phát huy quyền lực của nhân dân;

+ Tổ chức, quản lý kinh tế;

+ Tổ chức, quản lý văn hóa – xã hội;

+ Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;

- Chức năng đối ngoại:

+ Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;

+ Khác với chức năng lập pháp là hoạt động xây dựng pháp luật, cụ thể là soạn thảo và ban

hành các đạo luật và những văn bản quy phạm pháp luật khác (việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật được gọi là lập quy); chức năng giám sát.

+ Và khác với chức năng Tư pháp là hoạt động bảo vệ pháp luật (kiểm sát, truy tố, xét xử).

- Ngoài ra hành chính nhà nước còn có những chức năng riêng:

+ Theo cơ cấu tổ chức hệ thống, là những hoạt động hành chính của cơ quan nhà nước ở trungương, những hoạt động hành chính của cơ quan nhà nước ở địa phương;

+ Theo nhóm ngành lĩnh vực, chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức năng văn hóa…

Trang 22

Câu 8: Phân tích đường lối, chủ trương cải cách hành chính trong tiến trình đổi mới.

Cải cách hành chính ở Việt Nam là công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức

và kinh nghiệm về quản lý hành chính nhà nước trong thời kỳ mới, có nhiều vấn đề vừa tìmhiểu, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm Vì vậy, việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơbản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng như việc đề ra những nội dung, phươnghướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạokhông ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới được khởiđầu từ Đại Hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1986

Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, ĐạiHội VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trươngthực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước Thực hiện nghịquyết Đại Hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ,bớt đầu mối Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn quácồng kềnh, nặng nề

Đến Đại Hội VII, Đảng xác định tiếp tục cải cách hành chính nhà nước và đề ra những nhiệm

vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc Hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức vàphương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa phương Trên cơ sở những nhiệm

vụ do Đại Hội VII đề ra, trong nhiệm kỳ này đã tiến hành đợt sắp xếp lần thứ hai kể từ Đại Hội

VI hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiến lược ổn định vàphát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại Hội VII thông qua đã khẳng định bước tiến về

lý luận, nhận thức về nền hành chính nhà nước Cương lĩnh đã nêu về nhà nước phải có đủquyền lực và có đủ khả năng định ra luật pháp về tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hộibằng pháp luật Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các

cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của nhà nước Chiến lược cũngnêu trọng tâm cải cách nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệthống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệuquả

Thực hiện nghị quyết Đại Hội VII, tháng 04 năm1992, Quốc hội nước Cộng hội đã thông quaHiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1980 Hiến pháp 1992 thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn vềphân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong tổng thể quyền lựcthống nhất của nhà nước

Sau Đại Hội VII, từ 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ tư duy, quan niệm, nhậnthức của Đảng về nền hành chính nhà nước và về cải cách hành chính Hội nghị trung ương 8khoá VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhànước Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là trọng tâm của việc tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch có

đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệuquả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắclực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội Lần đầu tiên

ba nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách hệ thống trongnghị quyết trung ương 8, đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy

và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức

Việc thực hiện nghị quyết trung ương 8 khoá VII đã mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn chuyểnbiến thật sự trong cải cách hành chính ở nước ta Có thể nói nghị quyết trung ương 8 (khoá VII)

Trang 23

có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính của hơn 25 năm đổi mới vừa qua.Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện nhà nướctrong những năm trước mắt, nghị quyết Đại Hội VIII (năm 1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hànhcải cách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thựchiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996-2000.Với tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính được đề ra trong nghị quyết trung ương 8 (khoáVII) một cách tích cực theo chương trình, kế hoạch, nghị quyết Đại Hội VIII nhấn mạnh nhiệm

vụ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng và banhành văn bản pháp luật của Chính phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hànhchính, và sắp xếp lại bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, hợp nhất một số cơquan quản lý chuyên ngành về kinh tế trên cơ sở xác định rõ và thực hiện đúng chức năng quản

lý nhà nước của các bộ, ngành Theo đó, bốn điểm bổ sung quan trọng trong định hướng cảicách được nghị quyết đề ra là:

- Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp hành chính;

- Tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hoá sự phân cấp quản lý nhà nước giữa các cơ quan của Chínhphủ với chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Đổi mới chế độ công chức và công vụ (bao gồm sửa đổi quy chế thi tuyển, bồi dưỡng, đào tạo mới và trẻ hoá đội ngũ cán bộ, công chức, kiên quyết xử lý và sa thải những người thoái hoá, biến chất; tăng cường biện pháp và phối hợp lực lượng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, cửa quyền trong bộ máy quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước);

- Thành lập Toà án hành chính và thực hiện xã hội hoá đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vựcdịch vụ công

Hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành trung ương (khoá VIII) họp tháng 06/1997 ra nghị quyết

về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Một trong những chủ trương và giải pháp lớn về cải cách hành chính đượcnhấn mạnh trong nghị quyết quan trọng này là bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chínhtrị của xã hội, giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước, phát huy quyền làm chủcủa nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Nhà nước, trong giám sát hoạt động của bộ máy Nhànước và hoạt động của cán bộ, công chức Từ đó, Chính phủ ban hành các quy chế thực hiệndân chủ ở cơ sở

Trong việc xây dựng chiến lược về cán bộ cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước đến năm 2020, nghị quyết trung ương 3 đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng độingũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực, coi đó là yếu tố quyết định đến chất lượng bộmáy nhà nước Cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, được bố trí,điều động theo nhu cầu và lợi ích của đất nước

Nghị quyết trung ương 6 (lần 2), nghị quyết trung ương 7 (khoá VIII), đã biểu thị một quyếttâm chính trị rất lớn về việc tiếp tục tiến hành cải cách hành chính, đặt cải cách hành chínhtrong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị

Từ việc kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng đã đi đến khẳng định, trongđiều kiện một đảng cầm quyền, sự đổi mới chưa đồng bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị làtrở ngại lớn của công cuộc cải cách hành chính trong thời gian qua Không thể tiến hành cảicách riêng nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổimới tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân Cũng không thể cải cáchhành chính một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các

cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp

Trang 24

Từ nhận thức đó, nghị quyết trung ương 7 (khoá VIII) đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại tổchức bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theohướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp mộtbước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chínhsách tiền lương.

Đại hội IX (năm 2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nướcdân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giảipháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng

và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực;phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công;tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…Đại hội X (năm 2006), Đảng ta tiếp tục chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính và đề ra cácchính sách, giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính công, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước

về kinh tế, xã hội Tập trung đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ theo hướng xây dựng

hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại Luật hóa cơ cấu tổ chức củachính phủ; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý Phân cấpmạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định

về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với trungương

Triển khai nghị quyết Đại hội X, nghị quyết số 17-NQ/TW Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành

trung ương (khóa X) về “đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” đã đánh giá những kết quả bước đầu quan trọng của cải cách hành

chính, những hạn chế, yếu kém, đồng thời đề ra nhiều chủ trương về cải cách hành chính, trong

đó luôn xác định cải cách hành chính là một khâu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới để pháttriển đất nước Các chủ trương đó là:

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính

- Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính

- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các cơ quan hành chính nhà nước

- Tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức

- Cải cách tài chính công

- Hiện đại hoá nền hành chính

- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với nhân dân, huy động sự tham gia cóhiệu quả của nhân dân và xã hội vào hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước

- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên đối với công tác cải cách hànhchính

Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương củacán bộ, công chức trong hệ thống chính trị về cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục cải cáchhành chính Xây dựng chương trình hành động thiết thực về cải cách hành chính trong từng cơquan hành chính nhà nước Tập trung chỉ đạo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm và có sơ kết,uốn nắn kịp thời Bảo đảm cho công tác cải cách hành chính thật sự là một khâu đột phá trongphát triển kinh tế - xã hội, là một nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của các cấp uỷ và cơ quan

Trang 25

hành chính nhà nước

Trang 26

Câu 9: Phân tích nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, theo lĩnh vực và theo lãnh thổ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ta, cho ví dụ.

1 Quản lý nhà nước theo ngành theo lĩnh vực.

* Khái niệm:

- Ngành trong kinh tế là tổng hợp của nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh, mà hoạt động củachúng có những đặc trưng kỹ thuật – sản xuất giống nhau, hoặc tương tự nhau: Cùng thực hiệnmột phương pháp công nghệ, hoặc công nghệ tương tự; sản phẩm sản xuất ra từ một loạinguyên liệu hay nguyên liệu đồng loại; sản phẩm có công dụng cụ thể giống nhau hoặc tương

tự nhau

- Quản lý theo ngành là việc quản lý về mặt kỹ thuật, về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ, quản lýngành ở trung ương đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc ngành trong phạm vi cảnước

- Quản lý nhà nước theo lĩnh vực là sự quản lý các lĩnh vực trong ngành, như trong ngành khoahọc và công nghệ thì gồm nhiều lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học, hợptác quốc tế về khoa học và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên,… haynói khác hơn là sự chia nhỏ quản lý theo ngành nhằm thực hiện quản lý nhà nước có hiệu quảhơn là quản lý theo lĩnh vực

* Nội dung:

Quản lý nhà nước theo ngành bao gồm các nội dung sau:

- Xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật, chủ trương chính sách phát triển kinh tế toànngành

- Xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các dự án phát triểnkinh tế toàn ngành

- Xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực,nguồn vốn, nguồn nhiên liệu, khoa học và công nghệ…cho ngành

- Xây dựng và triển khai thực hiện các quan hệ tài chính giữa các đơn vị kinh tế trong ngànhvới Ngân Sách nhà nước

- Thống nhất trong toàn ngành và liên ngành về việc tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng sảnphẩm Hình thành tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm

- Thực hiện các chính sách, biện pháp phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chungcho tòan ngành và thực hiện sự bảo hộ sản xuất của ngành nội địa trong những trường hợp cầnthiết

- Áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất khoa học và hợp lý các đơn vị sản xuất kinh doanhtrong cùng ngành

- Thanh tra và kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế trong ngành Địnhhướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự mất cân đối trong cơ cấu ngành và vị tríngành trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân

- Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trường chung cho ngành, bảo hộ sảnxuất ngành nội địa

- Thống nhất hóa, tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, hình thành hệthống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để cơ quan có thẩm quyền ban bố

- Thực hiện các biện pháp các chính sách quốc gia trong việc phát triển nguồn nhân lực, nguồnnguyên liệu, nguồn trí tuệ khoa học và công nghệ chung cho ngành

- Tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, pháp quy thể chế kinh tế theo chuyênmôn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hình thành hệ thống văn bản

Trang 27

- Thực hiện công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn lãnh thổ.

- Thực hiện sự phân bố các cơ sở sản xuất trên địa bàn lãnh thổ một cách hợp lý và phù hợp vớilợi ích quốc gia

- Quản lý kiểm soát việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia trên địa bàn lãnh thổ

- Quản lý, kiểm soát việc xử lý chất thải bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn lãnh thổ

3 Kết hợp quản lý theo ngành theo lĩnh vực và theo lãnh thổ:

* Khái niệm: Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có sự phối

hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế

Cả hai chiều quản lý đều phải có trách nhiệm chung trong việc thực hiện mục tiêu của ngànhcũng như của lãnh thổ

* Nội dung kết hợp: Sự kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ được thể hiện như sau:

- Thực hiện quản lý đồng thời theo cả hai chiều: Quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ

Có nghĩa là các đơn vị phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ), đồng thời phải chịu sự quản lýlãnh thổ của chính quyền địa phương trong một số nội dung theo chế độ quy định

- Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, khôngtrùng lắp, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

- Các cơ quan quản lý nhà nước theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý theothẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản, hiệp quản, tham quản với cơ quan thuộc chiều kia,theo quy định cụ thể của nhà nước

Tổng thể kinh tế của một đơn vị lãnh thổ có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với tổng thể kinh

tế của các vùng kinh tế lớn nhằm bảo đảm sự phát triển kinh tế chung của cả nước và bảo đảm

sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên tại chỗ và nhận từ bên ngoài, bảo vệ và cải tạo môi trườngthiên nhiên xung quanh trên cơ sở khắc phục những mâu thuẫn giữa ngành và ngành, giữangành và lãnh thổ, giữa lãnh thổ và lãnh thổ; nó xoá bỏ tình trạng phân bổ riêng lẻ, phân tán,mỗi đơn vị kinh tế khép kín trong hàng rào của mình, thiếu mối quan hệ hợp tác sử dụng côngsuất, nhiên liệu, phế liệu, năng lượng, cơ sở hạ tầng và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành Định hướng phát triển kinh tế các vùng lãnh thổ là phát huy các thế mạnh kinh tế tự nhiên, tàinguyên, khí hậu, xã hội và nhân văn của các vùng để xác định quy hoạch, cơ cấu ngành kinh

tế, thành phần kinh tế thích hợp để đạt hiệu quả kinh tế- xã hội cao Định hướng phát triển

các vùng lãnh thổ hiện nay là trung du và miền núi phía bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung

Trang 28

Bộ và Duyên hải Trung Bộ, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, đồng bằng Cửu Long

Yêu cầu khách quan của quản lí nhà nước về kinh tế, nhằm đảm bảo cơ cấu ngành và cơ cấulãnh thổ trong nền kinh tế quốc dân Các đơn vị thuộc các ngành kinh tế - kỹ thuật nằm trên cácđịa bàn lãnh thổ khác nhau cũng đều chịu sự quản lí nhà nước theo ngành của các bộ (trungương) và của các cơ sở chuyên môn (ở địa phương)

Trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của luật pháp, quản lí theo ngành bảo đảm cơ cấungành phát triển hợp lí trong phạm vi cả nước và có hiệu quả nhất Các đơn vị kinh tế nằm trênmột đơn vị hành chính - lãnh thổ cũng chịu sự quản lí nhà nước theo lãnh thổ của Chính phủtrung ương trên tổng thể, và của chính quyền địa phương các cấp theo quy định phân cấp củaluật pháp Trong cơ cấu quyền lực và phân công trách nhiệm quản lí hành chính - nhà nước,Chính phủ quản lí thống nhất các ngành và các đơn vị lãnh thổ; chính quyền địa phương làngười chịu trách nhiệm quản lí kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ, đại biểu cho quyền lợinhân dân ở địa phương; đồng thời là một bộ phận của quyền lực nhà nước thống nhất ở địaphương, là người đại diện cho nhà nước (trung ương) ở địa phương

Vì những lí do đó nên nhất thiết phải kết hợp hai mặt quản lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ Trên cơ sở phân định rõ chức năng quản lí, các quy định về phân công, phân cấp và

xây dựng nội dung và mức độ thống nhất quản lí ngành cho từng ngành theo đặc điểm ngành;nội dung và mức độ quản lí theo lãnh thổ; nội dung, mức độ kết hợp quản lí theo ngành vớiquản lí theo lãnh thổ, nhằm phát huy cao nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả nước, củatừng vùng kinh tế, từng địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thốngnhất lợi ích quốc gia và lợi ích từng địa phương trong sự phát triển một cách có lợi nhất nhữnglợi thế của địa phương Sự kết hợp và thống nhất hai mặt quản lí chủ yếu được thể hiện:

1) Tổ chức điều hoà, phối hợp các hoạt động của tất cả các đơn vị thuộc các ngành, các thànhphần kinh tế, các cấp quản lí, cũng như các tổ chức văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng đểphát triển nền kinh tế quốc dân theo một cơ cấu hợp lí nhất, có hiệu quả nhất về ngành cũngnhư về lãnh thổ

2) Quản lí công việc chung của quốc gia trên phạm vi cả nước, cũng như trên từng đơn vị hànhchính - lãnh thổ kết hợp hài hoà lợi ích chung của cả nước, cũng như lợi ích của địa phương 3) Phục vụ tốt các hoạt động của tất cả các đơn vị nằm trên lãnh thổ, như về kết cấu hạ tầng,bảo vệ môi trường và tài nguyên, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, an ninh, trật tự côngcộng, phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của dân cư sống và làm việc trên lãnh thổ, bất kể

là thuộc cơ quan, xí nghiệp trung ương hay địa phương

Trang 29

Câu 10: Phân tích thực trạng cải cách nền hành chính ở nước ta hiện nay, phương hướng, giải pháp cải cách hành chính.

1 Thực trạng nền hành chính Việt Nam

Qua 10 năm triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn2001-2010 đã thu được nhiều kết quả tích cực Nhận thức của các cấp, các ngành thấy rõ yêucầu của cải cách hành chính nhà nước được nâng lên, cải cách hành chính nhà nước là một quátrình khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ, liên tục và có quyết tâm thực hiện

trong cả hệ thống chính trị Kết quả cải cách hành chính nhà nước trên tất cả các nội dung cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công; hiện đại hoá nền hành chính đã góp phần tích cực thúc đẩy phát

triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị và trật tự xã hội ở nước ta trong thời gian qua

*Thành tựu:

- Kết quả rõ nét nhất là hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước của hệ thống hànhchính được nâng cao rõ rệt, không chỉ thể hiện trong điều kiện bình thường mà còn được bảođảm trong những tình huống cấp bách, khó khăn như thiên tai, dịch bệnh v.v

- Thể chế của nền hành chính được cải cách và hoàn thiện một bước cơ bản phù hợp với yêucầu phát huy dân chủ với thiết lập chế độ công khai, minh bạch và cơ chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Phần lớn các chủ trương quan trọng của Đảng về các vấn đề cơbản trong quá trình đổi mới, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩađược thể chế hóa và tổ chức triển khai Cải cách thủ tục hành chính đã cải thiện mối quan hệgiữa nhà nước và nhân dân và làm tăng tính dân chủ trong quan hệ giữa các cơ quan hành chínhnhà nước; thu hút sự quan tâm của nhân dân đến các công việc của nhà nước và hoạt động củanền hành chính

- Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước tiếp tục được điều chỉnh,bảo đảm quản lý nhà nước và phục vụ xã hội Thông qua kết quả và tác động của những cảicách, điều chỉnh trong phân công, phân cấp, quan niệm và nhận thức về vai trò và chức năngquản lý vĩ mô của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường ngày càng rõ nét và phù hợp hơn, tổchức bộ máy các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương từng bước được sắp xếp lạitheo hướng hợp lý, gọn đầu mối

- Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với người dân, doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể,nền hành chính mới theo hướng phục vụ phát triển đang hình thành Thông qua một loạt các cảicách và biện pháp như cải cách thủ tục hành chính, cơ chế ''một cửa'', tăng cường công tác kiềmtra, thanh tra công vụ v.v Phương châm phục vụ dân, doanh nghiệp của bộ máy hành chính đãbước đầu được thiết lập, tạo đà cho những chuyển động mạnh mẽ trong cả hệ thống công vụ…

- Cùng với những tác động của các cuộc cải cách khác như cải cách kinh tế, cải cách tư pháp…Cải cách hành chính đã góp phần quan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội ởnước ta, củng cố lòng tin của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị-xã hội

* Hạn chế:

- Hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ, thống nhất, vẫn còn có sự chồng chéo, nhiều về số lượngnhưng chất lượng còn hạn chế

- Có sự giảm đầu mối trực thuộc Chính phủ, nhưng bộ máy bên trong các bộ còn chưa giảm

Bộ máy chính quyền địa phương chưa ổn định, chưa có quy hoạch tổng thể đơn vị hành chínhcác cấp Công tác kiểm tra sau phân cấp còn buông lỏng

- Chưa xây dựng được cơ cấu cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính và chưa thựchiện tốt việc đào tạo trước khi bổ nhiệm; cơ chế quy định trách nhiệm của người đứng đầu chưa

Trang 30

rõ ràng và chưa đánh giá được chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức sau đào tạo; công tác cảicách tiền lương triển khai còn chậm, tiền lương chưa thực sự là động lực của cán bộ, côngchức Đội ngũ cán bộ, công chức nhìn chung vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp Côngnghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước.

- Cải cách tài chính công thực hiện mới chỉ là bước đầu, kết quả đạt được còn hạn chế Các thểchế về cải cách tài chính công chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời cho phù hợp với thực tế

- Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 vào hoạt động củacác cơ quan hành chính nhà nước theo Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 củaThủ tướng Chính phủ kết quả đạt được còn hạn chế Việc hiện đại hoá công sở chưa đồng bộ,dẫn tới manh mún, phân tán Kết quả đầu tư xây dựng trụ sở xã vẫn chưa thực hiện được nhưChương trình tổng thể đề ra Ứng dụng công nghệ thông tin không đạt mục tiêu của Chươngtrình tổng thể

* Nguyên nhân cải cách hành chính chậm, hiệu quả còn thấp có những nguyên nhân chủ yếu

sau đây:

Thứ nhất, công tác chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,

các Bộ trưởng tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khôngthật sự kiên quyết, nhất quán và cũng không bảo đảm tính thường xuyên, liên tục Hoạch địnhchính sách, thể chế vốn đã khó, thường phải kéo dài, nhưng một khi đã được ban hành thì khâu

tổ chức thực hiện lại quá chậm và kém hiệu quả Trạng thái chung là chờ đợi, chờ hướng dẫn,chờ đôn đốc, rất ít bộ, ngành và tỉnh chủ động, quyết liệt triển khai

Thứ hai, chậm nghiên cứu, kết luận và thể chế hoá các vấn đề liên quan mật thiết tới cải cách

hành chính Thực tế cho thấy, bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa đặt ra nhiều vấn đề, đòi hỏi có thời gian nghiên cứu, nhưng một số vấn đề như “bỏ cơ chế

bộ chủ quản”, “bộ thực hiện vai trò chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp”…, tuy đã

có kết luận, nhưng khi vào cụ thể thì việc ban hành các quy định lại rất chậm Lý luận thì khẳngđịnh bộ tập trung vào thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô, không can thiệp sâuvào hoạt động của doanh nghiệp, nhưng thực tiễn thì Bộ trưởng vẫn phải xử lý khá nhiều côngviệc không thuộc tầm vĩ mô; nếu không giải quyết thì cũng không rõ ai giải quyết Mối quan hệgiữa hành chính, doanh nghiệp và sự nghiệp đang đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn, cụ thể hơn

Thứ ba, khá nhiều vấn đề của cải cách hành chính đòi hỏi phải được giải quyết trong tổng thể các cuộc cải cách, đổi mới đang diễn ra ở nước ta Mối quan hệ, chi phối lẫn nhau giữa

cải cách hành chính, cải cách kinh tế, cải cách tư pháp, đổi mới hoạt động lập pháp và đổi mớitừng bước hệ thống chính trị, nếu không được bảo đảm, thiếu đồng bộ sẽ ảnh hưởng tới tiếntrình cải cách đổi mới nói chung và cải cách hành chính nói riêng Nội dung và phương thứclãnh đạo của Đảng đối với nhà nước nói chung và đối với cơ quan hành chính nói riêng cũngchậm đổi mới

Thứ tư, chưa có biện pháp, cơ chế tạo động lực, hưởng ứng cải cách của đa số cán bộ,

công chức cũng như chưa xử lý nghiêm bộ phận cán bộ, công chức thoái hoá, kém phẩm chấttrong thực thi công vụ

* Các bài học kinh nghiệm:

Một là, nhận thức của các cấp, các ngành về mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của cải cách

hành chính đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước có ý nghĩa quyết định chi phốitới hành động cụ thể, trực tiếp trong cải cách hành chính Do đó, phải coi trọng công tác tuyêntruyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật củaNhà nước về cải cách hành chính đối với các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân để nâng cao

Trang 31

nhận thức toàn xã hội.

Hai là, bảo đảm sự nhất quán, kiên trì, liên tục trong triển khai cải cách hành chính: từ xây

dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính hàng năm của Chính phủ, các bộ, ngànhTrung ương và các tỉnh cần xác định rõ các mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp đến tổ chức vàkiểm tra thực hiện; đánh giá, kiểm điểm kết quả cải cách hành chính phải dựa vào đánh giánhững mục tiêu đã đề ra cũng như tác động tới xã hội của cải cách hành chính

Ba là, công tác chỉ đạo triển khai thống nhất, đồng bộ từ Chính phủ tới chính quyền địa phương

các cấp đóng vai trò quyết định đến sự thành công của cải cách Cải cách hành chính là nhiệm

vụ thường xuyên, liên tục, gắn với quá trình tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơquan, tổ chức Cải cách hành chính phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, cải cách kinh

tế, cải cách lập pháp và cải cách tư pháp

Bốn là, nâng cao vai trò của cơ quan chủ trì tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc và theo dõi việc thực hiện các nội dung, các

đề án, dự án của Chương trình cải cách hành chính

Năm là, coi trọng công tác thí điểm, làm thử trong triển khai cải cách hành chính Thông qua

thí điểm mới có điều kiện đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút ra những vấn đề cần xử lý tiếp và nhânrộng nếu thấy đúng

Sáu là, xác định các mục tiêu mang tính định lượng với mức độ phù hợp, thiết thực Việc tổ

chức thực hiện các Chương trình hành động phải gắn với tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chínhtrị của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị Cơ chế tổ chức thực hiện cácChương trình hành động, sự phân công, phối hợp giữa các bộ có liên quan chưa phù hợp vớitính hệ thống của chương trình tổng thể làm ảnh hưởng tới kết quả và tính thời gian của sảnphẩm các chương trình hành động

Bảy là, điều kiện quan trọng bảo đảm sự thành công của cải cách hành chính là quyết tâm chính

trị và trách nhiệm của người đứng đầu Trên thực tế, bài học kinh nghiệm này chưa được thựchiện một cách triệt để, mặc dù nghị quyết của Đảng, văn bản của Chính phủ đã quy định rõnhưng thiếu biện pháp cụ thể để thực thi

2 Phương hướng cải cách hành chính:

Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành

chính nhà nước, trong đó sửa đổi, bổ sung các văn bản luật quan trọng về tổ chức bộ máy; ràsoát, ban hành các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các bộ, cơ quanngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện vàban hành thể chế về công chức, công vụ, về tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp dịch

vụ công

Hai là, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, trong đó minh bạch hoá, tập trung rà soát, quy

định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính các cấp, chuyển giao mạnh những côngviệc cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm không hiệu quả cho các tổ chức xãhội, tổ chức phi Chính phủ đảm nhận; tiếp tục thực hiện mô hình bộ quản lý đa ngành, đa lĩnhvực; đẩy mạnh phân cấp; đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ quan hành chính, các đơn vị sựnghiệp dịch vụ công

Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành

chính trên các lĩnh vực; thực hiện các quy định về kiểm soát thủ tục hành chính; công khai,minh bạch các thủ tục hành chính và nghiên cứu thực hiện thống nhất cách tính chi phí cá nhân,

tổ chức phải bỏ ra khi giải quyết các thủ tục hành chính Tiếp tục thực hiện tốt cơ chế một cửa,một cửa liên thông hiện đại

Trang 32

Bốn là, cải cách chế độ công vụ, công chức, tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh

cán bộ, công chức; xây dựng cơ cấu công chức gắn với vị trí việc làm; hoàn thiện chế độ tuyểndụng, thi nâng ngạch, chế độ đánh giá cán bộ, công chức, chế độ đào tạo, bồi dưỡng và cải cách

cơ bản chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức

Năm là, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan hành chính, đẩy nhanh quá

trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính một cách hiệu quả,thực hiện các phục vụ hành chính công trực tuyến để tạo thuận lợi cho tổ chức và cá nhân trongcác giao dịch với cơ quan hành chính

3 Các giải pháp cải cách hành chính:

- Thứ nhất, tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính thống nhất, đề cao vai

trò trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp

- Thứ hai, thực hiện cải cách hành chính đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.

- Thứ ba, thực hiện cải cách hành chính đồng bộ từ trung ương đến địa phương.

- Thứ tư, tăng cường nguồn lực cho cải cách hành chính.

- Thứ năm, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền.

Trang 33

Câu 11: So sánh quản lý nhà nước về đô thị và nông thôn Ở nước ta hiện nay cần xây dựng mô hình chính quyền đô thị không, tại sao ?

1 Đặc điểm của đô thị và nông thôn:

- Đô thị có mật độ dân số cao; lao động phi nông nghiệp là chủ yếu; là nơi đóng vai trò chủ đạocho sự phát triển của một vùng, khu vực hay quốc gia Người dân sống theo lối sống đô thị,mức sống cao hơn vùng nông thôn, các dịch vụ phát triển mạnh hơn và phong phú hơn

- Nông thôn có mật độ dân số thấp, nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu Người dân sống theo lốisống đơn giản của vùng nông thôn, mức sống thấp và trung bình, các dịch vụ thấp và khôngnhiều

2 Chủ thể và đối tượng quản lý:

* Chủ thể quản lý:

- Cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung:

+ Chính phủ, thống nhất quản lý qui hoạch xây dựng đô thị cả nước Các bộ, ban, ngành có liên

quan (Bộ xây dựng…) giúp chính phủ quản lý.

+ Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý địa bàn phụ trách Ủy bannhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện và Ủy ban nhân dân phường, thị trấn chịutrách nhiệm quản lý theo sự phân cấp hành chính trong địa bàn mình phụ trách

- Cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền riêng:

+ Các sở, ban, ngành của địa phương giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trungương ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của chính phủ, của Ủy ban nhândân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và bộ, ngành về quản lý xây dựng đô thị theo uỷquyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân các cấp tương ứng quản lý quyhoạch xây dựng đô thị theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân và cơ quan chuyên môn cấp trên.Tuy nhiên cũng không tuyệt đối hóa lĩnh vực quản lý, đôi khi có những cơ quan quản lý nhànước cả về đô thị và cả về nông thôn

* Đối tượng quản lý:

- Đô thị, đối tượng quản lý là người dân đô thị gọi là thị dân

- Nông thôn, đối tượng quản lý là người dân vùng nông thôn gọi là nông dân

3 Cơ sở chính trị - pháp lý:

* Chính trị:

Các nghị quyết, văn kiện đại hội Đảng, cụ thể là:

- Văn kiện đại hội 10: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giảiquyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăngngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá,thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nângcao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương

- Ngày 5-8, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW "Về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn" do Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Ðảng lần thứ 7 họp từngày 9 đến 17 tháng 7 đã thảo luận và thông qua Mục tiêu tổng quát: Không ngừng nâng caođời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng …Xây dựng nềnnông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn…Xâydựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại…

* Pháp lý:

Trang 34

- Về Đô thị, điển hình như:

Nghị định 29/2007/NĐ-CP về Quản lý kiến trúc đô thị

Nghị định 64/2010/NĐ-CP về Quản lý cây xanh đô thị

NĐ 60/CP ngày 5/7/1994 về nhà ở, đất ở, NĐ 61/CP ngày 5/7/1994 về mua bán, kinh doanh

nhà ở và các văn bản pháp quy khác của trung ương và địa phương …

- Về nông thôn, điển hình như:

Ngày 08/01/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông

Ngày 12/4/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính

sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

Nghị định Số: 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 về Chính sách khuyến khích doanh

nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

4 Nội dung quản lý nhà nước:

* Khái quát: Quản lý nhà nước về đô thị và nông thôn căn bản có 4 nội dung khái quát sau:

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho quản lý nhà nước

- Tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Tổ chức bộ máy, triển khai thực

hiện, tuyên truyền phổ biến,…

- Kiểm tra thực hiện văn bản quy phạm pháp luật

- Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại tố cáo,…

* Cụ thể: Các nội dung cơ bản cụ thể như sau:

1 Quản lý Nhà nước về qui hoạch XD đô thị:

+ Lập và xét duyệt quy hoạch XD đô thị

+ quản lý nhà nước về cải tạo và xây dựng công

trình

+ Trách nhiệm và quyền hạn quản lý quy hoạch

và XD đô thị của các cấp chính quyền:

2 Quản lý Nhà nước về nhà ở, đất ở đô thị:

- Nội dung quản lý nhà ở đô thị:

+ Ban hành các chính sách, quy chế, tiêu chuẩn

về quy hoạch, thiết kế, xây dựng, sử dụng và

quản lý nhà ở

+ Lập kế hoạch xây dựng, phát triển nhà ở

+ Quản lý, kiểm soát việc xây dựng, cải tạo nhà

+ Quản lý kinh doanh phát triển nhà

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm và giải

quyết các tranh chấp về nhà ở

- Nội dung quản lý đất ở đô thị:

+ Điều tra, khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính

1 Quản lý về nông nghiệp và kinh tế nông thôn 2.Quản lý về quy hoạch các điểm dân cư nông thôn:

- Quản lý quy hoạch các điểm dân cư: Ban hành các

quy định về quy hoạch xây dựng và quản lý quyhoạch xây dựng các điểm dân cư ; lập quy hoạchxây dựng điểm dân cư nông thôn

- Quản lý đất đai, xây dựng và môi trường trong các điểm dân cư:

+ Tổ chức giao đất và cho thuê đất, cấp giấy chứngnhận sử dụng đất nông nghiệp, đất ở theo quy địnhcủa luật đất đai và các văn bản pháp quy khác; + Chính quyền địa phương, các nhà chuyên môn tưvấn việc xây dựng, cải tạo công trình kiến trúc nhàở;

+ Quản lý xây dựng hạ tầng kỹ thuật + Bảo vệ môi trường, vệ sinh công cộng bằng cách

tổ chức quản lý từ khâu bàn bạc, ban hành quy chế,nội quy, hương ước, ký kết hợp đồng thực hiện với

tổ chức xã hội, cá nhân theo chế độ thầu khoán vàduy trì phong trào toàn dân đóng góp tham gia

- Quản lý các vấn đề về xã hội, an ninh và trật tự nông thôn:

Trang 35

và giá đất ở đô thị.

+ Lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đô thị

+ Giao đất, cho thuê đất đô thị, cấp giấy CN

quyền sử dụng đất, thu hồi đất

3 quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị:

- Về giao thông vận tải đô thị:

+ Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và

văn bản pháp quy của ngành giao thông vận tải

+ Ban hành các quy định về an toàn giao thông

vận tải đô thị

+ Phân công phân cấp và xây dựng cơ chế phối

hợp quản lý

+ Tổ chức phân luồng, phân tuyến, phân cấp loại

đường đô thị, quản lý sử dụng đường đô thị

+ Xây dựng chính sách khai thác tiềm năng,

khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia

phát triển giao thông vận tải

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm

+ Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chấp

hành pháp luật về giao thông cho người dân đô

thị

- Quản lý nhà nước về cung cấp nước sạch đô

thị.

- Quản lý nhà nước về thoát nước đô thị.

- Quản lý nhà nước về cấp điện, chiếu sáng công

cộng

4 Quản lý nhà nước về bảo vệ cảnh quan và

môi trường đô thị.

5 Quản lý nhà nước về một số lĩnh vực hạ tầng

xã hội và an ninh, trật tự an toàn xã hội.

+ Thực hiện các chính sách xã hội xoá đói giảmnghèo, chính sách đối với gia đình có công với cáchmạng, chính sách dân số KHHGĐ; chính sách pháttriển giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá nâng cao dântrí, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng nông thônmới;

+ Có biện pháp hạn chế các tệ nạn xã hội ở nôngthôn;

+ Thực hiện quy chế dân chủ thực sự ở nông thôn

3 Quản lý về xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn:

- Quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật:

+ Phát triển thuỷ lợi theo hướng đa dạng hoá mụctiêu;

+ Giao thông nông thôn: phát triển theo hướngthành mạng lưới nối liền mạng quốc gia thông suốtmọi thời tiết;

+ Hệ thống điện: Nhà nước hỗ trợ một phần cùngsức dân, khuyến khích nhà đầu tư trong và ngoàinước;

+ Cấp nước sạch sinh hoạt bằng nhiều hình thức;+ Thoát nước, chống ô nhiễm gây hại sức khoẻ nhândân

- Quản lý kết cấu hạ tầng xã hội:

+ Gồm nhà trẻ, trường học, nhà văn hoá, các cơ sởphòng chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá…

+ Nhà nước và chính quyền ban hành các chínhsách và biện pháp quản lý để hạn chế các tiêu cực

do thị trường gây ra;

+ Thực hiện phương châm “nhà nước và nhân dâncùng làm”;

+ Nhà nước tạo điều kiện cho vay lãi suất ưu đãi,giảm nhẹ thuế nông nghiệp, ưu tiên tiếp nhận dự ántài trợ nước ngoài về phát triển nông thôn

5 Việt Nam chúng ta rất cần phải tiến hành xây dựng mô hình chính quyền đô thị vì

những mục tiêu sau:

* Mục tiêu chung: Xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Phát triển và phân bố hợp lý trên địa bàn cả nước, tạo ra sự phát triển cân đối giữa các vùng

Tạo mối liên kết đô thị - nông thôn, bảo đảm chiến lược an ninh lương thực quốc gia; nâng cao

chất lượng đô thị, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp từng giai đoạn

phát triển chung của đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Trang 36

* Mục tiêu riêng: Quản lý nhà nước về nông thôn nhằm đạt mục tiêu là xây dựng nông thôn

mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổchức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn pháttriển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của ngườidân

Quản lý nhà nước về đô thị nhằm mục tiêu từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị ViệtNam phát triển theo mô hình mạng lưới đô thị; có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phùhợp, đồng bộ, hiện đại; có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiêntiến, giàu bản sắc; có vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế - xã hộiquốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xãhội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc

Trang 37

Câu 12: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam (cho ví dụ để làm rõ).

1 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước:

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ sự lãnh đạo của đảng cộng sản là hạt nhân của mọi thắng lợi của cáchmạng nước ta Bằng những hình thức và phương pháp hoạt động của mình đảng cộng sản ViệtNam giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của Nhà nước trênmọi lĩnh vực Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước mang tính toàn diện cả về chính trị, kinh

tế, tư tưởng, văn hóa, khoa học kỹ thuật, … Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nướckhông đồng nghĩa với việc can thiệp của Đảng vào hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các

cơ quan Nhà nước, mà Đảng chỉ định hướng về quan điểm đường lối chính trị, công tác tổ chứclên công tác chuyên môn Hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không phải là

không có giới hạn Hiến pháp nước ta đã xác định rõ “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật” (Điều 4 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam); Quy định này không những không phủ nhận vai trò của Đảng đối với Nhà nước mà cònnêu cao uy tín lãnh đạo của tổ chức Đảng

Nhìn vào thành quả cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay chúng ta khẵngđịnh vai trò của Đảng đối với hoạt động quản lý Nhà nước là điều tất yếu khách quan, vì vậy sựlãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một nguyên tắc được đặt lên hàng đầu của quản lý hành

chính Nhà nước, Điều 4 Hiến pháp nước ta đã khẳng định “Đảng cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

* Nội dung nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước:

Nguyên tắc này được đưa ra từ Đại hội IV của Đảng cộng sản Việt Nam và được hoàn thiện dần qua các Đại hội VI, VII, VIII, IX và X với nội dung cụ thể như sau:

- Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách chủ trương, nghị quyết của Đảng về các lĩnh vựchoạt động khác của quản lý hành chính nhà nước Các vấn đề quan trọng của quản lý Nhà nướcđều cần có đường lối, chủ trương của các tổ chức Đảng Từ chi bộ cơ sở đến các cấp ủy Đảng,việc đưa ra phương hướng hoạt động tạo tiền đề cơ sở quan trọng để các chủ thể quản lý hànhchính nhà nước có thẩm quyền thể chế hóa thành văn bản pháp luật thực hiện trong quản lý

hành chính nhà nước Điều 22 Luật ban hành văn bản pháp luật quy định “Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội” Khi quyết định vấn đề trong quản lý hành chính nhà nước bao giờ cũng dựa trên chủ trương chính sách của Đảng; Tuy vậy cần nhấn mạnh rằng: Nghị quyết của Đảng không phải là văn bản mang tính quyền lực pháp lý nên muốn thực hiện phải thông qua quyền lực của Nhà nước; Qua những hoạt động này đường lối chủ trương chính sách của Đảng mới được thực hiện, cụ thể hoá trong quản lý hành chính nhà nước.

- Đảng lãnh đạo thông qua công tác tổ chức cán bộ Đây là công việc có vai trò đặc biệt quantrọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý hành chính nhà nước Vì lẽ đó, một trong nhữngnguyên tắc về quản lý cán bộ, công chức được quy định tại Điều 5 của Luật Cán bộ, Công chức

có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2010 có quy định “Nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam” Đồng thời, nội dung quản lý cán bộ, công

chức và thẩm quyền quyết định biên chế cán bộ, công chức cũng được quy định rõ tại Điều 65,

66 và 67 của Luật cán bộ, công chức, Điều 66 có nêu rõ “Thẩm quyền quyết định biên chế cán

bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền của Đảng cộng sản

Trang 38

Việt Nam”.

- Đảng lãnh đạo không chỉ bằng đường lối chủ trương chính sách, công tác tổ chức cán bộ màcòn thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện nhằm đánh giá tính hiệu quả, tính thực tế củacác chính sách mà Đảng đề ra đảm bảo cho các hoạt động của các tổ chức Đảng có tính thôngtin 2 chiều để có biện pháp uốn nắn kịp thời làm cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước điđúng định hướng phù hợp lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc

Cùng với những hình thức trên, sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước cònthực hiện thông qua vai trò tiên phong gương mẫu của các tổ chức Đảng và đảng viên trong tất

cả các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Chính điều đó đã tạo cơ sở quan trọng để nângcao uy tín của Đảng đối với nhân dân, với cơ quan Nhà nước nhằm làm cho tổ chức Đảng trởthành hạt nhân lãnh đạo trong cơ quan quản lý hành chính nhà nước

Điều này thể hiện rõ hơn trong văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định đượctầm quan trọng trong công tác tổ chức và hoạt động của mình đối với bộ máy hành chính nhà

nước, thể hiện rõ ở việc “Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, đảm bảo vai trò quản

lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” Đồng thời, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, thể hiện ở “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay nhà nước” và “Thống nhất việc lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ trong hệ thống chính trị, thực hiện luân chuyển cán bộ, khắc phục tình trạng khép kính, cục bộ về cán bộ Tăng cường trách nhiệm của cán bộ Đảng viên là thủ trưởng cơ quan nhà nước”.

* Ý nghĩa:

- Về chính trị, đây là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị, nó thể hiện sự tín nhiệm và tôn vinh

của nhân dân, của dân tộc đối với Đảng Cộng sản Việt Nam Sự tôn vinh này thông qua mộtquá trình lịch sử từ khi mới được thành lập Đảng cho đến nay; và Đảng ta luôn đưa ra đườnglối, chủ trương đều vì quyền lợi của nhân dân và dân tộc, không vì lợi ích riêng của Đảng

- Ở góc độ pháp lý: Đảng lãnh đạo đã được quy định trong Điều 4 của hiến pháp nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2 Để phân biệt văn bản nào là văn bản quản lý nhà nước thì chúng ta phải căn cứ vào tính chất

pháp lý, dựa vào căn cứ này thì quyết định hành chính được chia thành quyết định chủ đạo,

quyết định quy phạm và quyết định cá biệt Căn cứ vào loại văn bản và chủ thể ban hành để xác

định, thì văn bản quản lý nhà nước (hay quyết định hành chính), bao gồm: Nghị quyết, quyết

định của chính phủ; chỉ thị, quyết định của bộ trưởng; quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp.

Ví dụ: Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam.

Mỗi đồng chí tự đưa ra ví dụ cho riêng mình.

Trang 39

Câu 13: So sánh cán bộ, công chức, viên chức Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay?

1 So sánh cán bộ, công chức, viên chức:

- Khái niệm:

+ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức

danh trong cơ quan của đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trungương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân

và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách nhà nước Công chức cấp xã được tuyển dụng giữ 1 chức danh chuyên mônnghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn, được hưởng lương từ ngân sách nhànước (khoản 2 và 3, Điều 4, Luật cán bộ công chức 2008)

+ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức

danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị –

xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành; quận, huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchnhà nước

+ Viên chức: (Theo Luật Viên chức đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010; dự kiến có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012) là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc

làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹlương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

- Phân biệt giống nhau, khác nhau:

* Giống nhau:

- Là công dân Việt Nam

- Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước

* Khác nhau:

- Trong biên chế (số lượng biên chế do cấp có thẩm

quyền quyết định cho 01 đơn vị theo chức năng,

nhiệm vụ được giao);

- Được định biên về số lượng biênchế sự nghiệp, báo cáo cấp cóthẩm quyền quyết định, phê duyệt

- Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,

chức danh (riêng cán bộ thì không tuyển dụng, cán

bộ được phê chuẩn, bổ nhiệm).

- Tuyển dụng dưới hình thức hợpđồng làm việc

- Làm việc tại các cơ quan nhà nước, của Đảng, tổ

chức chính trị-xã hội, một số đối tượng làm việc tại

cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an

nhân dân; làm việc tại đơn vị sự nghiệp với vai trò

quản lý

- Làm việc tại các đơn vị sựnghiệp

- Được điều chỉnh bằng Luật cán bộ công chức năm

2008 và các văn bản hướng dẫn dưới luật

- Hiện nay còn thực hiện theoPháp lệnh cán bộ công chức năm

1998, sửa đổi bổ sung năm 2003

và NĐ 116/2003/NĐ-CP đã hết

Trang 40

hiệu lực.

2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức nước ta hiện nay:

Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nước ta hiện nay tuy đã cơ bản đủ về số lượng vàđược đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ Tuy nhiên, qua đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụcủa cán bộ công chức, có những mặt đạt được và hạn chế, yếu kém sau:

- Những kết quả đạt được:

Về chất lượng, phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức hiện đang công tác đã được rèn luyện, thửthách qua quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước có bản lĩnh chính trị vữngvàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng Kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nănglực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được nâng cao về mọi mặt,góp phần tích cực vào thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước trong giai đoạn vừa qua.Đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng cũng như chất lượng

Từ một đội ngũ mỏng và yếu, ít được đào tạo trong thời kỳ chiến tranh đến một đội ngũ lớnmạnh đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhậpkinh tế quốc tế Trình độ đào tạo ngày càng được nâng cao, kỹ năng làm việc được tăng cường

đã tạo ra sự tự tin của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong 25 năm đổi mới đã có những chuyển biếnquan trọng về nhận thức, quan điểm tư tưởng, được thể hiện trong cơ chế, chính sách, pháp luật

từ khâu tuyển dụng, đào tạo và quản lý, từng bước đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh

tế-xã hội của đất nước

+ Tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức cònyếu, phong cách làm việc chậm đổi mới; tinh thần phục vụ nhân dân chưa cao; tệ quan liêutham nhũng, sách nhiễu dân chưa được ngăn chặn gây nên sự trì trệ, trở ngại lớn cho công cuộccải cách, làm giảm hiệu lực của bộ máy nhà nước

+ Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt vàlâu dài; tình trạng hẫng hụt giữa các thế hệ cán bộ, công chức trong mỗi cơ quan, đơn vị cònphổ biến; thiếu đội ngũ cán bộ, nòng cốt kế cận có trình độ chuyên môn cao và các chuyên giahoạch định chính sách ở các cấp Đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa và miền núi, hải đảo,đại bộ phận cán bộ, công chức yếu về năng lực, trình độ chuyên môn, thiếu nguồn nhân lực bổsung vào bộ máy hành chính

+ Việc bố trí cán bộ, công chức ở nhiều cơ quan, đơn vị chưa có tỷ lệ phù hợp với đặcđiểm, tính chất và yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ của mỗi loại cơ quan, tổ chức nhà nước Tiêuchuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ các nghạch công chức chưa được bổ sung, sửa đổi,hoàn chỉnh phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của từng loại công chức

+ Cơ chế quản lý, sử dụng và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức còn nhiều bấthợp lý, chưa tạo được động lực khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức đề cao trách nhiệm,phấn đấu rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực công tác

Tóm lại, việc chỉnh đốn, nâng cao chất lượng, trình độ của đội ngũ công chức trong thời

Ngày đăng: 05/11/2018, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w