Phật giáo không chỉ vượt qua không gian, thời gian tồn tại đến ngày nay mà còn phát triển mạnh mẽ với số lượng phật tử, tự viện ngày một lớn. Không phải ngẫu nhiên mà đạo Phật lại tồn tại và phát triển mạnh mẽ như vậy. Mà vì bản thân Phật giáo chứa đựng nhiều giá trị nhân sinh quan, thế giới quan, giải thích về các hiện tượng trong cuộc sống một cách hợp lý mà có những điều khoa học hiện đại vẫn chưa thể khẳng định hay chứng minh được bằng các phương pháp nghiên cứu, thực nghiệm
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngày nay nhân loại vẫn biết đến Phật giáo có khởi nguyên từ Ấn Độ Phật giáo là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất thế giới, tồn tại lâu đời Hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Ở Việt Nam, theo báo cáo sơ kết công tác phật sự 6 tháng đầu năm 2017 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày 03/7/2017, tính đến thời điểm báo báo,
tình hình tăng ni, tự viện có số lượng tương đối như sau: Tổng số tăng ni:
53.941, gồm: 38.629 Bắc tông; 8.574 Nam tông Khmer, 1.754 Nam tông kinh
(1.100 chư Tăng, 654 Tu nữ); 4.984 Khất sĩ Tự Viện (cơ sở thờ tự, sinh hoạt tín
ngưỡng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam): 18.466 ngôi, gồm 15.846 Tự viện Bắc Tông; 454 chùa Nam Tông Khmer; 106 chùa Nam tông Kinh; 541 Tịnh xá,
467 Tịnh Thất, 998 NPĐ; 54 Tự viện Phật giáo Người Hoa
Số liệu trên cho thấy, Phật giáo không chỉ vượt qua không gian, thời gian tồn tại đến ngày nay mà còn phát triển mạnh mẽ với số lượng phật tử, tự viện ngày một lớn Không phải ngẫu nhiên mà đạo Phật lại tồn tại và phát triển mạnh
mẽ như vậy Mà vì bản thân Phật giáo chứa đựng nhiều giá trị nhân sinh quan, thế giới quan, giải thích về các hiện tượng trong cuộc sống một cách hợp lý mà
có những điều khoa học hiện đại vẫn chưa thể khẳng định hay chứng minh được bằng các phương pháp nghiên cứu, thực nghiệm
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo không chỉ đơn thuần là phát huy các giá trị tích cực của nó mà ngày nay, vẫn có các hiện tượng lợi dụng tôn giáo này để thỏa mãn lòng tham, để trục lợi và có khi là can thiệp vào chính trị
Vì vậy, muốn hiểu hơn về phật giáo, cần quay lại để tìm hiểu Phật giáo nguyên thủy trong triết học Ấn Độ cổ đại Trong khuôn khổ bài tiểu luận cuối môn, người viết xin giới thiệu ngắn gọn về những nội dung chính giá trị triết học Phật giáo của Ấn Độ cổ đại
Trang 2NỘI DUNG
I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO
1.1 Điều kiện thiên nhiên ở Ấn Độ: Ấn Độ là đất nước có điều kiện tự
nhiên đa dạng, vừa kỳ vĩ và đầy bí ẩn Đất nước này vừa có dãy núi Hymalaya hùng vĩ ở phía Bắc, vừa có biển Ấn Độ Dương rộng mênh mông; vừa có sông
Ấn chảy về phía Tây, lại có sông Hằng chảy về phía Đông Vì thế Ấn Độ có những vùng đồng bằng trù phú màu mỡ, có vùng nóng ẩm mưa nhiều, có vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, lại có những vùng xa mạc khô cằn, nóng bức Những điều kiên tự nhiên đa dạng và khắc nghiệt ấy là cơ sở để hình thành sớm những tư tưởng tôn giáo triết học
Bản đồ địa hình Ấn Độ (ảnh từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.org)
1.2 Về kinh tế – xã hội: Từ thế kỷ VI – I TCN, nền kinh tế – xã hội chiếm
hữu nô lệ Ấn Độ đã phát triển, thổ dân trên bán đảo Nam Á là người Dravidian
và Sumerian đã có nền văn minh khá cao Đầu thế kỷ II TCN, một nhánh người
Trang 3Aryan thâm nhập vào bán đảo Ấn Độ, dần dần chuyển sang định cư và sống bằng nghề nông Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế – xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình “công xã nông thôn” Mô hình này có đặc trưng là ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước, gắn liền với nó là sự bần cùng hoá của người dân trong công xã,
và quan hệ giữa gia đình thân tộc được coi là quan hệ cơ bản, cùng với xã hội được phân chia thành các đẳng cấp Xã hội thời kỳ này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: Tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và nô lệ cung đình Sự phân chia đẳng cấp đó làm cho xã hội xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa các đẳng cấp trong xã hội Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều tôn giáo và trường phái triết học đã ra đời, trong đó có Phật giáo
1.3 Đặc điểm văn hóa – khoa học: Văn hoá Ấn Độ cổ – trung đại được
chia làm ba giai đoạn Khoảng thế kỷ XXV-XV TCN gọi là nền văn minh sông
Ấn, từ thế kỷ XV – VII TCN gọi là nền văn minh Vêđa và từ thế kỷ VI – I TCN
là thời kỳ hình thành các trường phái triết học tôn giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống Tiêu chuẩn của chính thống và không chính thống là có thừa nhận uy thế của kinh Vêđa và đạo Bàlamôn hay không Về khoa học, ngay từ thời kỳ cổ đại, người Ấn Độ đã đạt được những thành tựu về khoa học tự nhiên Đặc biệt là các lĩnh vực thiên văn, toán học, y học…
Như vậy, tất cả những đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nói trên là
cơ sở cho sự nảy sinh và phát triển những tư tưởng triết học của Ấn Độ thời cổ, trung đại với các hình thức phong phú đa dạng Và Phật giáo ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên,
đè nặng trong xã hội nô lệ Ấn Độ Vì chống lại sự ngự trị của đạo Bàlamôn đặc
Trang 4biệt là quan điểm của kinh Vêđa nên Phật giáo được xem là dòng triết học không chính thống
1.4 Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca
Phật giáo là trào lưu tôn giáo triết học xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN Người sáng lập là Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tât Đạt Đa (Siddhattha), họ là Cù Đàm (Goutama), thuộc bộ tộc Sakya Tất Đạt Đa là thái tử của vua Tịnh Phạn, một nước nhỏ nằm ở Bắc Ấn Độ (nay thuộc vùng đất Nepan) Ông sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 TCN, theo truyền thống Phật lịch thì là ngày 15/04 (rằm tháng tư) còn gọi là ngày Phật Đản
Mặc dù sống trong cảnh cao sang quyền quý, dòng dõi đế vương lại có vợ đẹp con ngoan Nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với
sự bất lực của con người trước khó khăn của cuộc đời Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ con đường vương giả xuất gia tu đạo Sau 6 năn tu hành, năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giác ngộ tìm ra chân chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ cho chúng sinh Từ đó ông đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình và đã trở thành người sáng lập ra tôn gáo mới là đạo Phật Về sau ông được suy tôn với nhiều danh hiệu khác nhau: Đức Phật, Thích Ca Mâu Ni, Thánh Thích Ca…
Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt giáo lý Phật giáo khăp Ấn Độ Ông qua đời ở tuổi 80 và để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật giáo
vô cùng quý báu Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc Châu Á Kinh điển của phật giáo rất đồ sộ gồm ba bộ phận gọi là “tam tạng kinh” bao gồm Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận
Trang 5II NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
Tư tưởng triết học Phật Giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết thành văn thể trong một khối kinh điển rất lớn, gọi là “Tam Tạng”, Gồm 3 Tạng kinh điển là: Tạng Kinh, Tạng Luật, và Tạng Luận Trong đó thể hiện các quan điểm về thế giới và con người
2.1 Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo thể hiện tập trung ở nội dung của
3 phạm trù: Vô ngã, vô thường và duyên
Vô ngã (không có cái tôi chân thật)
Trái với quan điểm của kinh Vêđa, đạo Bàlamôn và đa số các môn phái triết học tôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tối cao, sáng tạo và chi phối vũ trụ, Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của 2 yếu tố là “Sắc” và “Danh” Trong đó, Sắc là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm nhận được, nó bao gồm đất, nước, lửa và không khí; Danh là yếu tố tinh thần, không có hình chất mà chỉ có tên gọi Nó bao gồm: Thụ (cảm thụ), tưởng (suy nghĩ), hành (ý muốn để hành động) và thức (sự nhận thức)
Danh và sắc kết hợp lại tạo thành 5 yếu tố gọi là “Ngũ uẩn” Ngũ uẩn bao gồm: (1) Sắc uẩn (vật chất) được tạo nên từ 4 thể chất (tứ đại): Đất, nước, lửa, không khí
(2) Thụ uẩn (cảm giác): Các đồ vật thuộc tứ đại như là cơm ăn, nước uống… được đưa vào cơ thể con người thì chúng trở thành tự thể (cơ thể) của chúng ta Có người đến vuốt ve, nịnh nọt thì tự thể có cảm giác vui Có người đến đánh đập, chửi rủa thì tự thể có cảm giác buồn Thụ là toàn bộ các cảm giác
Trang 6(3) Tưởng uẩn (ấn tượng): Sự sắp đặt và phân biệt giúp nhận ra các sự vật khác nhau nhờ tri giác khác nhau như âm thanh, màu sắc, mùi vị…
(4) Hành uẩn (suy lý): Sự quyết định làm, quyết định hành động Đây là
bước tiến tiếp theo sau tưởng uẩn Tưởng uẩn mới chỉ là suy nghĩ mờ nhạt Hành
đã là ý chí, sự cả quyết mặc dù nó vẫn chưa sâu sắc
(5) Thức (ý thức): Bao gồm 6 dạng ý thức liên hệ với sáu giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý Thức thuộc vào sáu căn (sáu giác quan nói trên) tiếp xúc
với trần để tạo nên sau thức Sáu trần gồm có: Sắc trần: Màu sắc, hình tướng (hình dáng), biểu sắc (động tác biểu hiện ra bên ngoài); Thanh trần: Tiếng động,
âm thanh; Hương trần: Mùi; Vị trần: Cảm giác phát sinh do vị; Xúc trần: Cứng, mềm, ướt, khô, nóng, lạnh; Pháp trần: Những gì mà ý thức hình dung.
Quan điểm vô ngã cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ la sự “giả hợp” do hội
tụ đủ nhân duyên nên thành ra có (tồn tại) Vô ngã là không có cái gì mình, là ta… Sự tồn tại của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó, không có “Bản ngã” hay cái tôi chân thực
Vô thường (vận động biến đổi không ngừng)
Đạo Phật cho rằng “Vô thường” là không cố định, luôn biến đổi Các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi không ngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận là “sinh – trụ – dị – diệt” Nghĩa là sinh ra, tồn tại, biến dạng và mất đi
Do đó, không có gì trường tồn, bất định, chỉ có sự vận động biến đổi không ngừng.Với quan niệm này, Đức Phật dạy: “tất cả những gì trong thế gian đó là biến đổi, hư hoại, đều là vô thường” Vì vậy mọi sự vật không mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vât, hiện tượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn Đức Phật cũng dạy rằng
Trang 7không phải là sự vật, hiện tượng sinh ra mới gọi là sinh, mất (hay chết đi) mới gọi là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chết không phải là hết, không phải là hết khổ mà chết là điều kiện của một sinh thành mới
Duyên (điều kiện cho nguyên nhân trở thành kết quả)
Bàlamôn Phật giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó duyên
là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả ấy lại nhờ có duyên
mà trở thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới
Cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật, tuân theo quy luật “Nhân-Quả”, nhân là cái hạt, quả là cái trái, cái trái do mầm ấy phát sinh Nhân và quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có Nếu không
có nhân thì không thể có quả, nếu không có quả thì không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy
Hạt lúa được gọi là “nhân” khi gặp “duyên” là điều kiện thuận lợi về không khí, nước, ánh sáng, nhiệt độ…thì nhân sẽ phát triển thành “quả” là cây lúa Như vậy, thông qua các phạm trù Vô ngã, Vô thường và Duyên, triết học Phật giáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm lúc bấy giờ cho rằng thần Brahman sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáo cho rằng sự vật và con người được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần Các sự vật hiện tượng thế giới nằm trong quá trình liên hệ, vận động, biến đồi không ngừng Nguyên nhân của sự vận động , biến đồi nằm trong các sự vật Đó là quan điểm biện chứng về thế giới tuy còn mọc mạc chất phát nhưng rất đáng trân trọng Và đó cũng là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới
2.2 Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan
Trang 8Nhân sinh quan là phần quan trọng của triết học Phật giáo Phật giáo bác bỏ Brahman và Atman, nhưng lại thừa nhận có Kalpa (kiếp), Karma (nghiệp) trong Upanisad
Luân hồi (Samsara) = bánh xe quay tròn Khi mọi người chết đi lại đầu thai vào một thể xác khác, có thể là người, cũng có thể là loài vật khác như chó, ngựa, cây cỏ… Chỉ những người tu hành đắc đạo được vào cõi phật mới thoát khỏi sự luân hồi đó Niềm tin này có cả ở Phương Đông lẫn phương Tây (cổ Ai Cập, phái Pytago)
Nghiệp (Karma) là cái do hành động của ta gây ra Mỗi người hiện tại phải ghánh chịu hậu quả của hành vi kiếp trước Sự ghánh chịu này gọi là nghiệp báo Nếu tu nhân tích đức tốt ở kiếp này thì có nghiệp báo ứng tốt ở kiếp sau Ngược lại, đời này sống ác, làm nhiều điều xấu thì đời sau phải gánh nhiều báo ứng Không tin có một linh hồn vĩnh viễn Nghiệp báo là luật nhân duyên tác động Nhân tố sinh lý và tinh thần liên tục kết hợp với nhau và lý tán, điều này dẫn đến chuyện có bản ngã từ đời này sang đời khác Khi nào tu giác ngộ mới thoát khỏi vòng luân hồi đó Mục đích cuối cùng của Phật giáo là tìm đường giải thoát (Moksa) chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi, quả báo nhằm đạt đến trạng thái tồn tại Niết bàn Qua đó cũng có thể nói rằng thực chất của đạo Phật là học thuyết về sự khổ và sự giải thoát được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ Diệu
Đế” (Tứ thánh đế – Catvary Arya Satya) tức là 4 chân lý tuyệt diệu đòi hỏi mọi
người phải nhận thức được Tứ diệu đế là:
Khổ đế:
Chân lí về sự khổ, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ Phật xác nhận đặc tướng của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà con người phải chịu khổ Có 8 nỗi khổ là: Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt khổ (yêu thương nhau phải
Trang 9xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn
mà không đạt được) và ngũ thụ uẩn (do 5 yếu tố tạo nên con người)
Như vây, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất Về phương triết học, khổ đau là một thực tại như thực đối với con người khổ đế là một chân lý khách quan hiện thực khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng lọat nhân duyên được tạo tác từ tâm thức Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọi hình thái khổ đau của con người Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con người không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi sáng cái bản chất nội tại của nó
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối Do đó, con người ở đâu, làm gì cũng khổ Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới Phật ví sự khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển”
Nhân đế (hay Tập đế):
Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ “Tập” là tụ hợp, kết tập lại Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc của luân hồi Đạo Phật cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự khổ, phiền não là do
“thập nhị nhân duyên”, tức 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín trong mỗi
con người 12 nhân duyên gồm:
1 Vô minh (không sáng suốt): đồng nghĩa với mê tối, ít hiểu biết, không
sáng suốt Không hiểu được đời là bể khổ, không tìm ra nguyên nhân và con đường thoát khổ Trong mười hai nhân duyên, vô minh là căn bản Nếu không thấu hiểu Tứ diệu đế cũng được gọi là Vô minh
Trang 102 Duyên hành: Là ý muốn thúc đẩy hành động.
3 Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối.
4 Duyên danh sắc: Sự hội tụ các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ
quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)
5 Duyên lục nhập: Là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các
giác quan cảm giác, lúc đó thân sẽ sinh ra sáu cửa là: Nhãn, nhĩ, tỳ, thiệt, thân để thiêu hủy, đón nhận
6 Duyên xúc: Là sự tiếp xúc của thế giới xung quanh sinh ra cảm giác Đó
là sắc, thinh, hương vị, xúc và pháp khi tiếp xúc, đụng chạm vào
7 Duyên thụ: Là sự cảm thụ, sự nhận thức khi thế giới bên ngoài tiếp xúc
với lục căn sinh ra cảm giác
8 Duyên ái: Là yêu thích mà nảy sinh ham muốn, dục vọng trước sự tác
động của thế giới bên ngoài
9 Duyên thủ: Do yêu thích quyến luyến, không chịu xa lìa, rồi muốn chiếm
lấy, giữ lấy không chịu buông ra
10 Duyên hữu: cố để dành, tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được.
11 Duyên sinh: Sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại.
12 Duyên lão tử: Khi đã sinh thì xác thân phải tiêu hoại mỏi mòn, trẻ rồi
già, ốm đau rồi chết
Thập nhị nhân duyên có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng nhìn chung đều cho rằng chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này là nhân, làm duyên cho cái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau Cũng có lời giải thích là 12 yếu tố tích luỹ đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà yếu tố căn
đế là ái và thủ, nghĩa là tham lam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp Mười hai nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nổi khổ đau nhân loại