CÁC TỪ VIẾT TẮT ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á CBET Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng CBTFGs Nhóm chức năng trong du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng CTDMCs Ban Phát triển và Q
Trang 1Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
CƠ QUAN CHỦ QUẢN
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG MỞ RỘNG
(GMS) (KHOẢN VAY SỐ 2457-VIE)
TƯ VẤN THỰC HIỆN KHOẢN VAY (LIC)
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI
HỒ BA Bể VÀ CÁC KHU VỰC XUNG QUANH Vườn Quốc Gia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam
Trang 3CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
CBET Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
CBTFGs Nhóm chức năng trong du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng CTDMCs Ban Phát triển và Quản lý Du lịch xã
CTP Gói du lịch leo núi theo vòng khép kín
DoCST Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
DTDMC Ủy ban Phát triển và Quản lý Du lịch huyện
EMP Kế hoạch Quản lý Môi trường
ERZ Vùng phục hồi sinh thái
GAP Kế hoạch hành động về Giới
GMS Tiểu vùng sông Mê Kông Mở rộng
HIC Trung tâm thuyết minh di sản
ITDR Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch
LIC Tư vấn thực hiện vốn vay
MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
MoCST Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
M & E Giám sát và Đánh giá
MSME Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa
PARC Khu vực bảo tồn tài nguyên sử dụng sinh thái cảnh quan
PCU Ban Quản lý Dự án Quốc gia
PIU Ban Thực hiện dự án
SWOT Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
TECAP Chương trình nhận thức Du lịch, Môi trường và Văn hóa
TNA Đánh giá nhu cầu đào tạo
TWZ Vùng du lịch và hoang dã
TDMC Ủy ban Phát triển và Quản lý Du lịch
VICA Công ty TNHH Tư vấn Quốc tế VICA
VNAT Tổng cục Du lịch Việt Nam
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 4
1.1 TỔNG QUAN 4
1.1.1 Về các khu vực tiểu dự án tại tỉnh Bắc Kạn 4
1.1.2 Tổng quan về du lịch Việt Nam 5
1.1.3 Triển vọng phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 5
1.1.4 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của Vườn Quốc gia Ba Bể 6
1.2 MỤC TIÊU CỦA BÁO CÁO 7
1.3 PHẠM VI VÀ CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO 7
1.4 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ BÁO CÁO 8
1.5 NHÓM ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI 9
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI TRONG KHU VỰC 10
2.1 ĐÁNH GIÁ CÁC ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH SINH THÁI VÀ HẤP DẪN CHÍNH 10
2.1.1 Các địa điểm tự nhiên và hấp dẫn chính 10
2.1.2 Các Điểm Văn Hóa/Dân và và Hấp Dẫn Chính 18
2.2 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN NHỮNG THẾ MẠNH VÀ SỨC HẤP DẪN CỦA SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI 25
2.3 ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ LƯU TRÚ VÀ DỊCH VỤ 25
2.4 ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VÀ ĐƯỜNG VÀO 26
2.5 ĐÁNH GIÁ VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH KHÁC 27
2.6 ĐÁNH GIÁ NHU CẦU THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI TIỀM NĂNG 28
2.7 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI 31
2.8 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI 32
CHƯƠNG 3 CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI CHỌN LỌC VÀ ĐẶC TÍNH CỦA CHÚNG 36
3.1 NHỮNG SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI CHỌN LỌC CHO HỒ BA BỂ VÀ CÁC KHU VỰC XUNG QUANH 36
3.2 ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI ĐƯỢC CHỌN 37 3.2.1 Sản phẩm du lịch sinh thái 1: Đi thuyền truyền thống hồ Ba Bể 37
3.2.2 Sản phẩm du lịch sinh thái 2: Nhà nghỉ cộng đồng bản Pắc Ngòi và đi bộ leo núi Kéo Mỏ 40
Trang 53.2.3 Sản phẩm du lịch sinh thái 3: Nhà nghỉ cộng đồng bản Bó Lù và đi bộ leo núi
Fu Nộc Chấp 43
3.2.4 Gói sản phẩm du lịch sinh thái 4: Nhà nghỉ cộng đồng và leo núi vượt địa hình tại bản Cám Thượng 46
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT HOẠT ĐỘNG 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
CÁC PHỤ LỤC 53
PHỤ LỤC - 1: DANH SÁCH CÁ NHÂN THAM VẤN TRONG QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT (4-8/4/2011) 53
PHỤ LỤC-2: CƠ SỞ LƯU TRÚ VÀ DỊCH VỤ TẠI BẢN PắC NGÒI, BÓ LÙ VÀ VQG BA Bể (THÁNG 4, 2011) 55
PHỤ LỤC-3: TỔNG LƯỢNG KHÁCH DU LỊCH VÀ THEO MÙA TẠI VQG BA BỂ (Nguồn VQG BA Bể/Phòng vé, tháng 5/ 2011) 57
PHỤ LỤC- 4: DANH SÁCH CÁC HÃNG LỮ HÀNH CÓ GÓI TOUR DU LỊCH SINH THÁI TẠI BA BỂ 59
DANH SÁCH BẢNG BIỂU Bảng 1 Những lễ hội và sự kiện chính được tổ chức tại hồ Ba Bể 19
Bảng 2 Những khu dân cư khác trong vùng Hồ Ba Bể có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái 23
Bảng 3 Hiện trạng du lịch sinh thái của các dân tộc dịnh cư khác tại khu vực Hồ Ba Bể 24
Bảng 4 Số lượt khách cao nhất và thấp nhất ở Vườn Quốc Gia Ba Bể (năm 2010) 29
Bảng 5 Các hoạt động và gói du lịch trong sản phẩm du lịch sinh thái loại 1 38
Bảng 6 Các cách quảng bá, đa dạng hóa và tạo ra các hoạt động và gói du lịch mới cho du lịch sinh thái 1 38
Bảng 7 Danh sách những hoạt động và gói du lịch sinh thái ở sản phẩm du lịch sinh thái loại 2 42
Bảng 8 Cách nâng cao, đa dạng hóa và tạo ra những hoạt động và gói du lịch mới cho sản phẩm du lịch sinh thái 2 43
Bảng 9 Danh sách những hoạt động và gói du lịch sinh thái tiềm năng trong 3.2.3 Sản phẩm du lịch sinh thái 3 45
Bảng 11 Danh sách những sản phẩm và hoạt động du lịch tiềm năng trong gói tour lịch thứ 4 48
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG
TỔNG QUAN
1.1.1 Về các khu vực tiểu dự án tại tỉnh Bắc Kạn
Chính phủ Việt Nam/ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Gov/MoCST) đang thực hiện dự án Phát triển Du lịch Bền vững Tiểu vùng sông Mê Kông Mở rộng vay vốn ADB tại 5 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Dự án là một trong những chương trình hàng đầu trong 11 chương trình lớn được thực hiện theo Khung Chiến lược của Chương trình Hợp tác Kinh tế Tiểu vùng sông Mê Kông (giai đoạn 2002-2012) Mục tiêu tổng thể của dự án nhằm xóa đói giảm nghèo trong các nước tiểu vùng Mê Kông, góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và quảng bá việc bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hóa
Dự án Phát triển Du lịch Bền vững Tiểu vùng sông Mê Kông Mở rộng đặt mục tiêu đạt được 5 kết quả đầu ra chính (5 cấu phần chính) trong các khu vực tiểu dự án:
I Cấu phần 1: Phát triển các mô hình dự án phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ môi
trường và các di sản thiên nhiên (hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình)
II Cấu phần 2: Dự án du lịch vì người nghèo, dựa vào cộng đồng, chuỗi chung ứng (Cao
Bằng, Bắc Kạn, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế)
III Cấu phần 3: Phát triển hành lang du lịch tiểu vùng Mê Kông (tỉnh Quảng Trị)
IV Cấu phần 4: Nâng cao năng lực của cá nhân và cộng đồng liên quan (tại 5 tỉnh và Hà
Nội)
V Cấu phần 5: Thực hiện hiệu quả các dịch vụ
Hồ Ba Bể và các khu vực xung quanh vườn quốc gia Ba Bể (VQG BA Bể), tỉnh Bắc Kạn đã được chọn là một trong những khu vực tiểu dự án tại Việt Nam nhằm tập trung lỗ lực phát triển
mô hình du lịch sinh thái vì người nghèo bền vững, nâng cao điều kiện sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng thời vẫn bảo vệ được những di sản thiên nhiên văn hóa giàu có của khu vực Mặc dù hồ Ba Bể có vô vàn tiềm năng du lịch với phong cảnh thiên nhiên văn hóa nổi trộinhưng đến nay khu vực này vẫn chưa phát huy được hết tiềm năng về du lịch của mình một cách đầy đủ nhất, người nghèo cũng như đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nơi đây vẫn chưa hề được hưởng lợi từ hoạt động du lịch Trái lại bằng trực quan có thể nhận thấy hoạt động du lịch không được kiểm soát tại khu vực này còn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực Đáng lưu ý hơn nữa, nền văn hóa và truyền thống dân tộc phong phú đang bị đe dọa suy thoái do tác động kép từ các hệ lụy của các hoạt động du lịch không được quản lý và tác động từ môi trường bên ngoài dẫn đến sự mai một bản sắc văn hóa và những di sản
Bằng việc thực hiện thành công hoạt động đã đề xuất, dự án nhằm mục tiêu đạt được các kết quả tại khu vực Hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn như sau:
I Giữ gìn, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh đồng thời tôn trọng quyền và nguyện vọng trong việc lựa chọn các hướng phát triển của cộng đồng;
II Phát triển "mô hình thực hành tốt nhất" để chứng minh rằng du lịch có thể giúp bảo vệ, phục hồi và bảo tồn nền văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số như thế nào;
III Bảo vệ môi trường tự nhiên, di sản văn hóa và lịch sử bằng cách xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn về bảo vệ di sản và phát triển du lịch;
IV Tăng cường và đa dạng hóa sinh kế và giảm nghèo tại địa phương bằng cách giới thiệu phát triển du lịch có sự tham gia của các cộng đồng dân tộc địa phương trong quá trình lập kế hoach, phát triển và quản lý hoạt động du lịch dân tộc nhằm đảm bảo sự thỏa mãn của cộng đồng và tạo ra việc làm bền vững cho địa phương
Một kế hoạch du lịch sinh thái đúng đắn có thể sẽ là công cụ kinh tế tốt nhất để giải quyết các thách thức kép trong việc bảo tồn di sản thiên nhiên văn hóa đồng thời nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số trong khu vực Ba Bể Như vậy đây là thời điểm quan trọng để toàn bộ vườn quốc gia Ba Bể và tỉnh Bắc Kạn phát hiện các sản phẩm du lịch sinh thái mới, xây
Trang 7dựng khung phát triển sản phẩm du lịch sinh thái phù hợp và theo đó hướng dẫn, hỗ trợ cộng đồng địa phương cùng các bên liên quan thực hiện các hoạt động phát triển sản phẩm du lịch sinh thái trong khu vực
1.1.2 Tổng quan về du lịch Việt Nam
Đất nước Việt Nam nhỏ bé và xinh đẹp có tiềm năng vô cùng to lớn trong việc phát triển du lịch dựa với sự pha trộn giữa cảnh quan thiên nhiên, văn hóa và lịch sử tuyệt vời và khí hậu nhiệt đới Năm 2006, Chính phủ Việt Nam đã giới thiệu biểu tượng mới của ngành du lịch quốc gia
“Việt Nam: Vẻ Đẹp Tiềm Ẩn” và kể từ đó, sản phẩm du lịch của Việt Nam đã được quảng bá
mạnh mẽ tại nhiều thị trường trong nước và quốc tế Hiện nay, Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến du lịch mới trong khu vực Đông Nam Á và tiểu vùng Mê Kông Một số diễn đàn đã phản ánh rằng với những tiềm năng và sự ổn định, Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia hấp dẫn nhất về du lịch tại Châu Á vào năm 2020 Con số khách du lịch quốc tế đã tăng
từ 1,35 triệu vào năm 1995 lên tới khoảng 5,3 triệu (5.049.855) trong năm 2010 Bên cạnh đó, lượng du khách trong nước tăng từ 7 triệu năm 1995 lên 28 triệu lượt khách vào năm 2010 Lượng khách du lịch tới Việt nam đã cho thấy một sự gia tăng không ngừng với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 9,2% trong giai đoạn 2005-2010
Tiềm năng của ngành du lịch trong việc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đã được nhận thấy rõ căn cứ vào những đóng góp trực tiếp cũng như gián tiếp của ngành trong nền kinh tế đất nước những năm gần đây Doanh thu từ ngành du lịch tăng từ 20,5 nghìn tỉ đồng (1,1 tỉ đô la) trong năm 2001 lên tới 70 nghìn tỉ đồng (3,6 tỉ đô la) trong năm 2009 với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 16,6% Chỉ tính riêng năm 2010, ngành du lịch đã thu về hơn 96 nghìn tỉ đồng, đóng góp 6% trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam Tính đến cuối năm 2010, ngành du lịch đã trực tiếp tạo ra 450.000 việc làm và gần 1 triệu việc làm gián tiếp (Theo VNAT/ITDR, tháng 2 năm 2011) Trong năm 2008, Việt Nam đã công nhận 21 điểm du lịch lớn cấp quốc gia và chính phủ Việt Nam đang cố gắng chuyển đổi du lịch truyền thống thông thường của đất nước sang du lịch sinh thái gắn với thiên nhiên và văn hóa nhiều hơn bằng cách đa dạng hóa sản phẩm du lịch
1.1.3 Triển vọng phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Tỉnh Bắc Kạn thuộc khu vực vùng núi phía bắc cách thủ đô Hà Nội 120 km chạy dọc theo đường quốc lộ số 3 và giáp ranh với các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn Tỉnh
có diện tích 4857,2 km2 phân bố trong 7 huyện và 122 xã với dân số 300.000 người, mật độ trung bình 61 người/km2 Trụ sở cơ quan của Tỉnh Bắc Kạn đặt tại thị xã Bắc Kạn được biết là một khu vực giàu truyền thống văn hóa dân tộc với số dân khoảng 45.400 người sinh sống quanh khu vực thi xã, cách Hà Nội 166 km Địa hình núi non hùng vĩ tạo lên những khung cảnh thiên nhiên rất đẹp với 95% diện tích vẫn còn được bao phủ bởi rừng và chỉ 5% diện tích đất nông nghiệp Khoảng 85 % dân số của tỉnh Bắc Kạn dự vào nông nghiệp để sinh sống và là công cụ sinh kế Các khu vực rừng lớn nhất có sự hình thành địa chất ngoạn mục như hồ Ba Bể, các dãy núi đá vôi, cảnh quan sông hồ, thác nước và là nơi định cư của nhiều dân tộc dân tộc thiểu số bên trong môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học đã tạo ra một tiềm năng rất lớn cho phát triển du lịch sinh thái tỉnh Bắc Kạn
Tỉnh Bắc Kạn được biết đến là vùng đất giàu có về văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc miền núi Đây còn là ngôi nhà của 10 nhóm dân tộc thiểu số khác nhau và chủ yếu thuộc 2 nhóm ngôn ngữ Thái - Kadai và Hmông-Miêu chiếm 87% Các nhóm dân tộc chính gồm Tày, Dao, Nùng, H’mông, Hoa and Sán Chỉ Dân tộc Tày có dân số đông nhất với 150.000 người, sau
đó là Dao, Kinh, Nùng, H’mông và Hoa Người Sán Chỉ có dân số ít nhất với khoảng 300 người Tỉnh Bắc Kạn có rất nhiều nét văn hóa đặc trưng cùng nhiều lễ hội với những trò chơi truyền thống Một số các lễ hội quan trọng có thể quảng bá vào hoạt động du lịch như: hội chùa Thạch Long, Tết Nguyên đán (trong khoảng tháng 1 – tháng 2), hội Xuân Ba Bể (ngày 10 tháng riêng
âm lịch), hội đền Khổ Thâm (từ 6 – 15 tháng riêng âm lịch), lễ hội truyền thống của xã Hạ Vĩ, huyện Bạch Thượng được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng riêng âm lịch hàng năm Ngoài ra còn có lễ hội Nóc Nước là cơ hội để người dân địa phương cầu mưa gió, mùa màng bội thu và
sự yên bình, hạnh phúc đến với dân bản Tỉnh Bắc Kạn còn rất nhiều những di tích lịch sử như
Trang 8động Nà Tu, Nàng Tiên những địa danh này gắn với lãnh tụ Hồ Chí Minh và cuộc khánhg chiến chống Pháp như hang Bắc Bó, rừng Trần Hưng Đạo, Chợ Đồn, Chợ Rã và An Toàn Khu (ATK) tại huyện Định Hóa vv
Tỉnh Bắc Kạn còn nổi tiếng với sự giàu có về đa dạng sinh học như hồ Ba bể và hình thành địa chất núi đá vôi ngoạn mục phong phú như Động Puông, hang Nàng Tiên và thác nước Đầu Đẳng
Tỉnh Bắc Kạn là một trong những điểm du lịch đẹp và gần Hà Nội nhất trong các tỉnh miền núi phía bắc Thị xã Bắc Kạn có thể trở thành điểm chiến lược là cửa ngõ đến thăm quan các điểm
du lịch miền núi phía bắc của Việt Nam Sự xuất hiện của những phong cảnh thiên nhiên đặc sắc, sông hồ và văn hóa dân tộc giàu có, đa dạng sinh học và một số điểm di tích lịch sử quốc gia đã hình thành một nền tảng cho sự phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên cho đến nay, khu vực hồ Ba Bể và vườn quốc gia Ba Bể vẫn là trung tâm và là điểm hấp dẫn du lịch duy nhất của tỉnh Bắc Kạn Kể từ năm 2003, tốc độ phát triển du lịch trung bình của tỉnh đạt 23% với khoảng 100.000 khách du lịch thăm quan qua đêm trên địa bàn tỉnh trong năm 2007 (theo ADB/RRP 2008)
Những hoạt động du lịch sinh thái ở tỉnh Bắc Kạn bao gồm thăm quan hồ Ba Bể, thăm các di tích lịch sử, quan sát động vật hoang dã/ngắm các loài chim, đi bộ trong rừng, khám phá thám hiểm hang động, thăm quan bản dân tộc, đi bộ dã ngoại/leo núi mền và thưởng thức vô vàn món ăn
và lễ hội truyền thống khác nhau Khách du lich trong nước và quốc tế đều là những đối tượng tiềm năng cho hoạt động du lịch nơi đây Du khách trong nước bị bị thu hút bởi vẻ đẹp nổi bật của Hồ Ba Bể kết hợp với khí hậu ôn hòa trong suốt mùa hè và lễ hội Xuân Ba Bể trong tháng hai
1.1.4 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Ba Bể
Được thành lập vào năm 1997, vườn quốc gia Ba Bể có nhiệm vụ bảo tồn hồ tự nhiên trên núi lớn duy nhất của Việt Nam Vườn quốc gia Ba Bể được ghi trong Công ước Ramsar là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng thế giới vào tháng 3 năm 2011 và là Công viên Di sản ASEAN vào năm 2004 Hồ Ba Bể là một trong những hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới bao quanh bởi một hệ sinh thái núi đá vôi và là khu vực được bảo vệ cấp quốc gia Vườn quốc gia Ba Bể có diện tích 10.048 hecta với địa hình núi đá vôi cao từ 135 - 1000m so với mực nước biển Trong các khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt của vườn quốc gia Ba Bể có khoảng 524 hộ gia đình với
3200 dân đang sinh sống Ngoài ra, hơn 6000 người đang sống trong khu vực vườn và các vùng đệm (PARC / VQG BA Bể 2002) Người dân miền núi sống trong vườn quốc gia Ba Bể và khu vực vùng đệm thuộc 4 nhóm dân tộc chính gồm H’Mông, Dao, Tày và dân tộc Kinh
Vườn quốc gia Ba Bể nổi tiếng với cảnh đẹp thiên nhiên bao gồm hồ Ba Bể, danh thắng thiên nhiên kết hợp giữa địa hình vùng núi đá vôi, đa dạng sinh học và quan trọng hơn là nền văn hóa truyền thống giàu bản sắc của đồng bào dân tộc Hồ Ba Bể là biểu tượng và là địa điểm thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế tới thăm nhiều nhất khi đến vườn Chính vì vậy, du lịch hồ Ba Bể không chỉ quan trọng với vườn quốc gia Ba Bể và tỉnh Bắc Kạn mà còn quan trọng với toàn ngành du lịch của miền bắc Việt Nam Vườn Quốc gia Ba Bể đã xác định du lịch sinh thái là một trong những công cụ kinh tế quan trọng trong việc bảo tồn sự đa dạng sinh học của vườn, cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng và giàu bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trong khu vực
Sau khi được thành lập, nhà khách của vườn là nơi duy nhất được dùng để quảng bá hình ảnh
du lịch cho vườn quốc gia Ba Bể Sau đó vườn quốc gia Ba Bể đã hỗ trợ cộng đồng bản Pắc Ngòi phát triển mô hình du lịch sinh thái bản làng Cho đến nay, vườn quốc gia Ba Bể đang có tiềm năng to lớn trong việc thể chế hóa những nỗ lực trong việc phát triển du lịch sinh thái và áp dụng một cách sâu rộng những mô hình thực tiễn hiệu quả nhất như đa dạng hóa và tạo thêm các sản phẩm, hoạt động du lịch sinh thái mới vào trong cộng đồng nhằm đem lại lợi ích cho phần lớn cộng đồng dân tộc trong khi đó vẫn khuyên khích họ tự bảo vệ di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của khu vực mình
Trang 9MỤC TIÊU CỦA BÁO CÁO
Mục tiêu chủ đạo của báo cáo đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái là nhằm xác định, đánh giá và lập tài liệu những sản phẩm du lịch sinh thái tiềm năng, gói du lịch và các hoạt động cho Hồ Ba
Bể và khu vực xung quanh thuộc vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Mục tiêu cụ thể của báo cáo bao gồm:
a Xác định chi tiết những địa điểm du lịch tiềm năng và hấp dẫn khách du lịch
b Xác định và đánh giá các sản phẩm du lịch/du lịch sinh thái tiềm năng mới và gói du lịch
PHẠM VI VÀ CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO
Phạm vi đánh giá các sản phẩm du lịch sinh thái là vùng hồ Ba Bể và những khu vực xung quanh của tỉnh Bắc Kạn đã được hướng dẫn trong mục tiêu tổng thể, kết quả đầu ra đề xuất của
dự án và các tiêu trí lựa chọn tiểu dự án Khu vực hồ Ba Bể của tỉnh Bắc Kạn đã được chọn là một trong những khu vực tiểu dự án chính do có những thuộc tính đặc biệt gồm vườn quốc gia
và sự hiện diện của ít nhất 6 nhóm dân tộc bao gồm Tày, Dao, Nùng, H’mông, Hoa và Sán Chay
Theo đó, việc đánh giá này chủ yếu tập trung vào nguồn tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch sinh thái của hồ Ba Bể, các khu vực xung quanh như khu vực bến thuyền Buốc Lốm, bản Khang Ninh, Động Puông, bản Pắc Ngòi, Bó Lù, thác Đầu Đăng và chợ bản Tàu Các địa điểm văn hóa
và thiên nhiên có liên quan khác bao gồm bản Lùng Quan, bản Cốc Lùng, núi Na Phoòng, bản Cốc Tộc, bản Cám Hạ, bản Cao Thượng, bản Khuổi Tăng, Lùng Quan, núi Kéo Mỏ, Bản Quán Hơn nữa, kinh nghiệm từ việc thực hiện thành công những sản phẩm du lịch sinh thái được chọn có thể sẽ được nhân rộng ra các khu vực khác trong vườn quốc gia Ba Bể và tỉnh Bắc Kạn
có tiềm năng du lịch tương tự
Báo cáo này gồm 4 chương: Chương 1 gới thiệu chung về mục tiêu, phạm vi và phương pháp thực hiện đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái; Chương 2 chỉ ra tiềm năng du lịch sinh thái của vùng hồ Ba Bể và khu vực xung quanh dựa trên tiêu chí lựa chọn (7 điểm); Chương 3 miêu tả
tóm tắt đặc trưng của 4 sản phẩm du lịch sinh thái được chọn trong vùng hồ Ba Bể và khu vực xung quanh; Chương 4 gợi ý các hoạt động cần thực hiện để phát triển sản phẩm du lịch sinh
thái được lựa chọn ở vùng hồ Ba Bể và các vùng xung quanh
Trang 10PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ BÁO CÁO
Các phương pháp dưới đây đã được sử dụng trong quá trình chuẩn bị báo cáo đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái:
a Xem xét tài liệu: Công việc đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái bắt đầu với việc xem xét tài
liệu có liên quan đến dự án GMS, chính sách về du lịch và các tài liệu kế hoạch liên quan đến du lịch Việt Nam và du lịch tại vườn quốc gia Ba Bể cũng như toàn tỉnh Bắc Kạn
b Gặp chính thức và không chính thức: Nhiều cuộc gặp gỡ chính thức và không chính thức
đã được tổ chức với các cơ quan liên quan như PIU Bắc Kạn, Sở VHTTDL tỉnh Bắc Kạn, vườn quốc gia Ba Bể cùng lãnh đạo xã, thôn bản Các cuộc họp này tập trung rà soát những
nỗ lực trước đó của các cơ quan ban ngành trong việc phát triển du lịch sinh thái, xem xét khu vực ưu tiên và các hoạt động can thiệp trong tương lai
c Đi thực địa và quan sát trực tiếp: Hoạt động thực địa và quan sát trực tiếp được thực hiện
tại hồ Ba Bể, vùng núi xung quanh, các bản dân tộc, thác nước, hang động, đảo nhỏ và sông suối Trong quá trình này, các điểm hấp dẫn và tiềm năng về du lịch sinh thái đã được quan sát, đánh giá từ nhiều góc độ bao gồm khả năng hấp dẫn khách du lịch; điều kiện tiếp cận, điệu kiện cơ sở hạ tầng, những ảnh hưởng hữu hình tới di sản thiên nhiên và văn hóa; tác động tiềm ẩn trong dài hạn; năng lực thực hiện; mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và
di sản thiên nhiên
d Thảo luận nhóm tập chung ( FGD): Các cuộc thảo luận nhóm tập chung đã được tổ chức
ở bản Pắc Ngòi và bản Bó Lù thuộc khu vực hồ Ba Bể Quá trình thảo luận chủ yếu tập chung đánh giá những địa điểm du lịch sinh thái thiên nhiên và văn hóa của đồng bào dân tộc thu hút khách du lịch; đánh giá nỗ lực của người dân địa phương trong việc phát triển gói
du lịch nhà nghỉ cộng đồng trong bản; những vấn đề du lịch nhà ở cộng đồng còn tồn tại và hướng ưu tiên của người dân về phát triển du lịch trong khu vực
e Tiếp xúc và phỏng vẫn không chính thức những cá nhân quan trọng: Việc tiếp xúc và
phỏng vấn được thực hiện với những cá nhân bao gồm người điều hành nhà nghỉ cộng đồng, nhà hàng, nông dân, chủ cửa hiệu nhỏ, chủ khách sạn, hướng dẫn viên du lịch địa phương, lãnh đạo xã/ thôn, thành viên hội phụ nữ tại hồ Ba Bể và các khu vực lân cận Quá trình tiếp xúc và phỏng vấn tập trung vào việc tìm và đánh giá các sản phẩm du lịch sinh thái tiềm năng, thị trường du lịch sinh thái, doanh nghiệp và năng lực của cá nhân trong việc phát triển, quảng bá, duy trì các gói tour du lịch sinh thái và sự hoạt động của các doanh nghiệp trong vùng
f Khảo sát khách du lịch, hãng lữ hành (hướng dẫn viên) và lễ tân : Điều tra nhận định
của du khách (với 6 du khách quốc tế và 16 du khách trong nước) đã được tiến hành tại bản Pắc Ngòi và bản Bó Lù để xác định quan điểm của khách du lịch về tổng quan tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của khu vực và lựa chọn của khách về những sản phẩm, hoạt động du lịch sinh thái mới trong khu vực hồ Ba Bể và khu vực xung quanh Việc điều tra chỉ được tiến hành với số lượng ít nên những lựa chọn của du khách về những hoạt động và sản phẩm du lịch mới trong khu vực chỉ mang tính khái quát Ngoài ra, phương pháp này còn thu thập ý kiến từ những hướng dẫn viên du lịch tại bản Pắc Ngòi và hồ Ba Bể nhằm tìm
ra những quan tâm và ưu tiên của họ đối với những sản phẩm và hoạt động du lịch sinh thái trong vùng hồ Ba Bể Thêm vào đó, một cuộc thăm dò trên các website đã được tiến hành nhằm đánh giá những gói tour của các hãng lữ hành đang khai thác tại khu vực hồ Ba Bể
g Chia sẻ kết luận về báo cáo đánh giá với PCU và nhóm tư vấn (LIC): Kết quả trong quá
trình đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái tại vùng Hồ Ba Bể được trình bày và chia sẻ tại cuộc họp giữa PCU và LIC, cùng sự tham gia của T/s Trần Văn Ngợi, Giám đốc BQL dự án quốc gia, ông Trương Tuấn Phương, Phó Giám đốc dự án, ông Rabi Jung Pandey trưởng nhóm tư vấn dự án và Ts Võ Quế , Chuyên gia lập kế hoạch du lịch sinh thái quốc gia Những ý kiến đóng góp và tham vấn của các cán nhân có tên trên đã được sử dụng trong báo cáo
Trang 11Những thông tin sau khi được thu thập qua các phương pháp nêu trên sẽ được phân tích và trình bày theo 8 tiêu chí đánh giá các sản phẩm du lịch sinh thái chủ yếu
NHÓM ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI
Dưới sự hướng dẫn và giám sát của T/s Trần Văn Ngợi, Giám đốc BQL dự án quốc gia, ông Trương Tuấn Phương, Phó Giám đốc dự án, ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Giám đốc công
ty VICA và ông Rabi Jung Pandey trưởng nhóm tư vấn dự án, quá trình soạn thảo báo cáo đã được thực hiện với những thành viên có tên dưới đây:
1 Ông Ram Chandra Sedai : Chuyên gia quốc tế về lập kế hoạch du lịch sinh thái
2 Tiến sĩ Võ Quế : Chuyên gia trong nước về lập kế hoạch du lịch sinh thái
3 Ông Bùi Văn Duân : Phiên dịch dự án
Bên cạnh đó, quá trình đánh giá còn có sự hỗ trợ, cung cấp thông tin và gợi ý quý báu từ các cá nhân: ông Lương Anh Biên - Phó Giám đốc PIU Bắc Kạn, ông Trần Cao Khải - Trưởng Phòng
Du lịch Bắc Kạn và bà Vũ Thị Phượng (Sở VHTTDL Bắc Kạn) Trong quá trình đi thực địa còn
có sự giúp đỡ và tham gia của ông Hoàng Văn Du (cán bộ PIU Bắc Kạn)
Báo cáo còn có sự đóng góp ý kiến và gợi ý từ các ông bà có tên: ông Chet Nath Kanel (Chuyên gia Quốc tế về Phát triển Nguồn nhân lực ), bà Evelyn M Buenaventura (Chuyên gia Quốc tế về Giới và Xã hội), ông Paulo Pasicolan ( Chuyên gia Quốc tế về Môi trường ), ông Nguyễn Thanh Dương (Chuyên gia Trong nước về Môi trường ),ông Lê Văn Nam ( Chuyên gia Thiết Kế và Xây dựng) và bà Nguyễn T.Bích Hạnh (Chuyên gia Trong nước về Chuỗi cung ứng & SME)
Những cá nhân và cơ quan ban ngành đã tham vấn và trao trong suốt quá trình tiến hành đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái được trình bày trong Phụ lục 1
Trang 12CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI TRONG KHU VỰC
Tiềm năng du lịch sinh thái của vùng hồ Ba Bể và khu vực xung quanh, tỉnh Bắc Kạn được đánh giá dựa trên 8 tiêu chí đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái Kết quả đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái của hồ Ba Bể và khu vực lân cận được trình bày ngắn gọn dưới đây:
ĐÁNH GIÁ CÁC ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH SINH THÁI VÀ HẤP DẪN CHÍNH
Việc đánh giá ngắn gọn các địa điểm tự nhiên, văn hóa và hấp dẫn chính phục vụ mục đích du lịch của hồ Ba Bể và các khu vực xung quanh được trình bày dưới đây:
2.1.1 Các địa điểm tự nhiên và hấp dẫn chính
2.1.1.1 Hình thành địa mạo đặc biệt
Vườn quốc gia Ba Bể là một trong những thắng cảnh đẹp và hùng vĩ nhất tại miền bắc nói riêng
và trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung Sự hình thành địa mạo đặc biệt trên núi đá vôi trở thành tiềm năng du lịch sinh thái to lớn của hồ Ba Bể và các khu vực xung quanh, bao gồm:
a Thắng cảnh tự nhiên, núi rừng, vách đá và ốc đảo
Những nét thu hút khách du lịch: Trải qua quá trình hình thành địa chất trong lòng đất trên
200 triệu năm đã tạo nên những dãy núi hùng vĩ, những ngọn đồi dốc đứng, những thung lũng trải dài, những vách đá lởm chởm và những dãy đá vôi trong vườn quốc gia
cao từ 150m - 1098m so với mực nước biển, trong đó cao nhất là đỉnh Phia Boóc (cao trên 1000m) thuộc khu vực Đồn Đền Vườn còn có nhiều đỉnh núi đẹp cao 1.299m giáp tỉnh Tuyên Quang, đỉnh Pia Linh ( cao 833m) giáp với Cao Trĩ và một vài đỉnh núi khác nằm giáp xã Cao Thượng Những đỉnh núi khác bao gồm đỉnh Phia Boóc (cao 1.502m) và các đỉnh núi Hoa Sơn ( cao 1517m và 1525m) nằm nằm về giữa Nam và Đông Nam Trong những ngọn núi này, có đỉnh Phia Bióc, Kéo Mỏ (sau bản Pắc Ngòi) và núi Fu Goóc (sau bản Tà Kèn /thác nước Đầu Đẳng thuộc xã Cao Thượng là những ngọn núi đẹp và có tiềm năng lớn phát triển các hoạt động du lịch như chinh phục đỉnh núi, leo núi đá, đi bộ leo núi thám hiểm và leo núi mềm
vách núi Lũng Nham nằm gần khu vực động Puông; các khu vực gần bản Cám Hạ dọc theo sông Năng; khu vực núi Nả Phoòng gần bản Bó Lù; khu vực núi phía đông bản Quá; đỉnh núi phía nam bản Pắc Ngòi và khu vực núi Đồn Đền Độ cao trung bình của những vách đá vôi đo được lên đến 800 - 900m
vời nhất được hình thành từ địa chất đá vôi của vùng hồ Ba Bể Trong số đó, An Mã là đảo đẹp
và nổi tiếng nhất trong khu vực An Mã là vách đá vôi nhô lên từ đáy hồ với độ cao 27 – 30m tính từ mặt hồ Những hòn đảo này còn là môi trường sống thích hợp của một số loài chim
Những hoạt động sinh thái khả thi: Những đỉnh núi đẹp ấn tượng, địa hình gồ ghề, thung lũng
trải dài và vách núi đá vôi hùng vĩ là nền tảng mạnh mẽ giúp phát triển du lịch sinh thái trong vườn Một số hoạt động du lịch sinh thái có thể được phát triển và quảng bá cho khu vực trên bao gồm:
Hoạt động nghỉ ngơi, giải trí: Ngắm cảnh đẹp, dã ngoại
Giáo dục và khoa học: Tìm hiều về khu vực, du lịch giáo dục, nghiên cứu khoa học
Trang 13 Hoạt động du lịch thám hiểm: Đi bộ đường dài, đi bộ leo núi, đi xe đạp, leo núi đá, chinh phục đỉnh núi
Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên: Đi bộ trong rừng, ngắm chim và thiên nhiên hoang dã
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa dân tộc thiếu số: Trải nghiệm nhà nghỉ cộng đồng, văn hóa dân tộc thiểu số
Hoạt động tâm linh và tinh thần: (quanh Ao Tiên và đảo An Mã)
Hiện trạng hoạt động du lịch hiện nay
Hiện nay, hầu hết các đỉnh núi và núi/vách đá vẫn chưa chính thức được mở phục vụ du khách các du lịch leo núi, đi bộ và cơ bản vẫn còn thiếu đường vào
Tuy nhiên, một vài địa điểm như vách núi Lũng Nham thuộc khu vực động Puông đã có đường vào bằng thuyền qua các dãy núi đá vôi, du khách có thể tiếp cận khu vực Bó Lù bằng đường bộ hoặc đường mòn đi bộ Ngoài ra, du khách còn có thể thăm quan các khu vực đảo bằng thuyền
Hiện nay du khách có thể đi ngắm cảnh tại các khu vực núi và vách đá; ngắm nhìn những vách đá vôi từ núi Lũng Nham; thăm quan và bơi lội tại đảo An Mã và rất ít khách du lịch có thể đi bô leo núi tới các điểm như Đồn Đền, Cao Thượng, núi Kéo Mỏ hay núi Fu Nộc Chấp
Cơ hội nâng cấp và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Phát triển thêm nhiều tuyến đường mòn đi bộ trong khu vực Hành chính và Dịch vụ (ASZ) và một vài địa điểm thuộc khu Phục hồi Sinh thái (ERZ)
Phát triển một số hoạt động du lịch giải trí đặc biệt như leo núi đá, chinh phục đỉnh núi, đi bộ thám hiểm bộ trong khu vực Hành chính và Dịch vụ (ASZ) và một vài địa điểm thuộc khu Phục hồi Sinh thái (ERZ)
Phát triển các gói du lịch sinh thái có trách nhiệm cùng một cơ chế bảo vệ môi trường cho tất
cả các khu
b Ao hồ, sông suối và thác nước đẹp
Hồ Ba Bể
Điểm thu hút khách du lịch:
Hồ Ba Bể nằm tại trung tâm của vườn thuộc huyện Ba Bể, là hồ tự nhiên lớn nhất Việt Nam và
là một trong những hồ trên núi lớn nhất thế giới, đây chính là cơ sở thuận lợi cho việc phát triển
và quảng bá du lịch sinh thái trong vườn Sự kết hợp đặc biệt của ba hồ nhỏ đã tạo nên nét tráng lệ cho hồ Ba Bể Nước trong hồ bắt nguồn từ 3 nhánh lớn gồm nhánh sông Năng, nhánh Chợ Lèng và suối Bó Lù; hồ chảy theo hướng Nam-Bắc và đổ ra sông Năng Với vận tốc nước hiện tại vào khoảng 0,5m/giây, hồ ba Bể vừa mang đặc tính của sông và hồ
Nếu như Vịnh Hạ Long được coi là núi trên biển, thì hồ Ba Bể được mệnh danh là biển trên
núi Hồ Ba Bể thuộc phần hạ lưu của các dòng suối nằm trên hệ thống núi phía nam của khu vực Phia Bióc và Hoa Sơn Nước trong hồ luôn trong xanh với nhiệt độ nước từ 26 - 29 ºC trong mùa hè, và từ 16 -17 ºC vào mùa đông Nằm trên độ cao 150m so với mực nước biển, với điểm sâu nhất trong lòng hồ là 35 mét, hồ Ba Bể trải dài trên diện tích 500 hecta và chiều dài 8 km Giá trị du lịch của hồ Ba Bể là rất lớn vì đây là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật và nguồn sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số qua nguồn thủy sản và giao thông vận tải đường thủy
Dọc khu vực sông Năng đã từng phát hiện thấy dấu vết của loài Voọc bạc má (Trachypithecus f
francoisi) Khu vực hồ còn kết nối với một số hang động kỳ vĩ, đảo, vách núi đá vôi (cấu trúc măng đá và nhũ đá), rừng, các ngã ba sông và thác nước với tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tương đối cao
Hoạt động du lịch sinh thái khả thi
Hồ Ba Bể là trung tâm thu hút du lịch của vườn quốc gia Ba Bể Những hoạt động du lịch sinh
thái có thể phát triển và quảng bá tại khu vực này gồm:
Hoạt động nghỉ ngơi, giải trí: Ngắm cảnh đẹp, khám phá hang động mềm, dã ngoại
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực, du lịch giáo dục, nghiên cứu khoa học
Hoạt động du lịch khám phá: Đi bộ đường dài, leo núi đá, thám hiểm hang động
Trang 14 Hoạt động du lịch dựa vào sông suối: Thám hiểm sông trên thuyền/Chèo thuyền, trượt thác (canyoning), bơi thuyền kayak, bơi phao trên suối (bơi phao dọc thác) và câu cá
Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên: Đi bộ đường rừng, Ngắm chim/bướm, thiên nhiên hoang dã
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa dân tộc: Trải nghiệm nhà nghỉ cộng đồng, văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, mua sắm đồ lưu niệm
Các hoạt động tâm linh, tinh thần
Hiện trạng du lịch hiện nay
Hồ Ba Bể hiện vẫn là điểm thu hút khách du lịch chủ yếu tại vườn quốc gia Ba Bể Các hoạt động du lịch hiện nay tại hồ Ba Bể bao gồm chèo thuyền truyền thống, thuyền Kayak, bơi lội,
dã ngoại, ngắm cảnh đẹp, du lịch giáo dục và nghiên cứu khoa học
Một vài các hoạt động du lịch kết hợp với vùng hồ Ba Bể gồm khám phá hang động mền, quan sát chim và thiên nhiên hoang dã, văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số và các hoạt động tâm linh
Đi thuyền truyền thống trên hồ Ba Bể có thể bắt đầu từ một vài điểm như Chợ Rã, bến thuyền Buốc Lốm hoặc bến thuyền gần trụ sở vườn và bến thuyền tại Bó Lù
Đường đang nâng cấp từ Chợ Rã đến Buốc Lốm, trụ sở của vườn quốc gia Ba Bể, bản Pắc Ngòi và bản Bó Lù càng đẩy mạnh hơn nữa tiềm năng du lịch vùng hồ Ba Bể
Cơ hội nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Cần xây dựng thêm một số bến thuyền ở Khuổi Tăng và bản Cám Hạ Cần có thêm các điểm dừng đỗ thuyền ở bản Cốc Tộc và Tà Kèn nhằm bảo vệ bờ hồ và để đảm bảo an toàn cho du khách
Khu vực hồ cần có đẩy đủ thông tin và thiết bị thuyết minh
Có thể phát triển một vài điểm du lịch dã ngoại ở bản Cám Hạ và Đầu Đẳng
Trong quá trình thực hiện các hoạt động bảo tồn vùng hồ có thay mới thuyền hiện có bằng các thuyền nhựa composite chạy máy hiệu suất cao và nâng cấp hệ thống xử lý nước thải tại các bản Pắc Ngòi, Bó Lù, Cốc Tộc, và Cám Hạ
Phát triển thêm các tuyến đường mòn đi bộ, đường mòn leo núi (đường mòn đi bộ tại bản Cám Hạ và đường mòn leo núi từ Bó Lù qua Cốc Tộc đến thác Đầu Đẳng) nhằm đa dạng hóa các hoạt động du lịch và giảm tối đa áp lực lên hệ thống thuyền trên hồ Ba Bể, khu vực sông Năng
Ao Tiên
Điểm thu hút khách du lịch
Nằm cách hồ Ba Bể 120m và cao hơn 5m so với mặt hồ Ba Bể, Ao Tiên trải rộng trên diện tích 1.5 hecta trên khu vực phía bắc hồ Ba Bể Đây là một ao yên bình được hình thành trên khu vực vách đá vôi với bờ bao xung quanh được che phủ hoàn toàn bởi nhiều tầng cây rừng và núi đá, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên rất đẹp Dấu chân tiên vẫn còn lưu lại trên những tảng đá nằm dọc bờ ao Du khách có thể ngắm các ngọn núi nguy nga xung quanh (theo truyền thuyết
kể lại là nơi chơi Cờ của tiên) và bóng núi in trên mặt hồ rõ nhất từ bờ Nam của ao Tiên
Các hoạt động du lịch sinh thái khả thi:
Hoạt động nghỉ ngơi, giải trí: Ngắm cảnh đẹp
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực, du lịch giáo dục, nghiên cứu khoa học
Hoạt động du lịch thám hiểm: Không có
Hoạt động du lịch dựa vào sông suối: Thám hiểm trên sông bằng thuyền/Chèo thuyền và bơi thuyền kayak ( không phải trên aoTiên mà trên hồ Ba Bể)
Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên: Đi bộ đường rừng, ngắm chim, thiên nhiên hoang dã
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa dân tộc: văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số (Nghe những truyền thuyết, truyện cổ)
Hoạt động tín ngưỡng và tâm linh:
Hiện trạng du lịch hiện nay
Trang 15 Hiện nay đã có một đoạn đường mòn sinh thái dài 120m nối giữa Ao Tiên và hồ Ba Bể Tại điểm đầu của đườn mòn sinh thái này có một bảng chỉ dẫn và một mũi tên chỉ đường
Gần 80% số du khách thăm quan hồ Ba Bể đều đến thăm Ao Tiên Hiện nay khách chủ yếu đến Ao Tiên ngăm cảnh
Cơ hội nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Để quản lý dòng khách du lịch, có thể tạo thêm một lối đường vào nằm về phía bên phải của
Hồ Tiên từ Hồ Ba Bể Việc làm này sẽ giúp tạo những con đường một chiều cho việc thăm quan của du khách
Có thể tạo thêm một đường mòn sinh thái vòng quanh hồ để tạo điều kiện cho du khách Thăm quancảnh quan Hồ được thuận lợi hơn và giúp quản lý dòng du khách ngay cả trong mùa du lịch cao điểm
Phát triển cơ sở vật chất cần thiết cho các hoạt động tâm linh và tinh thần quanh bờ ao Do khu vực Ao Tiên còn nằm gần khu vực Bảo vệ Đặc biệt (SPZ) cho nên việc tiến hành các hoạt động tinh thần và tâm linh này trước tiên cần có sự cho phép của Ban Quản lý VQG Ba
du lịch riêng lẻ này lại với nhau thành một gói du lịch đơn nhất
Hoạt động du lịch sinh thái khả thi
Hoạt động thư giãn, giải trí: Ngắm cảnh đẹp, dã ngoại, hoạt động thể thao bên bờ sông (bản Pắc Ngòi)
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực, du lịch giáo dục, lịch sử thời kỳ kháng chiến, nghiên cứu khoa học
Hoạt động du lịch khám phá: Leo núi, thám hiểm hang động ( Sông Năng)
Hoạt động du lịch dựa vào sông suối: Ngắm cảnh sông nước trên thuyền/chèo thuyền, trượt thác, chèo thuyền Kayak, bơi lội, trượt thác ( ở Thác Đầu Đẳng), bơi phao dọc thác (tubing), câu cá
Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên: Đi bộ trong rừng, quan sát chim, thiên nhiên hoang
dã
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa dân tộc: Văn hóa đồng bào các dân tộc thiếu số, chợ phiên, và các lễ hội
Hoạt động tâm linh và tinh thần
Hiện trạng du lịch hiện nay
Hiện nay sông Năng đã được khai thác rộng rãi thành nơi neo đậu thuyền vào động Puông
và hồ Ba Bể Hoạt động chèo thuyền có thể khởi hành từ bến thuyền Chợ Rã hoặc Buốc Lốm
Hiện đang có một vài điểm dừng đỗ thuyền tạm thời tại Khuổi Tăng (gần động Puông), bản Cám Hạ và bản Tà Kèn dọc sông Năng
Các khu vực sông tại bản Pắc Ngòi và Bó Lù hiện vẫn chưa có hoạt động du lịch nào được khai thác
Trang 16Cơ hội nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Xây dựng thêm bến thuyền (kiên cố) và đưa vào sử dụng thêm nhiều thuyền thân thiện với môi trường
Quảng bá hoạt động du lịch đi bộ trên các khu vực núi để bảo tồn thượng nguồn (để giảm lượng sa lắng) bằng việc khuyến khích người dân hợp tác thông qua những lợi ích mà du lịch mang lại
Thiết kế và lắp đặt hợp lý biển chỉ dẫn và các bảng thông tin du lịch
Đảm bảo quản lý hiệu quả chất thải và nước thải tại các bản Pắc Ngòi, Bó Lù, Cốc Tộc, Cám
đó đi dọc xuống phía dưới sông Gâm 1 km còn có một trạm thủy điện được xây dựng từ thời Pháp thuộc
Hoạt động du lịch sinh thái khả thi
Hoạt động thư giãn, giải trí: Ngắm cảnh đẹp, dã ngoại
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực, du lịch giáo dục, lịch sử thời kháng chiến ( thủy điện), nghiên cứu khóa học
Hoạt động du lịch mạo hiểm: Đi bộ đường dài (từ Cám Hạ – Đầu Đẳng), đi bộ leo núi, (từ Bó
Lù – núi Fu Nộc Chấp – thác Đầu Đẳng), đi xe đạp, leo núi đá
Hoạt động du lịch dựa vào sống suối: Ngắm cảnh trên sống bằng thuyền/chèo thuyền, trượt thác, bơi thuyền Kayak, bơi lội, trượt thác (chỉ tiến hành ở các địa điểm khả thi ở vườn quốc gia Ba Bể), câu cá
Hoạt đông du lịch dựa vào thiên nhiên: Đi bộ trong rừng, ngắm/quan sát chim/bướm, thiên nhiên hoang dã
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa dân tộc : du lịch nhà dân, văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số, mua sắm và mua đồ lưu niệm, chợ phiên, và các lễ hội ( ở bản Cám Hạ và Tà Kèn)
Hoạt động tâm linh và tinh thần
Hiện trạng du lịch hiện nay
Khoảng 70% khách du lịch đến thăm Hồ Ba Bể có thăm thác Đầu Đẳng
Mặc dù có tiềm năng du lịch rất lớn, nhưng thời gian lưu trú của du khách tại thác Đầu Đẳng rất ngắn với quá ít các hoạt động du lịch ngoài ngắm cảnh
Vườn quốc gia Ba Bể (năm 2002) đã tiến xây dựng tuyến đường sinh thái dài 300m đến thác Đầu Đẳng; cùng với đó là một biển chỉ đường, một bảng thuyết minh du lịch được đặt ở lối
rẽ và điểm ngắm cảnh ở bờ phía Đông Bắc của thác nước
Đã có một cửa hàng ăn và một nhà khách của ông Hiền ở bản Tà Kèn phục vụ du khách với bữa trưa truyền thống địa phương ngon miệng
Cơ hội đa dạng hóa và nâng cấp các sản phẩm du lịch
Xây những bến thuyền kiên cố tại bản Tà Kèn và bản Cám Hạ
Quảng bá tuyến du lịch leo núi từ Bó Lù – núi Fu Nộc Chấp – Đầu Đẳng Nâng cấp các tuyến đường mòn đi bộ và cầu cũ
Đảm bảo quản lý chất thải và nước thải hiệu quả ở các bản Cám Hạ và Tà Kèn
Phát triển cơ sở hạ tầng cho loại hình trượt thác (dọc theo các thác nước), cơ sở hạ tầng phục vụ bơi lội, dã ngoại, đồng thời nâng cấp những điểm ngắm cảnh hiện có, và mở những đường đi bộ dọc theo bờ phải của thác nước
Trang 17 Cải thiện và phát động các hoạt động du lịch thể thao tại bãi cát bên bờ sông Pắc Ngòi nhằm khuyến khích người dân bảo vệ con sông
c Những hang động kỳ vĩ
Điểm thu hút khách du lịch
trên dãy núi Lũng Nham Động có cửa hình cung cao trên 60m Sông Năng chảy trong lòng động Puông ở sâu vào khoảng 6-10m Trong lòng động có những nhũ đá rất đẹp tạo điều kiện sinh thái và nơi sinh sống thuận lợi cho hơn 12 loài dơi khác nhau (trên tổng số 30 loài dơi được tìm thấy đang sinh sống tại vườn) Động Puông là sự kiến tạo điển hình của vùng địa chất đá vôi, tạo ra sự hài hòa giữa vách đá và hệ động thực vật Một điều thú vị đối với khách du lịch là người dân địa phương còn tìm bắt và ăn thịt những loài dơi sống trong động cũng như dùng phân dơi để bón cho cây trồng
Những hoạt động du lịch sinh thái khả thi
Hoạt động thư giãn, giải trí: Ngắm cảnh đẹp, khám phá hang động mềm
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực, du lịch giáo dục, nghiên cứu khoa học
Hoạt động du lịch thám hiểm: Đi bộ đường dài, leo núi, thám hiểm hang động
Hoạt động du lịch dựa vào sông suối: Thăm quan lòng sông bằng thuyền, bơi lội, bơi phao dọc thác
Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên: Đi bộ đường rừng, ngắm chim/bướm (dơi), quan sát thiên nhiên hoang dã
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa dân tộc: Văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số (mối liên
hệ giữa dơi và đồng bào dân tộc thiểu số)
Hiện trạng du lịch hiện nay
Động Puông thu hút nhiều khách du lịch tới thăm quan nhất trong vườn quốc gia Ba Bể Bên trong động đã có những đường mòn đi bộ do vườn mở (năm 2002)
Du khách có thể đi thuyền bắt đầu từ Chợ Rã, Buốc Lốm, trụ sở chính vườn quốc gia Ba Bể, bản Bó Lù hoặc xuất phát từ ngã ba sông bản Tàu / Khuổi Tăng
Cơ hội nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Xây các bến thuyền kiên cố ở ngã ba sông Khuổi Tăng (gần chợ bản Tàu)
Phát triển tuyến đường mòn đi bộ từ Khuổi Tăng đi động Puông
Quy định bố trí thiết bị chiếu sáng tối thiểu chỉ dùng vào ban ngày (đảm bảo không gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái và môi trường sống của loài dơi)
Thành lập một trung tâm thông tin du lịch nhỏ tại Khuổi Tăng
Phát triển và quảng bá các thiết bị hỗ trợ hoạt động leo núi tại vách đá Lũng Nham
Các động quan trọng khác: Những hang động đẹp khác trong khu vực hồ Ba Bể bao gồm
động Tiên, động Ba Cửa, động Hua Mạ
những giá trị lịch sử quan trọng đối với người dân Việt Nam Động nằm ở độ cao 200m so với mực nước biển với phần cửa hang rất đẹp cao từ 80-90m và rộng từ 100 – 120 m Đài Tiếng Nói Việt Nam đã được đặt ở nơi đây trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp
rộng 35m Phía nam động có nhiều tầng nhũ đá Từ động Tiên, du khách có thể nhìn ngắm toàn
bộ cảnh quan hồ Ba Bể
bao gồm 3 cửa tròn nhỏ ( với đường kính từ 2 – 3 m ) Trong động có một khoang rộng chừng 100m với rất nhiều tầng nhũ đá
Trang 18Động Thẳm Khít: Động Thẳm Khít nằm cách bến phà Bắc 2km về phía bản Pắc Ngòi Cửa động cao từ 10 – 20m rộng từ 50 – 60m và ánh sáng bên ngoài có thể chiếu vào bên trong Động Thẳm Khít có nhiều tầng và không gian trong động là khoảng 150 – 200 km vuông Trong động có nhiều loại nhũ đá hình trụ và hình măng tre rủ xuống Đây là một trong những khu vực đẹp nhất trong vùng hồ Ba Bể
động Hua Mã chạy dọc sông Pắc Ngòi và đi ngang qua bản Lùng Quan
Hoạt động du lịch sinh thái khả thi trong khu vực hang động
Hoạt động thư giãn, giải trí: Ngắm cảnh đẹp, khám phá hang động mềm, dã ngoại
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực, du lịch giáo dục, lịch sử thời kỳ kháng chiến (Động Nả Phoòng) và nghiên cứu khoa học
Hoạt động du lịch thám hiểm: Đi bộ đường dài, đi xe đạp (động Hua Mạ ) leo núi, thám hiểm hang động
Hoạt động du lịch dựa vào sông suối: Thám hiểm trên sông bằng thuyền/ Bơi thuyền ( Động Tiên )
Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên: Đi bộ trong rừng, quan sát chim/bướm, ngắm thiên nhiên hoang dã
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa dân tộc: Văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số
Hiện trạng du lịch hiện nay
Những địa điểm du lịch này không thu hút được thêm nhiều khách du lịch Chỉ có một số ít
du khách đi bộ ngắn thăm quan những động này Một vài du khách thực hiện những chuyên
du ngoạn và đi xe đạp đến động Hua Mạ, rất ít khách du lịch đến thăm động Nả Phoòng
Tất cả các động đều có thể dễ dàng tiếp cận bằng đường và lối mòn đi bộ
Cơ hội nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Phát triển động Nả Phoòng lên thành một địa danh lịch sử và địa điểm leo núi Nâng cấp lối vào và các cơ sở vật chất phục vụ hoạt động leo núi đá
Phát triển các gói du ngoạn và đi xe đạp đến động Hua Mạ
Kết nối các hồ để tạo ra các tuyến đi bộ đường dài và đi xe đạp
Quảng bá những động này thông qua trung tâm thuyết minh di sản tại Buốc Lốm (dự án sẽ xây dựng trung tâm này)
2.1.1.2 Hệ sinh thái và Đa dạng sinh học
Điểm thu hút khách du lịch
Hệ sinh thái và loại rừng
Hệ sinh thái vùng hồ bao quanh bởi hệ sinh thái núi đá vôi đã hình thành nên 3 loại hệ sinh thái (i) Hệ sinh thái sông/hồ, (ii) Hệ sinh thái rừng ngập nước và (iii) Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi
Khu vực này bao gồm 2 loại thực vật chính (I) Rừng đá vôi: phân bố trên các sườn núi dốc,
có thảm thực vật dày che phủ rậm và chiếm phần lớn diện tích của vườn quốc gia (ii) Rừng xanh: phân bố trên các đồi thấp hơn và che phủ bởi lớp đất dày hơn
Hệ thực vật đa dạng
Vườn quốc gia Ba Bể đã ghi nhận được ít nhất 620 loài thực vật (Theo Kế hoạc Hành động
hồ Ba Bể 2001) Trong đó có 10 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam
Các loài thực vật chiếm ưu thế chính trong khu vực bao gồm Nghiến (Burretiodendon
hsienmu), Trai, Đinh ((Markhamia pierrei), Lát Hoa (Chukrasia tabulatis), Sa Nhân (Amomum
longiligulare), Ly và Kèn
Xả má (Ampelocalamus) và táo đỏ là những loài cây đặc hữu của khu vực VQG Ba Bể
Các loài cây khác sống trên núi đá vôi chiếm ưu thế trong khu vực bao gồm Trai lý
(Fragraeoides), Đinh (Markhamia pierrei), Mày tẹo (Streblus tonkinensis), cây gỗ thích…
Trang 19 VQG Ba Bể là nơi sinh sống của một số loài động vật đặc hữu đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng như Voọc bạc má (Trachypithecus Francois), Rùa đầu to (Platysternon
megacephalum ) Đây cũng là nơi cư trú của loài Kỳ Nhông (Rồng lửa - Paramesotriton
deloustali) tại Việt Nam, loài Diệc đêm tai trắng (Gorsachius magnificus)
Những loài thú có vú lớn trong hệ sinh thái quan trọng có thể kể đến như loài Cầy Vằn
(Hemigulus ownstoni), loài Tê Tê Trung Quốc (Manis pentadactyla), loài Vượn Cáo (Nycticebus coucang), loài khỉ Rhesus Macaque, loài Rái Cá Châu Âu, loài Cầy Hương, loài
Mèo châu Á , loài Sơn dương lục địa , loài Sóc Bay đỏ
Khu vực này cũng là nơi sinh sống của trên 27 loài Dơi khác nhau Thêm vào đó, có 54 loài
cá đã được tìm thấy sống trong vườn quốc gia Ba Bể, và trong số đó có 10 loài cá nằm trong Sách Đỏ Việt Nam
Thêm nữa, 43 loài bò sát và động vật lưỡng cư, bao gồm loài Rắn Hổ Mang và Kỳ Nhông
của Việt Nam (Paramesotriton deloustali) đã được tìm thấy trong khu vực vườn quốc gia
Vườn quốc gia còn là nơi sinh sống của 354 loài bướm và 233 loài chim khác nhau bao gồm
Những hoạt động du lịch sinh thái khả thi
Giải trí và thư giãn: Ngắm cảnh, dã ngoại
Nghiên cứu và giáo dục: Nghiên cứu về khu vực, tour giáo dục, nghiên cứu khoa học
Những hoạt động du lịch dưới nước: Câu cá
Những hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên: đi bộ trong rừng nhiệt đới, ngắm chim/ bướm,
và quan sát động vật hoang dã
Những hoạt động du lịch dựa vào văn hóa dân tộc: Văn hóa các dân tộc thiểu số
Những hoạt động tâm linh, tinh thần
Hiện trạng du lịch hiện nay
Hiện tại chỉ có một số hoạt động du lịch như ngắm cảnh và đi bộ leo núi được trển khai bên trong và xung quanh khu vực hồ Ba Bể, sông Năng Bên cạnh đó còn có một số nhà nghiên cứu từ các trường đại học tại Hà Nội đến thực hiện các bài nghiên cứu khoa học về động vật, thực vật và các loài cá…vv
Vườn quốc gia trên tổng thể đều thiếu các cơ sở thông tin và thuyết minh cần thiết về hệ sinh thái, các loài động vật và thực vật Thậm chí người dân địa phương còn không biết đên hiện trạng và vị trí của một số loại động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng hàng đầu như Voọc bạc má
Cơ hội nâng cao và da dạng hóa sản phẩm du lịch
Quảng bá những sản phẩm du lịch sinh thái thú vị đặc biệt như ngắm chim, nghiên cứu thực vật, nghiên cứu thủy sản và đánh bắt, đi bộ trong rừng nhiệt đới
Thông tin và thuyết minh tốt hơn về đa dạng sinh học và hệ sinh thái thông qua vườn quốc gia và trung tâm xúc tiến du lịch sinh thái
Trang 202.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu ôn hòa là một nhân tố quan trọng giúp thu hút khách du lịch đến vườn Khu vực này
có khí hậu mát mẻ và ẩm ướt với nhiệt độ trung bình là 220C và lượng mưa 378mm, do đó
2.1.2 Các điểm Văn hóa/Dân tộc và Hấp dẫn Chính
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch có liên quan đến văn hóa/dân tộc tại khu vực Hồ Ba Bể
Hồ Ba Bể và khu vực xung quanh là môi trường sống của ít nhất 4 nhóm dân tộc chính bao gồm H’mông, Dao, Nùng và Kinh
Có khoảng 524 hộ gia đình với 3200 dân đang sinh sống trong các khu vực bảo tồn nghiêm ngặt của vườn Ngoài ra, có hơn 6000 người dân đang sinh sống ở các vùng đệm của khu bảo tồn (Theo PARC/VQG Ba Bể 2002)
Trong số 4 nhóm dân tộc thiểu số chính đang sinh sống trong khu vực thì dân tộc H’mông chiếm tới 54% dân số, chủ yếu sinh sống trên các địa hình núi cao, trong khi các vùng đất thấp phía dưới của hồ Ba Bể lại là nơi sinh sống của cộng đồng dân tộc người Tày
Người Tày chủ yếu định cư ở các bản Pắc Ngòi, Lùng Quan, Bản Quán, Cốc Lùng, Bó Lù, Cốc Tộc và Cám Hạ
Cộng đồng người Dao thì đang sinh sống tại bản Cám Thượng, Bản Tầu thuộc xã Cao Thượng
Nghề thủ công: Phụ nữ dân tộc Tày dệt vải thổ cẩm bằng những khung cửi có dây đeo sau
lưng còn đàn ông Tày rất giỏi đan lát các loại gùi, giỏ
Trang phục: Phụ nữ Tày mặc váy dài đến đầu gối, được tách ra bằng 5 chiếc cúc chạy dọc theo lách và có tay áo bó Trong khi đó trang phục của nam gới dân tộc Dao lại gồm quần dài và áo ngắn Trang phục truyền thống của phụ nữ dân tộc thì đa dạng hơn của nam giới
và được trang hoàng với nhiều họa tiết truyền thống
Phong tục tập quán: Thờ cúng tổ tiên là một nghi thức truyền thống của người Tày Bàn thờ tổ tiên được đặt ở vị trí trung tâm của ngôi nhà Việc người Dao thờ cúng ông bà tổ tiên được gọi là Bản Hồ Các lễ nghi trong đám tang của người Tày phản ánh nhiều phong tục cổ
xưa
Ngôn ngữ, văn hóa dân gian, chợ phiên và các lễ hội: Ngôn ngữ của dân tộc Tày thuộc
nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Ngược lại, ngôn ngữ dân tộc Dao thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao Văn hóa dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số trong khu vực rất phong phú với nhiều thể loại bao gồm thơ, dân ca, điệu múa và nhạc Các bài hát của người Tày bao gồm Hát Lượn, hát trong đám cưới và các bài hát ru Hát “Then” và dụng cụ âm nhạc “Đàn Tính”
là những biểu tượng văn hóa đặc biệt có thể thu hút nhiều du khách trong những lễ hội văn hóa
Tết Nguyên Đán (Tháng Giêng), Lễ hội Mùa Xuân Ba Bể (Tháng Hai), Tết Thanh Minh/Tảo
mộ (Tháng Tư) và các sự kiện và lễ hội truyền thống khác của bà con đồng bào dân tộc nơi đây được tổ chức kết hợp với việc chơi các trò chơi dân gian, và thưởng thức các món ăn độc đáo của người dân địa phương, (Bảng 1)
Lễ hội hồ Ba Bể diễn ra trong suốt tháng Hai là lễ hội lớn nhất trong khu vực Trong những ngày lễ hội, bà con dân tộc chuẩn bị những món ăn truyền thống của dân tộc mình và biểu diễn những điệu múa, bài hát dân gian
Trang 21 Những nghi thức truyền thống vẫn còn được duy trì trong các hoạt động cưới hỏi, tang lễ của bà con dân tộc nơi đây (lễ tang và ngày Mãn Tang theo phong tục của người Tày ) có lẽ
là những nét thú vị thu hút khách du lịch
Bảng 1 Những lễ hội và sự kiện chính được tổ chức tại hồ Ba Bể
Tháng 1 âm lịch Ba Bể Tết Nguyên Đán : Năm mới ( Tính từ ngày cuối cùng của năm cũ
đến hết 3 ngày đầu tiên của năm mới âm lịch) Tháng 1 âm lịch (từ
rãi với mùi vị đặc trưng và thành phần tư nhiên Những món ăn địa phương trong khu vực này gồm cơm Lam, nem (bánh trôi – làm từ bột gạo nếp) và rất nhiều loại rau chộn và trà xanh Những loại thực phẩm khác bao gồm thịt lợn / gà / thịt bò, cá địa phương, khoai tây, rau xanh, đậu phộng, gạo nếp cẩm và gạo nấu Không chỉ đa dạng về các loại thực phẩm, khi ăn cơm mọi người ngồi lại với nhau bên bàn tre tại tầng 1 của nhà sàn truyền thống cũng
là đặc điểm quan trong và đặc biệt về thói quen ăn uống của người Việt trong mắt du khách
Khác với những ngôi nhà sàn của người Dao được xây cao khỏi mặt đất hoặc một nửa trên sàn, một nửa trên nền đất, người Tày chủ yếu sống trong những ngôi nhà dài hai tầng
Trước kia, gầm bên dưới nhà sàn được sử dụng làm nơi để nông cụ, các dụng cụ đánh bắt
cá, củi và dùng làm nơi nhốt gia súc
Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiếu số đã nhốt gia súc của mình trong những khu chuồng gia súc tách biệt với nhà ở và chỉ dùng gầm bên dưới nhà sàn như nhà kho chuyên trữ các đồ đạc, công cụ sản suất
Những ngôi nhà sàn dài này đang dần trở thành một trong những điểm thu hút du khách đến với bản Pắc Ngòi, Bó Lù và các khu vực khác
Những đặc điểm có ý nghĩa du lịch quan trọng gắn với đời sống của bà con đồng bào các dân tộc thiếu số nơi đây bao gồm tập quán canh tác nông nghiệp theo phương thức chặt cây đốt rừng làm nương rẫy, việc trồng trọt trên các ruộng bậc thang trên đồi, lối đánh bắt cá theo phương thức truyền thống và cách thức mua bán, trao đổi hàng hóa tại các chợ phiên truyền thống
Dân tộc Tày canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau bao gồm lúa, ngô, khoai Trong khi đồng bào dân tộc người Dao chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nước và các vụ mùa phụ khác Các nghề phụ của bà con dân tộc bao gồm nghề dệt vải, nghề mộc, nghề rèn, làm giấy
và làm dầu thực vật
Bà con dân tộc miền núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc người H’Mông vẫn sống chủ yếu dựa vào việc chặt cây đốt rừng lấy đất trồng ngô kết hợp với chăn nuôi gia súc Dọc theo những con đường mòn trên các khu vực núi Kéo Mỏ và núi Cao Thượng ta vẫn sẽ thấy các hình thức canh tác nông nghiệp trên nương rẫy và một vài hình thức cải tiến của việc chặt cây đốt rừng lấy đất làm nông nghiệp của bà con dân tộc nơi đây
Hầu hết bà con dân tộc người Tày sống trong khu vực hồ Ba Bể hiện nay đã bắt đầu chuyển sang canh tác các loại cây nông nghiệp dài ngày, một vài loại cây có giá trị thương mại và các loại cây trồng thương phẩm khác Dọc theo các đường ven sông và đường vào bản ở Pắc Ngòi, Lùng Quan, Cốc Lùng, Bó Lù, Cốc Tộc và Cám Hạ, du khách có thể quan sát thấy
Trang 22bà con dân tộc nơi đây làm các công việc đồng áng và hình ảnh trâu bò kéo cày trên các ruộng bậc thang trên đồi
Du khách có thể đến thăm quan các khu chợ tại Cốc Lùng (họp vào các buổi sáng) và bản Tàu (họp vào các ngày mùng 4 và mùng 9 âm lịch hàng tháng) Chợ phiên của bà con dân tộc là nơi mua bán và trao đổi các loại lương thực, thực phẩm địa phương, các đồ thủ công,
và một vài mặt hàng khác
Các hoạt động du lịch sinh thái khả thi liên quan đến văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu
số trong vùng hồ Ba Bể
Hoạt động thư giãn, giải trí: Ngắm cảnh đep, dã ngoại, các hoạt động thể thao nhẹ nhàng
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực, du lịch giáo dục, lịch sử thời kỳ kháng chiến (động Nả Phoòng), nghiên cứu khoa học
Hoạt động du lịch thám hiểm: Kết hợp đi bộ đường dài, đi xe đạp, đi bộ leo núi và đi bộ quanh các ngôi bản của đồng bào dân tộc
Hoạt động du lịch dựa vào sông suối: Bơi thuyền kayak truyền thống, bơi lội, bơi phao dọc thác, câu cá (khu vực sông của bản Pắc Ngòi và Bó Lù)
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa đồng bào các dân tộc thiếu số: Du lịch nhà dân, nghiên cứu văn hóa đồng bào dân tộc, tour du lịch văn hóa có hướng dẫn và đi bộ thăm quan bản, mua sắm các đồ lưu niệm, đi chợ phiên, tham gia các lễ hội
2.1.2.2 Các nguồn tài nguyên du lịch liên quan đến văn hóa của đồng bào các dân tộc
trong khu vực hồ Ba Bể nói riêng
Hoạt động du lịch dựa vào văn hóa đồng bào các dân tộc là hoạt động du lịch quan trọng thứ hai tại vườn quốc gia Ba Bể xếp sau hoạt động đi thuyền truyền thống trên hồ Ba Bể Hiện nay các hoạt động du lịch dựa vào văn hóa tại khu vực vùng hồ Ba Bể tập trung chủ yếu tại bản Pắc Ngòi và bản Bó Lù
Bản Pắc Ngòi ngày càng được nhiều du khách biết tới bởi vẻ đẹp của những ngôi nhà sàn dài truyền thống, sự thân thiên của người dân, những món ăn đặc trưng, những nét truyền thống trong sinh hoạt và đời sống vẫn được bà con bảo tồn và gìn giữ bên cạnh một cuộc sống yên bình
Hầu hết các hộ gia đình ở Pắc Ngòi vẫn sống dựa vào canh tác nông nghiệp kết hợp với đánh bắt cá, các loại thức ăn có sẵn trong tự nhiên và những hoạt động du lịch nhỏ lẻ
Bên cạnh những lễ nghi truyền thống quen thuộc của đồng bào dân tộc Tày, còn phải kể đến
lễ hội Hồ Lô độc đáo dành cho các đôi vợ chồng mới cưới trong bản Pắc Ngòi Trong dịp lễ hội này các đôi vợ chồng mới cưới mời bạn bè của họ về nhà chúc phúc và mừng cho đôi
vợ chồng trẻ bằng những màn hát múa truyền thống
Những điểm thu hút khách du lịch của Pắc Ngòi nằm ở chính trong nét đặc trưng của bản, dòng suối Pắc Ngòi, hồ Ba Bể, những đồng lúa xanh mướt, những cánh rừng tươi tốt, những đỉnh núi trắng trên dãy Phia Linh và trong những khu rừng xanh quanh Pắc Ngòi
Những khu vực tiềm năng khác có thể kết nối với bản Pắc Ngòi về du lịch bao gồm bản Lùng Quan (trên đường đến động Hua Mạ), núi Kéo Mỏ, và bản Quá
Những hoạt động du lịch sinh thái khả thi
Hoạt động nghỉ ngơi, thư giãn: Ngắm cảnh đẹp, khám phá hang động mềm, các hoạt động thể thao nhẹ nhàng
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực, du lịch giáo dục, nghiên cứu khoa học
Hoạt động du lịch khám phá: Đi bộ đường dài/Đi bộ leo núi (dọc theo núi Kéo Mỏ)
Trang 23 Hoạt động du lịch dựa vào sông nước: Thám hiểm trên sông bằng thuyền/ bơi thuyền, bơi thuyền Kayak, bơi lội và bơi phao dọc thác (tại đoạn sông Pắc Ngòi)
Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên: Đi bộ trong rừng, quan sát chim/bướm
Các hoạt động du lịch dựa vào văn hóa đồng bào dân tộc:
o Nghiên cứu văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số
o Thăm quancác ngôi nhà sàn dài truyền thống
o Trải nghiệm nếp sinh hoạt và các món ăn truyền thống của bà con dân tộc thông qua hoạt động du lịch nhà dân
o Tour du lịch quanh bản và nghe kể truyện dân gian
o Các hoạt động biểu diễn văn hóa nghệ thuật (biểu diễn nhạc cụ dân tộc và các điệu múa truyền thống)
o Quan sát và học cách làm các đồ thủ công truyền thống của bà con dân tộc, nấu ăn, học hát các làn điệu truyền thống…
o Các hoạt động du lịch nông nghiệp (canh tác, thu hoạch lúa gạo và các loại cây lương thực khác)
o Thăm quan các khu chợ và mua bán các vật phẩm của địa phương
o Thực hiện các phương pháp phục hồi sức khỏe từ các bài thuốc từ thiên nhiên truyền thống của bà con dân tộc và tham gia các tour du lịch có hướng dẫn đến các địa điểm thu hái và chế biến cây thuốc
o Bắt cá theo phương pháp truyền thống và bơi thuyền Kayak
o Tham gia các hoạt động tình nguyện
Hiện trạng ngành du lịch hiện nay
Pắc Ngòi là bản đầu tiên có nhà nghỉ cộng đồng của người dân phục vụ khách du lịch tại vườn quốc gia Ba Bể
Cơ sở lưu trú/ nhà nghỉ cộng đồng đầu tiên được đưa vào hoạt động năm 1998 khi ông Huyên, một người dân của bản cung cấp thức ăn và nơi ở cho một đoàn các nhà khoa học
từ vườn quốc gia Ba Bể đến bản làm nghiên cứu Sau đó, đến năm 2000, ông Huyên đã đăng ký với Cơ quan Công An và UBND huyện Ba Bể làm nhà nghỉ cộng đồng phục vụ khách du lịch
Hiện nay, có khoảng 9 nhà dân đang cung cấp dịch vụ nhà nghỉ cộng đồng cho khách du lịch Tất cả nhà nghỉ cộng đồng này cung cấp khoảng 38 phòng khách và 147 giường khách mỗi đêm
Khách du lịch của các công ty lữ hành tại Hà Nội đến từ Châu Âu thường ưu tiên chọn nhà nghỉ cộng đồng để qua đêm trong thời gian du lịch Những dịch vụ nhà nghỉ cộng đồng phục
vụ khách du lịch cần đặt trước một ngày nếu khách du lịch muốn sử dụng
Hầu hết khách du lịch đến thăm bản Pắc Ngòi đều chọn các gói du lịch 2 đêm Gói du lịch nhà nghỉ cộng đồng ở Pắc Ngòi hiện nay bao gồm sinh hoạt/ăn uống tại nhà dài, đi bộ thăm quan bản, tham gia các chương trình văn hóa (hiện còn rất hiếm) tại trung tâm sinh hoạt cộng đồng và đi thuyền truyền thống Các hoạt động thông thường trong gói du lịch đi thuyền truyền thống trên hồ Ba Bể gồm thăm quan đảo An Mã, Ao Tiên, thác Đầu Đẳng và động Puông
Rất ít du khách tham gia vào tuyến đi bộ đường dài và dã ngoại đến động Hua Mạ, đi bộ leo núi ăn trưa đến núi Kéo Mỏ và bản Quá Tuy nhiên, cũng đã có một vài nhóm du khách đi bộ leo núi đến bản Cám Thượng du lịch trong đêm thứ hai
Có một chủ nhà nghỉ cộng đồng tại đây cung cấp dịch vụ cho thuê xe đạp Các du khách thường đạp xe đến thăm quan động Hua Mạ và khu vực chợ Cốc Lùng
Trong những hộ (doanh nghiệp nhỏ) có kinh doanh lưu trú tại nhà, hầu hết phụ nữ tham gia vào các hoạt động như đi lấy củi trong rừng, nấu ăn, rửa bát, giặt quần áo và làm các công việc nhà Nam giới thường chủ yếu đi chợ gần nhất mua và mang thức ăn về, chế biến và làm việc với các hãng lữ hành
Mỗi bữa ăn trưa và ăn tối tại đây có giá từ 50.000-80.000 đồng và phòng ngủ có giá 70.000 đồng/ đêm Vé cho một buổi biểu diễn văn nghệ từ 800.000 - 1 triệu đồng cho 1 nhóm/buổi biểu diễn
Đường vào bản hẹp và đi qua trụ sở vườn quốc gia Ba Bể và Chợ Rã Ngoài ra, đường đi Cốc Lùng cũng qua bản này
Bản Bó Lù được kết nối với một đường mòn đi bộ nhỏ đến bản văn hóa Cốc Tộc
Trang 24Cơ hội nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Phát triển gói du lịch nhà nghỉ cộng đồng sống động và gần gũi với thực tế hơn bằng việc huy động tất cả nguồn lực, kỹ năng, truyền thống và kiến thức có thể tại địa phương Tạo
thêm nhiều hơn nữa các doanh nghiệp du lịch
Xây dựng và thi hành một khẩu hiệu mạnh mẽ trong việc thực hiện bảo vệ các di sản thiên
nhiên và văn hóa
Cải thiện và tăng cường điều kiện vệ sinh môi trường, xử lý nước thải trong bản
Mở rộng hoạt động và gói tour du lịch tại các bản Lùng Quan, Kéo Mỏ và Bản Quán để giảm
áp lực lên khu vực hồ Ba Bể đồng thời tạo sự lợi nhuận cho các nhóm dân tộc định cư khác
Hầu hết các hộ gia đình ở Bó Lù vẫn chủ yếu sống dựa vào việc canh tác nông nghiệp kết hợp với việc đánh bắt cá, kinh doanh du lịch nhỏ lẻ và các hoạt động kinh tế khác
Các khu vực tiềm năng khác liên kết với bản Bó Lù bao gồm chợ Cốc Lùng, bản Cốc Tộc, động Nả Phoòng, Núi Fu Nộc Chấp (đường mòn nối từ bản Bó Lù và Cốc Tộc qua núi Fu Nộc Chấp đến thác Đầu Đẳng)
Những hoạt động du lịch sinh thái khả thi
Hoạt động thư giãn, giải trí: Ngắm cảnh đẹp, khám phá hang động mềm và cắm trại
Hoạt động khoa học và giáo dục: Tìm hiểu về khu vực
Hoạt động du lịch thám hiểm: Đi bộ đường dài và đi bộ leo núi (dọc theo núi Fu Nộc Chấp và thác nước Đầu Đẳng)
Các hoạt động du lịch dựa vào sông suối: Thăm quan trên sông bằng thuyền / chèo thuyền, chèo thuyền Kayak (suối Bó Lù)
Hoạt động du lịch dựa vào tự nhiên: Đi bộ đường rừng, ngắm chim/bướm (tại núi Fu Nộc Chấp)
Các hoạt động du lịch dựa vào văn hóa đồng bào dân tộc:
o Nghiên cứu về văn hóa đồng bào dân tộc
o Thăm quancác ngôi nhà dài truyền thống
o Trải nghiệm nếp sinh hoạt và các món ăn truyền thống của bà con dân tộc thông qua hoạt động du lịch tại nhà dân
o Tour du lịch quanh bản và nghe kể chuyện dân gian
o Các hoạt động biểu diễn văn hóa nghệ thuật (biểu diễn nhạc cụ dân tộc và các điệu múa truyền thống)
o Quan sát và học cách làm các đồ thủ công truyền thống của bà con dân tộc, nấu ăn, học hát các làn điệu truyền thống…vv
o Các hoạt động du lịch nông nghiệp (tham gia canh tác, thu hoạch lúa gạo và các loại cây lương thực khác)
o Thăm quan các khu chợ và mua bán các vật phẩm của địa phương
o Bắt cá theo phương pháp truyền thống và bơi thuyền kayak
o Thăm quan các di tích lịch sử ( động Nả Phoòng )
o Tham gia các hoạt động tình nguyện
Hiện trạng ngành du lịch hiện nay
Bó Lù là bản dân tộc thứ hai sau Pắc Ngòi có cung cấp cơ sở lưu trú tại nhà dân phục vụ khách du lịch thăm quan vườn quốc gia Ba Bể
Hiện nay tại Bó Lù có 10 nhà dân cung cấp các cơ sở lưu trú cho khách du lịch Những cơ
sở lưu trú tại nhà này có thể cung cấp 33 phòng khách và 125 giường khách/ đêm
Trang 25 Không giống như Pắc Ngòi, tại Bó Lù có nhiều khách du lịch trong nước và các du khách quốc tế tự do ở qua đêm tại đây
Hầu hết khách du lịch thăm quan đều chọn gói du lịch 2 đêm tại bản Bó Lù Gói lưu trú nhà dân bao gồm ăn, ngủ tại nhà sàn truyền thống, đi bộ trong bản và xem các chương trình văn hóa (không thường xuyên), đi thuyền truyền thống Ba Bể và đi bộ vào hang núi Nả Phoòng (rất ít khách du lịch), thăm quan/đạp xe tới chợ Cốc Lùng và đi bộ leo núi Cốc Tộc và Fu Goóc tới thác Đầu Đẳng (chỉ một vài du khách)
Trong những hộ (doanh nghiệp nhỏ) có kinh doanh lưu trú tại nhà, hầu hết phụ nữ tham gia vào các hoạt động như đi lấy củi trong rừng, nấu ăn, rửa bát, giặt quần áo và làm các công việc nhà Nam giới thường chủ yếu đi chợ gần nhất mua và mang thức ăn về, chế biến và làm việc với các hãng lữ hành
Mỗi bữa ăn trưa và ăn tối tại đây có giá từ 50.000-80.000 đồng và phòng ngủ có giá 70.000 đồng/ đêm Vé cho một buổi biểu diễn văn nghệ từ 800.000 - 1 triệu đồng cho 1 nhóm/buổi biểu diễn
Đường vào bản hẹp và đi qua trụ sở vườn quốc gia Ba Bể và Chợ Rã Ngoài ra, đường đi Cốc Lùng cũng qua bản này
Bản Bó Lù được kết nối với một đường mòn đi bộ nhỏ đến bản văn hóa Cốc Tộc
Cơ hội nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Phát triển gói du lịch nhà nghỉ cộng đồng sống động và gần gũi với thực tế hơn bằng việc huy động tất cả nguồn lực, kỹ năng, truyền thống và kiến thức có thể tại địa phương Tạo
thêm nhiều hơn nữa các doanh nghiệp du lịch
Xây dựng một khẩu hiệu mạnh mẽ trong việc thực hiện bảo vệ các di sản thiên nhiên và văn
hóa
Cải thiện và tăng cường điều kiện vệ sinh môi trường, xử lý nước thải trong làng
Mở rộng hoạt động và gói tour du lịch tại các bản Cốc Tộc, Cốc Lùng và khu vực núi Fu Goóc để giảm áp lực lên khu vực hồ Ba Bể đồng thời tạo ra lợi nhuận cho các nhóm dân tộc định cư khác
Những bản dân tộc khác có tiềm năng trong phát triển du lịch sinh thái tại khu vực Ba Bể gồm Khang Ninh, Lùng Quan, Chợ Lèn, Bản Quán, Cốc Lùng, Cốc Tộc, Tà Kèn, Cám Hạ,
Cám Thượng, Khuổi Tăng và Bản Tầu
Nét đặc biệt về du lịch: Những nét đặc biệt thu hút khách du lịch chính của các dân tộc đinh cư
này được trình bày trong Bảng 2
Bảng 2 Những khu dân cư khác trong vùng hồ Ba Bể có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái
Khang
Ninh
Khang Ninh Ba Bể Dân tộc Tày Gần bến thuyền Buốc Lốm và Trung tâm Thuyết
minh Di sản Dân tộc (đề xuất xây dựng) Lùng
Lùng
Nam Cường Ba Bể Dân tộc Tày Đất trồng lúa, nhà sàn và trợ sáng hàng ngày Cốc Tộc Nam Mẫu Ba Bể Dân tộc Tày Người dân tộc Tày sinh sống gần bản Bó Lù
Tà Kèn Cao Thượng Ba Bể Dân tộc Tày Phong cảnh bản làng bên sông, gần thác Đầu
Đẳng cung cấp thức ăn trưa đặc trưng Cám Hạ Cao Thượng Ba Bể Dân tộc Tày Làng nông thôn điển hình, phù hợp cho du lịch
nông nghiệp hữu cơ và nghỉ ngơi ăn trưa
Trang 2624
Hiện trạng ngành du lịch hiện nay
Hiện tại có rất ít khách du lịch tới thăm quan các bản Khang Ninh, Lùng Quan, Bản Quán, Cốc Lùng, Cốc Tộc, Tà Kèn, Cám Hạ, Cám Thượng và Bản Tầu Khách du lịch thường ăn trưa tại một nhà khách tại bản Tà Kèn do ông Hiền xây dựng (Nhà khách và nhà hàng tư nhân của ông Hiền có giá 70.000 đồng cho 1 bữa trưa/người và qua đêm 40.000 – 50.000/đêm/người)
Tại xã Cám Thượng, một số khách du lịch đã đi bộ tới bản và nghỉ đêm tại nhà nghỉ cộng đồng của ông Triệu Trung Những nét đặc trưng cơ bản về hiện trạng du lịch trong các bản địn cư tại khu vực hồ Ba Bể sẽ được trình bày trong Bảng 3
Bảng 3 Hiện trạng du lịch sinh thái của các dân tộc định cư khác tại khu vực hồ Ba Bể
Cám
Thượng Là bản tiềm năng phát triển nhà ơ cộng đồng theo sau bản Pắc Ngòi và Bó Lù, có văn hóa của nhóm dân tộc Dao, hiện có 1 nhà nghỉ cộng đồng của ông Triệu Trung với 4
phòng khách và 12 gường khách Khang Ninh Chưa được quảng bá nhiều, nhưng có tiềm năng bán và trưng bày sản phẩm thủ công
truyền thống và các sản phẩm khác tại Trung tâm Thuyết minh Di sản, phát triển gói tour trong bản tập trung vào khách du lịch nghỉ dưỡng, có 1 nhà nghỉ cộng đồng cung cấp 4 phòng khách và 16 giường khách
Lùng Quan Nằm trên đường đi từ Pắc Ngòi đến hang Hua Mạ và núi Kéo Mỏ, là nơi rất tốt cho các
hoạt động du lịch nông nghiệp chủ yếu là chuối và lúa Hiện khách du lịch chỉ đi bộ hoặc đạp xe qua đây
Bản Quán Tương đối nhiều người Tày định cư với hơn 40 nhà sàn truyền thống, có tiềm năng
phát triển thành một bản nhà nghỉ cộng đồng mới sau Pắc Ngòi, hiện khách du lịch đang thăm quan với các chuyên đi bộ leo núi có nghỉ trưa
Cốc Lùng Kết hợp giữa nhà sàn truyền thống, thông thường và nhà kiên cố Rất thích hợp cho
thăm quan chợ và phát triển các vị trí nghỉ dưỡng và nhà nghỉ sinh thái Cốc Tộc Mang đậm bản sắc vùng quê của người Tày, tiềm năng với các gói du lịch văn hóa, có
thể phát triển thành điểm ăn trưa, hiện các nhà nghỉ cộng đồng của Bó Lù đang mang nhiều khách du lịch hơn đến bản này du lịch
Tà Kèn Là địa điểm rất tốt để ăn trưa và đã có một số nhà khách, nhà hàng cũng đang cung
cấp dịch vụ ăn trưa, có tiềm năng để mở rộng dịch vụ này và bán thêm nhiều đồ ăn (rau, chuối)
Cám Hạ Là một bản nông thôn điển hình, phù hợp với du lịch nông nghiệp và nghỉ trưa Hiện tại
khách du lịch chỉ thăm và đi qua bản này Khuổi Tăng Gần Động Puông, có cung cấp một số món ăn và đồ ăn nhẹ cho khách du lịch
Bản Tầu Một số khách du lịch thăm chợ Bản Tầu và ăn trưa tại đây
Chợ Rã Đây là trị trấn của huyện với nhiều khách sạn và nhà khách lớn Hiện tại ở đây cũng có
Trang 27ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN NHỮNG THẾ MẠNH VÀ SỨC HẤP DẪN CỦA SẢN
b Hầu hết các sản phẩm du lịch sinh thái tiềm năng và các địa điểm du lịch đều nằm trong khu vực Hành chính, Dịch vụ (ASZ) và khu vực Phụ hồi Sinh thái (ERZ)
c Có khí hậu ôn hòa và điều kiện khí hậu gần như không đổi trong suốt một năm, khu vực hồ
Ba Bể có thể thu hút khách du lịch (cả trong nước và quốc tế) vào mọi thời gian, các điểm đến du lịch khách như Sa Pa và vịnh Hạ Long điều không thể có khả năng này
d Bằng việc phát huy những di sản văn hóa và thiên nhiên giàu có, khu vực Ba Bể có thể mang lại những trải nghiệm cho khách du lịch cả về tự nhiên và văn hóa trong một điểm du lịch duy nhất và trong điều kiện tương đối hoang sơ Điều này có thể tăng cường sức cạnh tranh của khu vực Ba Bể so với các điểm du lịch như Sa Pa (trải nghiệm du lịch dân tộc) và Vịnh Hạ Long (trải nghiệm tự nhiên/non nước) trong khu vực miền Bắc
e Bằng việc thăm quan hồ Ba Bể và khu vực xung quanh, khách du lịch có thể trải nghiệm sự giàu có về tự nhiên và văn hóa bằng những hoạt động sau đây:
1 Đi thuyền truyền thống tại một trong những danh thắng tự nhiên được được bảo tồn nhất tại miền bắc Việt Nam
2 Quan sát những rừng nguyên sinh được bảo tồn nguyên vẹn, những thắng cảnh kết hợp với địa hình địa mạo núi đá vôi và hệ sinh thái của hồ
3 Quan sát và xem những loài động vật kỳ thú như Voọc bạc má hay những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng như Rùa đầu to, Diệc đêm tai trắng, Rồng lửa Việt Nam (đặc thù của vùng)
4 Thăm và quan sát sự hình thành địa chất ngoại mục nhất như Động Puông, động Hua
Mạ, thác Đầu Đẳng, đảo An Mã, ao Tiên, vách đá và đỉnh núi đá vôi
5 Trải nghiệm văn hóa và truyền thống giàu có của người dân tộc thiểu số như H’Mông, Dao, Tày và dân tộc Kinh
6 Lưu trú tại nhà sàn truyền thống của người dân địa phương và thưởng thức những món
ăn Việt Nam
7 Đi bộ thiên nhiên và đi bộ leo núi tại các dãy núi đá vôi hùng vĩ
8 Xây dựng một số hoạt động du lịch thú vị đặc biệt như leo núi đá, leo thác nước (canyoning), ngắm chim / dơi, thám hiểm hang động, đạp xe đạp, hoạt động du lịch nông nghiệp và nhiều các hoạt động khác
f Khu vực Ba Bể có thể tận dụng lợi thế về vị trí để kết nối và liên kết với các địa điểm du lịch sinh thái và các khu vực khác của tỉnh Bắc Kạn cũng như tại miền bắc Việt Nam Hiện tại, gói du lịch 4 ngày, 4 đêm đã được phát triển và do một số hãng lữ hành kinh doanh bằng việc kết nối thành phố Thái Nguyên, thị xã Bắc Kạn, thị xã Cao Bằng và thác Bản Giốc với
hồ Ba Bể Hành trình chi tiết được lập như sau:
– Ngày 1: Hà Nội – thành phố Thái Nguyên (Bảo tàng Dân tộc học)- hồ Ba Bể
– Ngày 2: Ba Bể - Cao Bằng
– Ngày 3: Cao Bằng – Bản Giốc - Cao Bằng
– Ngày 4: Cao Bằng - Lạng Sơn
– Ngày 5: Lạng Sơn – Hà Nội
ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ LƯU TRÚ VÀ DỊCH VỤ
a Cơ sở lưu trú tại khu vực Ba Bể mang lại sự kết hợp độc đáo từ những khách sạn du lịch tại Chợ Rã đến nhà khách tại trung tâm vườn và nhà nghỉ của người dân tại các bản Pắc Ngòi,
Trang 28đồng cũng là mô hình lưu trú tốt nhất cho những khách du lịch có nhu cầu dơn giản được học tập, trải nghiệm và tôn trọng những giá trị văn hóa, tự nhiên địa phương xung quanh
c Tỉnh Bắc Kạn có tất cả 111 doanh nghiệp lưu trú đã được đăng ký chính thức với 1091 phòng khách và ít nhất 2182 gường khách (trung bình 2 gường/phòng) đang cung cấp cơ sở vật chất và dịch vụ cho khách du lịch
d Trong tổng số các doanh nghiệp lưu trú đã đăng ký, có 10 khách sạn du lịch với 185 phòng khách, nhà khách phục vụ du lịch có 101 cơ sở (bao gồm cả nhà nghỉ cộng đồng) với 702 phòng khách Tất cả khách sản đạt tiêu chuẩn sao đều được đặt tại thị xã Bắc Kạn Ngoài
ra, nhà khách của vườn quốc gia Ba Bể được đặt tại trung tâm vườn có thể cung cấp 100 phòng khách vơi 230 gường khách
e Tất cả nhà nghỉ cộng đồng đều được đang ký dưới dạng nhà khách du lịch Tất cả 24 nhà ở cộng đồng (Pắc Ngòi 9 cơ sở, Bó Lù 10 cơ sở, Cám Thượng 1 cơ sở, Khang Ninh cơ sở và
3 cơ sở tại Chợ Rã) đang cung cấp 100 phòng khách với 350 gường khách phục vụ tại hồ
Ba Bể và các khu vực xung quanh (Phụ lục 2)
f Tất cả nghỉ cộng đồng đều được những thành viên cộng đồng dân tộc địa phương điều hành Thực phẩm phục vụ tại nhà ở cộng đồng bao gồm gạo nếp, rau hữu cơ, thực vật thảo dược, lợn / dê, thịt bò, cá, và hoa quả
g Tại bản Tà Kèn, gần thác Đầu Đẳng có xây dụng một nhà khách và nhà hàng có cung cấp
đồ ăn trưa và cơ sở lưu trú cho khách du lịch Tương tự như vậy, Bản Quán cũng có 2 quán trà và cửa hàng bán lẻ cung cấp một số loại thực phẩm và đồ ăn nhanh như nước uống, bia
và mì…vv
h Một điểm nghỉ dưỡng đang được xây mới tại khu vực Buốc Lốm, bên ngoài vườn quốc gia
Ba Bể Điểm nghỉ dưỡng này sau khi hoàn thành sẽ thỏa mãn được nhu cầu cao hơn của khách du lịch hạng sang, những đối tượng đòi hỏi chất lượng dịch vụ và cơ sở vật chất cao hơn
i Những cơ hội đầu tư
1 Cơ sở lưu trú được phát triển ngày càng nhiều tại thị xã Bắc Kạn Bên cạnh đó, những cơ
sở phục vụ ăn uống như nhà hàng, quán cà phê, quán bia, điểm bán hàng ăn cũng đang được mọc lên hai bên đường số 3
2 Người dân trong các bản có cơ hội to lớn trong việc xây dựng những cơ sở lưu trú dựa vào văn hóa và tài nguyên tại địa phương, vừa tăng cường sinh kế đồng thời vẫn bảo tồn được văn hóa, ẩm thực và kiến trúc truyền thống
3 Một cơ hội đầu tư lớn để tăng cường và nâng cấp chất lượng dịch vụ của các khách sạn, nhà nghỉ và nhà nghỉ cộng đồng hiện có thông qua các khóa đào tạo phát triển kỹ năng và các chuyến thăm quan học tập
4 Cơ hội đầu tư lớn để hỗ trợ thông qua định hướng, đào tạo kỹ năng và cơ sở hạ tầng cho người dân trong các bản Cốc Tộc, Bản Quán, , Cám Hạ, Cám Thượng
5 Cơ hội để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư phát triển các khu nghỉ dưỡng cao cấp và nhà nghỉ sinh thái tại các khu vực Chợ Rã và Cốc Lùng
6 Những cơ hội hợp tác với người dân các bản xung quanh để sản xuất rau sanh, thịt, hoa quả và cung cấp cho các khách sạn/nhà nghỉ và nhà nghỉ cộng đồng
ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VÀ ĐƯỜNG VÀO
a Hồ Ba Bể có sự kết hợp độc đáo giữa đường bộ, đường thủy (bằng thuyền) và đi bộ leo núi đường dài, điều này tạo nên những trải nghiệm thú vị với khách du lịch
b Từ Hà Nội đi hồ Ba Bể mất 6 tiếng ô tô theo hướng bắc
c Sân bay Nội Bài tại Hà Nội là điểm đón khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và cũng là sân bay gần nhất Thị xã Bắc Kạn nằm trên con đường quốc lộ số 3 trên đường đi từ Hà Nội lên Cao Bằng, Trung Quốc với chiều dài 166 km Ngoài ra, từ thị xã Bắc Kạn đi đến trung tâm vườn, qua Chợ Rã, Buốc Lốm với chiều dài 84 km Cung đường này ngang qua những cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, những đồi chè, bản làng và những cánh rừng
d Đường từ Hà Nội đến thị xã Bắc Kạn và lên khu vực Chợ Rã có chất lượng rất tốt
e Trong khu vực hồ Ba Bể, hầu hết các bản có tiềm năng về du lịch sinh thái đều có thể tiếp cận bằng đường bộ hoặc đường thủy (bằng thuyền) Đã có hệ thống đường nối giữa các địa điểm quan trọng trong khu vực với nhau bao gồm trung tâm huyện Chợ Rã, trung
Trang 29tâm vườn, 4 bến thuyền (Chợ Rã, Buốc Lốm, Trụ sở vườn và Bó Lù ), 2 khu chợ ( Cốc Lùng và bản Tàu) và các bản du lịch như Pắc Ngòi, Bó Lù
f Các bản dân tộc sống trên núi cao như bản Quá, Cám Thượng được kết nối bằng các tuyến đường mòn leo núi và đang được hỗ trợ để nâng cấp thành các tuyến đường leo núi phục vụ du khách
g Hiện có khoảng 120 thuyền máy, động cơ diesel đang hoạt động trong khu vực hồ Ba
Bể Thuyền truyền thống có thể khởi hành từ 4 bến thuyền chính tại Chợ Rã, Buốc Lốm, Trụ sở vườn và Bó Lù Du khách đi thuyền phải trả 150.000/ giờ Một vài người dân cũng dùng thuyền kayak truyền thống trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày
h Một vài nhà nghỉ cộng đồng của người dân đã bắt đầu kinh doanh dịch vụ cho thuê xe đạp leo núi phục vụ khách du lịch
ĐÁNH GIÁ VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH KHÁC
a Hiện trạng các cơ sở hạ tầng cơ bản của nhà nước như hệ thống cung cấp nước sạch, thông tin liên lạc, trạm ý tế tại khu vực hồ Ba Bể còn rất đơn sơ
b Khu vực Ba Bể không thường xuyên xảy ra thiên tai
c Hầu hết các khu dân cư của đồng bào dân tộc bản Pắc Ngòi và Bó Lù đã có nước sạch cho sinh hoạt và đường dây thông tin liên lạc Chợ Rã là điểm gần nhất có mạng kết nối internet và cơ sở ý tế khi khách có nhu cầu
d Vườn quốc gia Ba Bể đã phát triển hệ thống cơ sở thuyết minh và thông tin du lịch cơ bản tai Trung tâm Xúc tiến Du lịch sinh thái Các biển thông tin du lịch và chỉ dẫn nhỏ đã được xây dựng tại các khu vực động Puông, Ao Tiên, và thác Đầu Đẳng
e Tại khu vực thác Đầu Đẳng đã xây dựng một điểm ngắm cảnh nhỏ ở nằm gần bờ tây của sông Năng
f Những khu vực cần được nâng cấp
Cải thiện và nâng cấp hệ thống đường bên trong vườn, bến thuyền, và các tuyến đường mòn đi bộ
Nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ việc thuyết minh và thông tin du lịch
Nâng cấp hệ thống quản lý nước thải và chất thải
Xây dựng mới những điểm ngắm cảnh, nghỉ ngơi và những điểm dừng đỗ
Thiết lập hệ thống thông tin liên lạc truy cập internet tốc độ cao
Hình thành cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động du lịch giải trí đặc biệt và các hoạt động nghỉ ngơi thư giãn khác như bơi lội, dã ngoại, leo núi…vv
Trang 30ĐÁNH GIÁ NHU CẦU THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH SINH
THÁI TIỀM NĂNG
a Nhóm khách du lịch hiện có ở khu vực hồ Ba Bể:
1 Nhóm khách du lịch và thị trường hiện có: Hồ Ba Bể và khu vực xung quanh đã tạo
ra một số thị trường trong nước cũng như quốc tế cho các sản phẩm du lịch tự nhiên và văn hóa Khách du lịch trong nước và quốc tế đều là những thị trường tiềm năng cho khu vực Hiện tại, khách du lịch trong nước đang chiếm thế chủ đạo Trong tổng số 83.388 khách du lịch năm 2010 đến thăm hồ Ba Bể có đến 93.89% là khách trong nước và chỉ
có 6.11% lượng khách quốc tế Tốc độ phát triển du lịch trung bình hàng năm giai đoạn 2004-2010 đạt
22.65% (hình 1)
Khách du lịch trong
nước đến thăm
quan chủ yếu là
sinh viên và học giả
nghiên cứu khoảng
2 Hình thức thăm quan: Hầu hết khách du lịch nước ngoài đến thăm quan theo nhóm đã
được tổ chức và thông qua các hãng lữ hành đặt tại Hà Nội, chỉ có rất ít khách du lịch nước ngoài thăm quan khu vực Hồ Ba Bể riêng lẻ Khoảng 90% lượng khách du lịch qua đêm tại nhà khách của vườn (hàng năm có khoảng 2500-3500 khách) theo các nhóm du lịch (theo (VQG BB,
Diagram-1: Visitors flow in BB NP (2004 to 2010)
Diagram-2: Visitors seasonality in BB NP, 2010
Trang 31Bảng 4 Số lượt khách cao nhất và thấp nhất ở Vườn Quốc Gia Ba Bể (năm 2010)
Trong nước Tháng 2 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 1 Tháng12 Tháng10 Quốc tế Tháng 4 Tháng 1 Tháng 3 Tháng 8 Tháng12 Tháng 9
Cả hai Tháng 2 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 1 Tháng12 Tháng10
4 Số ngày lưu trú và gói tour: Căn cứ vào những gói tour do các hãng lữ hành cung cấp,
trung bình gói du lịch hồ Ba Bể có thời gian là 2 đêm và 3 ngày Khách du lịch chủ yếu qua đêm tại nhà khách của vườn và nhà nghỉ cộng đồng của người dân địa phương Theo hồ sơ của vườn quốc gia Ba Bể, thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch trong nước từ 1-2 ngày và khách quốc tế từ 2-2,5 ngày (Vườn quốc gia Ba Bể, tháng 4/2011)
5 Mục đích chuyến đi: Hầu hết khách du lịch quốc tế đến khu vực này để trải nghiệm di
sản thiên nhiên và văn hóa hoang sơ với ẩm thực truyền thống của người dân tộc Trong khi đó khách du lịch trong nước chủ yếu thăm quan vì mục đích giải trí, thư giãn hoặc nghiên cứu, học tập Vẻ đẹp thiên nhiên và khí hậu ôn hòa nơi đây là nhân tố cuốn hút khách du lịch nội địa nhiều nhất Trả lời phỏng vấn trong chuyến thực địa (tháng 4, 2011), có đến 75% khách du lịch trong nước đến khu vực hồ Ba Bể để thăm quan và đi thuyền ngắm cảnh hồ, 20% muốn thăm quan các điểm du lịch sinh thái khác và chỉ có 5% muốn đến thăm các địa danh khác nữa Những hoạt động chủ yếu phục vụ khách du lịch gồm đi thuyền truyền thống trên hồ Ba Bể; thám hiểm động Puông, đi bộ đến Ao Tiên, ngắm cảnh thác nước Đầu Đẳng và thăm quan khu định cư của đồng bào dân tộc tại Pắc Ngòi và Bó Lù Một số khách du lịch đã tổ chức đi bộ leo núi tới các bản Cốc Tộc, Bản Quán và Cám Thượng
b N ỗ lực quảng bá và giới thiệu du lịch: Khu vực hồ Ba Bể chủ yếu được quảng bá và giới
thiệu thông qua các hãng lữ hành có trụ sở đặt tại Hà Nội (Phụ lục 4) và thông qua lời kể từ những khách du lịch đã tới thăm quan Nỗ lực của vườn quốc gia Ba Bể, sở VHTTDL, chính quyền Trung ương trong việc quảng bá, giới thiệu cho khu vực này là không nhiều Vườn quốc gia Ba Bể mới phát triển một tờ bướm giới thiệu tóm tắt về một số điểm du lịch sinh thái Sở VHTTDL tỉnh Bắc Kạn cũng chỉ quảng bá du lịch của khu vực thông qua truyền thanh, truyền hình địa phương Có rất ít hãng lữ hành đặt gói du lịch khám phá hồ Ba Bể trên địa chỉ trên wedsite công ty của họ Tỉnh Bắc Kạn có 5 hãng lữ hành đăng ký hoạt động với 3 trong tổng số 5 hãng có trụ sở tại trung tâm vườn và 3 hãng đặt trụ sở tại khu vực thị
xã Bắc Kạn Tuy nhiên chỉ có 2 hãng lữ hành trong tổng số 5 hãng này hoạt động năng động
c Những hạn chế về du lịch hiện tại
1 Mặc dù có tiềm năng to lớn về phát triển du lịch sinh thái trong khu vực này nhưng tỉ lệ thị phần khách du lịch quốc tế tới hồ Ba Bể là rất thấp (chỉ 6,11% trong tổng lượng khách năm 2010) Nếu như tốc độ phát triển du lịch hàng năm đối với khách du lịch trong nước tăng khoảng 23,54% trong giai đoạn từ năm 2004-2010, tốc độ phát triển du lịch đối với khách du lịch quốc tế thấp hơn chỉ đạt 13% trong cùng giai đoạn
2 Những cơ hội để đa dạng hóa và mở rộng hoạt động, phát triển hộ/doanh nghiệp kinh doanh du lịch sinh thái bị hạn chế do lượng khách du lịch quốc tế thấp với nguyên nhân
vì du khách quốc tế mong muốn được thăm quan nhiều khu vực hơn và có nhiều loại hình hoạt động hơn, không giống với khách du lịch nội địa vẫn chủ yếu chỉ tham gia hoạt động Đi thuyền truyền thống ở hồ Ba Bể
3 Khu vực này bị hạn chế bởi du lịch mùa vụ cao, lưu trú ngắn ngày và chi tiêu du lịch thấp Khoảng 35% lượng khách du lịch trong nước và khoảng 33% tổng lượng khách đến thăm quan Ba Bể vào tháng 2/lễ hội Xuân Ba Bể (theo số liệu du lịch 2010) Vấn đề