Theo các tác giả Goh, Nahak và Jones quá trình nghiên cứu và sản xuất ethanol từ rong biển được thực hiện theo ba bước chính, bước 1 xử lý rong biển sau thu hoạch, bước 2 thủy phân rong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Võ Thành Trung
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RONG LỤC VIỆT NAM VÀ LÊN MEN ETHANOL GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
sĩ cấp Trường họp tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Vào hồi 8 giờ 30, ngày 01 tháng 08 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường ĐHBK Hà Nội
2 Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
Tạp chí Khoa học và Công Nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 52 (5B) 597-604
3 Võ Thành Trung, Lê Như Hậu, Nguyễn Thanh Hằng (2015)
Selection of some yeast strains for ethanol fermentation from
hydrolysate solution of green seaweed Chaetomorpha linum Journal of Science and Technology - Viet Nam Academy of Science and Technology 53 (4C) 472-480
4 Võ Thành Trung, Lê Như Hậu, Nguyễn Thanh Hằng (2016)
Nghiên cứu điều kiện thủy phân rong Lục Chaetomorpha linum bằng enzyme và ứng dụng trong sản xuất bioethanol Tạp chí sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Vol
38 (2): 201-206
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận án này là kết quả nghiên cứu của tôi trong thời gian qua. Những kết quả và số liệu trình bày trong luận án là kết quả nghiên cứu của tôi, không sao chép bất kỳ nguồn nào khác, hoàn toàn trung thực và chưa được tác giả khác công bố. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả trình bày trong luận án này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Thay mặt tập thể hướng dẫn
Trang 5
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện công trình nghiên cứu tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ bảo chân tình của các thầy cô, bạn đồng nghiệp và các cơ quan.
Trước hết cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS. Nguyễn Thanh Hằng – Bộ môn Công nghệ Thực phẩm, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ Thực phẩm, Trường đại học Bách Khoa Hà Nội và TS. Lê Như Hậu phòng Vật liệu hữu cơ
từ Tài nguyên Biển, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang đã tận tình hướng dẫn và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản luận
án này.
Tôi xin cảm ơn tới các thầy cô giáo thuộc Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, Trường đại học Bách Khoa Hà Nội đã giúp đỡ và góp ý cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Nhân dịp này cho tôi gửi lời cảm ơn tới PGS. Bùi Minh Lý, Viện trưởng -Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn GS. Hee Chul Woo, Viện Công nghệ Sản xuất Sạch, Đại học Quốc gia Pukyong Hàn Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của giáo sư.
Tôi xin cảm ơn các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ là chủ tịch hội đồng, phản biện, thư
ký và ủy viên hội đồng đã dành thời gian quý báu để đọc tham gia hội đồng chấm luận án với những góp ý cụ thể, những gợi ý bổ ích, giúp tôi hoàn thiện tốt hơn các nội dung nghiên cứu của luận án.
Tôi cũng vô cùng cảm ơn sự khích lệ, động viên và giúp đỡ hết sức nhiệt tình của gia đình, bè bạn và đồng nghiệp đã dành cho tôi để tôi hoàn thành bản luận án nghiên cứu này.
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 RONG BIỂN 3
1.1.1 Phân loại rong biển 3
1.1.2 Thành phần hóa học của các loại rong biển 4
1.1.3 Rong lục 6
1.2 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ETHANOL TỪ RONG BIỂN 7
1.2.1 Tiềm năng rong biển để sản xuất ethanol 7
1.2.2 Quá trình xử lý sơ bộ nguyên liệu rong biển 9
1.2.3 Quá trình thủy phân rong biển 9
1.2.4 Quá trình lên men ethanol từ dịch thủy phân rong biển 17
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT ETHANOL TỪ NGUYÊN LIỆU RONG BIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 23
1.3.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ethanol từ nguyên liệu rong biển trên thế giới 23
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ethanol từ nguyên liệu rong biển ở Việt Nam 26
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 VẬT LIỆU 29
2.1.1 Rong lục 29
2.1.2 Chế phẩm Enzyme 29
2.1.3 Chế phẩm nấm men 29
2.2 P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.2.1 Các phương pháp phân tích 30
2.2.2 Phương pháp toán học 40
2.2.3 Thiết kế các nghiên cứu 42
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 LỰA CHỌN RONG LỤC VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC RONG LU ̣ C VIÊ ̣ T NAM 50
3.1.1 Lựa chọn các loài rong lục ở Việt Nam 50
Trang 73.1.2 Thành phần hóa học của các loài rong được chọn 52
3.1.3 Nghiên cứu biến động thành phần hóa học của rong Ch linum, Cl socialis theo chu kỳ sống 54
3.1.4 Thành phần các loại đường của rong Ch linum và Cl socialis 60
3.2 NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH THỦY PHÂN RONG CH LINUM 63
3.2.1 Nghiên cứu xử lý nguyên liệu rong Ch linum trước thủy phân 63
3.2.2 Nghiên cứu quá trình thủy phân rong Ch.linum bằng axit 64
3.2.3 Nghiên cứu quá trình thủy phân rong Ch linum bằng chế phẩm enzyme thương mại 73
3.3 NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH LÊN MEN ETHANOL TỪ DỊCH THỦY PHÂN RONG CH LINUM 86
3.3.1 Tuyển chọn chủng nấm men trên dịch thủy phân rong Ch.linum bằng axit 86
3.3.2 Tuyển chọn chủng nấm men trên dịch thủy phân rong Ch.linum bằng chế phẩm enzyme 87
3.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men của dịch thủy phân bằng axit và enzyme bởi chế phẩm nấm men Red Ethanol 89
3.3.4 Tối ưu hóa điều kiện lên men dịch thủy phân rong Ch.linum bằng axit bởi chế phẩm nấm men Red Ethanol 94
3.4 KHẢO SÁT QUÁ TRÌNH ĐƯỜNG HÓA VÀ LÊN MEN ĐỒNG THỜI (SSF) CỦA DỊCH RONG CH LINUM SAU TIỀN XỬ LÝ 100
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
4.1 KẾT LUẬN 103
4.2 KIẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 115
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. 1 Thành phần hóa học của rong biển 4
Bảng 1. 2 So sánh năng suất nuôi trồng của các nguồn sinh khối 7
Bảng 1. 3 Thành phần hóa học rong biển và đường tạo thành bởi thủy phân của các loài rong biển 10
Bảng 1. 4 Nấm men lên men ethanol từ sinh khối rong biển 20
Bảng 1. 5 Diện tích và sản lượng tại thời điểm khảo sát (2010) và dự kiến đến năm 2015 27
Bảng 3. 1 Lựa chọn các loài rong lục ở Việt Nam 50
Bảng 3. 2 Thành phần hóa học của các loài rong lục được chọn 52
Bảng 3. 3 Biến động sinh lượng rong lục trong một vụ trồng vào mùa thuận lợi 55
Bảng 3. 4 Năng suất thu hoạch của các đối tượng rong lục được nuôi trồng luân canh trong ao đầm tại miền Trung 55
Bảng 3. 5 Thành phần carbonhydrate của sinh khối rong Ch.linum 61
Bảng 3. 6 Thành phần các loại đường của rong Cl socialis 62
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của muối NaCl trong nguyên liệu đến quá trình thủy phân rong Ch linum 63
Bảng 3. 8 Ảnh hưởng của kích thước rong đến quá trình thủy phân rong Ch linum 64
Bảng 3. 9 Ảnh hưởng của tỷ lệ rong trong dung dịch đến thủy phân rong Ch linum 65
Bảng 3. 10 Khoảng xác định của các yếu tố trong tối ưu thủy phân bằng axit 68
Bảng 3. 11 Mức thí nghiệm của các yếu tố trong tối ưu thủy phân bằng axit 68
Bảng 3. 12 Ma trận thực nghiệm và kết quả 69
Bảng 3. 13 Kết quả tính bước chuyển động (∆j) của các yếu tố trong tối ưu thủy phân bằng axit 69
Bảng 3. 14 Tối ưu hóa điều kiện thủy phân rong theo Box-wilson 70
Bảng 3. 15 Thành phần và hàm lượng của các loại đường trong dịch thủy phân rong Ch linum bằng axit 71
Bảng 3. 16 Thành phần dịch thủy phân rong lục bằng axit 72
Bảng 3. 17 Ảnh hưởng của nồng độ axit đến quá trình tiền xử lý rong Ch.linum 73
Bảng 3. 18 Hoạt độ các loại enzyme trong chế phẩm enzyme ViscozymeL và Cellulase . 74 Bảng 3. 19 Khả năng thủy phân rong Ch.limum thành đường bởi các chế phẩm enzyme thương mại 75
Bảng 3. 20 Khoảng xác định của các yếu tố trong tối ưu thủy phân bằng enzyme 79
Bảng 3. 21 Mức thí nghiệm của các yếu tố trong tối ưu thủy phân bằng enzyme 79
Trang 9Bảng 3. 24 Tối ưu hóa điều kiện thủy phân rong Ch linum bằng enzyme 81 Bảng 3. 25 Thành phần và hàm lượng của các loại đường trong dịch thủy phân rong Ch linum bằng chế phẩm enzyme Viscozyme L 82 Bảng 3. 26 Thành phần dịch thủy phân rong Ch.linum bằng chế phẩm enzyme 84 Bảng 3. 27 Hiệu suất thủy phân rong Ch linum bằng axit và bằng chế phẩm enzyme
Viscozyme L 85
Bảng 3. 28 Lên men ethanol từ dịch thủy phân rong Ch.linum bằng axit bởi các chủng nấm
men khác nhau 86Bảng 3. 29 Hàm lượng ethanol và hiệu suất lên men của các chủng nấm men lên men từ
dịch thủy phân rong Ch linum bằng axit được xác định bằng HPLC 87 Bảng 3. 30 Lên men ethanol từ dịch thủy phân rong Ch.linum bằng chế phẩm enzyme bởi
các chủng nấm men khác nhau 88Bảng 3. 31 Hàm lượng ethanol và hiệu suất của các chủng nấm men lên men từ dịch thủy
phân rong Ch linum bằng chế phẩm enzyme được xác định bằng HPLC 88 Bảng 3. 32 Ảnh hưởng của nguồn nito đến quá trình lên men dịch thủy phân Ch linum 89
Bảng 3. 33 Khoảng xác định của các yếu tố trong lên men dich thủy phân bằng axit 94Bảng 3. 34 Mức thí nghiệm của các yếu tố trong lên men dịch thủy phân bằng axit 94Bảng 3. 35 Ma trận thực nghiệm và kết quả 95Bảng 3. 36 Kết quả tính bước chuyển động (∆j) của các yếu tố trong lên men dich thủy phân bằng axit 96
Bảng 3. 37 Tối ưu hóa điều kiện lên men dịch thủy phân rong Ch.linum bằng axit theo
Box-wilson 96Bảng 3. 38 Chuyển hóa đường và ethanol trong quá trình lên men từ dịch thủy phân rong
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Thành phần carbohydrate của rong đỏ, rong nâu, rong lục 5
Hình 3. 1 Biến động hàm lượng protein theo chu kỳ sống của hai loài rong lục 57
Hình 3. 2 Biến động hàm lượng tro theo chu kỳ sống của hai loài rong lục 58
Hình 3. 3 Biến động hàm lượng lipid theo chu kỳ sống của hai loài rong 58
Hình 3. 4 Biến động hàm lượng carbohydrate và tốc độ sinh trưởng theo chu kỳ sống của hai loại rong lục 59
Hình 3. 5 Sắc ký đồ thành phần các loại đường của rong Ch linum. 61
Hình 3. 6 Sắc ký đồ thành phần các loại đường của rong Cl socialis 61
Hình 3. 7 Ảnh hưởng nồng độ axit sunfuric đến quá trình thủy phân rong Ch.linum bằng axit 65
Hình 3. 8 Ảnh hưởng nhiệt độ đến quá trình thủy phân rong Ch.linum bằng axit sunfuric 66 Hình 3. 9 Động thái của quá trình thủy phân rong Ch.linum bằng axit 67
Hình 3. 10 Sắc ký đồ các loại đường và ethanol của chuẩn (B) và dịch thủy phân rong Ch linum bằng axit (A) 71
Hình 3. 11 Ảnh hưởng của nồng độ enzyme đến quá trình thủy phân rong Ch.linum bằng enzyme 76
Hình 3. 12 Ảnh hưởng của pH đến quá trình thủy phân rong Ch.linum bằng enzyme 77
Hình 3. 13 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình thủy phân rong Ch.linum bằng enzyme 78 Hình 3. 14 Động thái của quá trình thủy phân rong Ch.linum bằng enzyme 78
Hình 3. 15 Sắc ký đồ các loại đường và ethanol của chuẩn (B) và dịch thủy phân rong Ch linum bằng chế phẩm enzyme Viscozyme L (A) 82
Hình 3. 16 Sự biến đổi nito tổng số trong quá trình lên men 90
Hình 3. 17 Ảnh hưởng pH đến quá trình lên mendịch thủy phân rong Ch.linum 91
Hình 3. 18 Ảnh hưởng nhiệt độ đến quá trình lên men dịch thủy phân rong Ch.linum 92
Hình 3. 19 Động thái quá trình lên men dịch thủy phân rong Ch.linum 93
Trang 12MỞ ĐẦU
Khi nhu cầu năng lượng thế giới tiếp tục tăng và nguồn nhiên liệu hóa thạch đang giảm, nhiên liệu sinh học là giải pháp thay thế thích hợp. Ethanol là sản phẩm nhiên liệu được sử dụng phổ biến nhất và được nhiều quốc gia tập trung nghiên cứu. Ethanol thường được sản xuất từ tinh bột, đường mía và phụ phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên việc sử dụng các sản phẩm nông nghiệp làm nguồn nguyên liệu sản xuất ethanolcòn có hạn chế là chiếm một lượng lớn đất nông nghiệp, cũng như nguồn nước, thời gian và công chăm sóc, canh tác… Hơn thế nữa vấn đề này cũng đang đối mặt với những ý kiến chỉ trích cho rằng không thể sử dụng các sản phẩm nông nghiệp để sản xuất ethanol trong khi mỗi ngày trên thế giới có hàng triệu người chết đói vì thiếu lương thực.
Trước tình hình đó, hàng loạt các nghiên cứu nhằm tìm ra một nguồn nguyên liệu mới trong việc sản xuất cồn sinh học được đẩy mạnh. Trong đó rong biển là một lựa chọn thích hợp và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Rong biểncó sản lượng tự nhiên lớn, vòng đời sinh trưởng ngắn, dễ thu hoạch, giá thành rẻ và nuôi trồng thu được sinh khối lớn. Hàm lượng carbohydrate trong một số loài rong cao từ 40 - 79,4 %, rong có lignin thấp dễ thủy phân, thành phần đường chủ yếu là đường 6 carbon nên dễ dàng lên men tạo ethanol.
Việt Namcó bờ biển dài hơn 3200 km có chứa sinh khối rong biển rất lớn, trong đó rong lục là phổ biến nhất. Ước tính mỗi năm có khoảng 2 triệu tấn khô được tạo thành. Tuy nhiên nguồn sinh khối này vẫn chưa được sử dụng hợp lý, chỉ có số ít loài được nghiên cứu chế biến các sản phẩm sinh học, số còn lại tự phân hủy ngoài tự nhiên gây hiện tượng ô nhiễm. Vì vậy nghiên cứu sản xuất ethanol từ rong lục là một giải pháp thích hợp để tạo ra nhiên liệu sạch, giải quyết ô nhiễm môi trường và gia tăng lợi ích kinh tế cho người dân ven biển.
Để sản xuất được ethanol nhiên liệu từ rong lục, cần phải tiến hành các bước: lựa chọn đối tượng rong lục thích hợp, đảm bảo sinh khối ổn định bằng tiến hành nuôi trồng gia tăng sinh khối, sử dụng các kỹ thuật xử lý nguyên liệu, tìm các phương pháp thích hợp để đường hóa rong lục và lên men tạo ethanol. Về nghiên cứu sản xuất ethanol nhiên liệu từ rong lục tại Việt Nam hiện nay mới được đề cập tuy vậy vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu xác định các thông số công nghệ xử lý rong lục Việt Nam và lên men ethanol góp phần phát triển cồn nhiên liệu” để đưa ra được một cách hoàn chỉnh công nghệ lên men ethanol từ nguồn sinh khối rong lục.
Trang 13
Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu nguồn rong biển Việt Nam làm nguyên liệu sản xuất ethanol bằng phương pháp thân thiện môi trường là hướng nghiên cứu phù hợp với xu thế của thế giới nhằm thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch
Trang 14
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 RONG BIỂN
1.1.1 Phân loại rong biển
Tảo được chia thành hai nhóm chính là microalgae và macroalgae, microalgae được gọi là vi tảo hay tảo kích thước bé. Rong biển là macroalgae, được gọi là tảo kích thước lớn.
Rong biển là thực vật bậc thấp sống tự dưỡng bằng cách quang hợp, hình thái dạng tản. Quá trình phát triển của rong không qua giai đoạn phôi, có ba hình thức sinh sản: sinh sản dinh dưỡng, sinh sản vô tính bằng bào tử, sinh sản hữu tính bằng hình thức giao phối giữa phối tử đực và cái. Rong biển sinh trưởng phát triển nhanh, có vòng đời sinh trưởng không quá 1 năm, tốc độ tăng trọng nhanh và tạo ra sinh khối lớn. Rong biển chia thành ba ngành chính: rong lục, rong đỏ và rong nâu [12,17].
Ngành rong lục: Nét đặc trưng nhất của các loài là có màu lục, sản phẩm quang hợp là tinh bột. Về cấu tạo hình thái có nhiều dạng: dạng phiến, dang sợi, dạng ống. Rong lục có vỏ bằng chất pectin hoặc xenluloza. Trong chất nguyên sinh còn có những túi nhỏ chứa sản phấm của quá trình trao đổi chất. Thể sắc tố chủ yếu là chlorophyll và caroten, trong thể sắc
tố còn có các hạt tạo bột hình tròn nhỏ và chứa tinh thể protein ở giữa. Trong dịch bào, sản phẩm của quá trình trao đổi chất chủ yếu là đường, tanin, sunfat canxi và các chất có màu antoxyan [12,17].
Ngành rong nâu: Hình thái đơn giản là dạng phiến, dạng sợi và hình thái phức tạp là dạng cây có "gốc" "rễ" "thân" và "lá". Vỏ tế bào chia thành hai lớp, lớp trong là xelluloza, lớp ngoài là keo fucoidin hay fucin. Thể sắc tố gồm chlorophyll a, c; xanthophyll, caroten và fucoxanthyll - loại sắc tố có riêng trong rong nâu, có màu nâu, không tan trong nước. Sản phẩm đồng hóa là mannitol, laminarin, glucoza , đặc tính cùa rong nâu là có túi đường fucoidan chứa đường fucoza [12,17].
Ngành rong đỏ: Rong có dạng trụ tròn, dẹp, phiến, chia nhánh hoặc không. Vỏ tế bào gồm hai lớp, lớp trong là xenluloza, lớp ngoài là chất keo và pectin. Sắc tố của rong đỏ gồm
có : Sắc tố lục - chlorophyll, sắc tố vàng - xanthophyll, caroten, sắc tố đỏ - phycoerythrin, sắc
tố xanh lam - phycocyanin. Màu sắc của rong đỏ được quyết định bởi sự phối hợp và thành phần của các sắc tố trên, vì vậy rong đỏ thường có màu đỏ (thẫm đến nhạt), màu hồng, màu vàng lục nhạt, màu tím hay màu lam lục Sản phẩm quang hợp của tế bào rong đỏ là một loại đường đôi [12,17].
Trang 15
1.1.2 Thành phần hóa học của các loại rong biển
Rong biển có thành phần hóa học biến đổi theo từng ngành rong và được tác giả Kim miêu tả tóm lược trong bảng 1.1 [51]
Bảng 1 1 Thành phần hóa học của rong biển Thành phần
70-80 25-35 30-60 (Agar, Carrageenan) 7-15 1-5
79-90 30-50 30-50 (Alginate, Fucoidan) 7-15 2-5
Thành phần hóa học của rong biển có bốn thành phần chính tro, lipid, protein và carbohydrate. Sản xuất nhiên liệu sinh học chủ yếu sử dụng hai nguồn lipid và carbohyrate. Trong rong biển carbohydrate chiếm tỷ trọng cao 25-60% w thích hợp cho sản xuất nhiên liệu hơn so với lipid có hàm lượng 1-5 %w.
Ở bảng 1.1 cũng cho thấy, thành phần polysaccharide khác nhau giữa các ngành rong biển: rong nâu, lục, đỏ. Rong lục có thành phần polysaccharide như thực vật bậc cao, gồm tinh bột và cellulose. Rong nâu và rong đỏ có thành phần polysaccharide dưới dạng agar, carrageenan, alginate. Hàm lượng polysaccharide cao trong rong biển thì thích hợp để sản xuất ethanol sinh học.
Rong biển có thành phần carbohydrate đa dạng, điều này được ghi nhận trong báo cáo của Kim [51] và thể hiện trong hình 1.1
Trang 16Hình 1.1 Thành phần carbohydrate của rong đỏ, rong nâu, rong lục
Theo số liệu hình 1.1 cho thấy carbohydrate trong rong đỏ gồm: agar, carrageenan, xylane, mannan và một ít cellulose. Agar chiếm 50-70% trọng lượng khô là nguồn carbohydrate chính, agar và carrageenan thủy phân tạo thành galactose, xylane thành xylose, mannane thành mannose, và rất ít glucose từ cellulose, qua đó cho thấy hàm lượng glucose được tạo ra từ rong đỏ sau thủy phân là rất thấp, nên rong đỏ không phải là nguyên liệu thích hợp để sản xuất ethanol.
Trong rong nâu thành phần carbohydrate gồm alginate, fucoidan, laminaran, cellulose, hàm lượng alginate cao 30-40% trọng lượng khô, là nguồn carbohydrate chính trong rong nâu, và 5-6% cellulose, 7-10% fucoidan và laminaran. Alginate thủy phân thành D-mannuronic axit và M,D-glucuronic, fucoidan thủy phân thành L-fucose, galactose và ít mannitol, cellulose thủy phân thành glucose, laminaran thủy phân thành glucose, mannitol. Sản phẩm thủy phân cuối cùng của rong nâu có chứa nhiều loại đường và hàm lượng đường glucose thấp, do vậy việc sản xuất ethanol từ rong nâu không hiệu quả.
Carbohydrate trong rong lục gồm cellulose, tinh bột, xylane, ulvan, paramylon, trong
đó cellulose và tinh bột là 2 thành phần chính, cellulose và tinh bột khoảng 40-50%. Do vậy khi thủy phân rong lục sẽ thu được một lượng lớn glucose, ngoài ra glucose còn được thu
Trang 171.1.3 Rong lục
Theo các mô tả của hai tác giả Nguyễn Hữu Dinh, Phạm Hoàng Hộ,Tsutsuicho đến nay các nhà nghiên cứu đã tìm thấy trong ngành rong lục có trên dưới 360 chi và hơn 5700 loài,
phần lớn là sống trong nước ngọt, còn nước mặn chủ yếu là những chi sau đây:Monostroma, Enteromorpha, Ulva, Ulothrix, Rhizoclonium, Cladophora, Chaetomorpha, Cladophoropsỉs, Boergesenm, Valonia, Valoniopsis, Struvea, Boodlea, Microdyction, Caulerpa, Bryopsis, Codium, Acetabularia v.v [12,17, 92]
Nét đặc trưng nhất của các loài trong ngành là có màu lục, sản phẩm quang hợp là tinh bột. Hình dạng một tế bào hoặc nhiều tế bào có dạng phiến, dạng sợi, chia nhánh hoặc không; trừ một vài trường hợp rong chỉ là một tế bào trần không có vỏ, còn đại đa số đều có
vỏ cấu tạo pectin hoặc cellulose.
Nguyên sinh chất có thành mỏng, ngay sát thành là vỏ tế bào; ở giữa là một túi lớn chứa đầy dịch bào. Trong chất nguyên sinh còn có những túi nhỏ chứa sản phấm của quá trình trao đổi chất. Thành phần nguyên sinh chất: Thể sắc tố có nhiều dạng khác nhau: phiến, đai vành móng ngựa, sao nhiều cạnh, xoắn lò xo, mắt lưới, hạt nhỏ v.v ; sắc tố chủ yếu là chlorophyll
và carotenoid, trong thể sắc tố còn có các hạt tạo bột hình tròn nhỏ và chứa tinh thể protit ở giữa, hạt tạo bột khi gặp dung dịch KI dễ bắt màu, nên trở thành một trong những tiêu chuẩn phân loại. Nhân thường nằm ở giữa khoang túi dịch bào, hay sát bên thành lớp nguyên sinh,
thể nhiễm sắc hình que ngắn hay hạt nhỏ.Trong dịch bào, sản phẩm của quá trình trao đổi
chất chủ yếu là đường, tanin, sunfat canxi và các chất có màu antoxyan. Ở một vài loài, sản phẩm quang hợp không phải là tinh bột mà là những giọt giống như chất bơ.
Sinh sản bằng nhiều hình thức khác nhau. Sinh sản dinh dưỡng: một tế bào mẹ cắt thành hai tế bào mới; loại nhiều tế bào thì có thể một phần cơthề đứt ra rồi phát triển thành cây riêng khác. Sinh sản vô tính: tế bào dinh dưỡng phân chia thành nhiều bào tử, gặp điều kiện thuận lợi hình thành vỏ tế bào và phát triển thành cáthể mới. Sinh sản hữu tính bằng sự thụ tinh giữa phối tử đực với phối tử cái, phức tạp hơn là đã hình thành tinh tử và trứng gọi là noãn phối. Sự hiểu biết chi tiết về sinh sản sẽ là tiền đề tạo ra sinh khối bền vững cho phát triển nhiên liệu. [12,17, 92].
Rong Chaetomorpha linum (Ch.linum)
Hình dạng: Rong dạng sợi, hơi cứng, dai, dài 5-10cm hoặc hơn, không chia nhánh, có màu xanh lục, phần nổi trên mặt nước hơi vàng, sợi rong óng mượt như tơ. Khi về già màu
Trang 18xanh đậm hơn, sợi rong dày hơn, chiều ngang 100-150 µm, chiều dài các đốt không đều nhau, chiều dài bằng chiều ngang hoặc dài gấp 1,5 lần chiều ngang.
Tế bào dinh dưỡng khi hình thành túi bào tử phình rộng ra 160-170 µm, có thể sắc tố dạng lưới, nhiều hạt tạo bột.
1.2 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ETHANOL TỪ RONG BIỂN
1.2.1 Tiềm năng rong biển để sản xuất ethanol
Rong biển là nguồn sinh khối bền vững cho công nghiệp nhiên liệu xanh được thể hiện qua các ưu thế sau: đã tạo ra nguồn sinh khối vô tận cho tự nhiên, tốc độ tăng trọng nhanh, sinh khối rong biển chiếm ưu thế hơn so với các nguồn sinh khối khác, khả năng chuyển hóa thành các dạng năng lượng từ rong biển tốt hơn các sinh khối khác [34, 97]. So với các loại sinh khối trên cạn, sản lượng rong biển thu hoạch hàng năm gấp 3 so với sản lượng cây lương thực và 60 lần so với cây lấy gỗ. Thời gian thu hoạch liên tục nhiều lần trong năm (4-6 lần /năm). Rong biển dễ dàng canh tác nuôi trồng, sử dụng vùng biển rộng lớn, không sử dụng vật liệu khó khăn như: thuỷ lợi, phân bón, đất,….[51,78]
Bảng 1 2 So sánh năng suất nuôi trồng của các nguồn sinh khối
các loại củ
Gỗ mền và gỗ
Điều kiện nuôi trồng
Ánh sáng, CO2, thuỷ lợi, đất, phân bón
Ánh sáng, CO2, thuỷ lợi, đất, phân bón
Ánh sáng, CO2, nước biển
Trang 19Theo đánh giá của tác giả Bruton rong biển không phải là cây lương thực nên không ảnh hưởng an ninh lương thực, nguồn nguyên liệu không cạnh tranh đất trồng nông nghiệp, không cần sử dụng phân bón, không gây ô nhiễm môi trường, hấp thụ tốt CO2 và chất dinh dưỡng cải tạo môi trường, khả năng sinh trưởng phát triển tốt, có sinh khối lớn, chu kỳ nuôi trồng ngắn, nuôi trồng đạt năng suất cao, mang lại lợi nhuận cao cho người trồng rong, vì vậy rong là nguồn nguyên liệu lý tưởng để sản xuất bioethanol [33,78].
Theo các tác giả Phạm Văn Ty và cs tế bào thực vật trên cạn có thành phần chính gồm cellulose, hemicellulose, lignin; ba thành phần này liên kết chặt chẽ với nhau có sức bền cơ học cao, trong đó lignin là cơ sở tạo ra các mô gỗ của cây, việc phân hủy tế bào hóa gỗ là vô cùng phức tạp [18]. Do vậy nghiên cứu ứng dụng sản xuất nhiên liệu sinh học từ sinh khối gỗ gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi công nghệ cao. Trong khi đó theo báo cáo của Kim vi tảo và rong biển lại dễ bị phân hủy do chỉ chứa cellulose và các polysachrid hòa tan. Dưới tác động của nhiệt, enzyme, axit các nhóm polysacchrid này bị thủy phân thành các dạng đường đơn. Đây là nguồn cơ chất quan trọng cho vi sinh vật thực hiện quá trình lên men sản xuất nhiên liệu sinh học, điều này cho thấy sinh khối rong, tảo từ biển được sử dụng dễ dàng hơn so với sinh khối thực vật trên cạn [51].
Để sản xuất được nhiên liệu từ nguồn sinh khối thực vật trên cạn với quy mô công nghiệp thông thường sử dụng phương pháp kỹ thuật phức tạp trải qua nhiều công đoạn xử lý, những công nghệ này đòi hỏi đầu tư trang thiết bị hiện đại, vì vậy sẽ nâng giá thành sản phẩm lên cao [18]. Ngược lại công nghệ cho sản xuất nhiên liệu từ nguồn sinh khối biển đơn giản hơn. Các phương pháp xử lý nguyên liệu không yêu cầu kỹ thuật phức tạp, các công nghệ này đầu tư trang thiết bị ít tốn kém, hiệu suất ổn định, chất lượng tinh sạch cao.
Theo báo cáo của John Rojan và Nigam nhiên liệu sinh học sản xuất từ rong biển là một thay thế cho nhiên liệu hóa thạch. Các sản phẩm nhiên liệu từ sinh khối tảo thân thiện với môi trường và chất lượng ổn định. Vì vậy nhiên liệu sinh học từ rong biển đang được khuyến khích phát triển tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Các sản phẩm nhiên liệu sản xuất từ tảo: dầu thực vật, dầu diesel sinh học, ethanol sinh học, biogasoline, biomethanol, butanol sinh học và nhiên liệu khác [28,46, 68, 88].
Theo các tác giả Goh, Nahak và Jones quá trình nghiên cứu và sản xuất ethanol từ rong biển được thực hiện theo ba bước chính, bước 1 xử lý rong biển sau thu hoạch, bước 2 thủy phân rong biển đã được xử lý, bước 3 tiến hành lên men dịch thủy phân rong biển [67; 38; 47]
Trang 201.2.2 Quá trình xử lý sơ bộ nguyên liệu rong biển
Theo báo cáo của Bruton và Roesijadi hầu hết các dạng rong biển sau thu hoạch phải được tiền xử lý trước khi ứng dụng sản xuất nhiên liệu sinh học. Bước đầu tiên của tiền xử lý
là rong biển tươi sau thu hoạch được loại tạp, loại muối bằng cách tách mảnh vụn như đá, cát,
ốc hoặc rác rồi rửa với nước, sau đó rong được sấy khô đến độ ẩm 10-15%, lưu giữ, chuẩn bị cho quá trình thủy phân. Trước khi thủy phân rong được xử lý cơ học, xay nghiền bằng máy nghiền búa nhằm làm nhỏ kích thước rong (0,5-5mm) giúp cho quá trình thủy phân diễn ra
dễ dàng [33, 79].
1.2.3 Quá trình thủy phân rong biển
Sau khi tiền xử lý, rong biển được thủy phân, quá trình này chuyển hóa các dạng polysaccharide thành monosaccharid, làm nguyên liệu cho quá trình lên men. Rong biển được thủy phân bằng hai phương pháp, thủy phân bằng axit và thủy phân bằng enzyme.
Nghiên cứu của Jang cho thấy carbohydrate rong biển của cả ba loại rong (nâu, đỏ, và lục) được thủy phân một cách hiệu quả để tạo ra monosacarid bởi axit sunfuric loãng ở nhiệt
độ cao [45]. Bốn yếu tố quan trọng tác động đến quá trình trình thủy phân bằng axit sulfuric được xác định là (i) nhiệt độ phản ứng, (ii) thời gian phản ứng, (iii) nồng độ axit và (iv) khối lượng rong biển.
Nghiên cứu của Kim chứng minh hiệu quả của việc kết hợp tiền xử lý bằng axit sau đó thủy phân bằng enzyme trong quá trình đường hóa rong biển, tạo ra hàm lượng đường cao
0,566 g/g rong Gracilaria amansii và 0,376 g/g của rong Laminaria japonica [52]
Theo Wei N. thành phần hóa học của rong biển sau thủy phân được trình bày trong bảng 1.3 [96].
Trang 21Bảng 1 3 Thành phần hóa học rong biển và đường tạo thành bởi thủy phân của các loài
rong biển
Thành
phần loài
Ngành rong
Thành phần Poly -saccharide
Carbohydra
te tổng số (% w/w)
Đường dịch thủy phân (%
w/w)
Hiệu suất thủy phân (%)
Các loại đường dịch thủy phân
Glucose, Galactose
Glucose, Mannitol
Glucose
Ulva
Bảng 1.3 cho thấy kết quả thủy phân các loại rong biển có nhiều sự khác biệt, có hiệu suất thủy phân dao động 25-90%, kết quả thủy phân phụ thuộc vào thành phần đường của từng đối tượng rong biển.
1.2.3.1 Thủy phân bằng axit
Theo tổng quan của Wei N., dưới tác động của axit các polysaccharide của rong biển sẽ
bị cắt nhỏ thành các oligo hoặc monosaccharid. Các ion H+ của axit tác động trực tiếp đến polysaccharide tại các liên kết mắt xích nối các monosacchadid tạo ra các oligo hoặc monosaccharid. Quá trình thủy phân rong của axit tạo ra hỗn hợp dung dịch đường cần cho quá trình lên men ethanol [96].
Theo nghiên cứu của Kalpana rong Kappahycus alvarezii được thủy phân theo tỷ lệ 50
g rong/l với axit sunfuric 0,9N tương đương 5% v/v trong 1 giờ tại 100 oC [49], theo nghiên
cứu của Wang thủy phân rong Gracilaria salicornia trong điều kiện thủy phân bằng axit
Trang 22sunfuric 2%, trong 30 phút ở nhiệt độ 120 C, hiệu suất của quá trình thủy phân 4,3g
glucose/kg rong tươi [95], theo tác giả Karunakaran rong Eucheuma sp.và Hypnea sp. được
thủy phân bởi axit sunfuric 1% tại nhiệt độ 100 oC trong 3 giờ với nồng độ chất khô 20g/l, dung dịch đường sau thủy phân thu được dịch đường có nồng độ 11,1 g/l. Theo nghiên cứu Michul Yoon đã sử dụng kỹ thuật xử lý mẫu bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma đã mang lại hiệu quả tích cực cho công nghệ sản xuất cồn. Thành phần loài được sử dụng trong nghiên
cứu này là Undaria sp., đây là loài có sinh khối vô cùng lớn được nuôi trồng và khai thác tự
nhiên tại Hàn Quốc. Mẫu rong biển sau khi thu hoạch ngoài tự nhiên sẽ được xử lý với tia Gamma với liều chiếu 0, 10, 50, 100, 200 và 500 kGy, sau đó thủy phân trong axit sunfuric 1% w/v ở nhiệt độ 121 oC trong 3 giờ. Sau quá trình thủy phân hỗn hợp rong sẽ được trung hòa với CaCO3 rồi lên men với nấm men. Hàm lượng glucose thu được vào khoảng 72- 204g/kg đường tổng số [62].
Theo nghiên cứu của Mohammad loại gỗ mền cây Vân Sam theo tỷ lệ gỗ phối trộn 1/3 rồi thủy phân bằng axit sunfuric có nồng độ 10g/l ở nhiệt độ 228 oC trong 11 phút, sau đó lọc thu dịch đường. Tuy nhiên hỗn dịch này chứa 5,7g/l furfural và 7,3 g/l HMF (5-hydroxylmethyl furfural) làm cho quá trình lên men khó diễn ra [63]. Theo Lynd gỗ được xay nhỏ về kích thước 10 mm sau đó được thủy phân trong axit 75% v/v tại nhiệt độ 50 oC, rồi pha loãng nồng độ axit xuống 20-30% v/v và tiếp tục thủy phân trong 1 giờ để tạo ra hỗn hợp đường glucose và xylose và bã gỗ, sau đó thu hồi đường và tiếp tục thủy phân bã lần hai. Trong quá trình thủy phân này các loại đường tạo thành là 70% glucose và 30% xylose [57].Theo nghiên cứu của Pattana Laopaiboon bã mía được thủy phân bằng axit sunfuric3%v/v trong 2 giờ ở 120 oC để tạo ra dịch đường sử dụng cho lên men axit lactic [73].
Như vậy từ các nghiên cứu trên cho thấy, các sinh khối khác nhau điều kiện thủy phân khác nhau, với đối tượng rong biển thường được thủy phân bằng axit sunfuric có nồng độ 1-5%v/v, nhiệt độ 100 - 120 oC thời gian từ 1-3 giờ. Vì vậy trong nghiên cứu này để thủy phân được nguyên liệu rong lục chúng tôi khảo sát nồng độ axit sunfuric từ 1-4% v/v, nhiệt độ 90-
130 oC, thời gian 20-90 phút.
1.2.3.2 Thủy phân bằng enzyme
Hiện nay quá trình thủy phân sinh khối bằng enzyme được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, để thực hiện được quá trình này sinh khối cần được tiền xử lý rồi bố sung chế phẩm enzyme thực hiện đường hóa. Trong đó phương pháp tiền xử lý và đường hóa của mỗi loại sinh khối là khác nhau.
Trang 23Nhóm nghiên cứu đề tài Biomass do Phan Đình Tuấn trường đại học Bách Khoa TP.HCM phụ trách đã nghiên cứu công nghệ xử lý các phế phẩm trong sản xuất nông nghiệp như rơm, rạ, trấu nhằm sản xuất ethanol. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, quá trình thủy phân nguyên liệu theo phương pháp nổ hơi rồi thủy phân với enzyme cellulase ở nhiệt
độ 50 oC, pH 4.8 thu được 200g glucose từ 1 kg rơm rạ [19].
Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương đã tiến hành nghiên cứu tiền xử lý rơm rạ để nâng cao hiệu suất thủy phân bằng enzyme cho sản xuất etanol sinh học. Nguyên liệu được tiền xử lý NaOH 5% w/w rơm khô và gia nhiệt 100 oC trong 2 giờ, sau đó thu được 56% bã cellulose được thủy phân bằng tổ hợp enzyme (Cellic® CTec2 và Cellic® HTec tỷ lệ 4:1) với hoạt độ sử dụng 16,25 U/g. Thực hiện quá trình thủy phân trong 94,2 giờ, quá trình này thu được lượng đường khử (có hàm lượng glucose 33,3%; xylose 13,4%, galactose 4% và arabinose 1,3%) đạt 49,2% so với rơm rạ[15].
Cùng hướng sản xuất bioethanol từ bã thải nông nghiệp, nhóm nghiên cứu của tác giả
Vũ Nguyên Thành đã tiến hành đề tài: Nghiên cứu công nghệ và hệ thống thiết bị sản xuất cồn nhiên liệu từ phụ phẩm nông nghiệp (BIOMASS). Kết quả đề tài đã thu được một số kết quả khả quan về enzyme thủy phân hemicellulose, giống nấm men có khả năng lên men các loại đường từ quá trình thủy phân. Nguyên liệu mà tác giả nghiên cứu là bã mía đã được xay nhỏ về kích thước 6 mm, tiền xử lý với sunfuric 0,75%, nhiệt độ 121 oC trong 1 giờ và tiếp tục xử lý với NaOH 1,5% trong 1 giờ thu được 88,9% cellulose tương đương 55 g cellulose/100g bã mía. Sau đó cellulose vô định hình được đường hóa và lên men đồng thời ở nồng độ chất khô 15% [23].
Một nghiên cứu khác của tác giả Tô Kim Anh đã tiến hành đề tài: Nghiên cứu tạo enzyme tái tổ hợp thủy phânlignocelluloses phục vụ sản xuất cồn nhiên liệu. Nguyên liệu lignocelluloses sử dụng cho nghiên cứu này được thu nhận từ bã mía. Bã mía có kích thước < 5mm, độ ẩm 5%, cellulose 47%. Nguyên liệu được tiền xử lý NaOH 0,1g/1g bã mía, và gia nhiệt 121 oC trong 1 giờ, sau đó thu cellulose mang thủy phân bằng tổ hợp enzyme nồng độ 5Uendoglucanase, 10U CMCase exoglucanase, 30Ubetaglucosidasetheo tỷ lệ chất khô 1/15. Thực hiện quá trình thủy phân tại pH 4,8, nhiệt độ 50 oC trong 48h, khuấy 150v/phút. Kết thúc thủy phân sử dụng enzyme laccase với tỉ lệ 70 U/g bã mía phá hủy phenol. Kết quả nghiên cứu này thu được 330g glucose/kg bã mía, rồi lên men thu được 120 g ethanol/kg bã mía
Theo tác giả Nguyễn Minh Hải đã nghiên cứu tối ưu hóa tiền xử lý bã rong
Chaetomorpha sp. bằng sunfuric để sử dụng trong sản xuấtethanol sinh học. Trong nghiên
Trang 24trong NaOH 0,75% w/v, tỷ lệ rong 1/20, chiết ở 50 C trong 1 giờ sau đó ly tâm thu dịch nổi protein, phần bã được sấy khô sử dụng lên men ethanol. Bã được sấy về độ ẩm 4% sau đó bã rong được được phối trộn tỷ lệ 1/10 rồi xử lý với axit 1,75% w/v tại nhiệt độ 120 oC trong 34 phút, sau đó trung hòa với Ca(OH)2 lúc này hàm lượng đường thu được là 20,7 g/l rồi bổ sung enzyme Cellic Ctec2 nồng độ 20 FPU/g và Novozyme 188 nồng độ 4 CBU/g và nấm men tiến hành đường hóa và lên men đồng thời thu được hàm lượng cồn 1,94 % v/v [13]. Quá trình thủy phân sinh khối rong biển bằng enzyme như sinh khối lignocellulose gồm hai bước tiền xử lý và đường hóa. Tiền xử lý rong nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận của enzyme đến các liên kết của các polysaccharide. Quá trình tiền xử lý sinh khối rong biển phụ thuộc vào cấu trúc sinh học của mỗi loại rong. Quá trình tiền xử lý được sử dụng trong nghiên
cứu của tác giả Leilei và cs đã tiền xử lý bã rong nâu Laminaria japonica trong điều kiện axit
sufurid nồng độ 0,1 % w/v, 121 oC, thời gian 1 giờ [37]. Theo nghiên cứu của Isa và cs rong
lục Ulva sp. được tiền xử lý ở nhiệt độ 121 oC trong 20 phút [44], theo tác giả Nadja và cs
hủy cellulose, laminaran, caragenan, agar thành đường và các cấu thành khác [96]. Theo Kim
và cs nhóm phức hệ enzyme này tác động đặc hiệu đến các polysaccharide rong biển và cắt tại các vị trí đặc hiệu tạo ra các sản phẩm olygosaccharid và các monosaccharid (glucose, manose, lanimarin, rhamnose…). Đây là các loại đường đơn cần cho quá trình lên men ethanol của vi sinh vật [52]. Một số enzyme được sử dụng thủy phân rong biển như nghiên
cứu của Yanagisawa và cs sử dụng enzyme Meicelase do Nhật sản xuất từ Trichoderma viride, có hoạt tính cellulase là 73,3U/g và cellobiase 227 U/g, enzyme này thủy phân tinh bột, cellulose, cellobiose, beta glucan trong rong Ulva pertusa. Theo nghiên cứu của Nitin và
Trang 25phẩm Cellusoft L của hãng Novozyme; theo nghiên cứu của Vũ Nguyên Thành thủy phân rơm rạ bằng chế phẩm cellulast 1,5 L của hãng Novozyme; theo nghiên cứu của Samsuiri thủy phân rơm rạ bằng chế phẩm Meicellase của hãng Meijii, Seika; theo nghiên cứu của Geddes thủy phân rơm rạ bằng chế phẩm Biocellulase W của hãng Novozyme; theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Phương thủy phân rơm rạ bằng chế phẩm Cellic® CTec2 và
Cellic® HTec2 của hãng Novozyme; Nguyễn Minh Hải thủy phân bã rong Chaetomorpha sp.
sử dụng chế phẩm Cellic® CTec2 và Novozyme 188 [13]. Bản chất các chế phẩm này chứa các loại enzyme endoglucanse, exoglucanase, beta glucosidase, xylanase thủy phân cellulose,
hemicellulose, xylan. Trong nghiên cứu thủy phân rong Ch.linum, chúng tôi chọn chế phẩm
Viscozyme L của công ty Novozyme và Cellulase mã số C2605-50ml của công ty Sigma. Trong đó chế phẩm Cellulase chứa các loại enzyme tương tự như các chế phẩm nêu trên và Viscozyme L có chứa hệ enzyme rộng hơn như cellulase, glucanase, xylanase, glucoamylase, galactosidase.
1.2.3.3 Ảnh hưởng các yếu tố đến quá trình thủy phân
a Ảnh hưởng của nồng độ axit và nồng độ enzyme
Trong quá trình thủy phân rong biển bằng axit, hàm lượng axit bổ sung có vai trò rất quan trọng. Hàm lượng axit quá bé quá trình thủy phân cho hiệu suất thấp, thời gian thủy phân kéo dài, tiêu tốn nhiều nhiên liệu phục vụ cho thủy phân. Ngược hàm lượng axit lớn, thời gian thủy phân nhanh, hiệu suất thủy phân cao, nhưng mau hỏng thiết bị, tiêu tốn nhiều hóa chất trung hòa hoặc vận hành và thiết bị tách axit, ngoài ra còn tạo nhiều sản phẩm phụ ức chế quá trình lên men.
Các dạng axit sử dụng thủy phân sinh khối rong có tính oxi hóa mạnh (HCl, H2SO4, HCHO….) nhưng đa phần trong các nghiên cứu thủy phân sinh khối rong biển theo tổng quan của Wei. N thường sử dụng axit sunfuric [96]
Enzyme là sản phẩm sinh học có khả năng thủy phân các loại cơ chất mang tính đặc hiệu. Trong nghiên cứu này rong biển là nguồn cơ chất cần được thủy phân, các loại polysaccharide rong biển có tính đa dạng, thành phần polysaccharide gồm có agar, ulvan, agilnate, fucoidan, cellulose, tinh bột…. mỗi loại polyme chịu tác động trực tiếp của các enzyme như cellulase, beta-glucanase, glucosidase, alginatase, fucoidanase, ulvanase…trong
đó nồng độ các enzyme sử dụng thủy phân luôn luôn được nghiên cứu chi tiết. Nồng độ enzyme thủy phân cao quá trình thủy phân diễn ra nhanh và hiệu suất cao và ngược lại, nhưng
để quá trình thủy phân diễn ra hiệu quả cần phải bổ sung enzyme một cách hợp lý để tránh dư thừa gây lãng phí enyme. Nồng độ enzyme trong các nghiên cứu thủy phân rong biển thường
Trang 26b Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nguồn sinh khối rong biển chứa nhiều polysaccharide có cấu tạo phức tạp, vì vậy để chuyển hóa các polyme này thành phân tử đơn giản đòi hỏi cần xúc tác nhiệt trong quá trình thủy phân. Trong đó nhiệt độ thủy phân cao thời gian thủy phân ngắn, và ngược lại. Trong quá trình thủy phân rong biển, rong đỏ và rong nâu dễ bị thủy phân hơn rong lục, vì hàm lượng cellulose trong rong nâu và đỏ thấp hơn nhiều so với cellulose của rong lục. Trong
nghiên cứu của Wang nhiệt độ thủy phân rong đỏ Gracilaria salicornia là 121 oC trong 30
phút [95], và theo nghiên cứu của Minchul Yoon nhiệt độ thủy phân rong nâu Laminaria japonica là 121 oC trong 3 giờ [62] là thủy phân hoàn toàn. Nhưng đối với rong lục, theo nghiên cứu của Isa ở nhiệt độ 121 oC trong thời gian 20 phút chỉ mới tiền xử lý nguyên liệu cho thủy phân bằng enzyme, nghiên cứu của Nitin 2013 cũng chỉ ra ở nhiệt độ 121 oC trong
thời gian 1 giờ cho tiền xử lý rong Ulva fasiata, đối với rong Ch linum tiền xử lý ở nhiệt cao
180-200 oC trong 10 phút [65]. Vì vậy để thủy phân rong lục hiệu quả ở nhiệt độ thích hợp cần khảo sát hai yếu tố ảnh hưởng là nồng độ axit và thời gian thủy phân.
Trong thủy phân bằng enzyme nhiệt độ thủy phân đóng vai trò quan trọng, nếu thủy phân cơ chất trong điều kiện nhiệt độ thấp hiệu suất thủy phân kém, nguyên nhân các loại polysaccharide luôn có độ nhớt cao, tại nhiệt độ thấp độ nhớt tăng quá trình khuấy đảo khó, enzyme khó tiếp cận với cơ chất dẫn đến hoạt độ enzyme hoạt động không như mong muốn,
vì vậy cần có điều chỉnh nhiệt hợp lý để enzyme thuận lợi trong tiếp cận cơ chất và sử dụng các loại enzyme chịu nhiệt để có thể nâng cao hiệu suất thủy phân toàn diện. Nhưng cũng cần phải chú ý tránh nâng nhiệt độ quá cao sẽ gây ra hiện tượng phá hủy enzyme và lúc này cơ chất chịu tác động thủy phân bởi nhiệt chứ không phải enzyme gây ra hao phí enzyme, hao phí nhiệt mà hiệu suất lại không cao. Quá trình sử dụng nhiệt trong các nghiên cứu thủy phân
Trang 27Thời gian cũng góp phần quan trọng trong quá trình thủy phân, thời gian thủy phân ngắn khi điều kiện thủy phân có nồng độ axit cao và nhiệt độ cao, thời gian dài khi điều kiện thủy phân có nồng độ axit thấp và nhiệt độ thấp. Ba yếu tố này có quan hệ ràng buộc, thường trong nghiên cứu và sản xuất các tác giả thường cố rút ngắn thời gian thủy phân để tránh hao tốn nhiên liệu vận hành thiết bị, giảm thiểu tạo sản phẩm phụ và gây hỏng thiết bị. Theo các tác giả Wei N. và Wang thời gian thủy phân sinh khối rong biển bằng axit thường diễn ra 20-
60 phút. [96,95]
Thời gian thủy phân bằng enzyme kéo dài hơn thủy phân bằng axit vì enzyme tiếp xúc
cơ chất và cắt các liên kết một cách chậm rãi. Thời gian thủy phân sinh khối rong biển theo nghiên cứu của nhiều tác giả thường 30-48 giờ. Khoảng thời gian này là dài nên khả năng nhiễm tạp là rất cao, vì vậy khi thủy phân bằng enzyme cần phải thực hiện các thao tác chuẩn,
và tiến hành các khảo sát đường hóa lên men đồng thời để thu được các sản phẩm như mong muốn [60,62,98,75].
d Ảnh hưởng của nồng độ nguyên liệu
Khối lượng nguyên liệu bổ sung trong quá trình thủy phân có ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất thủy phân. Trong nghiên cứu thủy phân rong biển, nồng độ rong biển khi sử dụng cho thủy phân thường không cao vì các polysaccharide của rong biển có độ trương nở lớn ảnh
hưởng đến hoạt động của axit và enzyme. Theo nghiên cứu của Nitin nồng độ rong lục Ulva faciata sử dụng thủy phân là 50 g/lit [69]. Theo nghiên cứu của Nadja nồng độ rong lục Ch linum sử dụng thủy phân là 100 g/lit [65]. Theo nghiên cứu của Isa nồng độ rong lục Ch linum sử dụng thủy phân là 50 g/lit
e Ảnh hưởng của pH đến quá trình thủy phân
Trong thủy phân bằng axit pH phụ thuộc nhiều vào nồng độ axit bổ sung ban đầu vì vậy tất cả các đặc tính của yếu tố pH tương tự như của yếu tố nồng độ axit, còn đối với thủy phân bằng enzyme pH là yếu tố quan trọng quyết định đến thủy phân. Yếu tố này chịu ảnh hưởng của quá trình tiền xử lý và đệm bổ sung, hai quá trình này giúp ổn định pH trong quá trình
thủy phân. Theo nghiên cứu của Wang thủy phân rong Gracilaria salicornia bằng enzyme cellulase (MP Biomedicals, LLC) có pH 5.0 [95], theo Nitin thủy phân rong Ulva faciata
bằng enzyme Viscozyme L và Cellulase 22086 của Sigma có pH 4.8 [69], theo Nadja thủy
Trang 28Sinh khối rong đỏ Gracilaria salicornia được tiền xử lý trong axit sunfuric loãng 2% ở
nhiệt độ 120 oC trong 30 phút sau đó được đường hóa và lên men nhờ enzyme thủy phân và vi sinh vật [95].
Sinh khối rong nâu Laminaria japonica và Sargassum fulvellum được tiền xử lý trong
axit sunfuric 0,1-0,3 N ở nhiệt độ 120 oC trong 20 phút, sau đó được thủy phân trong các loại enzyme Celluclast 1.5L, Viscozyme L, Novoprime 959. [50]
Sinh khối rong lục có kết cấu vỏ tế bào bền vững hơn rong nâu và rong đỏ, nguyên nhân sản phẩm cellulose được tổng hợp từ rong lục cao hơn các loại rong khác, do vậy quá trình tiền xử lý cho thủy phân bằng enzyme phức tạp hơn.
Rong lục Ch linum được tiền xử lý bằng nhiều phương pháp như là xử lý ở nhiệt độ cao
180, 190, 200 oC trong 10 phút; phương pháp thứ hai rong Ch linum được gây nổ bởi áp suất
hơi (1,9 Mpa) ở nhiệt độ 200-210 oC trong 10 phút; phương pháp thứ ba rong xử lý với bước sóng plasma trong thời gian (20-60 phút), điều kiện bước sóng (ø: 7 cm, length: 2 cm) [65] Sinh khối rong lục chứa nhiều dạng polysacchrid ( cellulose, tinh bột, ulvan, agar…). Vì vậy quá trình thủy phân sinh khối rong lục bằng enzyme tương đối phức tạp. Một giống vi sinh vật thường chỉ có khả năng sinh một hoặc một vài loại enzyme thủy phân polysaccharide,
do vậy để có thể thu nhận enzyme đặc hiệu thủy phân sinh khối rong lục là điều rất khó. Cho nên phương pháp kết hợp dùng nhiều giống vi sinh vật sinh tổng hợp enzyme là điều kiện rất khả quan để thủy phân sinh khối này. Nhóm phức hệ enzyme này tác động đặc hiệu đến các polysaccharide bao gồm (celluose, hemicellulose, xylan, ulvan, agar, tinh bột), các polysaccharide này sẽ bị enzyme cắt tại các vị trí đặt hiệu tạo ra các sản phẩm olygosaccharid
và các monosaccharid (glucose, rhamnose, xylose, galactose). Đây là các loại đường đơn cần cho quá trình lên men ethanol của vi sinh vật.
Vì vậy cần tiến hành nghiên cứu để tìm ra điều kiện thủy phân thích hợp với từng đối tượng rong cụ thể.
1.2.4 Quá trình lên men ethanol từ dịch thủy phân rong biển
Quá trình lên men dịch thủy phân từ rong biển cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu,
theo nghiên cứu của Wang sản xuất cồn sinh học từ loài Gracilaria salicornia, dịch thủy phân được lên men với Escherichia coli, đây là loại vi khuẩn tái tổ hợp có khả năng lên men nguồn
cơ chất galactose, cho hiệu suất lên men 79,1g ethanol/kg rong khô [95].Một nghiên cứu khác
của Ge Le sản xuất cồn từ bã thải rong Laminaria japonica sau khi sản xuất aginate, bã thải được đường hóa rồi lên men bằng chủng Saccharose cerevisiae. Kết quả thu được sau thủy
phân 277,5 g glucose/kg bã thải khô và lên men thu được 122 g ethanol/ kg bã thãi. [37].
Theo nghiên cứu của Horn sản xuất ethanol từ hai loài rong Laminaria hyperborea và
Trang 29Ascophyllum nodosum, rong được thủy phân bằng enzyme sau đó lên men với hai chủng Zymobacter palmae, Pichia angophorae, kết quả lên men thu được 430g ethanol/kg đường
laminaran [41]. Theo nhóm nghiên cứu của tác giả Nag-Jong Kim thuộc trung tâm hóa học và
kỹ thuật sinh học phân tử đã tái tổ hợp gene mã hóa vào chủng E coli tạo ra chủng giống có tên khoa học E.coli K11 để tổng hợp ethanol từ nhiều loại đường glucose, mannose, galactose
và mannitol. Chủng vi sinh vật này đã được tiến hành lên men thử nghiệm với nguồn cơ chất
là hỗn hợp dung dịch đường được thủy phân bằng enzyme từ nguồn sinh khối của các loại
rong Ulva lactuca, Gelidium amansii, Laminaria japonica, và Sargassum fulvellum. Trong đó hiệu suất lên men sinh ethanol với nguồn cơ chất từ rong Laminaria japonica là cho hiệu suất
cao nhất, hàm lượng ethanol được xác định 400g ethanol/kg đường laminaran [66]. Ngoài ra,
theo nghiên cứu của Lee S.M. sử dụng dịch thủy phân rong Laminariajaponica chứa đường manitol, laminaran được lên men với bốn chủng vi sinh vật gồm: Enterobacter sp., Panotoea agglomerans, Eruinia tasmaniensis, Candida lasitancae. Trong đó chủng Candida lasitancae
Một nhóm nghiên cứu của phòng công nghệ sinh học thuộc trường cao đẳng
Vivekanandha, đã nghiên cứu sản xuất cồn từ rong Eucheuma sp và Hypnea sp. Mẫu rong được thủy phân bởi axit sunfuric sau đó lên men với nấm men Saccharomyces cerevisiae. Kết
quả sau lên men thu được 200 g ethanol/ kg rong [50].
Theo nghiên cứu của tác giả Kalpana, nghiên cứu sản xuất ethanol từ rong Kappahycus alvarezii Rong Kappahycus alvarezii sau khi được thủy phân với axit sunfuric được lên men với nấm men Saccharomyces cerevisiae (NCIM 3523), kết quả thu được 218 g ethanol/kg
rong[49]..
Theo nghiên cứu của Nadja đã tiến hành tiền xử lý rong Ch
linum ở nhiệt độ cao 190-200 oC, nổ hơi ở áp suất cao và chiếu plasma trong. Sau đó đường hóa và lên men đồng thời trong 200 giờ. Kết quả của nghiên cứu này đã thu được 180 g ethanol/kg rong khô [65]. Trong quá trình lên men rong biển và các sinh khối khác, các tác giả sử dụng các hướng nghiên cứu khác nhau gồm có lên men từ dịch thủy phân bằng axit, lên men dịch thủy phân bằng enzyme và quá trình đường hóa lên men đồng thời. Có sự khác nhau của quá trình
Trang 30để trong dịch có một lượng dinh dưỡng nhất định đủ đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm men trong giai đoạn ban đầu của quá trình lên men và sau đó quá trình đường hóa và lên men điễn ra đồng thời. Mỗi phương pháp lên men thích hợp với từng nguyên liệu khác nhau, trong đó nguyên liệu rong đỏ, rong nâu thường được đường hóa bằng axit rồi lên men [37,50,95], nguyên liệu rong lục và rơm rạ, bã mía, gỗ mền được đường hóa bằng enzyme rồi lên men hoặc đường hóa và lên men đồng thời [15,23,58, 98,65]. Như vậy có thể thấy các nguyên liệu giàu cellulose, các tác giả thường tiếp cận theo hai phương pháp đường hóa bằng enzyme rồi lên men hoặc đường hóa và lên men đồng thời.
1.2.4.1 Nấm men
Rong biển giàu carbohydrate nên được sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học. Theo nghiên cứu của Kim và Adam, quá trình thủy phân chuyển đổi carbohydrate của rong biển thành đường lên men giúp cho vi sinh vật dễ dàng sử dụng để sản xuất ethanol. Trong các
nhóm vi sinh vật sinh ethanol, nấm men Saccharomyces cerevisiae (S cerevisiae) vẫn là vi sinh vật có ứng dụng rộng rãi nhất. Nấm men S cerevisiae có thể lên men nhiều đường đơn như glucose, galactose, manose, đường đôi như sucrose, maltose S cerevisiae là một loại
nấm men sử dụng rộng rãi nhất trong quá trình lên men ethanol, đã được trình bày trong nhiều nghiên cứu trước đây cho sản xuất ethanol sinh học từ sinh khối rong biển [25,52]. Nghiên cứu của Adam sử dụng enzyme laminarinase để thủy phân laminaran trong rong
Saccharina latissima thành glucose, rồi lên men để sản xuất ethanol từ S cerevisiae[24].
kiện oxy thấp và sản xuất ethanol với hàm lượng 0,38g ethanol/g manitol [42]. Một nghiên
cứu khác phát hiện ra chủng Pichia angophorae có thể lên men ethanol đồng thời mannitol
và cả laminaran từ dich thủy phân rong nâu, hàm lượng ethanol tối đa là 0,43 g ethanol/g cơ
chất [42]. Theo nghiên cứu của Park, chủng Brettanomyces custersii đã được phát hiện là phù hợp cho quá trình lên men galactose hơn S cerevisiae. Nghiên cứu này cho thấy chủng Brettanomycescustersii KCTC 18154P đã lên men dịch thủy phân từ rong đỏ Gracilaria amansii, thành phần chính của dịch thủy phân là galactose và một số sản phẩm biến đổi từ
đường 5 carbon như 5 - hydroxymethyl -2- furaldehyde (5 HMF) và các axit hữu cơ, kết quả
Trang 31hoàn toàn và thu được 27,6 g ethanol/ 72,2 g cơ chất khi đường hóa lên men đồng thời [71]. Một trong những khó khăn khi lên men dịch thủy phân sinh khối rong lục là rất ít vi sinh vật có khả năng lên men rhamnose và arabinose, xylose (chiếm 20-30% lượng đường
dịch thủy phân rong lục). Các chủng nấm men S cerevisiae đều không có khả năng này. Chính vì những lý do đó, hiện nay có nhiều nhóm nghiên cứu đang tập trung vào cải thiện S cerevisiae theo hướng chuyển các gene để có thể lên men arabinose, rhamnose, xylose [40,
96].
Bảng 1 4 Nấm men lên men ethanol từ sinh khối rong biển
loài rong biển
Chaetomorpha linum
Glucose, galactose
[96]
[42]
amansii
Galactose, glucose
[71]
men kết hợp galactose và cellobiose
[32,39,56,70]
Trang 321.2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình lên men ethanol
a Ảnh hưởng của nhiệt độtới quá trình lên men ethanol
rong biển [86]. Trong nghiên cứu tác giả Nitin lên men dịch thủy phân rong lục Ulva faciata với nấm men S serevisiae ở nhiệt độ 28 oC [69], theo nghiên cứu của Wang dịch thủy phân
rong đỏ Gracilaria salicornia được lên men với nấm men S serevisiae ở nhiệt độ 30 oC [95],
tại nhiệt độ này tác giả Lee S.M. sử dụng lên men dịch thủy phân rong nâu Laminaria japonica với nấm men Candida tropicalis. Nghiên cứu của Nadja nhiệt độ lên men dịch thủy phân rong Ch linum là 32 oC với nấm men S serevisiae [65].
Giữa nhiệt độ và oxy có sự liên quan chặt chẽ với nhau. Nấm men thường sinh trưởng mạnh trong thời gian đầu, trong thời gian này có một lượng oxy hòa tan và nhiệt độ thích hợp là 25- 30 0C.
b Ảnh hưởng của pH tới quá trình lên men ethanol
pH có ảnh hưởng tới hoạt động của nấm men. Các ion H+ làm thay đổi điện tích các chất của vỏ tế bào nấm men, làm tăng hoặc giảm mức độ thẩm thấu của các chất dinh dưỡng cũng như chiều hướng của quá trình lên men. Trong điều kiện lên men rượu, nấm men
Saccharomyces có pH tối ưu để tạo ethanol nằm trong khoảng 4,5- 5,0. Với khoảng pH này,
nấm men sẽ sinh trưởng và phát triển mạnh. Nếu pH tăng sẽ làm tăng khả năng nhiễm tạp, tạo ra nhiều glyxerin do đó làm giảm hiệu suất lên men [10]. Theo nghiên cứu của Ge Lee và
cs lên men dịch thủy phân bã rong nâu Laminaria japonica sử dụng pH 4.8 [37]. Theo nghiên cứu của Nadja lên men dịch thủy phân rong Ch linum sử dụng pH 4.8 [65].
c Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất tới quá trình lên men ethanol
Trang 33sử dụng để nấm men sinh trưởng và phát triển chiếm 6% so với lượng đường có trong dung dịch; nếu nồng độ đường là 8,6% thì tổn thất do nấm men sinh trưởng và phát triển chiếm tới 9,84%. Mặt khác, lên men ở nồng độ thấp sẽ làm giảm năng suất của thiết
bị, tốn nhiều hơi khi chưng cất và làm tăng tỉ lệ tổn thất rượu trong bã hèm và nước thải [10,61,86]. Trong nghiên cứu lên men ethanol từ rong biển, nồng độ đường của dịch lên men phụ thuộc vào nồng độ chất khô sử dụng cho thủy phân. Các nghiên cứu cho thấy rong biển có tính trương nở nên khó nâng cao được nồng độ đường trong dịch lên men.
d Ảnh hưởng của nguồn nitơ tới quá trình lên men ethanol
Nitơ rất cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm men. Thông thường trong dịch thủy phân một số nguyên liệu như rơm rạ, bã mía có hàm lượng nitơ không đảm bảo cho phát triển của nấm men. Do vậy phải bổ sung nguồn nitơ từ ngoài vào dưới dạng (NH4)2SO4 hoặc (NH4)2CO để tăng cường khả năng sinh sản của tế bào nấm men [10,61,86].
e Ảnh hưởng của nồng độ nấm men tới quá trình lên men ethanol
Số lượng tế bào nấm men có trong dịch lên men càng thấp thì thời gian lên men sẽ kéo dài và dễ bị nhiễm khuẩn. Ngược lại, số lượng tế bào nấm men có trong dịch lên men cao thì thời gian lên men sẽ ngắn hạn chế được khả năng nhiễm khuẩn do sự áp đảo của nấm men. Tuy nhiên nếu lượng men giống quá cao sẽ gây ảnh hưởng không tốt tới quá trình lên men [10,23,61].
f Ảnh hưởng của chất sát trùng tới quá trình lên men ethanol
Quá trình lên men thường diễn ra trong một khoảng thời gian khá dài, khả năng bị nhiễm khuẩn rất cao. Chính vì vậy người ta thường bổ sung thêm chất sát trùng để ngăn ngừa
Trang 34Có thể dùng nhiều hóa chất để sát trùng như: tween, flousilicat natri, formalin…Ở các nhà máy rượu hiện nay thường sử dụng flousilicat natri để sát trùng với liều lượng 0,2
Tại Trung Quốc theo nghiên cứu của Wang sản xuất cồn sinh học từ loài Gracilaria salicornia. Sinh khối của loài Gracilaria salicornia được thủy phân trong điều kiện axit
sunfuric 2%, trong 30 phút ở nhiệt độ 120o C, hiệu suất của quá trình thủy phân 4,3 g
glucose/kg rong tươi. Ngoài ra sinh khối Gracilaria salicornia còn được thủy phân bằng
enzyme cellulase và có hiệu suất 13,8 g (glucose/kg rong tươi) cao hơn nhiều so với thủy
phân bằng axit loãng. Sau khi thủy phân dung dịch đường được lên men với Escherichia coli,
đây là loại vi khuẩn tái tổ hợp có khả năng lên men nguồn cơ chất galactose, cho hiệu suất lên men 79,1g ethanol/kg rong khô (100,2 ml ethanol/ kg rong khô) [95].
Theo nghiên cứu của Horn sản xuất ethanol từ hai loài rong Laminaria hyperborea và Ascophyllum nodosum, rong được tiền xử lý bằng axit sunfuric sau đó được thủy phân bằng enzyme β-(1-3)-glucanase, sau đó lên men với hai chủng Zymobacter palmae, Pichia angophorae. Điều kiện tiền xử lý bằng axit sunfuric với nồng độ 0,3%(w/v) trong thời gian 1
giờ và thủy phân bằng enzyme tại điều kiện (450 C, pH 4.8, 45h) và lên men ở 270C trong 72giờ. Hiệu suất lên men 0,43g ethanol/g cơ chất (0,54L/kg cơ chất) [41].
Hàn Quốc là đất nước có nền công nghệ sinh học phát triển. Vì vậy Hàn Quốc đã ứng dụng nhiều kỹ thuật mới và hiện đại vào sản xuất ethanol. Nhóm tác giả Michul Yoon đã sử
Trang 35cho công nghệ sản xuất cồn. Thành phần loài được sử dụng trong nghiên cứu này là Undaria sp., đây là loài có sinh khối vô cùng lớn được nuôi trồng và khai thác tự nhiên tại Hàn Quốc.
Mẫu rong biển sau khi thu hoạch ngoài tự nhiên sẽ được xử lý với tia Gamma với liều chiếu 0,
10, 50, 100, 200 và 500 kGy, sau đó thủy phân trong axit sunfuric 1%w/v tại 121 oC trong 3 giờ. Sau quá trình thủy phân hỗn hợp rong sẽ được trung hòa với CaCO3 rồi lên men với nấm men. Hàm lượng glucose thu được vào khoảng 72 -204g/kg đường tổng số [62].
Với sự phát triển của kỹ thuật gene, Hàn Quốc đã thành công trong công nghệ tái tổ hợp. Theo nhóm nghiên cứu của tác giả Nag-Jong Kim thuộc trung tâm hóa học và kỹ thuật sinh
học phân tử đã tái tổ hợp gene mã hóa vào chủng E coli tạo ra chủng giống có tên khoa học E.coli K11 để tổng hợp ethanol từ nhiều loại đường glucose, mannose, galactose, và mannitol.
Chủng vi sinh vật này đã được tiến hành lên men thử nghiệm với nguồn cơ chất là hỗn hợp
dung dịch đường được thủy phân bằng enzyme từ nguồn sinh khối của các loại rong Ulva lactuca, Gelidium amansii, Laminaria japonica, and Sargassum fulvellum. Trong đó hiệu suất lên men sinh ethanol với nguồn cơ chất từ rong Laminaria japonica là cho hiệu suất cao nhất,
hàm lượng ethanol được xác định 0,4g ethanol/g cơ chất (506 ml ethanol/ kg)[66].
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Lee sử dụng rong nâu Laminaria japonica cho sản xuất
ethanol, trong rong nâu chứa nhiều loại đường khác nhau, nhiều nhất là manitol, laminaran. Rong này sau khi thủy phân trong HCl 1-5% (w axit/w rong) ở 121oC tạo ra lượng đường
20g/l, sau đó lên men với bốn chủng vi sinh vật gồm: Enterobacter sp, Panotoea agglomerans, Eruinia tasmaniensis, Candida lasitancae. Trong đó chủng Candida lasitancae
lên men với đường manitol cho hiệu suất cồn cao nhất 2.59 g ethanol/l sau 96 giờ lên men. Ngoài ra alginate sau khi được thủy phân bằng enzyme alginatelyase cũng được lên men với
chủng Eruinia tasmaniensis, Candida lasitancae đạt hiệu suất 2,0 g/l[55].
Nhật Bản cũng sử dụng rong lục để nghiên cứu sản xuất ethanol. Theo tác giả Isa mẫu
rong được thu rãi rác tại Việt Nam, Thái Lan, Nhật bao gồm các chi Enteromorpha, Chaetomorpha, Cladophora, Caulerpa, Ulva rồi xác định hàm lượng carbohydrate tổng số, và hàm lượng glucose của từng loài. Sau khi khảo sát, nhóm tác giả đã chọn rong Ulva spp cho
sản xuất ethanol, các tác giả đã sử dụng tiền xử lý rong Ulva ở 120 oC trong 20 phút rồi bổ sung 1% v/w enzyme cellulase có tên thương mại Acremonium hoạt độ 322 FPU/g, nồng độ polysaccarid 5% w/v thủy phân trong 72 giờ ở 50 oC thu được 95% glucose = 4,7 g/ 100ml và
tiếp tục lên men với nấm men Saccharomyces cerevisiae IR-2 trong 32 giờ ở 30 oC thu được 2
g ethanol/100ml [44].
Trang 36Đầu năm 2011 nhóm nghiên cứu của Yanagisawa của viện khoa học kỹ thuật Tokyo
Nhật Bản đã đưa ra kỹ thuật sản xuất cồn từ rong Ulva pertusa (Kjellman). Quá trình thủy
phân các polysaccharide của các loại rong này được thực hiện theo tỷ lệ 75g khô/l rồi tiền xử
lý với nhiệt 0,1 M citric, 121oC trong 20 phút, sau đó rong được thủy phân bởi enzyme Meicelase là enzyme có cellulase 73,3 U/g và cellobiase 227 U/g của công ty (Avicel, Merck, Germany) liều dùng thủy phân 20g rong/g enzyme trong 120 giờ pH=5.5, nhiệt độ 50 oC Kết quả thủy phân thu được 43g glucose/l rồi lên men với Saccharomyces cerevisiae IAM 4178
thu được 18.5 g/l [98].
Trong những năm gần đây Ấn Độ đặc biệt chú trọng đến việc phát triển nhiên liệu sinh học từ nguồn sinh khối thực vật nhằm giải quyết vấn đề nhiên liệu cho quốc gia. Các nguồn sinh khối đã được nhà nước Ấn Độ chú trọng phát triển bao gồm cây Jatropha, các cây họ dầu
cọ, sắn, mía đường và cả rong biển. Tuy nguồn sinh khối rong biển ứng dụng trong sản xuất ethanol vừa mới được nghiên cứu ứng dụng nhưng cũng đã thu được một số kết quả bước đầu. Một nhóm nghiên cứu thuộc phòng công nghệ sinh học thuộc trường cao đẳng Vivekanandha,
đã nghiên cứu sản xuất cồn từ rong Eucheuma sp và Hypnea sp Mẫu rong được thủy phân
bởi axit sunfuric 1% tại nhiệt độ 100oC trong 3 giờ theo nồng độ chất khô 20g/l, dung dịch đường sau thủy phân sẽ được trung hòa bằng BaCO3 sau đó lên men với nấm men Saccharomyces cerevisiae. Kết quả sau lên men cho thấy 1 gram rong sẽ tạo thành 200mg
ethanol [50].
Theo nghiên cứu của tác giả Kalpana, nghiên cứu sản xuất ethanol từ rong Kappahycus alvarezii. Đây là loài rong đỏ được nuôi trồng phổ biến có sinh khối lớn, có hàm lượng carbohydrate cao với thành phần chính là polysaccharide carrageenan. Rong Kappahycus
20 FPU/g và 2 g/l nấm men đã chuẩn bị trước rồi lên men trong 200 giờ. Kết quả của nghiên cứu này đã thu được 15-18 g ethanol/100 g rong khô [65].
Trên thế giới nhiều quốc gia đang tập trung nghiên cứu sản xuất ethanol từ nguồn sinh khối rong biển, số lượng các dự án nghiên cứu ngày một gia tăng và quy mô ngày một lớn.
Trang 37để nuôi trồng rong biển sản xuất bioethanol [78].
Dự án Biomara, phối hợp giữa Hiệp hội Khoa học Biển Scotland và Liên minh châu Âu với sự điều hành của 2 chính phủ Ailen và Scotland, với mục tiêu sản xuất nhiên liệu sinh học thế hệ thứ ba từ sinh khố itảo. Đã đầu tư 8 triệu USD vào năm 2009, để đánh giá tiềm năng rong biển và chọn dòng microalgae để sản xuất quy mô công nghiệp [78].
Tại Na Uy, dự án sản xuất ethanol và các sản phẩm lipids, proteins, iodine từ rong biển theo quỹ tài trợ của BAL’s R&D bắt đầu từ cuối năm 2010.
Tại Chile, dự án sản xuất ethanol từ rong biển của Chile giữa Bio-Architecture Lab (BAL) với Công ty dầu khí ENAP và trường Đại học Los Angeles. Đã đầu tư 5 triệu USD từ năm 2010 để sản xuất 165 triệu lít ethanol vào năm 2012.
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ethanol từ nguyên liệu rong biển ở Việt Nam Việt Nam vấn đề nghiên sản xuất nhiên liệu sinh học từ sinh khối tảo là hướng phát triển mới. Hiện tại đã có một số phòng thí nghiệm tiến hành nghiên cứu nhiên liệu sinh học từ tảo. Phòng nghiên cứu tảo của Viện Công nghệ Sinh học nghiên cứu diesel sinh học được sản xuất từ sinh khối vi tảo biển của Việt Nam. Vi tảo được tác giả sử dụng cho nghiên cứu là
Schizochytrium mangrovei PQ6 [2,1].
Theo Hoàng Kim Anh bước đầu đã khảo sát được thành phần hóa học rong
Chaetomorpha sp. đồng bằng sông Cửu Long và định hướng sử dụng protein sản xuất thức
ăn chăn nuôi và sử dụng bã thải nghiên cứu sản xuất ethanol [3].
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu đánh giá tiềm năng rong biển Việt Nam
sử dụng làm nguyên liệu sản xuất ethanol nhiên liệu” của tác giả Lê Như Hậu, nguồn sinh khối rong lục được thống kê như sau:
Trang 38Bảng 1 5 Diện tích và sản lượng tại thời điểm khảo sát (2010) và dự kiến đến năm 2015
Loài
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn khô) Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn khô)
là nhóm Chaetomorpha, Cladophora, Enteromorpha có năng suất thu hoạch 18-27
tấn/ha/năm. Diện tích nuôi các đối tượng rong lục có thể sử dụng bất kỳ nguồn nước ngập mặn ven biển như các ao hoang, đầm ngập mặn, ao xử lý nước, kênh dẫn nước, đặc biệt có thể phát triển tốt vùng ngập mặn đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng ven biển sông Hồng, các vùng ven và cửa biển các tỉnh miền trung. Theo bảng 1.5, thành phần polysaccharid của rong lục chủ yếu là các sản phẩm quang hợp như tinh bột và cellulose nên khi thủy phân tạo
ra đường glucose dễ lên men ethanol. Sự phân bố rộng và thích nghi nhiều loại môi trường và thành phần hóa học dễ lên men chỉ ra rong lục là nguyên liệu thích hợp cho nghiên cứu sản xuất ethanol.
Trong khi đó nguyên liệu rong đỏ ở Việt Nam có rong Kappaphycus đã được nuôi trồng
nhưng chỉ phát triển tốt tại các vùng Nam Trung Bộ năng suất thu hoạch đạt 12 tấn/ha và giá thành nguyên liệu này cao 20.000-25.000 VNĐ/ kg nên không thích hợp cho sản xuất ethanol
chỉ thích hợp cho sản xuất carragenan. Rong đỏ Gracilaria mặc dù có thể phát triển nhiều nơi
từ Nam Trung Bộ ra đến Vịnh Bắc Bộ nhưng khả năng sinh trưởng chậm hơn rong lục năng
suất thu hoạch thấp 15 tấn/ha/năm và rong Gracilaria là nguyên liệu chính cho sản xuất agar.
Theo Trần Thị Thanh Vân rong đỏ có thành phần polysacharid chính là agar và carragenan [22]. Sản phẩm thủy phân là galactose lên men được ethanol nhưng chậm hơn so với glucose. Giá thành nguyên liệu cao, năng suất thấp, thời gian lên men kéo dài, rong đỏ gặp nhiều hạn chế trong sản xuất ethanol hơn rong lục.
Nguyên liệu rong nâu ở nước ta mô hình nuôi trồng vẫn chưa được triển khai, nên nguyên liệu này chủ yếu khai thác tự nhiên và đối tượng khai thác chính là rong mơ
Sargassum, vùng biển khai thác nguyên liệu này chủ yếu một số tỉnh Nam Trung bộ, năng
Trang 39xuất khai thác nhỏ lẻ, giá thành cao 12.000-15.000 VNĐ/kg. Theo Trần Thị Thanh Vân thành phần polysaccharid chủ yếu là alginate 70-80% tạo ra sản phẩm thủy phân là axit gluronic và manuronic [21]. Hai loại đường rất khó lên men ethanol, nên rong nâu thích hợp là nguyên liệu cho sản xuất alginat, thực phẩm chức năng hơn là nguyên liệu cho sản xuất ethanol. Như vậy, rong lục có nguồn sinh khối dồi dào, có thành phần hóa học thích hợp cho sản xuất ethanol, không cạnh tranh lương thực và chất đốt, vì vậy rong lục là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho sản xuất nhiên liệu sinh học. Để cung ứng nhu cầu nhiên liệu, Quyết định 177/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/11/2007 đã ký thực hiện chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011-2015 về Đề án phát triển NLSH đến năm
2015, tầm nhìn đến năm 2025. Xuất phát từ những phân tích trên, cho thấy rằng cần đưa ra được công nghệ sản xuất ethanol từ nguồn nguyên liệu rong biển phong phú của Việt nam nhằm góp phần tăng nguồn nhiên liệu sinh học thay thế nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt, chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu xác định các thông số công nghệ
xử lý rong lục Việt Nam và lên men ethanol góp phần phát triển cồn nhiên liệu”
Trang 40
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 VẬT LIỆU
2.1.1 Rong lục
Rong lục được thu ở các tỉnh ven biển Thanh Hóa, Thái Bình, Ninh Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bến Tre, Cà Mau trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2013, sau đó được định danh và lưu giữ mẫu tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang.
Rong Chaetomorpha linum, Chi Chaetomorpha, Ngành Chlorophyta, Lớp
Ulvophyceae, Bộ Cladophorales, Họ Cladophoraceae. Rong được sấy khô đến độ ẩm 13% sử dụng cho nghiên cứu.
Chế phẩm Thermosacc Active Dry Yeats hãng sản xuất Lallemand là nấm men Saccharomyces cerevisiae, một loại nấm men khô được sử dụng trong sản xuất ethanol từ
nguồn nguyên liệu tinh bột và nguyên liệu giàu cellulose. Số lượng tế bào ≥ 2.5 ×1010 tế bào/g.Điều kiện hoạt động thích hợp ở pH =4.5-5 có thể chịu pH 3.5, nhiệt độ 27-32oC và có thể chịu được nhiệt độ lên đến 40oC
Chế phẩm Red Ethanol là nấm men Saccharomyces cerevisiae của hãng Fermentis,
Pháp được sử dụng trong sản xuất ethanol từ nguồn nguyên liệu tinh bột và nguyên liệu giàu