4 subtests đã được gỡ bỏ: Cửa sổ đặc biệt Magic Window, Trí nhớ không gian y Spatial Memory, Chuỗi hình ảnh Photo series và Ma trận tương tự Matrix Analogies 3 subtests đã được giữ lại:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐHQGHN
KHOA TÂM LÝ HỌC Môn học: ĐÁNH GIÁ TÂM LÝ
TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ KABC-II
(Kaufman Assessment Battery for Children)
Trang 2I Lịch sử
K-ABC được phát triển vào cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 và được xuất bản lần đầu tiên năm 1983 Trong khoảng thời gian khi mà trắc nghiệm trí tuệ của Wechler- Binet là thịnh hành nhất lúc bấy giờ
Khác với WISC-IV; WAIS-IV, K-ABC là bộ trắc nghiệm được thiết kế dựa trên các
lý thuyết về trí tuệ Được phát triển từ lý thuyết bênh học thần kinh của Sperry K-ABC tập trung vào quy trình giải quyết vấn đề Về cơ bản trắc nghiệm K-K-ABC thời điểm này rất một chiều về mặt văn hóa, thiếu sự đánh giá đúng đắn về các nền văn hóa ngoài nền văn hóa của những người da trắng
Cùng với trắc nghiệm K-ABC còn có một số trắc nghiệm được phát triển như Stanford- Binet, Woodcook,… Các thử nghiệm được phát triển bởi Alan S Kaufman và Nadeen L Kaufman vào năm 1983 và được sửa đổi vào năm 2004 Các thử nghiệm đã được dịch và áp dụng cho nhiều quốc gia, chẳng hạn như các phiên bản tiếng Nhật của K-ABC bởi các nhà tâm lý học Nhật Bản bao gồm Tatsuya Matsubara, Kazuhiro Fujita, Hisao Maekawa, và Toshinori Ishikuma K-ABC cũng đặc biệt chú ý đến một số nhu cầu thử nghiệm mới nổi, chẳng hạn như
sử dụng với các nhóm khuyết tật, ứng dụng các vấn đề về khả năng học tập, và sự phù hợp với văn hóa và ngôn ngữ dân tộc thiểu số
K-ABC ban đầu được phát triển từ lý thuyết bệnh học thần kinh của Luria năm
1966, 1970, 1973 , K-ABC tập trung vào quy trình giải quyết vấn đề Ấn bản thứ hai (K-ABC-II) được xuất bản năm năm 2004, là một biện pháp quản lý cá nhân có khả năng xử lý và nhận thức của trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 3-18 Như với các KABC gốc, KABC-II là một công cụ dựa trên lý thuyết Tuy nhiên các KABC-II khác trong khuôn khổ và thử nghiệm cấu trúc khái niệm của nó Trong khi KABC là có căn cứ ở đồng thời / tuần tự cách tiếp cận xử lý thì
KABC-II kết hợp hai mô hình lý thuyết riêng biệt Các KABC-KABC-II là có căn cứ trong một nền tảng lý thuyết kép: Cattell-Horn-Carroll (CHC) mô hình tâm lý về khả năng
mở rộng và thu hẹp, và lý thuyết bệnh học thần kinh của Luria Phương pháp CHC
là phương pháp hữu ích trong việc phân loại khả năng nhận thức riêng biệt Có một
số sửa đổi quan trọng trong KABC-II
Điểm đặc biệt trong K-ABC II là khoảng tuổi đã được mở rộng, phát triển thêm và các nền tảng lý thuyết mở rộng
Trang 38 trong số 16 bài trắc nghiệm (subtest) ban đầu có thể được tìm thấy ở KABC-II và
10 mới subtests đã được giới thiệu
4 subtests đã được gỡ bỏ: Cửa sổ đặc biệt (Magic Window), Trí nhớ không gian y (Spatial Memory), Chuỗi hình ảnh (Photo series) và Ma trận tương tự (Matrix Analogies)
3 subtests đã được giữ lại: Hình tam giác (Triangles), Nhận diện khuôn mặt (Face Recognition) và Hoàn thiện cấu trúc (Gestalt Closure)
Và 3 subtests mới đã được thêm vào: Tư duy khái niệm (Conceptual Thinking), Đếm khối hình (Block Counting) và Vượt chướng ngại vật (Rover)
Khả năng tiếp thu (The Learning Ability) mới giống như Thang lập kế hoạch (the Planning Scale)
Quy mô kiến thức được tạo thành từ hai subtest gốc (ý nghĩa từ vựng và câu đố) và một bổ sung mới bằng lời kiến thức Với KABC-II, giám định viên có thể chọn các
mô hình lý thuyết để làm theo
thập được
Tính điểm
thức thu thập được
Chỉ số quá trình thần kinh (Mental Processing Index -MPI)
thập được
Chỉ số trí thông minh kết tinh và trí thông minh xã hội (Fluid-Crystallised Index - FCI)
Mô hình Luria: Được dùng nhiều hơn khi mà trẻ sống trong môi trường song ngữ
• Nếu nền văn hóa không có bản sắc riêng của đứa trẻ có thể ảnh hưởng đến những kiến thức thu nhận được và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
• Nếu trẻ có triệu chứng, được chẩn đoán có rối loạn ngôn ngữ (biểu cảm, tiếp nhận, hoặc hỗn hợp)
• Nếu trẻ có thể bị chẩn đoán là tự kỉ
• Nếu trẻ bị điếc hoặc lãng tai
Trang 4• Nếu người đánh giá có một cam kết vững chắc với phương pháp Luria và tin rằng kiến thức thu được phải được loại trừ khỏi mọi điểm số nhận thức
Mô hình CHC: Được sử dụng trong hầu hết các trường hợp
• Nếu trẻ được chẩn đoán là không biết đọc, không biết viết, không biết làm toán
• Nếu trẻ bị thiểu năng, tăng động
• Nếu trẻ có năng khiếu
• Nếu có rối loạn cảm xúc hay hành vi
II Cơ sở lý luận
• Lý thuyết thần kinh tâm lý của Luria
Gồm:
- Kích thích và chú ý –(có tương quan) (cấu trúc não – trong bảng 1.3 )
- Sử dụng giác quan phân tích mã hóa và lưu trữ thông tin (có tương quan) - (cấu trúc não – trong bảng 1.3 ) (2)
- Lập trình hành vi và kế hoạch (có tương quan) - (cấu trúc não – trong bảng 1.3 ) (3)
Nhấn mạnh sự liên kết giữa các yếu tố này trong việc hình thành các hành vi phức tạp và sự vận hành của não(Naglieri…)
Cần sự kết hợp giữa kích thích thị giác và thính giác, và để có thể nắm bắt được mối liên kết giữa (2) và (3), thì KABC-II còn có cả đánh giá các quá trình kích thích (mà không chỉ có phân tích, mã hóa và lưu trữ thông tin, mà còn có cả giải quyết vấn đề để thành công và thực hiện quyết định của não bộ (excutive functioning)
Trang 5Trong khi lý thuyết của Luria được dựa trên nghiên cứu lâm sàng thì CHC đa dạng hơn về mặt nghiên cứu CHC là một phương pháp đánh giá tâm lí dựa trên số liệu, đối lập vs nguồn gốc lâm sàng của Luria Nguồn gốc CHC có 2 lý thuyêt cuối 1990
• Lý thuyết Raymon Cattell được chỉnh sửa và mở rộng bởi John Horn
• Lý thuyết John Carroll
2 lý thuyết này đều bắt nguồn từ lý thuyết g-factor của Spearman Đều đưa ra được kết luận thống nhất về dải mức độ khả năng nhận thức.=> CHC
Tầng III
Được tạo dựng bởi nền tảng yếu tố phân tích
Liên hệ gần giống vs lý thuyết của Horn
về những khả năng mở rộng và cũng có mối tương quan tương đối vs lý thuyết 7 tri thông minh của Gardner
III Mô tả
KABC-II là trắc nghiệm đánh giá quá trình và khả năng nhận thức của trẻ và trẻ vị thành niên trong lứa tuổi từ 3 tuổi 0 tháng đến 18 tuổi 11 tháng Được chia làm 3 giai đoạn (3 tuổi, 4-6 tuổi, 7-18 tuổi) KABC-II cung cấp từ 1 đến 5 thang tùy thuộc vào giai đoạn tuổi và phương pháp giải thích nhà lâm sàng chọn tiến hành
hoặc 7 subtests (FCI)
Kiến thức/Gc chỉ với CHC
Trang 6• Học tập/ Glr, Tuần tự/Gsm, Đồng nhất/Gr, Lập kế hoạch/Gf và Kiến thức/Gc
Sự khác nhau giữa các khái niệm chung của KABC-II
Dựa theo những khả năng khái quát
(broad abilities)
Tương quan với khả năng học tập, quá trình giải thích, khả năng lên kế hoạch FCI là phương pháp đo lương khả năng
nhận thức chung trong KABC-II từ quan
điểm CHC và bao gồm các thước đo kiến
thức nhận được (khả năng tổng hợp)
MPI phương pháp đo lường khả năng xử
lý thần kinh chung trong KABC-II từ quan điểm Luria và không có những thước đo kiến thức thu nhận được
Học tập/Glr Khả năng học tập
Khả năng lưu trữ lâu dài và khôi phục (Glr)
Phản ánh quá trình liên quan đến
cả 3 phần (1) (2) (3), đặt vị trí đặc biệt với phần chú ý- tập trung của phần (1), nhưng cũng cần đến quá trình mã hóa của phần (2) cùng với chiến thuật học tập và lưu trữ thông tin của phần (3)
Lưu trữ và khôi phục hiệu quả những thông tin mới được học
Đánh giá các chức năng mã hóa
để giải quyết vấn đề, khi mà mỗi
ý tưởng được liên hệ một cách tuyến tính với những ý tưởng đã
có trước
Tiếp nhận và lưu giữ thông tin để sử dụng trong thời gian gần.( vài giây sau)
Đồng thời/Gv Xử lý đồng thời Xử lý thị giác (Gv)
Đánh giá các chức năng mã hóa của phần (2) để có giải pháp phù hợp, cần sự kết hợp của cả (2) và (3) để tăng tính phức tạp của kích thích
Tri giác, lưu trữ, xử lý thông tin và suy nghĩ với những đặc điểm thị giác
Lên kế hoạch/Gf Khả năng lên kế hoạch Suy luận linh hoạt (Gf)
Đánh giá khả năng quyết định liên hệ mật thiết với phần (3), tuy
Giải quyết các vấn đề mới dựa vào khả năng lý luận như
Trang 7nhiên theo như Reitan (1988), phần (3) không liên quan đến các khả năng hoạt động, cảm nhận hay chức năng nói nào, mà hoàn toàn cho chức năng phân tích, lên
kế hoạch và tổ chức hành vi
phương pháp quy nạp và phương pháp loại suy
Kiến thức (Gc) (không trong mô hình Luria) Khả năng kết tinh (Gc)
Chứng minh độ rông và sâu của những kiến thức nhận được từ nền văn hóa của cá nhân đó
Mô tả những subtests của KABC-II:
Đồng nhất/Gv
- Hình tam giác: Với hầu hết các item, trẻ lắp ráp các khối tam giác (1 mặt màu xanh dương và các mặt khác màu vàng) để phù hợp với một hình ảnh; Với những item đơn giản hơn, trẻ lắp ráp các khối nhựa màu sắc thành một cấu trúc nhà đánh giá đưa ra
khuôn mặt trong 5 giây và sau đó chọn khuôn mặt đúng được chụp ở những góc khác nhau, trong 1 hình ảnh nhiều người
- Đếm khối hình: Các trẻ đếm chính xác số lượng các khối trong các hình ảnh với nhiều chồng khối, một số khối được ẩn đi
hình còn lại; nhiều item đưa ra những hình ảnh có ý nghĩa và những cái khác
sử dụng hình ảnh trừu tượng
- Vượt chướng ngại vật: Trẻ di chuyển một con chó đồ chơi đến chỗ để xương thông qua một bản đồ với nhiều ô vuông như bàn cờ có những chướng ngại vật (những hòn đá hay khúc gỗ) sao cho con chó đến được chỗ để xương nhanh nhất, ít bước đi nhất
- Hoàn thiện cấu trúc: bằng tưởng tượng, trẻ hoàn thiện 1 bức vẽ dấu mực đã hoàn chỉnh 1 phần và gọi tên (hay mô tả) chủ đề hoặc hành động được vẽ trong hình
Tuần tự/Gsm
Trang 8- Trật tự từ: Trẻ chỉ vào những chuỗi hình chiếu về những chủ đề mà nhà đánh giá đưa ra; những item khó hơn bao gồm một bài tập giao thoa (gọi tên màu sắc) giữa kích thích và phản ứng
- Nhắc lại số: Trẻ nhắc lại những dãy số nhà đánh giá nói với chúng, dãy có 2 đến 9 số; những số được dùng phải là số có 1 chữ số, ngoại trừ số 10 thay cho số 7 để đảm bảo tất cả các số đều là 1 âm ti
- Chuyển động tay: Trẻ làm theo chính xác chuỗi các động tác gõ vào bàn với nắm tay, lòng bàn tay hay cạnh tay của nhà đánh giá
Lập kế hoạch/Gf
- Lập luận khuôn mẫu (7-8): Trẻ được thấy một loạt các tác nhân kích thích hình thành một mô hình logic, tuyến tính, nhưng thiếu 1 tác nhân kích thích; trẻ hoàn thành mô hình bằng cách chọn 1 phương án đúng từ 4-6 lựa chọn ở cuối trang (hầu hết các tác nhân là trừu tượng, hình khối, nhưng một số item
dễ sử dụng tác nhân kích thích cụ thể có ý nghĩa)
- Hoàn thành câu chuyện : Trẻ được thấy một dãy những hình ảnh kể về 1 câu chuyện, nhưng một số hình ảnh bị thiếu Trẻ được đưa cho một tập hình ảnh, chỉ được chọn duy nhất 1 hình ảnh cần để hoàn thành câu chuyện, và để bức hình còn thiếu vào đúng vị trí trong dãy
Học tập/ Glr
- Atlantis: Nhà đánh giá dạy cho trẻ những cái tên vô nghĩa cho những hình ảnh kỳ lạ về cá, động vật có vỏ cứng và thực vật; trẻ thể hiện những gì học được bằng việc chỉ vào mỗi hình ảnh (lấy ra từ hàng loạt hình ảnh) khi nó được gọi tên
- Atlantis Delayed: Trẻ thể hiện sự trì hoãn nhớ lại các cặp liên kết học được sớm hơn khoảng 15-25 phút khi Atlantis bằng cách chỉ vào hình ảnh cá, thực vật hoặc động vật có vỏ được nhà đánh giá gọi tên
- Học câu đố bằng hình vẽ: Nhà đánh giá dạy trẻ từ hoặc khái niệm liên quan đến riêng mỗi câu đố bằng hình vẽ (bức tranh), sau đó trẻ “đọc” to từ hoặc câu tạo thành từ những câu đố hình vẽ này
- Rebus Delayed: Trẻ thể hiện sự trì hoãn nhớ lại các cặp liên kết học được sớm hơn 15-25 phút khi Rebus bằng các “đọc” từ hoặc câu được tạo thành từ cũng những câu đố hình vè trên
Kiến thức/Gc
Trang 9- Câu đố: Nhà đánh giá cung cấp một đặc điểm của một khái niệm cụ thể hoặc một khái niệm bằng lời trừu tượng, và trẻ phải chỉ vào nó (item đầu) hoặc gọi tên nó (item sau)
- Từ vựng biểu cảm: Trẻ đưa ra tên của một vật được mô tả
- Kiến thức từ ngữ: Trẻ chọn ra từ một dãy có 6 hình ảnh một hình tương ứng với một từ vựng hay trả lời một câu hỏi thông tin nói chung
KABC-II có hai bộ: Bộ cơ bản và bộ mở rộng Bộ mở rộng cung cấp những subtest bổ sung để gia tăng về độ rộng cho những khái niệm được đo bằng bộ cơ bản, bổ sung cho các giả thuyết, và tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của kiến thức ban đầu và trì hoãn nhớ lại kiến thức mới của trẻ Điểm có được trong các subtest bổ sung không đóng góp gì vào điểm chuẩn của trẻ trên bất kì thang đo KABC-II nào (trừ thang đo Phi ngôn ngữ đặc biệt) Cấu trúc thang đo KABC-II cho giai đoạn 3 tuổi và 4-6 tuổi khác với cấu trúc cho trẻ 7-18 tuổi, và thành phần subtest cho các tuổi 4, 5 và 6 hơi khác nhau, phản ánh sự thay đổi phát triển nhanh chóng trong nhận thức ở mức khoảng 5 tuổi Ngoài ra còn có một thay đổi nhỏ cho các lứa tuổi 7-12 so với 13-18 Trong cả hai trường hợp, thành phấn subtest khác nhau đều liên quan đến thang đo Đồng nhất/Gv
Điểm chuẩn và điểm nâng cao KABC-II
KABC-II có 2 điểm toàn thể, MPI và FCI, cả hai là điểm chuẩn với điểm trung bình là 100 và độ lệch chuẩn (SD) là 15 Tuy nhiên, chỉ có một trong hai điểm tổng toàn thể dùng để tính và giải thích cho mọi trẻ em hoặc thanh thiếu niên, những trẻ được đánh giá theo mô hình Luria hay CHC do nhà đánh giá chọn cho cá nhân đó Giống như MPI và FCI, Chỉ số phi ngôn ngữ KABC-II cũng là một điểm chuẩn với điểm trung bình 100 và SD 15
Năm thang KABC-II thềm vào cho giai đoạn 4-18 tuổi, mỗi thang đều có điểm trung bình là 100 và SD 15 (những chỉ MPI và FCI được dùng cho giai đoạn 3 tuổi) Tất cả subtest KABC-II có điểm trung bình 10 và SD 3 Điểm chuẩn những subtest cơ bản góp phần tạo nên các thang đo, nhưng điểm nâng cao subtest mở rộng thì không (trừ thang đo phi ngôn ngữ đặc biệt)
IV Ứng dụng
Được sử dụng để đánh giá trẻ tuổi đi học cũng như thành niên Được dùng
để đánh giá trong tâm lý lâm sàng, có thể làm nền tảng cho những chính sách giáo
Trang 10dục KABC rất hữu dụng cho những đánh giá tích cực cho dân mỹ gốc phi, dân mỹ gốc á
Dùng để nhận biết trẻ thiểu năng trí tuệ, được kết hợp với những phương thức đánh giá phi truyền thống sáng tạo, đánh giá tài năng của trẻ, đánh giá những chức năng thần kinh tâm lý riêng biệt
Dùng để đánh giá khả năng thành tích của trẻ có khó khăn trong học tập ngoài ra còn có thể nhận biết được điểm mạnh yếu của cá nhân trong hoạt động nhận thức Ứng dụng lâm sàng
- Thang đo Phi ngôn ngữ (gồm trẻ khiếm thính, điếc, tự kỉ, rối loạn lời nói và ngôn ngữ)
- Đánh giá sự chậm phát triển trí tuệ
- Xác định những khuyết tật học tập
- Đánh giá sự khác biệt dân tộc
- Những tiêu chuẩn tình trạng kinh tế xã hội
- Bộ đánh giá đối lập với KABC-II (bởi Dawn P.Flanagan)
V Đánh giá
Ưu và nhược điểm khi tiến hành và tính điểm KABC-II
thể được diễn đạt theo ngôn ngữ
mẹ đẻ của trẻ
và thực hành, nhà đánh giá có thể
giải thích cụ thể theo ngôn ngữ
thích hợp
• Nó có những hướng dẫn người
đánh giá rất ngắn và đơn giản
giúp đứa trẻ dễ hiểu yêu cầu bài
tập
• Tính chủ quan hạn chế trong tính
điểm nên dễ dàng hơn cho nhà
• Tính điểm cho subtest Atlantis, Rebus và Delayed đòi hỏi tập trung cẩn thận tránh các lỗi khi biên chép
• Những quy tắc thay đổi từ subtest này đến subtest khác có thể gây nhầm lẫn
• Trẻ có khả năng kém hơn khó khăn trong việc hiểu những item ngữ pháp trong Rebus
toán thang đo Delayed Rebus Tuy nhiên, mẫu hồ sơ sẽ được sửa