Bảng số liệu tình hình sản xuất và XK dệt may của Việt Nam giai đoạn 2006-2010 - Chính trị và pháp luật là hai yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh ngành dệt may
Trang 1I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY MAY 10.
1.1.Giới thiệu khái quát về công ty may 10.
- Tên đầy đủ của DN: Công ty cổ phần May 10
- Tên viết tắt DN: GARCO 10 JSC
- Trụ sở: Đường Nguyễn Văn Linh, Phường Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần.
- Phone:(+84 04) 8216923 - 8276932
- Fax:(+84 04) 8251288 - 8276925 - 8750664
- E-mail: ctmay10@garco10.com.vn
- Website: www.garco10.com
- Thời gian thành lập và phát triển:
+ Công ty cổ phần may 10 được thành lập từ năm 1946, tiền thân là các xưởng may quânnhu ở chiến khu Việt Bắc
+ Đến năm 1952 các xưởng may ở chiến khu Việt Bắc hợp nhất thành xưởng may 10.+ Sau chiến thắng Điện Biên Phủ(1954), đến năm 1956 xưởng may 10 chuyển về Hà Nộixây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm
+ Năm 1959 xưởng May 10 được vinh dự đón Bác Hồ về Thăm ngày 08 tháng 01 năm1959
+ Năm 1961 xưởng May 10 được chuyển vào Bộ Công Nghiệp Nhẹ
+ Năm 1992 xưởng May 10 được chuyển đổi thành công ty May 10
+ Năm 2005 công ty May 10 cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình thành Công ty Cổ PhầnMay 10
+ Năm 2010 Công ty Cổ Phần May 10 Cổ Phần May 10 chuyển đổi mô hình thành TổngCông ty May 10- Công ty Cổ Phần
1.2 Ngành nghề kinh doanh của Công ty May 10.
May 10 chuyên sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc
1.3 Các hoạt động kinh doanh chiến lược ( SBU ).
- SBU1: Sản xuất kinh doanh các loại quần áo thời trang và nguyên phụ liệu ngành may
- SBU2: Kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, công nghiệp thực phẩm và công
nghiệp tiêu dùng khác
- SBU3: Kinh doanh văn phòng, bất động sản, nhà ở cho công nhân.
- SBU4: Đào tạo nghề
- SBU5: Xuất nhập khẩu trực tiếp
1.4 Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của Công ty.
1.4.1 Tầm nhìn.
- Mang lại giá trị cho khách hàng, vì khách hàng là người mang lại nguồn lợi cho doanhnghiệp, mang lại sự tồn tại và phát triển cho doanh nghiệp Không những thế May 10 còn
Trang 2thỏa mãn nhu cầu khách hàng và đem lại sự hài lòng cho khách hàng khi sử dụng dịch vụcủa May 10.
- Mang lại giá trị đích thực cho người lao động, họ là những người đang ngày đêm tạo rasản phẩm, dịch vụ đưa đến tay khách hàng, họ chính là đại diện cho công ty tiếp xúc vớikhách hàng May 10 đã tạo nhiều điều kiện chăm lo đời sống, chính sách thu nhập đãingộ, đào tạo nâng cao kiến thức tay nghề đối với người lao động
- Mang lại giá trị cho các cổ đông, các nhà đầu tư, họ cũng là chủ doanh nghiệp hay đạidiện góp vốn đảm bảo cho May 10 hoạt động May 10 sẽ đảm bảo mang lại cho họ nguồnlợi nhuận tương xứng với đồng vốn bỏ ra
- Mang lại giá trị cho cộng đồng, xã hội…
1.4.2 Sứ mạng kinh doanh.
Tổng công ty May 10 – Công ty cổ phần đã được người tiêu dùng tin tưởng và hội đủcác yếu tố cần thiết là tạo được năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng nhưthị trường xuất khẩu Điều đó đem lại cho May 10 nhiều lợi thế trên thị trường, May 10rất mong muốn là đối tác tin cậy của các doanh nghiệp, các tập đoàn lớn trong và ngoàinước, luôn làm khách hàng hài lòng hơn cả mong đợi, luôn khuyến khích và tạo nhiều cơhội để mọi thành viên trong Công ty phát huy tài năng cũng như năng lực sở trường đểgóp sức xây dựng Công ty và cho cuộc sống gia đình các thành viên
1.5 Tình hình tài chính Công ty May 10 thông qua một số chỉ tiêu tài chính.
TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG DOANH THU (2007-2011) - đvt: Triệu đồng
Trang 3Nhìn vào biểu đồ tốc độ tăng trưởng doanh thu trên ta thấy từ năm 2007 đến năm
2008 ta thấy tổng doanh thu của May 10 tăng 135 triệu đồng và từ năm 2008 đếnnăm 2009 doanh thu tăng không nhiều chỉ có 78 triệu đồng Nhưng từ năm 2009đến 2010 tốc độ tăng trưởng đột biến đến 502 triệu đồng gấp hơn 6 lần từ năm
2008 đến 2009 và theo dự đoán thì hết năm 2011 thì tốc độ tăng trưởng doanh thuđạt 1200 triệu đồng, Đây là một con số đáng khích lệ
TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NHÂN LỰC (2007 - 2011) - đvt: Người
Lợi nhuận trước thuế 78.8 tỷ đồng
- Tổng doanh thu
Trang 4Bước sang năm 2010, May 10 đặt mục đích hoàn thành một số chỉ tiêu quan trọng như:doanh thu đạt 810 tỷ đồng Năm 2010, tổng doanh thu đạt 1.000 tỷ đồng, vượt 21,51%chỉ tiêu Tập đoàn giao, tăng 43,77% so với năm 2009 Trong đó, riêng doanh thu nội địatăng 9% so với 2009, tỷ trọng thị phần các sản phẩm May 10 tại thị trường trong nước đãtăng lên đáng kể.
- Doanh thu thuần
- Lợi nhuận trước thuế
- Lợi nhuận sau thuế
- Tổng tài sản
Cơ cấu vốn điều lệ: 54.000.000.000 đồng ( năm mươi tư tỉ đồng chẵn) trong đó: tỷ lệ
cổ phần của nhà nước: 51,00%; tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong công ty: 49,00% Ti giá 1 cổ phần: 100000 đồng
Giá trị thực tế của công ty May 10 thời điểm hiện ngày 31/12/2003 để cổ phần hóa là191.582.176.851 đồng trong đó giá trị thực tế của nhà nước tại công ty là 54.364.533.574đồng
- Tổng nguồn vốn
- Tỷ suất sinh lời
II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
2.1 Tốc độ tăng trưởng ngành may mặc giai đoạn ( 2008 – 2009 ).
Tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây ( 2006- 2010) :7 tháng đầu năm 2006trong những sản phẩm công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao hơn kế hoạch đề ra có cácsản phẩm dệt may như quần áo dệt kim đạt 23,3% ( 56,42 triệu cái) và quần áo may sẵnđạt 20,64%(428,9 triệu cái)
Tuy nhiên, sản phẩm vải lụa thành phẩm chỉ tăng 11,48 % (đạt 307,8 triệu m) Theocác chuyên gia nhìn chung, tốc độ tăng trưởng ngành dệt may đạt tương đối khá Đặcbiệt, là sản phẩm quần áo may sẵn và hàng dệt kim do khai thác mạnh được thị trườngNhật Bản, EU và triển khai tương đối tốt tại thị trường Hoa Kỳ Trong các tháng tới, mặthàng quần áo may sẵn và hàng dệt kim dự kiến sẽ có tốc độ tăng trưởng tăng thêmkhoảng 2-3% Riêng đối với ngành dệt (vải lụa thành phẩm) trong các tháng đầu năm docác doanh nghiệp ngành may chú trọng nhiều tới may gia công theo quota xuất khẩu, nênkhả năng tiêu thụ vải thành phẩm chưa cao
2.2 Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành.
Dệt may XNK Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng.
Tháng 7 năm 2010, hầu hết các thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đều cómức tăng trưởng khá Ngành dệt may đã có thêm 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, đưakim ngạch xuất khẩu trong 7 tháng ước đạt 5,8 tỉ USD, tăng 17% so với cùng kỳ
Trang 5Trong đó, thị trường Hàn Quốc có mức tăng cao nhất, tăng đến 80% nhờ giảm thuếtheo hiệp định giữa ASEAN với Hàn Quốc Hiện thị trường Hàn Quốc đang rất thích tiêuthụ hàng dệt may Việt Nam
Ngoài ra, thị trường Mỹ tăng 23%, Nhật tăng 15%, châu Âu tăng 1,5% và các nướcASEAN tăng khoảng 30% so với cùng kỳ
Theo phân tích của ngành hải quan, chu kỳ xuất khẩu của hàng dệt may thường bắt đầutăng trưởng vào quý 2 và đạt mức cao nhất vào quý 3
Tiếp tục đà tăng trưởng của những tháng đầu năm, những tháng cuối năm, lượng đơnhàng tăng khá mạnh Theo Bộ Công Thương, nhiều doanh nghiệp đã đủ đơn hàng sảnxuất đến hết quý 3 và cả năm 2010 Nhiều đơn hàng có giá xuất khẩu tăng khoảng 10 -15% so với cùng kỳ năm 2009
Với kim ngạch xuất khẩu đạt 1 tỷ USD trong tháng 7, ông Ân dự báo việc thực hiệnmục tiêu tổng kim ngạch cả năm là 10,5 tỷ USD không phải là việc khó khăn
Hiện sản phẩm dệt may Việt Nam chiếm khoảng 2,69% thị phần toàn thế giới Tại thịtrường Mỹ và Nhật Bản, Việt Nam chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc với thị phần tươngứng là 7,4%và 4%
Một điểm mới là đến nay Việt Nam không chỉ xuất khẩu mặt hàng dệt may gia công mànhững mặt hàng phụ liệu dệt may có lợi thế cũng được các doanh nghiệp đẩy mạnh xuấtkhẩu Đó là mặt hàng sợi đã tiếp cận được thị trường mới Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil
Bảng số liệu tình hình sản xuất và XK dệt may của Việt Nam giai đoạn 2006-2010
- Chính trị và pháp luật là hai yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh
doanh ngành dệt may trong nước cũng như xuất khẩu: Trong thời gian qua cũng như cácdoanh nghiệp khác, doanh nghiệp dệt may cũng nhận được hỗ trợ lãi suất đối với cáckhoản vay ngắn hạn được ký kết và giải ngân trong năm 2009 để làm vốn lưu động sản
Trang 6xuất - kinh doanh (theo quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/01/2009), và đối với các khoản vay trung và dài hạn để đầu tư mới sản xuất kinh doanh (theo quyết định số 443/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/04/2009) Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg) về việc hỗ trợ
lao động mất việc làm trong các doanh nghiệp do suy giảm kinh tế, qua đó giảm bớt gánhnặng cho doanh nghiệp
- Đồng thời hiệp hội Dệt May Việt Nam đã góp phần đưa tiếng nói của doanh nghiệp đến
với các cơ quan quản lý, tham gia tích cực vào công tác xây dựng cơ chế chính sách pháttriển dệt may, kiến nghị với Chính phủ các giải pháp phù hợp để thúc đẩy sản xuất kinhdoanh ngành Dệt may Việt Nam phát triển và thực hiện tốt công tác tìm hiểu thị trường
để phổ biến thông tin cho doanh nghiệp Hiệp hội Dệt May Việt Nam cũng tham gia tíchcực trong Đề án 30 về Cải cách Thủ tục hành chính, với tư cách đại diện các Doanhnghiệp trong ngành, đóng góp nhằm làm giảm thủ tục hành chính, giúp tạo thuận lợi chohoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệpdệt may nói riêng Tất cả các quyết định và chính sách pháp luật trên của chính phủ đãtạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dệt may phát triển, cải thiện đời sống côngnhân viên do đó đã được tập thể công ty may 10 đồng tình ủng hộ, tuân theo, nhờ đó màmay 10 đã đạt được nhiều thành công rực rỡ
Mặt khác, môi trường chính sách còn chưa thuận lợi Bản thân các văn bản pháp lý của
Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn chỉnh, trong khi năng lực của các cán bộ xâydựng và thực thi chính sách, cũng như các cán bộ tham gia xúc tiến thương mại còn yếu,đặc biệt là hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, và kỹ năng do đó cũng là thách thức đốivới công ty
- Việt Nam gia nhập WTO phải tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp Quốc tế về chất lượng, uytín, độ an toàn sản phẩm gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp Trong khi đó, hàngrào bảo hộ thương mại của Việt Nam kém hiệu quả, hầu như chưa được thiết lập Tuynhiên, cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2009 là việc Chính phủ giảmthuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 5% đối với bông nhập khẩu, giãn thời gian nộp thuếgiá trị gia tăng với thiết bị nhập khẩu đầu tư và uỷ thác gia công xuất khẩu Giảm 30%thuế thu nhập doanhnghiệp, cho phép gia hạn nộp thuế thu nhập cá nhân đối với quỹ tiềnlương còn lại chuyến sang năm sau của doanh nghiệp Chính phủ còn hỗ trợ 40 triệu đồng/1USD xuất khẩu để hỗ trợ duy trì việc làm cho người lao động đối với doanh nghiệp dệtmay sử dụng nhiều lao động
Mặt khác, từ khi gia nhập WTO, hạn ngạch xuất khẩu được giảm bớt, hàng rào thuếquan được loại bỏ Do vậy, công ty có cơ hội mở rộng xuất khẩu những mặt hàng có tiềmnăng ra toàn cầu Ngoài ra, Chính phủ còn hỗ trợ chi phí xúc tiến thương mại lấy từ
Trang 7khoản lệ phí hạn ngạch do doanh nghiệp phải nộp và còn được xem xét cấp bổ sung vốnlưu động doanh nghiệp.
2.3.2 Nhân tố kinh tế.
- Chính sách kinh tế của chính phủ:
Trong giai đoạn vừa qua, Chính phủ đã thực hiện một số biện pháp nhằm hỗ trợ doanhnghiệp dệt may xuất khẩu Trong Chiến lược phát triển ngành dệt - may Việt Nam đếnnăm 2010, Chính phủ đã đề ra một số biện pháp như: Hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách,vốn ODA đối với một số nhóm dự án trong ngành, chẳng hạn như quy hoạch phát triểnvùng nguyên liệu, xử lý nước thải, v.v Các dự án đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất; Bảolãnh, cấp tiền thu sử dụng vốn trong 2001-2005 để tái đầu tư, cấp bổ sung vốn lưu độngvới một số doanh nghiệp nhà nước trong ngành; và Dành toàn bộ nguồn thu phí hạnngạch và đấu thầu hạn ngạch dệt - may cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu Nhằm hỗtrợ thực hiện Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may trong giai đoạn 2001-
2010, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 106/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001 Cùngvới quá trình cải cách thể chế và xây dựng luật nhằm chuẩn bị cho việc gia nhập WTO,các biện pháp trên cũng đã được điều chỉnh và thay thế
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng có một số biện pháp khác nhằm khuyến khích xuất khẩunói chung và xuất khẩu hàng dệt may nói riêng Chẳng hạn, Việt Nam có thực hiệnChương trình xúc tiến thương mại quốc gia Ngân hàng Phát triển Việt Nam có cấp tíndụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp, với lãi suất ưu đãi
Nhờ những chính sách tài chính và tiền tệ thông thoáng như vậy mà Công ty may 10cùng các công ty dệt may trong nước có điều kiện phát triển hơn nữa, tạo dựng được uytín trên thị trường nội địa và thế giới
- Việt Nam ra nhập tổ chức WTO
+ Thuận lợi:
Đối với xuất khẩu
Khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO vào tháng 11 năm 2007 thì các nướcthành viên trong tổ chức đều có nghĩa vụ dành cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sựđối xử bình đẳng (theo nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia).Đây chính là cơ hộinhưng đồng thời cũng là thách thức đối với ngành dệt may nói chung và công ty may 10nói riếng
Trong điều kiện này thì hạn ngạch vào các thị trường được dỡ bỏ, doanh nghiệp dệtmay có thể tự do xuất khẩu theo nhu cầu thị trường, vì thế số lượng hàng dệt may xuấtkhẩu không ngừng tăng lên, đặc biệt đối với may 10 cùng với kinh nghiệm phát triển lâuđời công ty đã tận dụng cơ hội này đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường mới và giatăng mặt hàng xuất khẩu ở các thị trường tiềm năng như Mỹ, Nhật Bản vì thế số lượnghàng dệt may xuất khẩu của may 10 không ngừng tăng lên trong những năm gần đây Mặt khác theo nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN), hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu vàocác nước thành viên WTO sẽ được áp dụng mức thuế tương tự như thuế đối với hàng dệtmay nhập khẩu từ các nước khác vào nước đó Ngoài ra,về việc mua bán trên thị trường :Theo nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT), hàng dệt may Việt Nam khi nhập khẩu vào một
Trang 8nước thành viên WTO sẽ được đối xử bình đẳng với hàng dệt may nội địa (về thuế, phí,
lệ phí, các quy định liên quan đến việc bán hàng, cạnh tranh…), với các nguyên tắc bìnhđẳng như vậy thì hàng dệt may Việt Nam có cơ hội lớn để xâm nhập sâu vào thị trườngthế giới tuy nhiên điều này cũng đặt ra một thách thức không nhỏ là hàng dệt may của tahay của công ty May 10 phải có chất lượng và mức giá cạnh tranh để đối chọi với hàngdệt may của các nước khác trên thê giới
Đối với sản xuất trong nước
Những thuận lợi từ việc xuất khẩu của hàng dệt may khi Việt Nam gia nhập WTO được
dự báo sẽ kéo theo dòng đầu tư nước ngoài (trực tiếp và gián tiếp) lớn hơn vào ngành dệtmay và hạ tầng phục vụ sản xuất dệt may Điều này mang lại cho ngành nhiều lợi thế:
Khả năng cạnh tranh có thể được tăng cường (với việc bổ sung vốn cho các doanhnghiệp đang tồn tại và sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới);
Cơ hội tiếp cận kỹ năng quản lý và công nghệ kỹ thuật mới
Tuy nhiên, những lợi ích và cơ hội nói trên lớn chỉ ở dạng tiềm năng Việc biến cáctiềm năng này thành lợi ích kinh tế thực sự phụ thuộc vào năng lực và sự chủ động củatừng doanh nghiệp
+ Khó khăn:
Với việc Việt Nam gia nhập WTO, ngành dệt may nói chung và công ty may 10 nóiriêng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới, đặc biệt là:
Thuế nhập khẩu hàng dệt may giảm, cạnh tranh trong nước gay gắt hơn:
Dệt may là một trong những nhóm hàng hóa Việt Nam có cam kết cắt giảm thuế nhậpkhẩu lớn nhất (mức thuế suất bình quân được cắt giảm từ 37,3% trước thời điểm gia nhậpxuống còn 13,7%) và việc cắt giảm này được thực hiện ngay kể từ ngày 11/1/2007
Việt Nam cũng cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong Hiệp định dệt may (với mứcgiảm thuế lớn, ví dụ thuế suất đối với vải giảm từ 40% xuống 12%, quần áo may sẵngiảm từ 50% xuống 20% và sợi giảm từ 20% xuống 5%)
Với cam kết xóa bỏ các hình thức trợ cấp không được phép, ngành dệt may không còn được hưởng một số loại hỗ trợ như trước đây:
Các hình thức hỗ trợ xuất khẩu và thưởng xuất khẩu từ Quỹ hỗ trợ xuất khẩu; các biệnpháp miễn giảm thuế hoặc tiền thuê đất gắn với điều kiện xuất khẩu; các ưu đãi tín dụngđầu tư phát triển đều bị bãi bỏ
Một số ưu đãi đầu tư nhằm khuyến khích xuất khẩu dù vẫn được duy trì nhưng sẽ phảichấm dứt trước ngày 11/1/2012 (chỉ áp dụng đối với các ưu đãi đầu tư đã dành cho các
dự án đã được cấp phép và đi vào hoạt động trước ngày 11/1/2007)
Nguy cơ bị kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ ở các thị trường xuất khẩu lớn hơn :
Cùng dỡ bỏ các hạn ngạch xuất khẩu khi Việt Nam gia nhập WTO, xuất khẩu dệt mayViệt Nam vào các thị trường quan trọng được dự báo là sẽ gia tăng nhanh chóng Điều
Trang 9này có thể khiến nguy cơ hàng dệt may bị kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ ởnước ngoài lớn hơn.
Liên quan đến nguy cơ này, ngày 11/1/2007, Hoa Kỳ cũng chính thức bắt đầu Chươngtrình giám sát hàng dệt may Việt Nam (dự kiến kết thúc vào cuối năm 2008) nhằm theodõi tình hình nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam vào Hoa Kỳ và sẵn sàng cho việc khởixướng vụ điều tra chống bán phá giá nếu thấy có hiện tượng liên quan Chương trình này
đã gây ra nhiều khó khăn cho ngành dệt may Việt Nam (nhiều khách hàng lo ngại nguy
cơ kiện chống bán phá giá có xu hướng chuyển nhiều đơn hàng sang các nước khác) Đây là những khó khăn mà May 10 thực tế phải đối mặt (không phải ở dạng tiềm năngnhư các cơ hội mà ngành này có thể được hưởng từ việc Việt Nam gia nhập WTO) Vìvậy, công ty cần có chính sách, biện pháp cụ thể nhằm chủ động, nhanh chóng khắc phục
và vượt qua những khó khăn này
- Sự biến động của tỷ giá làm thay đổi những điều kiện kinh doanh nói chung, có ảnh
hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
- Lạm phát: Tỷ lệ lạm phát trong năm 2008 tăng cao khiến các doanh nghiệp phải cắt
giảm nhiều khoản chi phí Lạm phát cao tạo ra nhiều rủi ro lớn cho sự đầu tư của doanhnghiệp.Mặc dù Chính phủ đã có nhiều biện pháp để kiềm chế lạm phát nhưng lạm phátvẫn ở mức 2con số, lãi suất cao Giá nguyên vật liệu đầu vào tăng nhanh làm cho chi phísản xuất tăng,gây khó khăn cho doanh nghiệp Đồng thời cũng do tỷ lệ lạm phát cao,người tiêu dùng thận trọng hơn với quyết định tiêu dùng, cắt giảm chi tiêu khiến cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp bị ngưng trệ
- Khủng hoảng kinh tế thế giới cũng diễn ra từ cuối năm 2008 làm cho thị trường may
mặc trong nước gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là May 10- Một công ty trong top các công
ty may xuất khẩu hàng đầu Việt Nam Trong thời gian này tình hình kinh doanh của công
ty gặp rất nhiều khó khăn, công ty đã phải ngừng một số đơn hàng xuất khẩu đi Châu Âu,Châu Mỹ vì các quốc gia này đều chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế nêncắt giảm nhập khẩu Đây chính là một thách thức đối với May 10 nói chung và cả ngànhmay xuất khẩu nói chung Mặc dù đây là một thách thức đối với May 10 nhưng đồng thờiđây cũng là một cơ hội lớn cho công ty nhìn lại chiến lược kinh doanh của mình, bắt đầutriển khai nhiều hơn các hoạt động kinh doanh tại thị trường nội địa – nơi chịu ít ảnhhưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
2.3.3 Nhân tố công nghệ.
Năng lực sản xuất kém, công nghệ lạc hậu là một trong những hạn chế lớn của ngành may mặc Việt Nam hiện nay Hoạt động của ngành may hiện nay phần lớn là
Trang 10thực hiện gia công cho nước ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giản, còn những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng được.
Sự ra đời công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các
sản phẩm thay thế, đe doạ các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu, làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗi thời, tạo áp lực đòi hỏi doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăngcường khả năng cạnh tranh Sự ra đời của khoa học công nghệ có xu hướng ngắn lại Điều này càng tạo ra áp lực phải rút ngắn thời gian khấu hao trang thiết bị kỹ thuật so với trước
Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ mới tạo điều kiện cho doanh nghiệp để sản xuất sảnphẩm giá rẻ hơn với chất lượng cao hơn, làm cho sản phẩm của doanh nghiệp có khảnăng cạnh tranh cao hơn, tạo ra những thị trường mới cho những sản phẩm và dịch vụcủa công ty
May 10 đã sử dụng hệ thống điều hoà phục vụ sản xuất, tỷ trọng chi phí điện trong chiphí sản xuất không nhỏ, đặc biệt trong điều kiện giá điện hiện nay tăng Chính điều nàycũng là một yếu tố làm cho giá thành sản phẩm tăng lên, Vì vậy công ty cần nỗ lực cắtgiảm chi phí, tăng năng xuất lao động để tạo ra sản phẩm với giá cạnh tranh Đây cũng làmột thách thức không nhỏ đối với công ty
2.3.4 Nhân tố văn hóa – xã hội
Kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao, con người càng chú trọng đếncác sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong đó có quần áo Thêm vào đó, xu hướng và thị hiếuthẩm mỹ của người tiêu dùng đối với các sản phẩm may mặc cũng có sự biến đổi liên tục.Nếu doanh nghiệp dệt may không chú trọng đầu tư đúng mức cho công tác thiết kế sẽnhanh chóng bị tụt hậu trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này Hàng may mặc Trung Quốcvới giá thành rẻ và kiểu dáng mẫu mã đa dạng, thường xuyên thay đổi và khá phù hợp vớithị hiếu người Việt Nam đang chiếm lĩnh thị trường may mặc nội địa Tuy nhiên, ngườiViệt Nam vẫn có tâm lý ăn chắc mặc bền”, nên sản phẩm chất lượng tôt của các doanhnghiệp tốt trong nước như May 10 vẫn được nhiều người Việt Nam tin dùng Đây là mộtthuận lợi cho các doanh nghiệp dệt may trong nước khi muốn chiếm lại thị trường nội địahiện đang bị hàng Trung Quốc tấn công và thống trị
Tốc độ đô thị hoá của nước ta ngày càng cao, do vậy nhu cầu về ăn mặc của người dâncũng ngày một tăng Đồng thời, trang phục áo dài là trang phục truyền thống phù hợp vớivăn hoá, bản sắc của người Việt Nam Công ty nắm bắt được những thị hiếu và văn hoácủa khách hàng từ đó đưa ra được các trang phục phù hợp với nhu cầu và thị hiếu củamọi đốitượng khách hàng từ đó đảm bảo được việc tối đa hoá hiệu quả mục tiêu sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Mặt khác Việt Nam là đất nước có dân số trẻ, do đó nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc
là rất lớn, sức mua cao do đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất và
Trang 11bán nhiều sản phẩm với số lượng lớn và đa phần quần áo chủ yếu dành cho đối tượng làtrẻ em, thanh thiếu niên và trung niên Đây là một cơ hội lớn cho doanh nghiệp biết khaithác yếu tố này.
2.4 Đánh giá cường độ cạnh tranh.
2.4.1 Tồn tại rào cản ra nhập ngành.
Ngành Dệt may VN sẽ phải đối mặt với rào cản kỹ thuật của thị trường Mỹ - thị trườngxuất khẩu (XK) hàng dệt may lớn nhất của VN: Đó là đạo luật bảo vệ môi trường chongười tiêu dùng Mỹ, có hiệu lực từ ngày 1/1/2010 Đây là thách thức lớn, đòi hỏi ngànhdệt may gấp rút chạy đua với thời gian để kịp đáp ứng
Ngành dệt may Việt Nam không dễ dàng vượt qua rào cản kỹ thuật Không chỉ riêng có
Mỹ đưa ra những rào cản kỹ thuật đối với ngành Dệt may VN, mà hầu hết các nước cóhàng VN nhập khẩu đều đưa ra những rào cản kỹ thuật, khiến dệt may VN phải đối đầuvới nhiều thách thức Ví dụ như với thị trường Nhật Bản (đứng sau thị trường Mỹ và EU),rào cản kỹ thuật là việc yêu cầu các sản phẩm phải có chứng chỉ sạch và thân thiện vớimôi trường
Không những vậy May 10 còn nhập khẩu một số máy móc thiết bị tiên tiến từ nướcphát triển bổ sung vào dây chuyền sản xuất vì thế mà năng suất tăng, tiết kiệm đáng kểchi phí cho doanh nghiệp, tăng lợi nhuận
2.4.2 Quyền lực thương lượng từ phía nhà cung ứng.
Một thực tế nữa là ngành may mặc của Việt Nam vẫn bị phụ thuộc khá nhiều vàonguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài, với trị giá nguyên phụ liệu nhập khẩu thườngchiếgần 70 – 80% so với giá trị kim ngạch xuất khẩu Tuy được chú trọng đầu tư về côngnghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại hơn nhưng nguyên liệu sản xuất trong nước hoặckhông đủ cho nhu cầu sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu, hoặc không đáp ứng đượctiêu chuẩn của khách hàng nước ngoài Nhiều đơn đặt hàng, phía nước ngoài cũng chỉđịnh luôn nhà cung cấp nguyên vật liệu khiến cho các doanh nghiệp may Việt Namkhông có điều kiện sử dụng những nguyên liệu sản xuất trong nước với giá thành rẻ hơn.Như vậy, giá trị thực tế mà ngành may thu được không hề cao so với con số kim ngạchxuất khẩu Điều này một lần nữa l giải tại sao tuy giá trị xuất khẩu của ngành may caonhưng cả chủ và thợ trong ngành lại không mặn mà lắm với công việc Nhiều doanhnghiệp may đã có sự chuyển hướng sang các ngành nghề, lĩnh vực khác như đầu tư vàkinh doanh bất động sản, đầu tư tài chính v.v nhằm tăng thêm thu nhập
Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may 2002 - 2007
Đơn vị: Triệu USD
Mặt hàng 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Bông 96,7 105,7 190,2 167 219 268
Sợi các loại 313,7 298,3 339 340 544 744
Trang 12Vải 997 1.364 1.927 2.398 2.980 3.980
Phụ liệu dệt
may & da giày 1.711 2.033 2.253 2.282 1.952 2.132
(Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam tổng hợp)
2.4.3 Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng.
Công ty chủ yếu giành được quyền thương lượng từ phía khách hàng trừ những công typhân phối lớn trên các thị trường Châu Âu Mỹ như Evetest, Jacques Britt,George Cònđối với những nhà phân phối nhỏ lẻ thì nhờ vào vị thế của mình và với chính sách hợp lývới khách hàng thì quyền chủ động thuộc phần lớn về công ty May 10
2.4.4 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành.
Cạnh tranh trong ngành dệt may XNK rất khốc liệt Quần áo của Trung Quốc với giá rẻ
và mẫu mã đa dạng có thể được thấy ở khắp các cửa hàng, siêu thị, chợ của Việt Namtrong khi hàng Việt Nam thì hầu như vắng bóng So với mặt hàng vải denim hoặc khănbông của một số công ty dệt thì giá thành hàng Trung Quốc rẻ hơn 5,7% Trong đó,Trung Quốc đã có một số chính sách trợ giá chiếm khoảng 13% giá thành của họ, nhưvậy Công ty may 10 phải hết sức khó khăn mới có thể khắc phục được khoảng cáchnày.Gần đây, hàng may mặc của Việt Nam với một số thương hiệu như May 10, ViệtTiến, Ninomax, Made in Vietnam v.v đã dần được người tiêu dùng Việt Nam chú hơn.Tuy nhiên, ở phân khúc thị trường hàng may mặc giá rẻ th hàng Việt Nam vẫn chưa thểcạnh tranh được với hàng Trung Quốc ngay trên “sân nhà”
Về tổng thể, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và Vinatex cần rà soát các nhóm sản phẩm cókhả năng cạnh tranh, trong đó xác định cùng những yếu tố như nhau thì vì sao hàng ViệtNam chưa hấp dẫn so với hàng Trung Quốc Thậm chí, nếu cần có thể điều chỉnh thuếVAT bằng0% để hỗ trợ giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh với sản phẩmcủa Trung Quốc và các nước trong khu vực
2.4.5 Đe dọa từ các sản phẩm thay thế
Là rất lớn nhưng công ty luôn có những chính sách làm giảm thiểu rủi ro đó Công ty
đã không ngừng đầu tư vào phát triển sản phẩm của mình, hoạt động quảng cáo kết hợpvới các dịch vụ sau bán đặc biệt của mình Từ chỗ chỉ nổi tiếng trên thị trường may mặcvới áo sơmi nam, gần đây, các loại veston cao cấp, quần áo thời trang cho giới trẻ củaCông ty May10 với nhiều kiểu dáng đẹp, độc đáo, thuận tiện và thoải mái khi sử dụngđược người tiêu dùng ưa chuộng May 10 đã và đang là địa chỉ hấp dẫn, tin cậy của nhiềukhách hàng trong nước và nước ngoài Quan điểm của May 10 đối với hàng xuất khẩucũng như tiêu thụ trong nước: không chỉ may gia công theo đơn đặt hàng với mẫu mốtsẵn có, mà phải thiết kế, tạo ra các sản phẩm “độc” và khó, mà nơi khác không dễ gì làmđược, thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Vớikhách hàng Việt Nam càng phải đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu sở thích để tạo ra các sảnphẩm phù hợp mới mong “thắng trên sân nhà” đầy tiềm năng công ty còn tổ chức hội
“nghị khách hàng may 10” Đây là một trong những hoạt động thường niên nhằm tri ânnhững khách hàng thân thiết đã tin tưởng sử dụng sản phẩm của May 10 Hội nghị đã thu