1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch

220 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 3,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù, Việt Nam đã xây dựng được 2 bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, chỉ số đo lường hiệu quả quản lý hành chính công cấp tỉnh PAPI để quản lý và điều hành nền kinh tế chung đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VĂN THANH

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Nghiên cứu sinh xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch” là công trình nghiên

cứu của riêng Nghiên cứu sinh

Các kết quả nghiên cứu trong Luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian dài nghiên cứu tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Nghiên cứu sinh xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các Thầy, Cô Ban giám hiệu, Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo sau đại học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Thương Mại và lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng với các đồng nghiệp, gia đình và bạn thân hữu đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho Nghiên cứu sinh trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Đặc biệt Nghiên cứu sinh xin chân thành cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Thanh đã hướng dẫn Nghiên cứu sinh hoàn thành luận án này

Xin ghi nhận nơi đây lòng tri ân và biết ơn sâu sắc nhất

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Nam Thắng

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

Chương 1 GIỚI THIỆU 7

1.1 Tầm quan trọng của du lịch 7

1.2 Tổng quan nghiên cứu 8

1.2.1 Các khái niệm liên quan 8

1.2.1.1 Du lịch 8

1.2.1.2 Năng lực cạnh tranh 10

1.2.1.3 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 12

1.2.1.4 Năng lực cạnh tranh quốc gia 13

1.2.1.5 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 14

1.2.1.6 Năng lực cạnh tranh du lịch 15

1.2.1.7 Năng lực cạnh tranh ngành 16

1.2.1.8 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 17

1.2.1.9 Năng lực cạnh tranh sản phẩm 17

1.2.1.10 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh toàn cầu với địa phương trong du lịch 18

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan 20

1.2.2.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam 20

1.2.2.2 Các nghiên cứu trên Thế giới 23

1.3 Kết luận chương 1 28

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 29

2.1 Cách thức thiết lập bộ tiêu chí lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 29

2.1.1.Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh địa phương của M.Porter 30

2.1.2 Khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 31

2.3 Các mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh du lịch 32

2.3.1 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh toàn cầu trong du lịch của Mill và Morrison (1992; 2007) 32

2.3.2 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh điểm đến của Crouch (2007) 36

2.3.3 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh địa phương trong du lịch của M.Porter (2008) 39

Trang 6

2.3.4 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh Phát triển Kinh tế

Thành phố theo cụm ngành CCED của Choe và Roberts (2011) 45

2.3.5 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh du lịch của Alain Dupeyras và Neil MacCallum, OECD (2013) 48

Hình 2.6 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh du lịch của Alain Dupeyras và Neil MacCallum, OECD (2013) 48

2.3.6 Mô hình lý thuyết hệ thống năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành TTCI của Jennifer Blanke và Thea Chiesa, Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF (2014) 51

2.4 Thiết lập bộ tiêu chí xây dựng mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch ban đầu 57

2.4.1 Các điều kiện về yếu tố đầu vào và mức độ hấp dẫn du lịch 58

2.4.2 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan 60

2.4.3.Chiến lược, cơ cấu và đối thủ cạnh tranh của địa phương 62

2.4.4 Các điều kiện về nhu cầu thị trường du lịch 65

2.5 Kết luận chương 2 67

Chương 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 68

3.1 Tổng quan du lịch Việt Nam 68

3.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam 68

3.1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên Việt Nam 68

3.1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam 69

3.1.2 Thực trạng du lịch Việt Nam 70

3.1.3 Các kết quả đạt được đối với phát triển du lịch Việt Nam 75

3.1.4 Các hạn chế đối với phát triển du lịch Việt Nam 78

3.2 Thiết kế nghiên cứu 79

3.2.1 Tiêu chuẩn kỹ thuật đánh giá các yếu tố lý thuyết 79

3.2.2 Tiêu chuẩn và đối tượng tham gia đánh giá các yếu tố lý thuyết 79

3.2.3 Kết quả khảo sát các yếu tố lý thuyết 79

3.2.4 Bộ tiêu chí xây dựng mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch chính thức 82

3.3 Mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 84

3.4 Xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 85

Trang 7

3.5 Thiết kế các thang đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực

du lịch 86

3.5.1 Thang đo các yếu tố đầu vào và mức độ hấp dẫn du lịch 86

3.5.2 Thang đo các nguồn lực phục vụ phát triển du lịch 87

3.5.3 Thang đo năng lực của chính quyền địa phương 88

3.5.4 Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường du lịch 88

3.6 Kết luận chương 3 89

Chương 4 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 90

4.1 Tổng quan du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 90

4.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 90

4.1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên Bà Rịa – Vũng Tàu 90

4.1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn Bà Rịa – Vũng Tàu 91

4.1.2 Thực trạng du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 92

4.1.3 Các kết quả đạt được đối với phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 103

4.1.4 Các hạn chế đối với phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 105

4.2 Phương pháp lấy mẫu 106

4.2.1 Bảng câu hỏi khảo sát 106

4.2.2 Kích thước mẫu 107

4.2.3 Chọn mẫu 108

4.2.4 Đối tượng lấy mẫu 108

4.2.5 Phạm vi lấy mẫu 110

4.2.6 Cách điều tra 110

4.3 Mô tả mẫu 110

4.4 Kiểm định độ tin cậy Cronbach‟Alpha 111

4.4.1 Kiểm định độ tin cậy của các biến đo lường các yếu tố đầu vào và mức độ hấp dẫn du lịch 111

4.4.2 Kiểm định độ tin cậy của các biến đo lường các nguồn lực phục vụ phát triển du lịch 111

4.4.3 Kiểm định độ tin cậy của các biến đo lường năng lực của chính quyền địa phương 112

4.4.4 Kiểm định độ tin cậy của các biến đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường du lịch 112

Trang 8

4.4.5 Kiểm định độ tin cậy của các biến đo lường năng lực cạnh tranh cấp

tỉnh trong lĩnh vực du lịch 112

4.5 Phân tích nhân tố khám phá EFA 113

4.5.1 Kiểm định tính thích hợp và tương quan của các biến 113

4.5.2 Kiểm định mức độ giải thích của các biến đo lường đối với các nhân tố 113

4.5.3 Xoay các nhân tố 113

4.5.4 Kiểm định phân phối chuẩn 114

4.6 Phân tích nhân tố khẳng định CFA 114

4.7 Kiểm định mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 115

4.7.1 Mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch định lượng 115

4.7.2 Kết quả ước lượng các yếu tố trong mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 116

4.7.3 Kiểm định Bootstrap mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 118

4.7.4 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 119

4.7.5 Kết quả trả lời các câu hỏi nghiên cứu 119

4.7.6 Kết quả đánh giá và xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 120

4.8 Thảo luận mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 120

4.8.1 Giá trị liên hệ lý thuyết 120

4.8.2 Giá trị liên hệ thực tế với năng lực cạnh tranh ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 121

4.8.3 Giá trị liên hệ thực tế với năng lực cạnh tranh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 125

4.8.4 Giá trị liên hệ thực tế với năng lực cạnh tranh ngành du lịch Việt Nam và Thế giới 125

4.9 Kết luận chương 4 129

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 130

5.1 Kết luận 130

5.1.1 Ưu điểm của mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 132

5.1.2 Hạn chế của mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch và định hướng nghiên cứu tiếp theo 133

Trang 9

5.1.3 Cách sử dụng mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du

lịch 134

5.2 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch 134

5.2.1 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam 134

5.2.2 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 136

5.3 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch 137

5.3.1 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 137

5.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các nguồn lực phục vụ phát triển du lịch 139

5.3.2.1 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với cơ sở hạ tầng du lịch 139

5.3.2.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 139

5.3.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp du lịch 141

5.3.2.4 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với điều kiện về nguồn lực 141

5.3.2.5 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với cơ chế, chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển du lịch 142

5.3.2.6 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch 143

5.3.2.7 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với ứng dụng thương mại điện tử trong du lịch và các dịch vụ sáng tạo khác 144

5.3.2.8 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với Marketing du lịch 145

5.3.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường du lịch 146

5.3.3.1 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với phân khúc thị trường du lịch 146

5.3.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với nhận thức du lịch 146

5.4 Khuyến nghị 148

5.4.1 Khuyến nghị đối với Trung ương 148

5.4.2 Khuyến nghị đối với địa phương 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

Trang 11

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

ADB The Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á

AHP Analytic Hierarchy Process Quá trình phân tích phân cấp

AMOS Analysis of Moment Structures Phân tích cấu trúc mô men

ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

CCED Cluster-based City Economic

Development

Cơ sở phát triển Kinh tế Thành phố dựa vào cụm /ngành

CECODES Centre for Research and

Development & Community

Support

Trung tâm Nghiên cứu Phát triển & Hỗ trợ Cộng đồng

CFA Confirmatory Factor Analysis Phân tích nhân tố khẳng định

CISET the International Centre for Studies

on Tourism Economics

Trung tâm Quốc tế nghiên cứu về nền kinh tế

du lịch EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá

EITI Extractive Industries Transparency

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

GCR Global Competitiveness Report Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

GLS Generalized Least Squares Bình phương tổng quát

IATA International Air Transport

Association

Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế

IFE Internal Factor Evaluation Đánh giá các yếu tố bên trong

ML Maximum Likelihood Phương pháp hợp lý cực đại

NGT National Geographic Traveler Địa lý du lịch quốc gia

OECD Opening up Trade in Services,

Opportunities and Gains for

PPP Purchasing Power Parity Sức mua tương đương

RMSA Root Mean Square Error

Approximation

Sai số xoay quanh giá trị trung bình

Trang 12

SEM Structural Equation Modeling Mô hình cấu trúc tuyến tính mạng

SPSS Statistical Package Social Sciences Thống kê khoa học xã hội

SWOT Strengths – Weaknesses –

Opportunities – Threats

Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức

TDGDP Tourism Direct Gross Domestic

Product

Du lịch tác động trực tiếp đến tổng sản phẩm quốc nội

TSA Tourism System Analysis Phân tích hệ thống du lịch

TTCI The Travel and Tourism

UNCTAD United Nations Conference on

Trade and Development

Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc

UNDP United Nations Development

Programme

Chương trình phát triển của Liên hợp quốc

UNESCO United Nations Educational,

Scientific and Cultural

Organization

Tổ chức Liên hợp quốc về giáo dục, khoa học

và văn hóa

UNWTO World Tourism Organization Tổ chức Du lịch Thế giới

VCCI Vietnam Chamber of Commerce

and Industry

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế Thế giới

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

WTTC World Tourism anh Travel Council Hội đồng Du lịch và Lữ hành Quốc tế

IUCN International Union for

Conservation of Nature and Natural

Resources

Liên minh Quốc tế Bảo tồn Tài nguyên Thiên nhiên

3F flowre, Fauna, Folklore Động vật quý hiếm; Thực vật quý hiếm; Văn

hóa dân gian đặc sắc 3S Sight seeing, Sport, Shopping Giá trị tài nguyên đặc sắc để chiêm ngưỡng;

Thể thao; Mua sắm 4C Customer value, Cost to the

customer, Convenience,

Communication

Giá trị cho khách hàng, Chi phí của khách hàng, Sự tiện lợi, truyền thông

4D Define customer value, Develop

customer value, Deliver custmer

value, Declare customer value

Định nghĩa giá trị cho khách hàng, Phát triển giá trị cho khách hàng, Chuyển giao giá trị cho khách hàng, thông báo giá trị cho khách hàng 4P Product, Price, Place, Promotion Sản phẩm, Giá cả, Phân phối, Truyền thông 5H Hospitality, Honesty, Heritage,

History, Heroic

Lòng mến khách; Tính trung thực; Di sản; Lịch sử; Anh hùng hào kiệt;

6S Sanatary, Health, Security,

Serenity, Service, Satisfaction

Vệ sinh; Sức khỏe; An toàn; Thanh thản; Dịch vụ; Thỏa mãn

Trang 13

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 31

Bảng 2.2 Tổng hợp các yếu tố thành phần và các yếu tố chính thiết lập bộ tiêu chí ban đầu xây dựng mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 56

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát các chuyên gia về bộ tiêu chí ban đầu xây dựng mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 80

Bảng 3.2 Xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 86

Bảng 4.1 Số liệu lượt khách du lịch và ngày lưu trú tại Bà Rịa-Vũng Tàu 94

Bảng 4.2 Lượng khách và doanh thu trung bình của một khu du lịch 96

Bảng 4.3 Số liệu doanh thu dịch vụ du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu 97

Bảng 4.4 Năng lực cạnh tranh du lịch của một số địa phương 102

Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả ước lượng các tham số trong mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 118

Bảng 4.6 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong IFE 122

Bảng 4.7 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài EFE 123

Trang 14

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Các mối quan hệ toàn cầu với địa phương trong du lịch 18 Hình 2.1 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh địa phương của M.Porter 32 Hình 2.2 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh toàn cầu trong du lịch của Mill và Morrison (1992; 2007) 32 Hình 2.3 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh điểm đến của Crouch (2007) 36 Hình 2.4 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh địa phương trong du lịch của M.Porter (2008) 39 Hình 2.5 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh Phát triển Kinh tế Thành phố theo cụm ngành CCED, Choe và Roberts (2011) 45 Hình 2.6 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh du lịch của Alain Dupeyras và Neil MacCallum, OECD (2013) 48 Hình 2.7 Mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành TTCI, Jennifer Blanke và Thea Chiesa (2014) 51 Hình 2.8 Bộ tiêu chí ban đầu xây dựng mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 57 Hình 3.1 Bộ tiêu chí chính thức xây dựng mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 82 Hình 3.2 Vị trí đóng góp của các yếu tố chính chính thức xây dựng mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 83 Hình 3.3 Vị trí của các yếu tố thành phần chính thức xây dựng mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 83 Hình 3.4 Mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 84

Trang 15

Hình 4.1.Lượng khách trung bình đến một khu du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu ngày thường trong tuần 95 Hình 4.2 Lượng khách trung bình đến một khu du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu ngày cuối tuần 95 Hình 4.3 Mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch định lượng 115 Hình 4.4 Vị trí tầm quan trọng của 4 nhóm yếu tố chính định lượng 117 Hình 4.5 Vị trí tầm quan trọng của 16 yếu tố thành phần định lượng 117 Hình 4.6 Giá trị liên hệ lý thuyết 4 nhóm yếu tố chính đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 120 Hình 4.7 Giá trị liên hệ lý thuyết 16 yếu tố thành phần đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 121 Hình 4.8 Giá trị liên hệ thực tế 3 nhóm yếu tố chính đánh giá năng lực cạnh tranh Du lịch Châu Á Thái Bình Dương (2013) 126 Hình 4.9 Vị trí tầm quan trọng 14 yếu tố thành phần năng lực cạnh tranh ngành du lịch Việt Nam (2013) 127 Hình 4.10 Vị trí tầm quan trọng của 8 yếu tố thành phần đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 128 Hình 5.1 Mô tả mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch 134

Trang 16

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Hội nhập nói chung và hội nhập du lịch nói riêng đang là xu thế của thế giới, trong đó Việt Nam nói chung và các tỉnh có tiềm năng, lợi thế về du lịch nói riêng không phải là ngoại lệ Trong hội nhập, bên cạnh những thuận lợi và cơ hội như mở rộng thị trường, tiếp nhận các nguồn lực từ bên ngoài cho phát triển du lịch,vv thì cũng không ít những khó khăn thách thức phải đối mặt, trong đó nổi lên là vấn đề cạnh tranh Việc Việt Nam trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như WTO, UNWTO, ASEAN, TTP, v.v cũng tạo cho du lịch Việt Nam, trong

đó có các tỉnh nhiều thuận lợi và cơ hội, song cũng đặt ra nhiều vấn đề cần nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch, trong đó có điểm đến cấp tỉnh để thu hút khách du lịch, tạo môi trường cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, tạo việc làm và thu nhập cho công đồng dân cư sở tại và tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Như vậy, có thể thấy các quốc gia nói chung và các địa phương nói riêng trước khi tham gia vào thị trường cạnh tranh du lịch có hiệu quả thì trước hết phải đánh giá được năng lực cạnh tranh và tạo dựng được nền tảng năng lực cạnh tranh mạnh và bền vững

Nhưng thực tế, việc đánh giá năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nói chung phần lớn dựa vào Bản báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới về chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI và đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam nói riêng cũng phần lớn dựa vào Bản báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới về chỉ

số năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành TTCI

Mặc dù, Việt Nam đã xây dựng được 2 bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số đo lường hiệu quả quản lý hành chính công cấp tỉnh (PAPI) để quản lý và điều hành nền kinh tế chung đều gắn với 63 tỉnh/thành với sự hỗ trợ tài chính của Quốc tế, trong khi đó việc nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch thuộc ngành dịch vụ chưa có điều kiện thực hiện

Trang 17

Tuy nhiên, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực du lịch ở các cấp độ khác nhau nhưng vẫn còn khoảng trống là chưa thấy nghiên cứu nào ở Việt Nam đề cập đến việc thiết lập bộ tiêu chí lý thuyết năng lực cạnh tranh ở cấp độ tỉnh trong lĩnh vực du lịch bằng mô hình để có thể giúp Việt Nam có thêm một công cụ đánh giá năng lực cạnh tranh nói chung và các tỉnh nói riêng

Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp phần tích cực vào việc đề ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh về

du lịch của các tỉnh nói riêng và của du lịch Việt Nam nói chung trong thời kỳ tái cấu trúc lại nền kinh tế, hội nhập ngày một toàn diện và sâu rộng của đất nước với

khu vực và quốc tế Trong bối cảnh này, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Nghiên cứu

mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch” là một bước đột

phá ở thời điểm hiện tại mở đường cho các nghiên cứu tương lai với các câu hỏi nghiên cứu đặt ra như sau:

Câu hỏi nghiên cứu 1: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch được hiểu là gì?

Câu hỏi nghiên cứu 2: Có các yếu tố nào quyết định năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch?

Câu hỏi nghiên cứu 3: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch như thế nào?

Để trả lời được 3 câu hỏi trên, nghiên cứu phải xác định mục tiêu cần hướng tới và các nhiệm vụ cần phải thực hiện cụ thể như sau:

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

a) Mục tiêu nghiên cứu: Mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực

du lịch, cụ thể:

- Mục tiêu cấp 1: Làm rõ năng lực cạnh tranh ở các cấp độ và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch

- Mục tiêu cấp 2: Chọn lọc các yếu tố cốt lõi thiết lập bộ tiêu chí xây dựng

mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch;

- Mục tiêu cấp 3: Xác định mức độ đóng góp của các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch thông qua mô hình

Trang 18

b) Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cần hướng tới thì

phải bám sát vào các mục tiêu nghiên cứu các cấp để thực hiện một số nhiệm vụ, cụ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch;

b) Phạm vi nghiên cứu: Về không gian là cấp tỉnh và về thời gian từ năm

2005 đến năm 2015, tầm nhìn giới hạn đến năm 2030

4 Phương pháp nghiên cứu

Ehrenberg (1994)[63], có nhiều trường phái trong nghiên cứu khoa học, các nhà nghiên cứu có thể chia thành hai trường phái chính, đó là phương pháp định tính (qualitative methodology) và phương pháp định lượng (quantitative methodology) Trong nghiên cứu hàn lâm, nghiên cứu định tính đi đôi với việc khám phá ra các lý thuyết khoa học, dựa trên nguyên tắc quy nạp Nghiên cứu định lượng gắn liền với việc kiểm chứng chúng dựa trên nguyên tắc suy diễn Tuy nhiên, đặc điểm của phương pháp định tính phù hợp với việc xây dựng lý thuyết và phương pháp định lượng phù hợp với kiểm định lý thuyết cho nên không nhất thiết phải phân biệt giữa xây dựng và kiểm định lý thuyết trong nghiên cứu khoa học

Trang 19

Vì vậy, nghiên cứu này được sử dụng kết hợp giữa 2 phương pháp định tính

và định lượng tức là đầu tiên tiến hành xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết trước, sau

đó thực hiện kiểm định minh chứng cho phần lý thuyết sau, đồng thời phối hợp với các phương pháp tổng hợp, so sánh, chuyên gia, điều tra xã hội học, thống kê, mô

tả, phân tích theo hệ thống kinh tế đan xen với hệ thống hoạch định chính sách và phương pháp sử dụng các phần mềm phân tích, xử lý dữ liệu SPSS và AMOS

5 Những kết quả đạt đƣợc của luận án

1) Nghiên cứu tiếp cận theo hệ thống kinh tế từ cấp độ vĩ mô đến vi mô đã tổng hợp các được khác niệm liên quan làm rõ mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực lịch ở các cấp độ giống nhau và khác nhau từ đó hiểu được năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong khuôn khổ nghiên cứu này là gì Kế tiếp tổng hợp được các mô hình nghiên cứu liên quan làm cơ sở nhận diện 32 yếu tố thành phần có thuộc tính cạnh tranh và thông qua phương pháp chuyên gia được rút gọn lại còn 20 yếu tố thành phần tích hợp thành 4 nhóm yếu tố chính liên kết với nhau tạo thành mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch với nền tảng là mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh địa phương của M.Porter hay còn gọi là mô hình kim cương

Sau đó tiến hành kiểm định mô hình tại Bà Rịa – Vũng Tàu đã minh chứng cho phần lý thuyết phù hợp với dữ liệu thị trường thông qua một loạt các đánh giá dựa vào phần mềm phần tích dữ liệu SPSS và AMOS xác định được vị trí, thứ tự, tầm quan trọng và đóng góp của các yếu tố thành phần hợp thành 4 nhóm yếu tố chính đó là các yếu tố đầu vào và mức độ hấp dẫn du lịch; Các nguồn lực phục vụ phát triển du lịch; Năng lực của chính quyền địa phương; Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường du lịch liên kết với nhau trong mô hình đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch trung bình là 2.7 điểm ở mức độ khá

2) Nghiên cứu tiếp cận theo hệ thống hoạch định chính sách từ cấp độ vĩ mô đến vi mô đã phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam, năng lực cạnh tranh du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu về tiềm năng, cơ hội, điểm mạnh, điểm yếu, kết quả, hạn chế để đánh giá thực tế năng lực cạnh tranh ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu theo Matrận IE các yếu tố bên trong và bên ngoài trung bình là 2.9 điểm

ở mức độ khá

Trang 20

3) Nghiên cứu cho thấy việc đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch bằng mô hình trung bình 2.7 điểm được xây dựng theo hệ thống kinh tế

so với việc đánh giá năng lực cạnh tranh ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu bằng ma trận trung bình 2.9 điểm được xây dựng theo hệ thống hoạch định chính sách và năng lực cạnh tranh chung của Bà Rịa – Vũng Tàu do VCCI đánh giá bằng chỉ số năm 2013 là 56.99 điểm và năm 2014 là 59.05 điểm đều ở mức độ khá Cho thấy, cả

3 cách đánh giá bằng phương pháp khác nhau ở 3 cấp độ khác nhau đều cho kết quả chung Đồng thời, nghiên cứu cũng tiến hành chọn lọc một số yếu tố thành phần nổi trội nhất trong các nhóm yếu tố tạo thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch thông qua kiểm định tại Bà Rịa – Vũng Tàu liên hệ với lý thuyết và đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới về năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành Việt Nam cho thấy vị trí, thứ tự, tầm quan trọng của các yếu tố là khá tương đồng Như vậy, có thể khẳng định rằng mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch không những bền vững về mặt lý thuyết mà còn phù hợp với thực tế lẫn thực tiễn, từ đó đưa ra định hướng, giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

a) Ý nghĩa khoa học, luận án có ý nghĩa về mặt khoa học được thể hiện ở 3 điểm mới như sau:

1) Hệ thống hóa được các khái niệm liên quan đến năng lực cạnh tranh ở cấp

độ tỉnh, mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh toàn cầu với địa phương từ đó xác định các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch làm cơ sở thiết lập bộ tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch bao gồm 32 yếu tố thành phần được tích hợp thành 4 nhóm yếu tố chính;

2) Đề xuất và chỉ rõ được 20 yếu tố thành phần trong 4 nhóm yếu tố chính liên kết với nhau phản ánh năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch hợp

lý với bối cảnh và môi trường du lịch Việt Nam;

3) Kết quả nghiên cứu thực tế về năng lực cạnh tranh du lịch tại Bà Rịa – Vũng Tàu đã chỉ ra các yếu tố thành phần, trong mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đưa ra là phù hợp, từ đó cho thấy những giải pháp phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về du lịch ở cấp độ tỉnh tại Bà Rịa – Vũng Tàu

Trang 21

b) Ý nghĩa thực tiễn, ngoài 3 điểm mới có ý nghĩa khoa học nêu trên, luận án

có ý nghĩa về mặt thực tiễn như sau:

1) Mô hình đề xuất của luận án thông qua kiểm định thực tế tại Bà Rịa –

Vũng Tàu, chứng tỏ mô hình về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch

có tính thực tiễn cao;

2) Kết quả của luận án có thể được tiếp tục nghiên cứu áp dụng tại các địa phương khác có điều kiện tương đồng ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch có kết cấu 5 chương, cụ thể:

Chương 1 Giới thiệu tổng quan nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch về tầm quan trọng của du lịch, tổng quan về các khái niệm và nghiên cứu liên quan ở Việt Nam và trên Thế giới

Chương 2 Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch trình bày các mô hình hệ thống lý thuyết năng lực cạnh tranh du lịch ở các cấp

độ và khung phân tích năng lực cạnh tranh du lịch thiết lập bộ tiêu chí lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch ban đầu

Chương 3 Xây dựng mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch, thiết lập bộ tiêu chí lý thuyết xây dựng mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch chính thức kèm giả thuyết nghiên cứu, các thang đo lường, các tiêu chí xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch

Chương 4 Kiểm định mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực

du lịch, trình bày phương pháp lấy mẫu, mô tả mẫu, kiểm định mô hình lý thuyết, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, đánh giá, xếp hạng và thảo luận

Chương 5 Kết luận và khuyến nghị, khẳng định những kết quả đã đạt được

và những hạn chế làm định hướng nghiên cứu tiếp theo, khuyến nghị đối với Trung ương và địa phương tập trung vào một số yếu tố chính góp phần thực hiện một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch

Trang 22

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Tầm quan trọng của du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu Từ chỗ ban đầu là hoạt động mang tính tâm linh của giới quý tộc, tầng lớp thượng lưu, đến nay du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến và là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của mọi người dân Du lịch phát triển góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho các quốc gia và giải quyết nhiều công ăn việc làm cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực có liên quan như vận tải, viễn thông, y tế, bảo hiểm, ngân hàng, giáo dục

Trên thế giới, kể từ sau cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ 2, du lịch đã phát triển nhanh chóng và trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến, ngành du lịch thế giới có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với nhiều ngành kinh tế khác Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (2005)[128], hàng năm trên toàn cầu trung bình có trên 900 triệu lượt người đi du lịch, trong đó 60% dòng khách đi du lịch có mục đích tìm hiểu nền văn hóa khác so với nền văn hóa nơi họ sinh sống Lượng khách du lịch quốc tế trên toàn cầu đạt 922 triệu đã đem lại nguồn thu tới 944 tỉ USD và tạo việc làm cho trên 300 triệu người Du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới, xuất khẩu du lịch chiếm khoảng 30% xuất khẩu dịch vụ thương mại thế giới và 6% tổng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ với tư cách là ngành xuất khẩu

Nhìn ra Thế giới, du lịch là ngành kinh tế quan trọng giúp các nước đang phát triển đẩy nhanh mục tiêu phát triển kinh tế, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội Du lịch góp phần tạo ra hàng triệu cơ hội việc làm trực tiếp hay gián tiếp đối với các ngành có liên quan khác Trong thời đại toàn cầu hóa, du lịch đang trở thành nhịp cầu kết nối, giải quyết những bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo của các dân tộc trên toàn thế giới Hiện nay du lịch đã vươn lên đứng vị trí thứ

4 sau ngành nhiên liệu, hóa dầu và sản xuất ô-tô Vì hiệu quả to lớn đó, nhiều nước trên thế giới đã chọn du lịch là ngành ưu tiên phát triển hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Nhìn lại Việt Nam, du lịch cũng đã được xác định là ngành kinh tế quan trọng Du lịch Việt Nam đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm

Trang 23

là 6,8 triệu lượt, khách nội địa đạt 32,5 triệu lượt Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng, 160.000 tỷ đồng năm 2012 Du lịch đóng góp 5% vào GDP của Việt Nam; Năm 2013, số khách quốc tế đến Việt Nam là 7,57 triệu lượt, khách nội địa đạt 35 triệu lượt Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2013 đạt khoảng 200.000 tỷ đồng Năm 2014 ngành du lịch Việt Nam thu hút gần 8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số dự kiến năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa Doanh thu từ

du lịch dự kiến sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020

Như vậy, với vị trí tầm quan trọng của du lịch, để phát triển du lịch nhanh và bền vững, thu hẹp dần khoảng cách với những quốc gia có ngành du lịch đã và đang phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và toàn diện là yêu cầu cấp bách đặt

ra cho ngành du lịch Việt Nam nói chung và các tỉnh/thành nói riêng

1.2 Tổng quan nghiên cứu

1.2.1 Các khái niệm liên quan

1.2.1.1 Du lịch

Khái niệm du lịch là một trong những đặc điểm của ngành du lịch với tư cách là đối tượng nghiên cứu của du lịch học, phản ánh mối quan hệ bản chất bên trong, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các xu hướng và các quy luật phát triển của

nó Vì vậy, việc lựa chọn một khái niệm du lịch phù hợp với nghiên cứu này sẽ là kim chỉ nam cho sự thành công trong việc xây dựng mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh

và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch, cụ thể:

- Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của họ ở ngoài nơi cư trú để thỏa mãn các nhu cầu khác nhau: Hòa bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác

Trang 24

- Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện

về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận

- Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong việc hành trình và lưu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương, tăng thu ngoại

tệ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương

- Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội

mà hoạt động du lịch tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những người ngoài địa phương mình, vừa là cơ hội để tìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn, chốn ở,

Mặc dù hoạt động du lịch có nguồn gốc hình thành từ lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh, nhưng khái niệm “Du lịch” lại được tiếp cận từ nhiều cấp độ khác nhau và được hiểu rất khác nhau, cụ thể:

Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (1980)[132], đưa ra khái niệm: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”

Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới WTTC (2001)[133], đã đưa ra khái niệm: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích kinh doanh và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư”

Trang 25

Hunziker và Krapf (2004)[82], hai người được coi là đặt nền móng cho cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra khái niệm: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời”

Luật Du lịch Việt Nam (2005)[25], đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Như vậy, các khái niệm du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (1980)[132], Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới WTTC (2001)[133] và Hunziker

và Krapf (2004)[82] đều có điểm chung cho rằng Du lịch có 2 nghĩa Một mặt khi nói đến du lịch người ta hiểu rằng đó là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người ở một nơi khác (cách xa nơi ở thường xuyên của họ) để nghỉ dưỡng chữa bệnh, thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, giao lưu tình cảm, công

vụ Mặt khác du lịch được hiểu là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm giúp đỡ

việc thực hiện các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người, thông qua việc

tổ chức phục vụ vận chuyển, phục vụ lưu trú, phục vụ ăn uống, phục vụ hướng dẫn tham quan Tất cả những hoạt động nêu trên tạo nên ngành kinh doanh du lịch

Tuy nhiên, trong 4 khái trên thì khái niệm du lịch trong Luật Du lịch Việt Nam (2005)[25] sẽ chính thức được sử dụng trong nghiên cứu này vì đây là một khái niệm mang tính khái quát, bao hàm được cả hai khía cạnh cơ bản của du lịch là chuyến đi ngoài nơi cư trú với mục đích tham quan nghỉ dưỡng và các hoạt động

kinh doanh liên quan phù hợp với đặc điểm văn hóa của người Việt Nam

1.2.1.2 Năng lực cạnh tranh

Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quan điểm về cạnh tranh ở Việt Nam Đã có những thay đổi cơ bản từ cả khía cạnh kinh tế, xã hội và pháp lý Trong tiến trình đổi mới, pháp luật về cạnh tranh từng bước được xây dựng và hoàn thiện nhằm đáp ứng đòi hỏi của đời sống kinh tế - xã hội

Trang 26

Luật Cạnh tranh (2005)[26], đã cụ thể hóa các quan điểm về cạnh tranh và đưa ra một số giải thích thuật ngữ cạnh tranh như sau: Cạnh tranh có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau Từ góc độ kinh tế pháp lý, cạnh tranh được hiểu là

sự chạy đua giữa các thành viên cùng một thị trường nhằm mục đích lôi kéo khách hàng, gia tăng thị phần của một thị trường hàng hóa, dịch vụ cụ thể Cạnh tranh với tính chất là động lực nội tại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường Cạnh tranh không những là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế xã hội

Mặt khác Luật cạnh tranh (2005)[26]

, cũng đưa ra một số căn cứ để nhận dạng cạnh tranh như sau: Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào hoạt động kinh doanh, thị trường được chia thành hai hình thái: Cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết; Căn cứ vào cơ cấu thành viên thị trường và mức độ tập trung trong một lĩnh vực kinh doanh, thị trường được phân chia thành các hình thái: Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo (mức độ cao nhất là độc quyền); Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, các hành

vi cạnh tranh trên các hình thái, thị trường được phân chia thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

Chu Văn Cấp (2003)[2], “ cạnh tranh cũng là động lực nâng cao hiệu quả của mỗi nền kinh tế, ngược lại ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển Một cách chung nhất, cạnh tranh là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế của nền kinh tế thị trường, cùng theo đuổi mục đích tối đa hóa lợi ích Với người sản xuất, đó là lợi nhuận Còn đối với người tiêu dùng, đó là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”

Theo M.Porter (2008)[113], “cạnh tranh là tạo ra năng suất và năng suất là giá trị sản lượng do một đơn vị lao động hoặc vốn sinh ra, nó phụ thuộc vào chất lượng

và đặc điểm của sản phẩm” Có thể nói khả năng cạnh tranh và năng suất mới có thể đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế lâu dài Do đó, các nền kinh tế cần xây dựng và nuôi dưỡng môi trường kinh doanh kinh tế vi mô có tính cạnh tranh, cho phép các doanh nghiệp cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc giải phóng sức

Trang 27

cạnh tranh trong nội bộ Để có thể xây dựng và nuôi dưỡng môi trường kinh doanh kinh tế vi mô có tính cạnh tranh cần biết được một quốc gia/vùng lãnh thổ đang ở giai đoạn phát triển kinh tế nào với các ưu tiên chính sách khác nhau, cụ thể:

Giai đoạn đầu, nền kinh tế lấy điều kiện sẵn có làm động lực tạo ra giá trị nhờ khai thác tài nguyên và các điều kiện sẵn có do đó sẽ không đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững; giai đoạn trung gian, nền kinh tế sẽ dựa vào nguyên vật liệu đầu vào để tạo ra hàng hóa và dịch vụ có giá trị hơn; còn giai đoạn cuối cùng đó

là tạo ra giá trị độc đáo cho nhiều khách hàng, giúp cho năng suất cao hơn thông qua tổng hợp các yếu tố

Cách tiếp cận này xem xét các cụm ngành công nghiệp, có khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp có liên quan đến việc thực hiện của các doanh nghiệp khác và các yếu tố khác gắn liền với nhau trong chuỗi giá trị gia tăng, trong mối quan hệ khách hàng – khách hàng, hoặc trong một bối cảnh địa phương hoặc khu vực đã trở thành một công cụ quan trọng để phân tích năng lực cạnh tranh

Như vậy, khái niệm cạnh tranh được hiểu là cạnh tranh kinh tế xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, nó là động lực thúc đẩy các tổ chức không ngừng cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Tuy nhiên, có một định nghĩa chung nhất về năng lực cạnh tranh là cách định nghĩa kết hợp cả cấp độ doanh nghiệp, ngành và cấp độ quốc gia của OECD (2003)[106] là “khả năng của các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia hoặc khu vực tạo ra thu nhập tương đối cao hơn và mức độ sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn đối mặt với cạnh tranh quốc tế”

1.2.1.3 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

Một số nghiên cứu đã giới thiệu và áp dụng các khái niệm về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch (Ahmed và Krohn[35], 1990; Ritchie và Crouch, 1993[117]; Bordas, 1994[41]; Pearce, 1997[109]; Woodside và Carr, 1988[134]; Crouch và Ritchie,

1999[50]; Kozak và Rimmington, 1999[92]; Buhalis, 2000[45]; d' Harteserre, 2000[56];

Trang 28

Go và Govers, 2000[73]; Hassan, 2000[76]; Mihalic, 2000[97]; Thomas và Long,

2000[127]; Kozak, 2001[93])

Feurer và Chaharbaghi (1994, Tr 51)[69], năng lực cạnh tranh điểm đến cũng

có thể định nghĩa là “khả năng tạo ra các lợi thế cạnh tranh của một tổ chức bằng cách đáp ứng sự mong đợi của khách hàng, doanh nghiệp, người dân trong khi liên tục loại bỏ các mối đe dọa và khai thác các cơ hội phát sinh trong môi trường cạnh tranh” Theo đó năng lực cạnh tranh điểm đến đã được xem là “sản xuất nhiều hơn

và tốt hơn hàng hóa và dịch vụ chất lượng được bán trên thị trường cho người tiêu dùng”

Báo cáo năng lực cạnh tranh Thế giới WEF (1995, Tr.18)[131], năng lực cạnh tranh điểm đến định nghĩa là “khả năng của một quốc gia hoặc doanh nghiệp, tương ứng, tạo ra của cải nhiều hơn đối thủ cạnh tranh của mình trong thị trường thế giới”

Hassan (2000)[76], năng lực cạnh tranh điểm đến là “ khả năng của một điểm đến tạo ra và tích hợp các sản phẩm giá trị gia tăng để duy trì nguồn lực của mình trong khi duy trì vị trí thị trường tương đối so với đối thủ cạnh tranh”

điểm môi trường có thể được liên quan đến các thành phần du lịch tự nhiên và nhân tạo cũng như môi trường xã hội và văn hóa Khả năng cạnh tranh môi trường điểm đến có thể được tăng cường bằng những nỗ lực quản lý thích hợp và tăng lên thông qua các hoạt động marketing

Vì vậy, khái niệm của Feurer và Chaharbaghi (1994, Tr 51)[69]

bao trùm toàn

bộ các khái niệm nêu trên đó là khả năng của một điểm đến tạo các lợi thế cạnh tranh của một tổ chức bằng cách đáp ứng sự mong đợi của khách hàng, doanh nghiệp, người dân trong khi liên tục loại bỏ các mối đe dọa và khai thác các cơ hội phát sinh trong môi trường cạnh tranh

1.2.1.4 Năng lực cạnh tranh quốc gia

Theo khái niệm của M.Porter (1990, 1998, 2008)[115 ;112 ;113], “cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là khả năng của các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt

Trang 29

động giá trị gia tăng trong một ngành công nghiệp cụ thể trong một quốc gia cụ thể

để duy trì giá trị gia tăng trong thời gian dài”

Theo đánh giá năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF (1995)[131], khái niệm “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân đạt và duy trì mức tăng trưởng cao về kinh tế, thu nhập và việc làm” Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu GCR của Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF (2014)[130], phân tích năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia dựa vào quy mô nền kinh tế, nguồn nhân lực, nguồn vốn, nguồn công nghệ, cơ sở hạ tầng, mức độ cạnh tranh và độ mở của nền kinh tế, quản lý của chính phủ và quản trị doanh nghiệp

Ở cấp độ quốc gia, khái niệm “Năng lực cạnh tranh” (Competitiveness) có ý nghĩa là năng suất sản xuất quốc gia Năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào năng suất

sử dụng tài nguyên, nguồn lực con người và vốn của một quốc gia, bởi chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỉ suất lợi nhuận từ vốn

bỏ ra, tỉ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên tự nhiên,vv Năng lực cạnh tranh không phải là việc một quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực gì để thịnh vượng mà là quốc gia đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực Các quốc gia cạnh tranh trong việc tạo ra môi trường kinh doanh và đầu tư hiệu quả nhất, tức là mang lại năng suất cao nhất Như vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia/tỉnh và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp/ngành có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau

1.2.1.5 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam VCCI (2014)[23], năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp và thu hút vốn đầu tư FDI hướng tới mục tiêu cuối cùng là phát triển kinh tế và nâng cao mức sống người dân của tỉnh đó, có bốn đặc điểm:

Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất lượng công tác điều hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điều hành kinh tế tốt sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn điều hành kinh tế lý tưởng nhưng khó đạt được, do đó đối với từng chỉ tiêu, có thể xác định

Trang 30

được một tỉnh “ngôi sao” hoặc tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó,và về lý thuyết bất kỳ tỉnh nào cũng có thể đạt được điểm số PCI tuyệt đối là 100 điểm

Thứ hai, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu (các nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một tỉnh và gần như không thể thay đổi trong ngắn hạn như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy mô của thị trường và nguồn nhân lực), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI giúp xác định

và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh

Thứ ba, bằng cách so sánh đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết quả phát triển kinh tế, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng của các thực tiễn điều hành kinh tế tốt đối với thu hút đầu tư và tăng trưởng

Nghiên cứu chỉ ra được mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp và sự cải thiện phúc lợi của địa phương Mối liên hệ cuối cùng này đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy các chính sách và sáng kiến thân thiện với doanh nghiệp khuyến khích họ hoạt động theo hướng đem lại lợi ích cho

cả chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng thông qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cả nền kinh tế

Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI được thiết kế theo hướng dễ hành động, đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện Các chỉ tiêu này cũng rất thực chất vì được doanh nghiệp nhìn nhận là các chính sách then chốt đối với sự thành công của công việc kinh doanh

Như vậy, nghiên cứu này là nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch thuộc ngành dịch vụ trong nền kinh tế hỗn hợp Việt Nam theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà Nước được chia thành 3 ngành kinh tế chính đó là: Ngành công nghiệp; Ngành dịch vụ; Ngành nông nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau

1.2.1.6 Năng lực cạnh tranh du lịch

Du lịch được công nhận là một trong những lĩnh vực then chốt của sự phát triển trong tất cả các nước và là một trong những nguồn thu nhập chính tạo ra công ăn việc làm và của cải Nó cũng đóng một vai trò lớn trong việc thúc đẩy

Trang 31

nhận thức tầm quan trọng về hình ảnh của một quốc gia, của một vùng, miền, khu vực và địa phương tạo ra những thách thức trong việc đo lường năng lực cạnh tranh trong du lịch Sự tác động của năng lực cạnh tranh có thể thay đổi một cách nhanh chóng và năng động tạo ra thách thức nhu cầu nghiên cứu xác định các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh trong du lịch theo xu hướng kinh tế du lịch toàn cầu, bao gồm cả việc thay đổi xu hướng thị trường, hành vi đi lại, vai trò của truyền thông xã hội, sự phát triển các nhu cầu mới, tất cả làm tăng khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước và trên thị trường toàn cầu

Có rất nhiều khái niệm năng lực cạnh tranh du lịch nói chung Tuy nhiên vẫn còn không đồng đều về nội dung Tuy nhiên có một khái niệm thống nhất chung về năng lực cạnh tranh trong du lịch của Diễn đàn Thương mại Dịch vụ, cơ hội và thách thức cho các nước đang phát triển OECD (2013)[106]

“Năng lực cạnh tranh ở các cấp độ trong du lịch là năng lực cạnh tranh của một điểm đến có khả năng tối ưu hóa sức hấp dẫn của nó đối với du khách, người dân địa phương và doanh nghiệp để cung cấp chất lượng, đổi mới và sự hấp dẫn dịch vụ

du lịch cho người tiêu dùng để đạt được thị phần ở thị trường trong nước và trên toàn cầu, với điều kiện các nguồn lực sẵn có hỗ trợ du lịch được sử dụng có hiệu quả một cách bền vững”

1.2.1.7 Năng lực cạnh tranh ngành

M Porter (1980)[110], một ngành kinh tế được coi là có năng lực cạnh tranh khi các doanh nghiệp trong ngành và sản phẩm chủ đạo của ngành có năng lực cạnh tranh trên thị trường Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của một ngành kinh

tế bao gồm: Lợi thế so sánh của ngành, môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh của ngành, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành và năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ đặc thù của ngành được mô tả trong mô hình năm thế lực cạnh tranh hay năm lực lượng cạnh tranh bao gồm năm yếu tố đó là: Chiến lược doanh nghiệp; Cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh; Các điều kiện cạnh tranh; Các điều kiện cầu; Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan

Cùng với quá trình hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây, việc mở cửa khu vực dịch vụ đã tạo ra một sức ép lớn đối

Trang 32

với vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ Việt Nam Có thể nói, năng lực cạnh tranh của hầu hết các lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam hiện nay đang

ở mức thấp so với thế giới và thậm chí ngay cả so với các nước đang phát triển trong khu vực Điều này mang đến cho những khó khăn cho khu vực dịch vụ Việt Nam trên cả thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước Tuy nhiên, tiềm năng và

cơ hội phát triển còn đang ở phía trước, vấn đề đặt ra là cần những nghiên cứu đưa

ra các quyết định phù hợp để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ nói chung và năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch nói riêng

1.2.1.8 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Theo Porter (1990)[115], để phân tích năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp nghiệp cần tập trung vào năm lực lượng cạnh tranh đó là: Các đối thủ cạnh tranh hiện tại; Các đối thủ cạnh tranh tiềm năng; Các nhà cung cấp; Quyền thương lượng của nhà cung cấp; Quyền thương lượng của người mua Hill (1995)[78], chỉ rõ bản chất của lợi thế cạnh tranh là hướng tới mục tiêu lợi nhuận nhưng lại không giúp nhiều cho việc phân tích các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo cách đơn giản nhất có thể hiểu là “khả năng nắm vững thị phần nhất định với mức

độ hiệu quả chấp nhận được, vì vậy khi thị phần tăng lên cho thấy năng lực cạnh tranh được nâng cao” Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng bán được hàng nhanh, nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường cụ thể về một loại hàng cụ thể Quan điểm này có thể áp dụng đối với từng doanh nghiệp, cũng như đối với một ngành công nghiệp của một quốc gia trong cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới

và dịch vụ Mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người tiêu dùng phản ứng với các mức độ cao thấp khác nhau Việc phản ứng của người tiêu

Trang 33

Toàn cầu hóa, quản trị toàn cầu

Đặc điểm văn hóa, sử dụng nguồn tài nguyên, quy định kinh tế

Chính quyền khu vực, mạng lưới khu vực, hệ sinh thái

Chính quyền địa phương, khách du lịch, người lao động, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, chất lượng sống

Công nghệ, nhân khẩu

học…vv

Địa phương

Khu vực

Quốc gia

Toàn cầu

Global

dùng thông qua việc mua hay không mua sản phẩm đó là biểu hiện tổng quát cuối cùng về năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó Cạnh tranh giữa các sản phẩm trên một thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn của các sản phẩm đối với khách hàng trên cùng một thị trường cụ thể và trong một thời gian nhất định Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể gắn với một doanh nghiệp, một địa phương, một quốc gia cụ thể hoặc xét chung cho tất cả Đối với một doanh nghiệp hoặc một ngành, năng lực cạnh tranh gắn với mục tiêu thu được lợi nhuận được biểu hiện cụ thể bằng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm

1.2.1.10 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh toàn cầu với địa phương trong du lịch

Thông qua phần trình bày các khái niệm năng lực cạnh tranh ở các cấp độ từ

vĩ mô đến vi mô cho thấy chúng có mối quan hệ phụ thuộc và tương tác qua lại lẫn nhau với những nghiên cứu khác nhau thì năng lực cạnh tranh được hiểu khác nhau

có thể xem Alger (1988)[36]

, Milne và Ateljevic (2001)[99] đưa ra mô hình mối quan

hệ năng lực cạnh tranh toàn cầu với địa phương trong du lịch, được mô tả như sau:

Hình 1.1 Các mối quan hệ toàn cầu với địa phương trong du lịch, Alger (1988) [36] , Milne và Ateljevic (2001) [99]

Trang 34

Như vậy, việc nghiên cứu tổng hợp các khái niệm có liên quan như năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, quốc gia, cấp tỉnh, du lịch, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm ở trên nhằm mục đích tìm hiểu khái niệm về năng lực cạnh tranh ở các cấp độ trong các lĩnh vực cho thấy năng lực cạnh tranh là một khái niệm tương đối Vì vậy, khó có thể đưa ra khái niệm chính xác về năng lực cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch vì năng lực cạnh tranh ở các cấp độ trong các lĩnh vực có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và từ cách tiếp cận khác nhau đối với các nghiên cứu khác nhau cùng với nội hàm của chúng thì năng lực cạnh tranh cũng được hiểu một cách khác nhau, đặc biệt khái niệm về mối quan hệ toàn cầu – địa phương trong lĩnh vực du lịch được trình bày dưới dạng mô hình của tác giả Alger (1988) và các cộng sự Milne và Ateljevic (2001) để làm sáng tỏ hơn lý do tại sao nghiên cứu lại trình bày những khái niệm có liên quan để trả lời được câu hỏi nghiên cứu 1, ở phần mở đầu: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch trong khuôn khổ nghiên cứu này được hiểu là: “Năng lực cạnh tranh của một điểm đến có khả năng tối ưu hóa sức hấp dẫn của nó đối với du khách, người dân địa phương và doanh nghiệp để cung cấp chất lượng, đổi mới và sự hấp dẫn dịch vụ du lịch cho người tiêu dùng để đạt được thị phần ở thị trường trong nước và trên toàn cầu, trong khi đảm bảo rằng các nguồn lực sẵn có hỗ trợ du lịch được sử dụng có hiệu quả” Theo cách hiểu này, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch

có mối quan hệ và sự khác biệt so với năng lực cạnh tranh ở các cấp độ, cụ thể:

- Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh du lịch cấp tỉnh với năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm: Trong khuôn khổ nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh giữa các sản phẩm trên một thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn của các sản phẩm đối với khách hàng trên cùng một thị trường cụ thể và trong một thời gian nhất định Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể gắn với một doanh nghiệp, một địa phương, một quốc gia cụ thể hoặc xét chung cho tất cả Đối với một doanh nghiệp hoặc một ngành, năng lực cạnh tranh gắn với mục tiêu thu được lợi nhuận được biểu hiện cụ thể bằng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm Vì vậy, năng lực cạnh tranh du lịch cấp tỉnh với năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau

Trang 35

- Sự khác biệt giữa năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch với cấp vùng, cấp quốc gia: Trong khuôn khổ nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch được hiểu là năng lực cạnh tranh của một điểm đến mặt khác một vùng, một quốc gia cũng được coi là một điểm đến, tuy nhiên nếu so sánh cùng cấp độ giữa tỉnh với tỉnh, giữa vùng với vùng, giữa quốc gia với quốc gia

về cơ bản là giống nhau ngược lại sẽ là khác nhau

- Sự khác biệt giữa năng lực cạnh tranh cấp tỉnh với năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: Trong phạm vi nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp và thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài hướng tới mục tiêu cuối cùng là phát triển kinh tế và nâng cao mức sống người dân của tỉnh đó Xét trong môi trường du lịch, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cho phép hiểu rõ mức độ tạo lập môi trường chính sách và các điều kiện tự nhiên hình thành mức độ hấp dẫn về du lịch ở mỗi tỉnh đạt mức độ như thế nào và ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch của tỉnh đó ra sao Trong khi đó, điểm đến du lịch có thể bao gồm cả hệ thống du lịch, bao gồm nhiều điểm du lịch ở các tỉnh khác nhau

và có liên quan với nhau theo một tuyến du lịch Vì vậy, có thể nói sự khác biệt về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và năng lực cạnh tranh điểm đến nằm ở cách phân loại

đó là: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được xác định theo phạm vi hành chính, còn năng lực cạnh tranh điểm đến được xác định theo phạm vi hệ thống du lịch

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan

1.2.2.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam

về cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam đã xác lập

cơ sở khoa học và giải pháp cho phát triển du lịch bền vững dựa vào ba yếu tố là môi trường, kinh tế và xã hội đã góp phần tôn tạo, khai thác hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường du lịch, phát triển cộng đồng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Trang 36

Kết quả của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng để đảm bảo phát triển du lịch: Từ góc độ kinh tế cần phải xây dựng phát triển các sản phẩm du lịch, phát triển các thị trường du lịch, chính sách khai thác tài nguyên du lịch và môi trường, chính sách đầu tư phát triển du lịch, chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực, quảng cáo xúc tiến du lịch, ứng dụng khoa học công nghệ, chính sách đối với cộng đồng; Từ góc độ môi trường cần phải có cơ chế, chính sách và tổ chức quản lý tài nguyên du lịch; Từ góc độ xã hội cần phải đảm bảo quyền lợi cho cộng đồng, bình đẳng trong hoạt động kinh doanh và tăng cường vai trò của cộng đồng trong quá trình xây dựng quy hoạch phát triển du lịch

hội nhập kinh tế thế giới của bảy lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ Việt Nam, cho rằng thực tế rất khó có thể đưa ra những tiêu chí đánh giá được chính xác năng lực cạnh tranh của ngành, đặc biệt là ngành dịch vụ do còn có những quan niệm khác nhau

về năng lực cạnh tranh cũng như khó khăn trong việc xác định các số liệu liên quan Tuy nhiên, để đo lường năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ nói chung và lĩnh vực du lịch nói riêng một cách tương đối có một số tiêu chí thường gặp đó là: Tỷ suất lợi nhuận; Giá trị gia tăng; Hệ số tham gia vào thị trường quốc tế; Hệ số lợi thế

so sánh biểu hiện; Giá cả; Chất lượng sản phẩm dịch vụ

Kết quả cho thấy năng lực cạnh tranh của hầu hết các lĩnh vực dịch vụ Việt Nam đang ở mức thấp so với các nước trên thế giới và thậm chí ngay cả so với các nước đang phát triển trong khối ASEAN và khu vực Châu Á Thái Bình Dương Trong bảy lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ của Việt Nam chỉ có ba lĩnh vực vận tải, du lịch và y tế là có khả năng cạnh tranh và còn bốn lĩnh vực còn lại là ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông và giáo dục kém khả năng cạnh tranh Đồng thời cũng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ba lĩnh vực có khả năng cạnh tranh và các giải pháp nhằm từng bước phát triển bốn lĩnh vực còn lại bước đầu ở thị trường trong nước tiến đến có khả năng cạnh tranh ở thị trường quốc tế

tranh Việt Nam nhằm mục tiêu cung cấp đầu vào cho quá trình ra quyết định và lựa chọn chính sách của các nhà lãnh đạo Việt Nam trên ba khía cạnh: Một bộ dữ liệu

về các kết quả kinh tế, hoạt động của nền kinh tế cũng như các yếu tố nền tảng của

Trang 37

năng lực cạnh tranh Việt Nam; Một khung phân tích các số liệu và mối liên hệ tương quan giữa các yếu tố của năng lực cạnh tranh;

Kết quả đánh giá nền tảng năng lực cạnh tranh của Việt Nam cho thấy những

nỗ lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh thường mang tính phản ứng đối phó và không đủ để bắt kịp với yêu cầu của một nền kinh tế đang tăng trưởng thể hiện ở chiến lược mới giúp khai thác các lợi thế sẵn có để giúp Việt Nam tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, nhưng chưa xác định được tầm quan trọng của các yếu tố trong việc tạo dựng các lợi thế cạnh tranh mới một cách có hệ thống Như vậy, Việt Nam còn đang thiếu một cách tiếp cận chiến lược trong việc định hình các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh mà Việt Nam cần xây dựng là gì cũng như đề ra một lộ trình để thực hiện xây dựng và nâng cấp các yếu tố đó

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2005-2014)[23], xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - Province Competitiveness Index (PCI) phối hợp với Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa kỳ tổ chức đánh giá thường niên thông qua việc lấy phiếu đánh giá của các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh, thành đối với hoạt động của các cơ quan công quyền, đồng thời tiến hành so sánh, xếp hạng các tỉnh, thành phố trên cơ sở 10 chỉ số: Gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai; Tính minh bạch; Chi phí thời gian; Chi phí không chính thức; Tính năng động; Hỗ trợ doanh nghiệp; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý; Cạnh tranh bình đẳng

Kết quả cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài cũng sử dụng dữ liệu PCI như nguồn thông tin có giá trị cho việc xem xét, đưa ra quyết định đầu tư hoặc mở rộng đầu tư tại các địa phương và đang ngày càng trở nên hữu ích đối với cả doanh nghiệp và chính quyền các cấp vừa là thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh, mức độ cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của các địa phương nhưng quan trọng hơn đã giúp chính quyền địa phương dễ dàng nhận ra những điểm mạnh điểm yếu trong công tác điều hành để có những điều chỉnh và sửa đổi phù hợp

Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES) trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và một số đơn vị thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của

, xây dựng bộ chỉ số đo lường hiệu quả quản lý hành chính công cấp tỉnh (PAPI) bao

Trang 38

gồm 6 chỉ số: Sự tham của người dân ở cấp cơ sở; Công khai, minh bạch; Trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương; Kiểm soát tham nhũng; Thủ tục hành chính công; Dịch vụ công

Thông qua việc khảo sát dựa trên bộ phiếu hỏi về cảm nhận và trải nghiệm của người dân về hành chính và dịch vụ công, những phân tích và phát hiện của nghiên cứu về điểm mạnh và điểm yếu của từng tỉnh, thành phố, đồng thời tiến hành

so sánh, xếp hạng các tỉnh, thành phố, nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương có động lực nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính các cấp

Kết quả cho thấy chỉ số PAPI sẽ góp phần củng cố vai trò của người dân trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội cũng như đưa ra những đề xuất nhằm góp phần nâng cao tính hiệu quả bộ máy hành chính và dịch vụ công cấp tỉnh

1.2.2.2 Các nghiên cứu trên Thế giới

Getz (1986)[84], phát hiện 15 mô hình du lịch truyền thống trong đó có 7 mô hình lý thuyết du lịch, 4 mô hình quản lý và lập kế hoạch và 4 mô hình dự báo, cụ thể: Bảy mô hình lý thuyết (Theoretical Models) đó là: Toàn bộ hệ thống (Whole Systems) của Wolfe (1964), Leiper (1981), Van doom, Mathieson và Wall (1982); Không gian và thời gian (Spatial/Temporal) của Christhaller (1964), Plog (1972); Động lực và hành vi (Motivational/Behavioral) của Plog (1972), Clawson/Knetsch (1976), Pearce và Iso-Ahola (1982), Frigen (1984); Tác động chung (General impacts) của Council of Europe (1978); Diftield và Long (1981); Tác động kinh tế (Economic impacts) của Lundgren Duftield và Long (1973), Pearce (1981); Tác động văn hóa/xã hội (Social and cultural impacts) của White (1974), Doxey (1975), Smith (1977), Jafari, Kariel và Karief Knox (1982), Getz (1983); Sinh thái (Ecological) của Wall và Wright (1977), Pearce (1981)

Bốn mô hình quản lý và lập kế hoạch (Planning/management processes Models) đó là: Mô hình phát triển khu vực (Area Development) của Bargur và Arbel (1975), Arnott (1977), Lawson và Baud-Bovy (1978), Gunn (1979), Mill và Morrison (1985); Mô hình phát triển dự án (Project Development) của Kaiser và Helber (1978); Mô hình quản lý và Marketing (Management và Marketing) của Doswell và Gamble (1979); Mô hình kế hoạch như là một khái niệm (Planning as a Conceptual) của Mathews (1978) và Getz (1983)

Trang 39

Bốn mô hình dự báo (Forecasting Models) đó là: Mô hình tương tự kinh tế lượng (Electric Analogue Econometric) của Ellis Van Doren (1966); Mô hình cơ sở vật chất (Physical Based) của Parks Canada (1976); Mô hình chuỗi thời gian (Time Series) của Vander và Van Erden (1980);Mô hình kinh tế lượng (Econometric) của Loeb (1982)

Nghiên cứu đã tham khảo rất nhiều tài liệu ngoài nước liên quan đến năng lực cạnh tranh ở các cấp độ trong các lĩnh vực và đặc biệt là năng lực cạnh tranh trong du lịch như: ADB; IATA; IUCN; UNWTO; WTTC; UNCTAD; UNESCO; NGT; WEF_GCI_TTCI; OECD; Mill và Morrison; Crouch; M Porter; Choe và Roberts; Alain Dupeyras và Neil MacCallum…nội dung kế tiếp đề cập một số nghiên cứu năng lực cạnh tranh ở các cấp độ liên quan đến mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch như sau:

Tạp chí Địa lý Du lịch Quốc gia - National Geographic Travel NGT (2011)[104], xếp hạng bãi biển trên thế giới được thực hiện bởi 340 chuyên gia thuộc các lĩnh vực như bảo tồn lịch sử, nhà báo, nhà hoạt động môi trường, khảo cổ học, địa lý, maketing, nhà giáo, nhà tư vấn du lịch Mỗi chuyên gia chỉ đánh giá một điểm du lịch mà họ quen thuộc, hiểu rõ nhất, theo sáu tiêu chí: Chất lượng môi trường và hệ sinh thái; Sự nguyên vẹn của văn hóa; Tình trạng các công trình xây dựng; Lịch sử các khu vực khảo cổ học và tính thẩm mỹ; Chất lượng quản lý du lịch; Tầm nhìn cho tương lai

Kết quả bình chọn, Việt Nam rơi vào nhóm những bãi biển tệ nhất thế giới khi nhiều nhà hàng, khách sạn được xây dựng bất hợp lý ven các bãi biển là đúng Việt Nam, nên xem sự xếp hạng này như lời cảnh báo, nhắc nhở, giúp cảnh giác trước những thay đổi chưa được hợp lý trong phát triển du lịch dựa vào lợi thế biển Các bãi biển Việt Nam nói riêng và các tỉnh nói chung đều phát triển ồ ạt, mạnh ai người nấy xây và thiếu một tầm nhìn quy hoạch tổng thể

Paul Collier (2013)[108], nghiên cứu sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng (EITI) đánh giá năng lực quản trị tài nguyên tự nhiên dựa vào bốn tiêu chí với với thang điểm 100 tương ứng với bốn nhóm là Tốt; Tạm được; Yếu kém; Mất kiểm soát

Kết quả cho thấy Việt Nam có: Hệ thống pháp luật 63 điểm; Mức độ minh bạch thông tin đạt 39 điểm; Năng lực kiểm tra giám sát 31 điểm; Môi trường tổng thể 30 điểm Như vậy, Việt Nam có chỉ số thấp nhất trong nhóm các quốc gia yếu

Trang 40

kém về năng lực quản trị tài nguyên được xếp ở vị trí thứ 43|58 quốc gia, đứng cuối cùng trong nhóm các quốc gia yếu kém Những yếu tố này cho thấy từ hàng lang pháp lý đến thực tế quá xa và ứng dụng phương pháp nào giải bài toán nâng cao năng lực quản trị tài nguyên du lịch Việt Nam? Thực tế cho thấy, do năng lực có hạn, tầm nhìn hạn chế khai thác phần lớn là đơn lẻ mạnh ai nấy làm thiếu quy hoạch nên đa số các điểm, khu du lịch nhỏ hiện nay mới chỉ lấy đi được phần giàu nhất mà

bỏ đi toàn bộ các tài nguyên nhân văn đi cùng

Mill và Morrison (1992; 2007)[98], xây dựng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu trong du lịch, giả định một cách tiếp cận vĩ mô về du lịch, mối quan

hệ giữa các thành phần của nó tương ứng với chu kỳ tự nhiên, mô hình bao gồm 4 đại lượng cơ bản: Nhu cầu, bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường chú trọng vào hành vi người tiêu dùng, đặc biệt là các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến du lịch và các quá trình ra quyết định đi du lịch của họ; Marketing, tập trung vào chiến lược thông qua đó các nhà cung cấp dịch vụ du lịch lập kế hoạch, quảng bá và phân phối các sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng; Điểm đến, bao gồm các quy trình và thủ tục của các điểm đến đi đôi với sự phát triển bền vững

về du lịch; Du lịch, tập trung vào mức độ du lịch, phương thức lưu thông và phân

khúc thị trường Kết quả cho thấy mô hình này là một điểm đột phá tuyệt vời vào

thời điểm đó, không chỉ đơn thuần là để làm nổi bật những khoảng trống trong nghiên cứu, mà quan trọng hơn nghiên cứu này kết luận bằng cách gợi ý con đường nghiên cứu trong tương lai, có thể được sử dụng như một điểm tựa cho các nhà nghiên cứu, chính sách đưa ra quyết định ở cấp địa phương và như là một điều kiện tiên quyết để xây dựng bộ tiêu chí của địa phương về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

trong lĩnh vực du lịch

với cách tiếp cận ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, mô hình này xác định 36 thuộc tính của năng lực cạnh tranh được nhóm lại thành 5 yếu tố chính với mục tiêu phát triển một cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng và tác động của các thuộc tính hình thành năng lực cạnh tranh của các điểm đến du lịch dựa vào đánh giá của các chuyên gia, của nhà quản lý điểm đến và các nhà nghiên cứu du lịch Việc thu thập và tổng hợp các dữ liệu theo đánh giá của các chuyên gia được thực hiện bằng cách sử dụng một cổng mạng trực tuyến và sử dụng quy trình phân tích phân cấp (AHP)

Ngày đăng: 04/11/2018, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm