Những kiến thức sinh học và ấn tượng về sự thích nghi của loài sò ốc đã hình thành trong ông khái niệm vơ bản để nghiên cứu sự phát triển trí năng của trẻ em sau này... Các phần tiếp the
Trang 1
TRƯƠNG ĐAI HOC KHOA HOC XA H I VA NHÂN VĂN | Ô
JEAN PIAGET
Trang 2MỤC LỤC
I Giới thiệu tác gia
II Nội dung
1 Cơ sở sinh học và khái niệm thích nghi
2 Logic học và khái niệm cấu trúc
3 Phương pháp nghiên cứu
4 Sự phát sinh cấu trúc thao tác trí tuệ
5 Các giai đoạn phát triển trí tuệ ở trẻ em
6 Vấn đề xã hội hoá các cấu trúc trí tuệ
7 Các vấn đề về phát triển tâm lý cá nhân trong lý thuyết phát sinh nhận thức của J Piaget
III Đánh giá
Thành tựu
Hạn chế
IV Tài liệu tham khao
Trang 3“Từ đây cho tới cuối thế kỉ, tôi e rằng tâm lý học thế giới chỉ việc khai thác riêng các
ý tưởng của J Piaget thì cũng không làm sao hết được”
- Paul Praise (nhà tâm lý học Pháp, Chủ tích Hội Tâm lý học thế giới) tại Hội nghị
Tâm lý học thế giới lần thứ 21, năm 1976)
JEAN PIAGET
I Giới thiệu tác gia
Jean Piaget sinh ngày 09/08/1896 tại Nêuchâtel - Thuỵ Sĩ, trong một gia đình trí thức danh tiếng
Từ nhỏ ông đã bộc lộ thiên tư trí tuệ tuyệt vời, xuất chúng Năm 10 tuổi ông đã công bố bài báo khoa học đầu tiên của mình, mô tả các quan sát về một con chim sẻ bạch tạng quý hiếm 15 tuổi, J Piaget đã bộc lộ rõ xu hướng nghiên cứu sinh học và
đã công bố những bài báo khoa học, nghiên cứu về động vật có vỏ
Năm 18 tuổi, J Piaget đỗ cử nhân và năm 1981, J Piaget hoàn thành luận án Tiến sĩ thuộc lĩnh vực động vật học, tại Viện Đại học Nêuchâtel, với đề tàu “Sự thích ứng của loài nhuyễn thể” Trong thời gian này, ông đã công bố 25 công trình nghiên cứu sự sinh trưởng, thích nghi của loài sò quanh hồ Nêuchâtel Những kiến thức sinh học và ấn tượng về sự thích nghi của loài sò ốc đã hình thành trong ông khái niệm vơ bản để nghiên cứu sự phát triển trí năng của trẻ em sau này
Trang 4Ngoài sinh học, mối quan tâm thứ hai của ông là khoa học luận (Epistemology)
- một ngành triết học đề cập đến nguồn gốc phát sinh cuẩ hiểu biết, ông nuôi hi vọng táo bạo là có thể hợp nhất hai vấn đề mà ông quan tâm Vào thời điểm đó, ông cảm thấy tâm lý học chính là câu trả lời Ông chuyển đến Paris và dành ra hai năm để học tâm lí học lâm sàng, logic, triết lý khoa học tại Sorbonne Trong thời gian ở Paris, J Piaget được đề nghị đảm trách công việc chuẩn hoá những trắc nghiệm thông minh tại phòng thí nghiệm của A Binet Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến xu hướng nghề nghiệp của ông J Piaget sớm nhận thấy và quan tâm nhiều hơn đến những câu trả lời sai của trẻ so với các kết quả trắc nghiệm Ông nghĩ rằng dường như trẻ em ở cùng độ tuổi thường mắc phải những loại “câu trả lời sai” giống nhau đối với một số câu hỏi nhất định Vậy sao? J Piaget tiếp tục tìm hiểu về những nhận thức sai lệch của trẻ bằng phương pháp lâm sàng mà ông đã học được trước đây, khi còn làm việc trong một bệnh viện tâm thần thực hành Không lâu sau, ông lại phát hiện ra rằng trẻ ở những độ tuổi khác nhau thường có những loại câu trả lời sai khác nhau và ông đi đến kết luận: trí tuệ phải là một thuộc tính đa diện Những đứa trẻ lớn tuổi hơn không chỉ đơn giản là thông minh hơn những đứa trẻ ít tuổi mà quá trình suy nghĩ của chúng hoàn toàn khác Những phát hiện này đã cuốn hút Piaget và ông cố gắng xác định xem trẻ tiến triển từ phương thức (hay giai đoạn) và suy nghĩ này sang phương thức suy nghĩ khác như thế nào Việc nghiên cứu của ông còn tiếp tục khoẳng 60 năm nữa, cho đến khi ông mất vào 1980
Năm 1921 (25 tuổi), theo đề nghị của Giáo sư Claparede - Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục, ông chuyển từ Paris về Geneve để đảm nhận chức Trưởng phòng tâm lý thực nghiệm Năm 1925, ông nhận chức Giá sư Đại học Nêuchâtel, dạy cả ba ngành: Tâm lý học, Xã hội học và Triết học Năm 1929, được bổ nhiệm Giáo sư Đại học Geneve về môn Lịch sử tư tưởng khoa học, Giám đốc Trung tâm giáo dục quốc tế của UNESCO và ở cương vị này cho tới năm về hưu (1972) Năm 1933 là Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Thuỵ Sỹ tại Geneve Năm 1940, Giáo sư Tâm lý thục nghiệm
và năm 1952 là Giáo sư Trường Đại học Sorbonne, Paris
Trong suốt những năm từ 1921 đến 1940, mối quan tâm chủ yếu của J Piaget là lĩnh vực tâm lý học, đặc biệt là phát sinh nhận thức và trí tuệ của trẻ em Trong thời gian này, nhiều công trình đã được công bố: Ngôn ngữ và tư duy của trẻ (1923), Mệnh
đề và kết luận của trẻ (1924), Biểu tượng về thế giới của trẻ (1926)… Những nghiên cứu về lĩnh vực trên được ông tập hợp trong hai công trình nổi tiếng: Tâm lý học trí tuệ (1946) và Tâm lý học trẻ em (1966)
Trang 5Từ năm 1940, J Piaget chuyển dần lĩnh vực nghiên cứu từ tâm lý trẻ em sang Logic học và Khoa học Luận Từ năm 1950 chuyển hẳn sang lĩnh vực này, đặc biệt là nghiên cứu quá tình phát triển tư duy con người Năm 1956, ông thành lập ở Geneve Trung tâm Nghiên cứu quốc tế về nhận thức khoa học (Centre international d’ espistemologie Scientifique), với sự tham gia của nhiều nhà bác học lớn đương thời như Albert Einstein (Vật lý), B Grize (Toán và Logic),W McCulloch (Sinh học thần kinh)…
Ngay từ những năm 1935 – 1965, J Piaget đã quan tâm tới việc vận dụng kết quả nghiên cứu tâm lý học trẻ em vào các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đặc biệt là vào phương pháp giáo dục trẻ em Ông đã phân tích và phê bình hạn chế của phương pháp giáo dục cổ truyền, quảng bá các phương pháp giáo dục mới, trong đó đề cao vài trò của phương pháp hoạt động trong dạy học Coi đó là phương pháp mang lại hiệu quả hơn hẳn những phương pháp đương thời Các tác phẩm: Giáo dục đang đi về đâu (1948), Tâm lý học và giáo dục học (1967) phản ánh khá rõ trăn trở và tư duy đổi mới của J Piaget trong lĩnh vực này Nhiều đề xuất cảu ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự
J Piaget là người lao động không mệt mỏi Suốt cuộc đời, ông quan sát, thử nghiệm, tích luỹ khối lượng khổng lồ dữ kiện về sự phát triển tâm lý trẻ em Hằng năm, kết thúc năm học, ông mang tài liệu thu thập được đến một trang trại vắng người, dưới chân núi Alpea Ở đó, cả mùa hè, ông không tiếp xúc với khác, miệt mài phân tích, tổng hợp tư liệu, hình thành nên các tác phẩm khoa học Trong suốt 70 năm làm việc, J Piget đã công bố hàng trăm cuốn sách và bài viết về các lĩnh vực Sinh học, Tâm lý học, Ngôn ngữ, Logic trong hệ thống lí thuyết liên bộ môn đồ sộ J Piget mất ngày 16/09/1980 tại Geneve
Sinh thời, J Piaget được kính trọng trên khắp thế giới Ông là giáo sư của nhiều trường đại học lớn ở Pháp và Thuỵ Sĩ Giám đốc phòng thực nghiệm, phụ trách Văn phòng Quốc tế về giáo dục, Uỷ viên Hội đồng nhân dân chấp hành của UNESCO, Viện sĩ và Tiến sĩ danh dự của nhiều trường Đại học, Viện hàn lâm danh tiếng: Havard (1936), Columbia (1936), Bruxelle (1940), Brazill (1949)
II Nội dung
Lý thuyết của J Piaget đầy ắp các sự kiện khoa học Hơn nữa, các lập luận của ông thường xuyên thay đổi theo các sự kiện, rất khó theo dõi Vì vậy, để thuận lợi, trước hết nên bắt đầu từ những luận điểm xuất phát vè khái niệm công cụ của ông
Trang 6Phần đầu của chương đề cập đến cơ sở sinh học và logic trong tư tưởng xuất phát của J Piaget và các khái niệm công cụ, phương pháp nghiên cứu được xây dựng
từ hai nguồn gốc đó
Các phần tiếp theo là nội dung chính, đề cập tới các cấu trúc nhận thức và cấu trúc trí tuệ của trẻ em; sự phát triển của các cấu trúc đó qua các giai đoạn lứa tuổi của trẻ; phân tích các yếu tố tác động tới sự phát sinh, phát triển các cấu trúc nhận thức và trí tuệ của trẻ
Phần cuối của chương điểm qua những luận điểm về tâm lý học phát triển của J Piaget, những thành tựu và hạn chế trong lý thuyết của ông
1 Cơ sở sinh học và khái niệm thích nghi
Theo Piaget: “Mọi giải thích tâm lý học sớm hay muộn cuối cùng cũng dựa vào sinh học hoặc logic học.” (Tâm lý học trí khôn, 1997, NXB Giáo dục)
Theo J Piaget giải thích trí tuệ dưới góc độ tâm lý học là nghiên cứu thực thể trí tuệ, vạch ra sự phát triển của nó và những quy luật chi phối sự phát triển đó Cụ thể là
phải tạo dựng lại sự phát sinh và quá trình phát triển trí tuệ từ dạng đơn giản nhất đến mức trưởng thành Việc nghiên cứu này rất giống công việc của nhà phôi học:
phân tích, miêu tả các bước và các thời kỳ phát triển của thai nhi từ lúc phát sinh hình thái cho đến khi trở thành đứa trẻ, với đầy đủ tư cách là một cá thể người Về phương
diện này, tâm lý học là khoa học thực nghiệm
Tuy nhiên, các hiện tượng tâm lí nói chung, trí tuệ nói riêng, không mang tính vật thể mà có tính cất chức năng, không thể “cầm nắm” được như các sự kiện mang tính vật chất của Phôi học hay Giải phẫu học Vì vậy, để tường minh hoá các sự kiện khó nắm bắt đó, phải vận dụng khoa học logic, với tư cách là khoa học hình thức hoá
Về phương diện này, nghiên cứu tâm lí học giống với công việc của nhà logic.
Xuất phát từ quan niệm nghiên cứu tâm lý học về trí tuệ như trên, J Piaget đã
sử dụng hai khái niệm công cụ, đó là: thích nghi và cấu trúc.
J Piaget đinh nghĩa: Thích nghi là quá trình tạo lập sự cân bằng giữa hành
động của cơ thể lên môi trường xung quanh Đó là quá trình tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường.
Theo vế thứ nhất, cơ thể tác động lên các khách thể xung quanh nó (chiều thuận), qua đó hấp thụ các chất dinh dưỡng và biến đổi chúng cho phù hợp với cấu trúc đã có của cơ thể Quá trình hấp thụ và biến đổi chất dinh dưỡng này được gọi là
đồng hoá (Assimilation).
Trang 7Theo chiều ngược lại, môi trường tác động lên cơ thể, do biến động nào đó Sự đáp ứng tích cực của cơ thể dẫn đến làm thay đổi các cấu trúc đã có của nó cho phù
hợp với môi trường Quá trình biến đổi này được gọi là điều ứng (Accommdation).
Như vậy có thể định nghĩa thích nghi là sự cân bằng (Equilibrum) giữa đồng
hoá và điều ứng Quá trinh này có tính hai mặt: tổ chức và thích nghi Hai mặt này
không tách rời mà bổ sung nhau của một cơ thể duy nhất Tổ chức là mặt bên trong của một chu kỳ thích nghi, còn thích nghi là mặt bên ngoài
Tất nhiên, sự cân bằng giữa cơ thể với môi trường hay giữa đồng hoá với điều ứng không phải là cân bằng tĩnh, thiết lập một lần là xong Đó là cân bằng động, thường xuyên bị phá vỡ và được tái thiết lập ở mức cao hơn, phức tạp hơn, tinh tế hơn
“Trong thuyết Piaget, cân bằng là khái niệm công cụ then chốt nhất Và khái niệm này kéo theo khái niệm đồng hoá, điều ứng, thích nghi cũng là các khái niệm cực kỳ quan trọng, mà phải hiểu khái niệm này mới hiểu được lý thuyết của ông” _
Trích Jane Piaget – Nhà Tâm lý học lỗi lạc của thế kỷ XX, Phạm Minh Hạc, Tạp chí Giáo dục số 2/2007.
Dưới góc độ sinh học, theo J Piaget để giải thích sự thích nghi của cơ thể với
môi trường, có thể căn cứ vào hai tiêu chí: thứ nhất: phủ nhận hoặc thừa nhận có sự tồn tại thực của sự tiến hoá; thứ hai: tính chất mối quan hệ giữa cơ thể với các yếu tố
bên ngoài: sự thích nghi của cơ thể được quy về yếu tố bên ngoài chi phối hoặc do các yếu tố đột biến bên trong hoặc là do sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường
Sư phân định các cách giải thích về sự thích nghi sinh học như trên của J Piaget đã giúp ông rất nhiều trong việc lý giải sự phát sinh trí tuệ các nhân Ông đã dựa vào chúng để giải thích các lí thuyết tâm lý học đã có có về trí tuệ và xác định các
giải thích của riêng mình Sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường dẫn tới hình
thành thao tác trí không
Như vậy, dưới góc độ sinh học, J Piaget đã giải thích sự tiến hoá của cơ thể là quá trình thích nghi Đó là quá trình tổ chức lại những yếu tố đã có của cơ thể trong quá trình tương tác với môi trường Cơ chế của quá trình này được giải thích bằng các
khái niệm: đồng hoá, điều ứng và sự cân bằng giữa chúng Những khái niệm trên
cũng chính là công cụ để J Piaget giải thích sự phát sinh, phát triển sơ đồ nhận thức và
sơ đồ thao tác trí tuệ của trẻ em
2 Logic học và khái niệm cấu trúc
Trang 8J Piaget đã kế thừa sự hình thành sơ đồ hoá trong Triết học, Logic học và Tâm
lý học, nhưng không theo cách tiên nghiệm như I Kant, cũng không theo nguyên tắc tức thì như trường phái Gestalt Ở đây có sự kết hợp giữa nghiên cứu nội dung tâm lí của khao học thực nghiệm với các sơ đồ logic và toán của khoa học nhận thức, theo quan điểm kiến tạo, quan điểm phát triển, Sự kết hợp này đã đưa J Piaget đến kết luận
điểm xuất phát, chỉ đạo các nghiên cứu sự phát sinh tâm lý của ông: Sự phát sinh, phát
triển các chức năng trí tuệ là quá trình nhằm tổ chức sự thích nghi của cơ thể, thông qua các hoạt động đồng hoá và điều ứng, nhằm tạo lập các trạng thái cân bằng tạm thời giữa hai quá trình này Đó chính là quá trình hình thành và thống hợp các sơ đồ trí tuệ của cá nhân.”
Thích nghi, sơ đồ, đồng hoá, điều ứng và cân bằng là các khái niệm công cụ của Piaget Có thể nói, đây là một trong những điểm độc đáo vào thành công nhất của J Piaget Nó là chìa khoá để ông mở ra cánh cửa tìm hiểu nguồn gốc của các cấu trúc thao tác của trí tuệ và sự phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em Nó cũng là chìa khoá
để hiểu lí luận kiến tạo tri thức và trí tuệ trẻ em của J Piaget
3 Phương pháp nghiên cứu
J Piaget rất ít sử dụng phương pháp trắc nghiệm mà chủ yếu sử dụng phương pháp lâm sàng tâm lý được tiến hành trên một mẫu nhỏ nghiệm thể Ông ít quan tâm tới định lượng trong các nghiên cứu, mà chủ yếu thả mình theo trực giác khi hỏi chuyện trẻ em, đặc biệt là trong các công trình đầu
Phương pháp lâm sàng của J Piaget là sự kết hợp lâm sàng có tính truyền thống với thực nghiệm tác động không đầy đủ Thực chất đây là cuộc trò chuyện giữa nghiệm viên với trẻ em xoay quanh công ciệc mà đứa trẻ được giao, với tư cách là một trò chơi
Mấu chốt thành công của phương pháp lâm sàng J Piaget là nghệ thuật đặt câu hỏi, quan sát, lắng nghe và ghi chép cách trả lời cũng như các phản ứng của trẻ nhằm ghi lại đầy đủ các tiến hành, cách lập luận và sơ đồ của những suy luận đó
Xuất phát từ cơ sở Sinh học và Logic học, sử dụng kết hợp nghiên cứu lâm sàng
và trắc nghiệm trên một số mẫu nghiệm thể trong thời gian dài, J Piaget đã xây dựng lên học thuyết về sự phát sinh, phát triển nhận thức, trí tuệ cuẩ trẻ em Điều đặc biệt lí thú và cũng là sự cách mạng và cống hiến của J Paget là các nghiên cứu của ông không phải hướng vào kết quả trẻ em đạt được tại các thời điểm khác nhau trong cuộc đời, mà chủ yếu nghiên cứu chúng kiến tạo cái đó qua thời gian như thế nào? Tức là nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển các cấu trúc nhận thức và trí tuệ
Trang 9Học thuyết cảu J Piaget có hai nội dung gắn bó hữu cơ với nhau: học thuyết về sự phát sinh, phát triển của trí tuệ - tâm lý học phát sinh (Psychologie Genetique) và học thuyết về các giai đoạn phát triển trí tuệ ở trẻ em – tâm lý học trẻ em (Psychologie Infantile)
4 Sự phát sinh cấu trúc thao tác trí tuệ
Theo J Piaget:
Trí tuệ là một hình thức của trạng thái cân bằng mà toàn bộ các sơ đồ nhận thức hướng tới Trí tuệ là một dạng thích nghi của cơ thể Sự cân bằng là một sự bù đắp của cơ thể đối với những xáo trộn ở bên ngoài.
Thao tác là hành động được nội hiện (chuyển vào trong) và được rút gọn ở trong đó.
Về nguồn gốc, thao tác được hình thành từ hành động vật lý, là hành động bên ngoài chuyển vào bên trong và được rút gọn Thao tác bao gồm hai loại là: thao tác cụ thể
và thao tác hình thức.
Sự hình thành cấu trúc nhận thức và cấu trúc thao tác trí tuệ
Theo J Piaget, mọi cư xử dù là hành vi được triển khai ra bên ngoài hay nội hiện thành ý nghĩ đều biểu hiện sự thích nghi hay tái thích nghi của cá nhân Các nhân chỉ hành động khi nó cảm nhận một nhu cầu, tức là khi sự cân bằng tạm thời giữa môi trường với cơ thể bị phá vỡ và xuất hiện hành động bằng nhập lại sự cân bằng mới để thích nghi Mọi cư xử như vậy đều bao hàm hai mặt chủ yếu và phụ thuộc với nhau:
mặt cảm xúc và mặt nhận thức Mặt cảm xúc tạo ra động lực, năng lượng cho một
hành vi ứng xử, còn mặt nhận thức là sự sơ đồ háo, định hướng cho hành vi, giúp cá nhân thiết lập được sự cân bằng với môi trường Trong công trình của J Piaget, ông
tập trung phân tích bằng nhóm sơ đồ: sơ đồ tri giác, trí nhớ và trí tuệ Cả ba đều có
nguồn gốc từ thích nghi giác – động và xa hơn, đều từ nguồn gốc sinh học
Sơ đồ nhận thức là những kinh nghiệm mà chủ tể tích luỹ được trong mỗi giai đoạn nhất định Nó là một lớp các thao tác giống nhau theo một trật tự nhất định: một thể thống nhất, bền vững các yếu tố cấu thành có quan hệ với nhau Đối với J Piaget,
trí tuệ có bản chất thao tác (operations) và được trẻ em xây dựng lên bằng chính hành động (action) của mình Sự phát triển trí tuệ được hiểu là sự phát triển hệ thống tạo
tác
Trang 10Quá trình này diễn ra trong khoảng thời gian dài và gắn liền với sự hình thành cấu trúc nhận thức Quá trình hình thành cấu trúc nhận thức đồng thời cũng là quá trình hình thành cấu trúc thao tác
Về phương diện phát sinh, các cấu trúc nhận thức và cấu trúc trí tuệ của trẻ em
phải được xem xét theo hai góc độ: Thứ nhất, sự chuyển hoá từ cấu trúc hành động bên
ngoài thành cấu trúc thao tác trí tuệ và cấu trúc nhận thức bên trong (quá trình nhập
tâm) Thứ hai, sự phát sinh cấu trúc thao tác và cấu trúc nhận thức ở tuổi trường thành
từ sơ cấu giác – động, khi trẻ em còn trong giai đoạn sơ sinh
Sự phát sinh cấu trúc thao tác và cấu trúc nhận thức từ sơ đồ cấu giác – động
Theo dõi các mô tả của J Piaget về quá trình phát sinh cấu trúc nhận thức, có thể nhận thấy ông chia quá trình phát sinh và phát triển liên tục của các sơ đồ trí tuệ thành 4 giai đoạn lớn: (1) Sơ đồ giác – động; (2) Các sơ đồ tiền thao tác (trong giai đoạn này có hai giai đoạn nhỏ: trí tuệ tượng trưng và trí tuệ trực giác); (3) Sơ đồ thao tác cụ thể; (4) Sơ đồ thao tác hình thức Có thể tóm lược các giai đoạn liên tục trên như sau:
A, Hình thành các sơ đồ giác - động
J Piaget giải thích sự phát sinh cấu trúc nhận thức và cấu trúc thao tác theo tiến trình phát triển của trẻ em từ sơ sinh đến trưởng thành, dựa trên cơ sở hình thành và phát triển các sơ cấu giác – động và cũng tuân theo nguyên tắc chuyển từ động tác bên ngoài vào bên trong Qua mỗi lần chuyển hoá có sự giảm dần chỗ dựa vào vật chất của các cấu trúc nhận thức và thao tác
Sự hình thành và phát triển của sơ đồ giác – động đã đưa trẻ em đến thành quả
là xác lập được các logic hành động (mặc dù vẫn ở bên ngoài đứa trẻ) Chính các sơ đồ
này là nguồn gốc đầu tiên của các cấu trúc thao tác trí tuệ sau này Nói cách khác: Trí
không được hình thành từ hành động (không phải từ tri giác hay trí nhớ).
B, Sự hình thành các sơ đồ tiền thao tác
Cuối giai đoạn sơ đồ giác – động, các sơ đồ đã có mầm mống nội hiện các khách thể, tức là có mầm mống của biểu tượng Về ứng xử, trẻ em đã bắt đầu có hành động biểu trưng trong trò chơi biểu trưng (miệng nhai tượng trưng cho hành vi ăn, dùng ghế thay cho ngữa…)
C, Các sơ đồ thao tác cụ thể và hình thức
Sự xuất hiện cấu trúc thao tác được đánh dấu bởi sự hình thành phong phúc và
động cơ cảu cấu trúc trí tuệ trực giác Do thực hiện nhiều lần hành động biến đổi hình