1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

88 217 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 607,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM tại Việt Nam hiện nay đã có những bước tiến quan trọng, tạo khung pháp lý cho hoạt động xử lý nợ xấu được thực hiện ngày càng h

Trang 1

NGUYỄN VÂN ANH

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MINH HẰNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn.

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy, cô, cán bộ, nhân viên trong Phòng đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa pháp luật kinh tế và cán bộ, nhân viên thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ.

Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Nguyễn Minh Hằng, người đã

tận tình hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình.

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn

ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sĩ này.

Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Vân Anh

Trang 3

tài liệu, số liệu trong luận văn là khách quan, trung thực Những kết quả, những đánh giá trong luận văn chưa được ai công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào.

Hà Nội ngày 25 tháng 7 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Vân Anh

Trang 4

AMC Asset Management Company (Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản

trực thuộc ngân hàng thương mại)

DATC Debt and Asset Trading Corporation (Công ty trách nhiệm hữu hạn

một thành viên Mua bán nợ Việt Nam)

NHTM Ngân hàng thương mại

TCTD Tổ chức tín dụng

VAMC Vietnam Asset Management Company (Công ty quản lý tài sản của các

Tổ chức tín dụng Việt Nam)

Trang 5

Bảng 2.1 Tiêu chí phân loại nợ theo hướng dẫn của WB

Bảng 2.2 Tình hình nợ xấu tại Agribank giai đoạn 2013 – 2015

Bảng 2.3 Tỷ trọng nợ xấu tại Agribank giai đoạn 2013 – 2015

Bảng 2.4 Tình hình nợ xấu tại địa bàn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh giai đoạn

2013 – 2015

Bảng 2.5 Nợ xấu bán cho VAMC của Agribank giai đoạn 2013 – 2015

Bảng 2.6 Hoạt động mua và thu hồi nợ của VAMC giai đoạn 2013 – 2015

Bảng 2.7 Nợ xấu được xử lý tại Agribank giai đoạn 2013 – 2015

Biểu đồ 2.1 Số lượng các doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngừng hoạt động giai

đoạn 2013 – 2015

Trang 6

LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG

1.1 Tổng quan về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của

1.3 Khái quát về thi hành pháp luật xử lý nợ xấu trong hoạt động cho

1.3.2 Thi hành pháp luật ở lĩnh vực xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ

2.1 Thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của

2.1.2 Quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ 372.1.3 Quy định về trích lập dự phòng rủi ro 38

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông

2.2.1 Tình hình nợ xấu trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giai đoạn 2013 – 2015 502.2.2 Thực tiễn áp dụng quy định về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 55

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ

NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG NÔNG

Trang 7

3.2.1 Hoàn thiện các quy chế nội bộ về phòng ngừa và xử lý nợ xấu 693.2.2 Nâng cao nguồn nhân lực về xử lý nợ xấu 74

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đem lại cho chúng ta nhiều cơ hội phát triển nhưng mặt khác cũng khiến nền kinh tế quốc gia nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng phải đối mặt với nhiều thách thức Đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, áp lực tăng trưởng tín dụng bền vững hay giải quyết, xử lý nợ xấu triệt để Những vấn đề này đè nặng lên vai các NHTfM và cả nền kinh tế, trong đó đặc biệt nổi cộm là vấn đề xử lý nợ xấu

Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” đã định hướng và mục tiêu quan trọng trong cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, đó là: Tập trung xử lý nợ xấu của các NHTM để sớm làm sạch bảng cân đối của NHTM; phấn đấu đạt tỷ lệ nợ xấu của các NHTM dưới 3% Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ, Ngân hàng nhà nước và hệ thống NHTM đã thực hiện hàng loạt những biện pháp để đẩy mạnh xử lý nợ xấu Đây được coi là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Nhiều hội thảo đã được tổ chức, tập trung bàn luận những vấn đề như: thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam; nguyên nhân gây ra nợ xấu; những biện pháp tháo gỡ,

cơ chế xử lý nợ và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới Việc xử lý

nợ xấu đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, đến lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng Pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM tại Việt Nam hiện nay đã có những bước tiến quan trọng, tạo khung pháp lý cho hoạt động xử lý nợ xấu được thực hiện ngày càng hiệu quả Tuy vậy, các quy định vẫn còn những vấn đề cần phải hoàn thiện

Trang 9

Nằm trong hệ thống NHTM Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức

và đặc biệt là xử lý nợ xấu còn tồn đọng, hệ quả của một giai đoạn tăng trưởng “nóng” Dù đã có những chuyển biến tích cực, khả quan nhưng hoạt động tín dụng ngân hàng vẫn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ nợ xấu là không thể tránh khỏi

Xuất phát từ những lý do trên, học viên quyết định lựa chọn đề tài

“Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”, đưa ra cái

nhìn tổng quát về pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, từ đó đánh giá những ưu điểm, hạn chế và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học, sách báo, tạp chí nghiên cứu các nội dung về nợ xấu và thực tiễn áp dụng tại các NHTM ở Việt Nam

Ở mỗi công trình, tác giả lại có cách tiếp cận khác nhau Ví dụ như: Quản trị

nợ xấu trong ngân hàng thương mại – thực trạng và giải pháp trong Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế

của tác giả Lê Thị Phương Thảo, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội

(2011); Pháp luật về nợ xấu trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương

mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông,

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Quang Huy, Trường Đại học Luật

Hà Nội (2015); Vấn đề nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam và

giải pháp xử lý, Bài viết của TS Trịnh Quang Anh, Tập đoàn đầu tư và phát

triển Việt Nam (2012); Nợ xấu ngân hàng dưới khía cạnh pháp lý, bài viết

của tác giả Lê Thị Thu Thủy, Đỗ Minh Tuấn, Tạp chí dân chủ và pháp luật (số 11/2015), hay trực tiếp liên quan đến nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp

Trang 10

và phát triển Nông thôn Việt Nam như Luận án Tiến sĩ Quản lý nợ xấu của

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam của tác giả

Nguyễn Thị Thu Cúc, Học viện tài chính (2015) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ nghiên cứu, khảo sát, bình luận và đưa ra giải pháp về quản trị nợ xấu, chưa đi sâu vào vấn đề xử lý nợ xấu ở các NHTM đặc biệt dưới góc độ pháp lý

Vấn đề xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM cũng có

những công trình nghiên cứu sát với đề tài như: Xử lý nợ xấu trong hoạt động

cho vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Thị Phương, Trường Đại học Luật Hà Nội (2013) Công trình khoa học trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận khá đầy

đủ xung quanh các nội dung về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, thực tiễn thi hành tại các NHTM hiện nay

đã có nhiều chuyển biến, đồng thời pháp luật đã có những điều chỉnh lớn mang tầm vĩ mô Do vậy, với đề tài của mình, học viên mong muốn cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện về pháp luật xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của các NHTM cả về lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM và việc thực thi các quy định này trên thực tế

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào hai khía cạnh sau:

Thứ nhất, về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về

nợ xấu và xử lý nợ xấu của NHTM, cơ chế điều chỉnh của pháp luật về xử lý

nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM

Thứ hai, về mặt thực tiễn, luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng

pháp luật và đặc biệt đánh giá hoạt động áp dụng pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Trang 11

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ nhưng vấn đề lý luận về

nợ xấu và xử lý nợ xấu, thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này Đồng thời qua việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam để đưa ra những nhận xét, đánh giá

về những quy định của pháp luật hiện hành Từ đó, tổng hợp các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu và nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

- Nợ xấu là gì? Xử lý nợ xấu là gì? Những nội dung chính của pháp luật

về xử lý nợ xấu?

- Thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam? Những phương pháp nào đang được sử dụng và hiệu quả của các phương pháp này ra sao?

- Các giải pháp nào Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cần thực hiện để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu?

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Luận văn được triển khai thực hiện trên cơ sở sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học xã hội và nhân văn như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp khảo sát, thống kê; phương pháp diễn dịch, quy nạp… Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc đánh giá khái quát, rút ra kết luận về từng vấn đề trong phạm vi nghiên cứu Các phương pháp khảo sát, thống kê được sử dụng để làm rõ các vấn đề thực tiễn về xử lý nợ xấu, từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ xấu

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn mang những ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn sau đây:

Trang 12

Thứ nhất, về phương diện lý luận, luận văn hệ thống hóa và tổng kết

những lý luận cơ bản về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM

Thứ hai, về phương diện thực tiễn, từ việc phân tích tình hình áp dụng

pháp luật, luận văn chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về

xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM Qua đó, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nói riêng và các NHTM nói chung

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho

vay của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho

vay của ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu trong hoạt

động cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Trang 13

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT

XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

1.1.1 Tổng quan về nợ xấu

“Nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động kinh doanh” 1 Điều đó cho thấy rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hàng hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Đây đã trở thành một vấn đề quan trọng trong quản trị kinh doanh ngân hàng Vì vậy, nợ xấu được nhắc đến gần như được mặc định là nợ xấu của NHTM Nhưng thực tế, nợ xấu có thể phát sinh đối với bất kỳ chủ thể nào trong nền kinh tế, đặc biệt là những chủ thể kinh doanh Vậy nợ xấu là gì, đặc điểm của nó như thế nào, vì sao lại phát sinh nợ xấu và tác động đối với NHTM cũng như nền kinh tế ra sao?

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nợ xấu

a Khái niệm nợ xấu

Nợ xấu trong Tiếng Anh được nhắc đến với thuật ngữ “bad debt” hay

“non-performing loan”, “doubtful debt” Thông thường, nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và/hoặc bị nghi ngờ về khả năng trả

nợ Tuy nhiên chưa có một cách hiểu thống nhất về nợ xấu

- Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ

90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được

1 P Volker, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)

Trang 14

tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ.2 Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ

- Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS): trong các hướng dẫn về thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, cơ quan này xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ dù ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày 3 Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản vay đã quá hạn 90 ngày và/hoặc có dấu hiệu người vay không trả được nợ

- Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) thường đề cập đến các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì thuật ngữ nợ xấu Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (đoạn 58-70) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây

ra Về cơ bản IAS chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận

thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn

Từ những khái niệm trên, có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi nó xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu: (i) quá hạn trả nợ gốc và lãi, (ii) khách hàng bị coi là không có khả năng trả nợ hay khả năng trả nợ nghi ngờ Đồng thời, cũng nhận thấy rằng, những khái niệm được đề cập chủ yếu hướng tới nợ xấu trong hoạt động của các ngân hàng

2 IMF (2006), IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicatof

3 Basel (2002), Basel Committee on Banking Supervision.

Trang 15

Ở Việt Nam, nợ xấu được quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi

ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Nợ xấu ở đây được khẳng định là nợ xấu phát sinh từ hoạt động cho vay của NHTM Theo đó, nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 Việc phân loại nợ vào các nhóm 3, 4, 5 dựa trên 2 phương pháp định tính và định lượng Và về cơ bản cũng dựa trên 2 dấu hiệu được nhắc đến, đó là: các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và khách hàng khó có khả năng trả nợ

b Đặc điểm của nợ xấu

Thứ nhất, trong hoạt động ngân hàng, nợ xấu là những khoản nợ dưới

chuẩn Theo quan điểm chung của nhiều quốc gia trên thế giới, nợ dưới chuẩn được hiểu là nợ đã quá hạn trên 90 ngày và khách hàng vay không có những dấu hiệu để nghi ngờ về khả năng trả nợ thì vẫn chưa được xếp vào nhóm “nợ xấu” trong hoạt động cho vay của ngân hàng

Thứ hai, nợ xấu là những khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ về khả

năng trả nợ của người vay, như: người vay bỏ trốn, tẩu tán tài sản, người vay thua lỗ dẫn đến nguy cơ phá sản; người vay chấm dứt sự tồn tại trong khi tài sản còn lại không đủ thanh toán nợ Đôi khi sự chậm trễ không có lý do trong việc cung cấp các báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận hoặc chậm trễ trong việc liên lạc với nhân viên tín dụng cũng được xem là dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ của con nợ Ngoài ra, những yếu tố khác như những bất thường về tình hình tài chính, những động thái của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hoạt động kinh doanh, sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức, quản lý điều hành của doanh nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp

c Phân loại nợ xấu

Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các NHTM xem xét danh mục cho vay và đưa khoản vay vào những nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm

Trang 16

tương đồng của khoản vay Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các ngân hàng có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và trong trường hợp cần thiết sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh.

Dựa trên mức độ quá hạn và khả năng thu hồi của các khoản nợ, nợ được phân loại vào các mức khác nhau: nợ tiêu chuẩn, nợ cần theo dõi, nợ dưới chuẩn, nợ đáng ngờ và nợ mất vốn Trong đó, nợ dưới chuẩn, nợ đáng ngờ và nợ mất vốn được xếp vào nợ xấu

Nợ dưới chuẩn là những khoản nợ quá hạn từ 90 – 180 ngày, có những nhược điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ

Nợ đáng ngờ là những khỏa nợ quá hạn từ 180 – 360 ngày, có khả năng thất thoát do không chắc thu hồi được toàn bộ khoản nợ

Nợ mất vốn là những khoản nợ quá hạn trên 360 ngày và không còn khả năng thu hồi được

1.1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu

a Nguyên nhân chủ quan

Các nguyên nhân chủ quan được hiểu là những nguyên nhân từ chính mỗi ngân hàng, bắt nguồn từ hai yêu tố chính là năng lực và đạo đức

Thứ nhất, sự yếu kém trong năng lực của ngân hàng được coi là nguyên nhân chính dẫn đến nợ xấu phát sinh ngoài kiểm soát

Một là, hệ thống thông tin tín dụng của hệ thống ngân hàng chưa đầy

đủ, thiếu tính hệ thống khiến cho việc đánh giá, xếp hạng khách hàng trong thời gian qua được thực hiện chưa chính xác, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt

ra Theo số liệu thống kê của các ngân hàng lớn trên thế giới, việc triển khai

hệ thống giám sát tín dụng và hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả có thể giúp phát hiện sớm khả năng không trả được nợ vay của khách hàng trước thời điểm xảy ra vỡ nợ thực sự (trước khoảng 6 tháng) Số liệu thống kê cũng chỉ

ra rằng các ngân hàng phát triển tốt hệ thống giám sát tín dụng có thể giảm thiểu khoảng 60% tổn thất, trong khi mức trung bình ước tính khi không có hệ thống giám sát hiệu quả là khoảng 20%.4 Tuy nhiên, thông tin tín dụng hiện

Trang 17

nay chủ yếu từ Trung tâm thông tin tín dụng (CIC), thông tin nội bộ của ngân hàng và một số nguồn thông tin khác Ở các nguồn thông tin này hầu hết chỉ bao gồm thông tin về các chủ thể đã từng có hoạt động tín dụng tại các ngân hàng Thế nhưng theo một cuộc điều tra, ở Việt Nam chỉ có 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa (doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 97% tổng số doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam) có giao dịch tín dụng với ngân hàng.5 Con số này so với số khách hàng mới tiềm năng còn quá ít ỏi Chính vì vậy, những thông tin tín dụng được cung cấp không thể đầy đủ, đảm bảo cho sự đánh giá chính xác và ngăn ngừa rủi ro

Hai là, chính sách tín dụng chưa hiệu quả cũng như quy trình nội bộ

chưa đảm bảo cũng là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Đối mặt với nhu cầu tăng trưởng tín dụng đồng thời với việc giảm nợ xấu, mỗi ngân hàng đều phải xây dựng cho mình một hệ thống chính sách, quy trình nội bộ chặt chẽ trong các khâu cấp tín dụng để đảm bảo chất lượng tín dụng cũng như ngăn ngừa nợ xấu phát sinh Tuy nhiên, sự lỏng lẻo trong quy trình đã tạo nên lỗ hổng khiến ngân hàng không kiểm soát được những rủi ro tín dụng dẫn đến nợ xấu Mặt khác, chính sách tín dụng chưa phù hợp, quá đặt nặng vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến tăng trưởng tín dụng nóng hoặc cho vay tập trung vào những lĩnh vực có rủi ro cao (như bất động sản, chứng khoán…) 6, cho vay ưu đãi, không có

4 Cao Thanh Trà (2016), “Giảm tổn thất nhờ cảnh báo sớm rủi ro tín dụng”, Báo điện tử Vietnamnet, tại địa chỉ: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/tai-chinh/310376/giam-ton-that-nho-canh-bao-som-rui-ro-tin-

dung.html ngày truy cập 15/6/2016.

5 Theo số liệu thống kê từ Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), tính đến hết tháng 4 năm

2014, tổng số doanh nghiệp đã có quan hệ tín dụng với TCTD được lưu trữ trong kho dữ liệu là 216.129 doanh nghiệp, trong đó, số doanh nghiệp còn dư nợ là 112.583 doanh nghiệp, tương đương 30% trong tổng

số doanh nghiệp đang hoạt động Như vậy, tỷ lệ doanh nghiệp đang có vay vốn ngân hàng trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động đạt 30%, tỷ lệ doanh nghiệp không sử dụng tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 70%

Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Việt Anh (2014), “Những khó khăn trong tiếp cận tín dungj của các DNVVN và một số giải pháp khơi thông dòng vốn cho loại hình doanh nghiệp này”, tại địa chỉ:

http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/pages/trangchu/hdk/hdkhcn/htnc/htnc_chitiet;jsessionid=MQW2XvrF hysLyMn4dbZy6TL12Yv2bTrxpx4F0bBjNvTjxQvNjVkY!-

456017007!654611204?dDocName=CNTHWEBAP0116211771340&dID=51193&_afrLoop=69891853949 6849&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3FdID%3D51193%26_afrWindowId%3Dnull%26 _afrLoop%3D698918539496849%26dDocName%3DCNTHWEBAP0116211771340%26_afrWindowMode

%3D0%26_adf.ctrl-state%3D11e9r36ia4_4 ngày truy cập 13/4/2016

Trang 18

tài sản đảm bảo đối với khách hàng vay lớn, danh mục cho vay thiếu đa dạng làm hạn chế khả năng phân tán rủi ro, nợ xấu xảy ra là điều không thể tránh khỏi

Ba là, khả năng quản trị rủi ro tín dụng trong các khâu của quá trình

cho vay cũng chính là yếu tố quan trọng tác động đến tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng Rủi ro có thể phát sinh ở bất kỳ khâu nào của quá trình cấp tín dụng, từ khi thẩm định cho đến khi khách hàng trả nợ vốn vay Việc phòng ngừa rủi ro được coi là “bảo bối” trong hoạt động tín dụng, đồng thời là nhiệm vụ trọng yếu trong suốt quá trình cho vay Thực tế, rủi ro trong hoạt động ngân hàng để dẫn đến nợ xấu rất đa dạng Ngoài rủi ro về tín dụng, còn có rủi ro thị trường

và rủi ro hoạt động Trong đó, rủi ro hoạt động gồm có: rủi ro pháp lý, rủi ro tuân thủ, rủi ro hệ thống, rủi ro công nghệ thông tin, rủi ro về tài sản, rủi ro về con người… Việc không tuân thủ quy trình quản trị rủi ro ở bất kỳ khâu nào của quá tình vay vốn đều có nguy cơ dẫn đến nợ xấu Ví dụ: ở khâu thẩm định, nếu nhân viên ngân hàng không thu thập đầy đủ thông tin, không tra soát kỹ các điều kiện của khách hàng dẫn đến đánh giá sai năng lực của người vay vốn, xác định không chính xác số tiền, kỳ hạn cho vay… Việc thẩm định tài sản bảo đảm cho khoản vay không được thực hiện nghiêm túc, không có

cơ chế độc lập sẽ rất dễ dẫn đến việc xác định sai giá trị tài sản, từ đó xác định phạm vi đảm bảo và mức cho vay cũng không chính xác Khi khách hàng sử dụng vốn vay, do thiếu sự theo dõi sát sao, không phát hiện được những dấu hiệu bất thường trong hoạt động kinh doanh của khách hàng nên không có sự điều chỉnh phù hợp, nợ xấu từ đó rất dễ phát sinh

Thứ hai, vấn đề đạo đức nghề nghiệp cũng trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, đặc biệt ở những ngân hàng chưa có được một quy trình quản trị rủi ro chặt chẽ

6 Dư nợ tín dụng trong lĩnh vực bất động sản tính đến 30/11/2015 đạt 374.783 tỷ đồng (tương đương hơn 16,6 tỉ USD), tăng 19,91% so với thời điểm 31/12/2014 và tăng 2,8% so với thời điểm 31/10/2015.

Bình An (2016), “Dư nợ tín dụng bất động sản tăng mạnh”, tại địa chỉ: dung-bat-dong-san-tang-manh-2016012215384639.chn ngày truy cập 04/2/2016.

Trang 19

http://cafef.vn/thi-truong/du-no-tin-Vì lợi ích cá nhân, nhân viên ngân hàng có thể thông đồng với khách hàng vay vốn để tăng mức cho vay, cho vay khi không có đủ điều kiện, hoặc

bỏ qua những yếu tố như sử dụng vốn vay không đúng mục đích, hay thậm chí là làm giả giấy tờ để thực hiện việc cho vay 7 Có một số trường hợp, cho vay đối với những khách hàng được cấp trên chỉ định, các doanh nghiệp là

“sân sau” của Ban giám đốc, lãnh đạo ngân hàng, vì quen biết, nể nang mà nhân viên ngân hàng có thể bỏ qua những quy định về hạn chế cho vay, cho vay có điều kiện, không tuân thủ quy trình quản trị rủi ro…

Thứ ba, áp lực tăng trưởng dư nợ quá lớn cũng có thể làm phát sinh nợ xấu

Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã dẫn đến xu hướng các ngân hàng chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay Hiện nay, lợi nhuận chủ yếu của các ngân hàng vẫn phụ thuộc vào hoạt động tín dụng 8 Do đó, để đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng, các ngân hàng luôn bị áp lực phải tăng trưởng tín dụng Khi tăng trưởng, NHTM phải chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng ở một mức nhất định Tuy nhiên, nếu tăng trưởng tín dụng nhanh sẽ vượt quá khả năng kiểm soát của ngân hàng và hậu quả là nợ xấu có thể tăng cao

Thứ tư, tình trạng sở hữu chéo cũng là một trong số các nguyên nhân làm tăng tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng

Hệ thống Ngân hàng đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan hệ rất phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưa minh bạch Theo đó, rất nhiều công ty lớn,

7 Lê Dương (2015), “Nhân viên tín dụng làm giả thông tin khách hàng để vay tín chấp”, Báo Tiền phong, tại địa chỉ: http://www.tienphong.vn/Phap-Luat/nhan-vien-tin-dung-lam-gia-thong-tin-khach-hang-de-vay-tin- chap-917294.tpo ngày truy cập 28/4/2016

8 Thu nhập lãi thuần hợp nhất trong quý II/2015 của VietinBank đạt gần 5.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động dịch vụ chỉ mang về 407 tỷ đồng, lãi thuần từ hoạt động khác cũng chỉ đạt 392 tỷ đồng Tại BIDV, thu nhập

từ lãi thuần cũng lên tới gần 3.900 tỷ đồng, trong khi thu từ hoạt động kinh doanh dịch vụ chỉ mang lại khoản lãi 591 tỷ đồng

Hà Tâm (2015), “Độc canh tín dụng vẫn là nguồn sữa lợi nhuận của các ngân hàng”, Báo Đầu tư, tại địa chỉ:

http://baodautu.vn/doc-canh-tin-dung-van-la-nguon-sua-loi-nhuan-cua-cac-ngan-hang-d32692.html ngày truy cập 25/4/2016

Trang 20

đặc biệt là các tập đoàn kinh tế Nhà nước và các tập đoàn Cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các NHTM Chưa kể, các Ngân hàng cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ đầu

tư vốn vào những Ngân hàng khác có tiềm năng Hiện không ít tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở hữu chéo khi họ có trong tay khá nhiều Ngân hàng Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, gần 40 Doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân sở hữu trên 5% vốn tại các NHTM cổ phần và các doanh nghiệp này lại sở hữu các công ty đầu tư tài chính.9 Việc sở hữu chéo sẽ dẫn đến tình trạng các Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp sở hữu Ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ Ngân hàng kia, hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu tại Ngân hàng vay vốn, thậm chí khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác và biến Ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc Ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án không an toàn hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến

nợ xấu Do đó, tình trạng sở hữu chéo được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao trong những năm vừa qua

b Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân xuất phát từ yếu tố bên ngoài nhưng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng Ngân hàng

Thứ nhất, các nguyên nhân xuất phát từ nền kinh tế.

Như đã trình bày, hoạt động tài chính - ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế Chính vì vậy, những biến động của môi trường kinh tế

sẽ có tác động mạnh đến hoạt động của NHTM, đặc biệt là hoạt động tín dụng Nếu môi trường kinh tế chưa thực sự phát triển, trên thị trường chưa

9 Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Hồng Nhung (2013), “Nợ xấu của các TCTD ở Việt Nam – nguyên nhân và

một số giải pháp”, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, (03+04), tr 49-55

Trang 21

thực sự bình đẳng, tốc độ cũng như trình độ phát triển chưa cao sẽ dẫn đến việc các cá nhân và tổ chức cũng như các doanh nghiệp không có tiềm lực tài chính đủ mạnh Mặt khác, với sự thay đổi liên tục trong các chính sách kinh tế

vĩ mô như sự thay đổi về cơ chế lãi suất, chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu dùng; thay đổi quy hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế

sử dụng đất đai… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, khiến các đối tượng này rơi vào thế bị động, do đó nó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nợ của các đối tượng này tại NHTM

Những biến động của thị trường tài chính quốc tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng cũng như tỷ lệ nợ xấu của NHTM, đặc biệt trong xu thế hội nhập hiện nay Ví dụ, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã khiến cho

tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng tại các Quốc gia trong khu vực tăng cao (Thái Lan nợ xấu lên tới 47,7%; Indonesia trên 50%; Hàn Quốc năm 1998 là 17%

và Malaysia trên 11,4% ) Hay như những năm vừa qua, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ra nhiều hệ quả tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam, làm tăng trưởng kinh tế thụt lùi, nợ xấu của các ngân hàng tăng cao Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam thời điểm tháng 10/2013 ở mức 4,73% (theo báo cáo của các NHTM)

Thứ hai, các nguyên nhân xuất phát từ quản lý nhà nước.

Một là, chính sách pháp luật chưa phù hợp, chồng chéo và còn nhiều lỗ

hổng tạo điều kiện cho sự phát sinh nợ xấu Có thể nói, lĩnh vực hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro cao và để giảm thiểu rủi ro luôn đòi hỏi phải có

sự hậu thuẫn của hệ thống pháp luật Nếu hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn thiện sẽ tạo tiền đề cho hoạt động an toàn lành mạnh của hệ thống ngân hàng Còn ngược lại, nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, thiếu tính khả thi thì sẽ

có rủi ro rất cao đối với hệ thống ngân hàng Các chuyên gia pháp lý của các

tổ chức tín dụng cho biết, hiện nay, hoạt động của các tổ chức tín dụng phải tuân thủ quá nhiều quy định của pháp luật của các ngành khác, bởi nghiệp vụ ngân hàng liên quan đến hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề Trong khi đó, hệ

Trang 22

thống pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, chậm được hướng dẫn cụ thể…

Do đó, các ngân hàng cần hiểu rõ những vướng mắc pháp lý trong thực tiễn triển khai, từ đó có thể phòng tránh rủi ro và tìm giải pháp khắc phục, bởi việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật tốn rất nhiều thời gian, trong khi hoạt động kinh doanh phát sinh hàng ngày Trong đó có những nội dung nảy sinh nhiều vướng mắc như giấy phép hoạt động, lãi suất huy động, việc đảo nợ, vấn đề bảo lãnh, giới hạn dư nợ cấp tín dụng, mua cổ phần của ngân hàng khác… Đáng chú ý, “có tới 30 vấn đề bất cập về giao dịch bảo đảm được liệt kê, trong khi đây là một yếu tố quan trọng đảm bảo ngân hàng có thể thu hồi được vốn khi khách hàng không trả nợ” 10 Có những trường hợp dù ngân hàng đã khởi kiện, nhưng việc kiện tụng kéo dài, tài sản bảo đảm vẫn chưa thể

xử lý và nợ xấu ngân hàng vẫn còn tiếp diễn Khi các quy định về giao dịch bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm còn thiếu cơ chế thực hiện hiệu quả sẽ dễ dẫn đến tâm lý coi thường của người có tài sản cũng như khách hàng vay vốn

Hai là, sự giám sát của các cơ quan quản lý chức năng chưa chặt chẽ

Việc thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro, giám sát an toàn vĩ mô yếu kém, chủ yếu vẫn thiên về giám sát tuân thủ Nợ xấu là con số ở một thời điểm nhưng

sự hình thành và phát sinh nợ xấu là cả một quá trình Hoạt động giám sát được thực hiện những vẫn không thể phát hiện ra những khoản tín dụng có nguy cơ rủi ro cao để có thể cảnh báo sớm và yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro kịp thời dẫn đến việc phát sinh nợ xấu

là không thể tránh khỏi Việc hoạt động giám sát hiện nay vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn xuất phát từ nhiều nguyên nhân: thiếu nguồn thông tin minh bạch, chính xác; thiếu nguồn nhân lực và công nghệ đủ mạnh để thực hiện

Thứ ba, các nguyên nhân xuất phát từ khách hàng vay vốn.

10 Theo Luật sư Trương Thanh Đức – Chủ nhiệm CLB Pháp chế ngân hàng

Bùi Trang (2013), “Pháp luật về ngân hàng: Nhiều quy định, lắm bất cập”, Báo Đầu tư Chứng khoán, tại địa chỉ: http://tinnhanhchungkhoan.vn/tien-te/phap-luat-ve-ngan-hang-nhieu-quy-dinh-lam-bat-cap-14386.html

ngày truy cập 03/5/2016.

Trang 23

Cũng như nhóm nguyên nhân chủ quan, các nguyên nhân phát sinh nợ xấu từ phía khách hàng vay vốn cũng xuất phát từ hai yếu tố chính là năng lực

là doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng tài chính cũng như năng lực quản trị nhìn chung hạn chế Việt Nam bị đánh giá là nước có hệ thống quản trị doanh nghiệp kém nhất trong 6 nước thuộc khu vực ASEAN (Indonesia, Philppines, Singapore, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam) 11 Trong bối cảnh hiện nay, khi hoạt động kinh doanh phải cạnh tranh gay gắt với những công ty xuyên quốc gia, những công ty có vốn đầu tư nước ngoài, cùng với nó là việc thói quen tiêu dùng thay đổi đã khiến cho các doanh nghiệp trong nước gặp phải nhiều khó khăn Cần thiết phải có những thay đổi trong quản trị điều hành, nâng cao năng lực tài chính theo xu hướng xây dựng mô hình quản lý gọn nhẹ, linh hoạt, có sự phân quyền mạnh mẽ để phát huy sáng tạo

Vấn đề đạo đức của khách hàng vay vốn cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ngân hàng Có một số trường hợp khách hàng

cố tình cung cấp hồ sơ giả, đưa những thông tin không chính xác để ngân hàng có những đánh giá sai lệch và thực hiện hoạt động cho vay.12 Ngay cả khi hồ sơ cung cấp đúng, nhưng đến khi gặp khó khăn trong kinh doanh, khách hàng cũng có thể vi phạm những cam kết trong hợp đồng, chây ỳ,

11 Phương Linh (2014), “Doanh nghiệp Việt Nam quản trị kém nhất Asean”, Báo điện tử Vnexpress, tại địa chỉ: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/doanh-nghiep-viet-nam-quan-tri-kem-nhat-asean- 2994133.html ngày truy cập 04/3/2016.

12 Minh Quang (2016), “Chi nhánh ngân hàng ở Sài Gòn bị lừa hơn 21 tỷ đồng”, tại địa chỉ:

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/chi-nhanh-ngan-hang-o-sai-gon-bi-lua-hon-21-ty-dong-2016011220263946.chn ngày truy cập 22/2/2016

Trang 24

không trả nợ nếu như ngân hàng không có những biện pháp mạnh hay có sự trợ giúp của những cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách toàn diện, việc khách hàng không trả nợ đúng hạn dẫn đến nợ xấu ngân hàng không đơn thuần xuất phát từ vấn đề đạo đức của người vay Sự kết hợp của những yếu tố khác như quy trình cho vay không chặt chẽ hay trình độ non kém của nhân viên ngân hàng đã biến nợ xấu từ nguy cơ trở thành con số thật sự

Ngoài ra, các nguyên nhân khác như thiên tai, dịch bệnh, các sự kiện khách quan khác xảy ra cũng có thể khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng, ngưng trệ, dẫn đến mất khả năng trả nợ ngân hàng làm phát sinh nợ xấu

1.1.1.3 Tác động của nợ xấu đến hoạt động của ngân hàng thương mại và nền kinh tế

a Tác động của nợ xấu đến hoạt động của ngân hàng thương mại

Thứ nhất, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của NHTM, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và có nguy cơ dẫn đến phá sản Khi phát sinh nợ xấu, ngân

hàng phải sử dụng các khoản dự phòng rủi ro Thông thường các khoản này được tính vào chi phí, khiến cho lợi nhuận của ngân hàng sụt giảm Không những thế khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra đối với xử lý nợ xấu càng lớn, không đơn thuần chỉ là không thu hồi được nguồn vốn đã cấp Về mặt hữu hình việc các tài sản cầm cố, thế chấp tại ngân hàng sẽ ngày càng bị hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất dần Mặt khác, nợ xấu tăng

sẽ làm mất khả năng cân đối thu chi của ngân hàng Như đã trình bày, khi phát sinh nợ xấu, ngân hàng phải thực hiện trích lập các khoản dự phòng rủi

ro, nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn Nợ xấu càng cao, khoản trích lập dự phòng rủi ro càng lớn, nguy cơ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán là hoàn toàn có thể xảy ra Hơn nữa, nợ xấu làm gián đoạn vòng quay vốn của ngân hàng, ngăn chặn dòng tiền quay trở lại

Trang 25

với ngân hàng Đây là những nguyên nhân dẫn đến khả năng ngân hàng bị phá sản

Thứ hai, nợ xấu tăng cao sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính Công khai các thông tin tín dụng và thông tin về nợ xấu

đang trở thành một yêu cầu bức thiết Nhưng chính yêu cầu này đang trở thành một thách thức đối với các ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu cao, quá trình xử lý

nợ xấu kéo dài dẫn tới hệ số tín nhiệm của ngân hàng sẽ khó mà duy trì được mức như mong muốn, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín và sức hút đầu tư trên thị trường Đây là điều hoàn toàn dễ hiểu Đứng trên phương diện là nhà đầu tư (khách hàng tiền gửi), không một nhà đầu tư nào dám mạo hiểm đầu tư vào một ngân hàng có khả năng kinh doanh yếu kém, nợ xấu cao hơn mức an toàn, tạo ra ít lợi nhuận, cho dù mức lãi suất đưa ra có hấp dẫn đến mức nào Như một hệ quả tất yếu, nợ xấu càng cao, nguồn tiền huy động

sẽ càng giảm Điều này sẽ tác động tiêu cực đến các ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng nhỏ bởi những ngân hàng này thường không có thế mạnh về nguồn vốn

Thứ ba, nợ xấu cao sẽ dẫn đến những hệ quả tiêu cực về quản trị nội

bộ cũng như năng lực cạnh tranh của NHTM Nợ xấu gia tăng không chỉ thể

hiện những khó khăn về mặt tài chính mà còn thể hiện những lỗ hổng trong quản trị rủi ro của bản thân ngân hàng Một môi trường thiếu tiềm năng, kém sức hút, chế độ đãi ngộ không tốt sẽ khó có thể giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao và tâm huyết Như một vòng tròn luẩn quẩn: càng nợ xấu, càng yếu nhân lực, càng giảm sức cạnh tranh, càng thiếu vốn và nợ xấu lại càng xấu Mất khả năng thanh toán, phá sản lúc này không còn là nguy cơ mà sẽ trở thành hệ quả

Thứ tư, nợ xấu ảnh hướng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của NHTM Ở Việt Nam, sự xâm nhập của các ngân hàng nước ngoài đang tạo

nên một môi trường tài chính nhiều sự cạnh tranh Cạnh tranh bởi chất lượng, hình ảnh và uy tín Có được ba yếu tố này ở thị trường trong nước sẽ là tiền

Trang 26

đề để các NHTM vươn xa hơn tới thị trường thế giới Tuy nhiên, nếu nợ xấu cao sẽ khiến công chúng mất lòng tin, uy tín giảm, nguồn vốn huy động giảm, các đối tác cũng sẽ giảm các mối quan hệ làm ăn, đẩy ngân hàng vào tình trạng đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Từ đó, cơ hội cạnh tranh tại thị trường nội địa và cơ hội hội nhập ra thế giới của các NHTM cũng sẽ thu hẹp

b Tác động của nợ xấu đến nền kinh tế

Tại sao nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM? Hệ thống tài chính – ngân hàng là xương sống của nền kinh tế Khi nợ xấu gây hại tới ngân hàng hệ quả tất yếu của nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Các chuyên gia kinh tế vẫn khẳng định nợ xấu là “nút thắt cổ chai”, kéo lùi tăng trưởng và phục hồi của nền kinh tế, là “cục máu đông trong mạch máu” Giải quyết được vấn đề này mới có thể khai thông bế tắc cho nền kinh tế, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy sự phục hồi của tăng trưởng kinh tế

Thứ nhất, nợ xấu phát sinh làm suy giảm “sức khỏe” của nền kinh tế

Nguồn vốn tín dụng hay dòng tiền của nền kinh tế không thể lưu thông do ngưng đọng tại những doanh nghiệp có nợ xấu Đối với những trường hợp cho vay có tài sản bảo đảm thì nguồn vốn còn có thể bị đọng tại chính những tài sản bảo đảm không thể xử lý, không thể đưa vào lưu thông trên thị trường

Thứ hai, nợ xấu sẽ làm giảm tốc độ phát triển của nền kinh tế xuất phát

từ việc nợ xấu làm hạn chế khả năng tăng trưởng tín dụng Thông thường, khi nợ xấu tăng, ngân hàng thường thắt chặt các gói tín dụng, mục đích để thận trọng hơn, giảm nguy cơ phát sinh thêm nợ xấu, đảm bảo an toàn trong thanh khoản Nhưng điều này vô hình chung đã ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện hữu bị ngưng trệ do thiếu vốn, các hoạt động kinh doanh mới cũng khó được thực thi do không có nguồn đầu tư Có thể thấy, nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng tạo

ra trào lưu suy thoái của nền kinh tế trong nước, từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia.13

13 Đầu tháng 04 năm 2014, tại buổi họp báo công bố báo cáo cập nhật kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương

do Ngân hàng Thế giới tổ chức, trong phần nhận định về môi trường vĩ mô của Việt Nam, các chuyên gia đã có nhận xét rằng nền kinh tế của Việt Nam đã ổn định trở lại trong hai năm gần nhất, tuy nhiên nếu so với

Trang 27

Ngoài ra, từ những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, nợ xấu sẽ gây ra những tác động dây chuyền đến xã hội

1.1.2 Tổng quan về xử lý nợ xấu

1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của xử lý nợ xấu

a Khái niệm xử lý nợ xấu

Hiện nay trong khoa học pháp lý cũng như pháp luật thực định chưa có một định nghĩa cụ thể về “xử lý nợ xấu” trong hoạt động cho vay của NHTM Tuy vậy, qua các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành có thể hiểu xử lý nợ xấu trong hoạt động của NHTM được hiểu là việc các chủ thể có liên quan (nhà nước và các NHTM) sử dụng các biện pháp vĩ mô và vi mô nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu của mỗi ngân hàng và hệ thống ngân hàng Theo cách hiểu này, hoạt động xử lý nợ xấu không chỉ là việc xử lý nợ xấu của một ngân hàng riêng lẻ mà phạm vi của nó còn rộng hơn, bao gồm việc xử lý nợ xấu của cả hệ thống ngân hàng

Còn nếu hiểu theo nghĩa hẹp, xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM là việc NHTM sử dụng các biện pháp nghiệp vụ tài chính lẫn công cụ pháp lý nhằm giảm tỷ lệ các khoản nợ được coi là nợ xấu của ngân hàng góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng trong nền kinh tế Theo nghĩa này, xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM chỉ là công việc có tính kỹ thuật nghiệp vụ của từng ngân hàng

b Đặc điểm của xử lý nợ xấu

Hoạt động xử lý nợ xấu mang các đặc điểm sau:

tiềm năng của Việt nam thì nền kinh tế vẫn đang tăng trưởng ở dưới mức kỳ vọng Một phần nguyên nhân của vấn đề này là do hệ thống ngân hàng tại Việt Nam mà trong đó, nợ xấu vẫn được coi là “nút thắt cổ chai”, kéo lùi tăng trưởng và phục hồi của nền kinh tế

Worldbank (2014), Thông cáo báo chí, tại địa chỉ: release/2016/04/10/east-asia-pacific-growth-remains-resilient-in-face-of-challenging-global-environment- says-world-bank ngày truy cập 25/2/2016.

Trang 28

http://www.worldbank.org/vi/news/press-Chủ thể tham gia xử lý nợ xấu: Chủ thể tham gia xử lý nợ xấu chủ yếu

là các NHTM Đây là những chủ thể có quyền lợi ích liên quan trực tiếp trong việc xử lý các khoản nợ xấu Ngoài ra còn có các chủ thể khác, chủ nợ thứ cấp khi khoản nợ đã được chuyển giao, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tòa án, cơ quan thi hành án) hỗ trợ ngân hàng trong việc thu hồi nợ để giảm tỷ lệ nợ xấu

Mục đích của việc xử lý nợ xấu: nhằm thu hồi các khoản nợ theo cam

kết tại hợp đồng tín dụng Khi ký kết các hợp đồng tín dụng, các chủ thể luôn hướng tới đạt được lợi nhuận cao nhất Tuy nhiên, khi khoản vay chuyển sang

nợ xấu, mục đích lợi nhuận không còn được đặt lên hàng đầu Mục đích chủ yếu của hoạt động xử lý nợ xấu là thu hồi tối đa các khoản nợ, giảm chi phí thấp nhất trong quá trình xử lý nợ, để có thể lành mạnh hóa tài chính của ngân hàng thương mại

Biện pháp xử lý nợ xấu: Xử lý nợ xấu không hề đơn giản bởi khi khoản

nợ đã chuyển sang nợ xấu thì thông thường khách hàng vay đã rơi vào hoàn cảnh rất khó khăn Vì vậy, việc xử lý nợ xấu phải sử dụng một hoặc kết hợp rất nhiều biện pháp, cả kỹ thuật và pháp lý để thực hiện việc thu hồi nợ với hiệu quả cao nhất và trong thời gian ngắn nhất để giảm chi phí đến mức tối thiểu

Hoạt động xử lý nợ xấu không tuân theo một quy trình cố định Khác

với cho vay, từ việc tìm kiếm khách hàng đến khi thẩm định, giải ngân đều phải thực hiện theo một chuẩn mực Việc cho vay không thực hiện theo quy trình có thể là nguyên nhân khiến chủ thể cho vay vướng vào những rắc rối pháp lý Tuy nhiên, thu nợ, xử lý nợ xấu thì ngược lại Không có một quy định cứng nào để áp dụng cho tất cả khoản nợ xấu Việc áp dụng thành công biện pháp này không đồng nghĩa với việc áp dụng biện pháp đó cũng sẽ hữu hiệu đối với tất cả các khách hàng vay khác Việc thực hiện các biện pháp xử

lý nợ xấu vừa phải tuân thủ các quy định pháp luật nhưng cũng phải có sự chọn lọc cho phù hợp

Trang 29

1.1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc xử lý nợ xấu

Xuất phát từ những tác động của nợ xấu đối với hoạt động của NHTM

và nền kinh tế có thể nhận thấy vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc xử lý nợ xấu

Đối với ngân hàng thương mại: Trước hết, xử lý nợ xấu hiệu quả sẽ

giúp ngân hàng lành mạnh hóa tình hình tài chính và đảm bảo tính an toàn trong hoạt động Ngân hàng Một khi nợ xấu được xử lý, nguồn vốn tồn động được khơi thông và quay trở lại giúp ngân hàng tăng trưởng tín dụng Nếu như nợ xấu tác động tiêu cực đến uy tín, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thì xử lý nợ xấu ngược lại, đem đến cho ngân hàng một diện mạo mới, mạnh

mẽ hơn, sung sức hơn Những đợt tổng lực xử lý nợ xấu được ví như một lần ngân hàng được thay máu, giúp ngân hàng đào thải những khoản vay kém chất lượng, giữ lại những khoản vay an toàn, từ đó tăng sức “đề kháng” của

cả hệ thống Cũng nhờ hoạt động xử lý nợ xấu, ngân hàng có cơ hội rà soát đánh giá lại tình hình khách hàng từ đó phân loại khách hàng và rút ra những kinh nghiệm để xây dựng quy trình quản trị rủi ro áp dụng cho tổ chức mình

Đối với nền kinh tế: Như đã từng đề cập, ngân hàng có một vai trò quan

trọng trong nền kinh tế, là mạch máu của cả nền kinh tế Khi nợ xấu – “cục máu đông” được xử lý sẽ giúp nguồn vốn tồn đọng được khơi thông quay trở lại nền kinh tế, giúp nền kinh tế được phục hồi và nhanh chóng phát triển

Đối với khách hàng vay vốn: xử lý nợ xấu cũng là một cách giúp lành

mạnh hóa tình hình tài chính, cải thiện năng lực quản trị và năng lực cạnh tranh của khách hàng – doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời, tháo gỡ sự ngưng trệ lưu chuyển vốn giữa ngân hàng và doanh nghiệp

Trang 30

đề cập, khác với cho vay luôn theo một quy trình nhất định, hoạt động xử lý

nợ xấu mang tính linh hoạt cao Bên cạnh việc tuân thủ những quy định chung của pháp luật thì các bên có quyền tự do thỏa thuận về phương thức, thời điểm xử lý khi nợ xấu phát sinh Những thỏa thuận này khi được ghi nhận trong hợp đồng sẽ trở thành “luật” đối với các bên và mang tính bắt buộc tuân thủ

Hoạt động xử lý nợ xấu phải đảm bảo công khai, khách quan, mà trước hết phải minh bạch về các số liệu nợ xấu Đây là điều kiện tiên quyết để xử lý

nợ xấu được hiệu quả Về bản chất, xử lý nợ xấu không đơn thuần là một nghiệp vụ ngân hàng mà nó còn là một thủ tục pháp lý Thực hiện sai quy trình dẫn đến nợ xấu hay xử lý nợ xấu trái với quy định đều có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý khôn lường Việc công khai, khách quan trong xử lý

nợ xấu một mặt đảm bảo cho lợi ích của các bên liên quan, mặt khác giúp cho hoạt động giám sát trong xử lý nợ xấu được thực hiện tốt, đảm bảo việc xử lý đúng, công bằng và hiệu quả

Ngoài ra, việc xử lý nợ xấu cũng phải thuân theo nguyên tắc thị trường

Cho vay hay xử lý nợ xấu về bản chất cũng là giải quyết câu chuyện về lợi ích Khi cho vay, khách hàng vay mong muốn đồng vốn đi vay được sẽ sinh lời, ngân hàng cũng hi vọng sẽ có lợi nhuận Đến khi phát sinh nợ xấu phải xử

lý thì dù là bên nào cũng muốn chi phí xử lý thấp nhất và lượng tiền thu về là cao nhất Xử lý nợ xấu càng nhanh thì nguồn vốn được trở lại lưu thông trên thì trường càng sớm Để giải quyết cốt lõi vấn đề này cần có sự hợp tác của cả NHTM, khách hàng vay và các cơ quan nhà nước hỗ trợ trên cơ sở hài hòa lợi ích của các bên

1.2 Pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.2.1 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về xử lý nợ xấu

Trang 31

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về xử lý nợ xấu là các quan hệ xã hội liên quan đến nợ xấu và quá trình xử lý nợ xấu Bao gồm hai nhóm chính: Quan hệ quản lý nhà nước về nợ xấu; quan hệ về tín dụng trước và sau khi nợ xấu phát sinh:

Thứ nhất, nhóm quan hệ quản lý nhà nước về nợ xấu: để điều chỉnh

nhóm quan hệ này, pháp luật quy định các vấn đề phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, các quy định về thanh tra giám sát… Chủ thể tham gia nhóm quan hệ này bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước, NHTM và một số chủ thể khác có liên quan (Trung tâm thông tin tín dụng…)

Thứ hai, nhóm quan hệ về tín dụng trước và sau khi nợ xấu phát sinh: ở

nhóm quan hệ này, pháp luật đưa ra những quy định về các chủ thể giao kết

và thực hiện hợp đồng, quyền và trách nhiệm của các bên khi thiết lập hợp đồng và khi phát sinh nợ xấu, những quy định về cơ cấu nợ, xử lý tài sản đảm bảo… Chủ thể tham gia nhóm quan hệ này bao gồm hai nhóm chủ thể chính

là NHTM và khách hàng vay, ngoài ra còn có sự tham gia của một số cơ quan quản lý nhà nước

Xét về mặt bản chất, nếu nhóm quan hệ thứ nhất mang tính hành chính bắt buộc thì nhóm quan hệ thứ hai mang tính dân sự sâu sắc Nhóm quan hệ thứ nhất thể hiện rõ vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước trong hoạt động kiểm soát và kiềm chế nợ xấu, không phụ thuộc vào ý chí của NHTM hay khách hàng vay vốn của họ Nhóm quan hệ thứ hai được xây dựng trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa NHTM và khách hàng vay Ở nhóm quan hệ này, pháp luật điều chỉnh những vấn đề chung nhất, mang tính định khung và tôn trọng những thỏa thuận mà các bên đã đạt được trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng Ví dụ, việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ xuất phát từ đề nghị của khách hàng vay và được NHTM chấp thuận hoặc không chấp thuận; hay các phương thức xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện trước hết dựa trên những thỏa thuận của NHTM và khách hàng vay tại hợp đồng đã ký kết…

Trang 32

1.2.2 Nội dung cơ bản pháp luật về xử lý nợ xấu

1.2.2.1 Chủ thể thực hiện xử lý nợ xấu

Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh của pháp luật xử lý nợ xấu bao gồm 2 nhóm quan hệ: quan hệ quản lý nhà nước về nợ xấu và các quan hệ tín dụng trước và sau khi nợ xấu phát sinh có thể xác định các chủ thể thực hiện xử lý

nợ xấu bao gồm: cơ quan nhà nước trong việc xây dựng pháp luật, hỗ trợ các NHTM trong xử lý nợ xấu và NHTM trực tiếp thực hiện việc xử lý nợ xấu để làm giảm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng mình

1.2.2.2 Phương thức xử lý nợ xấu

a Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Cơ cấu lại thời hạn trả nợ là việc tổ chức tín dụng điều chỉnh kỳ hạn trả

nợ, gia hạn nợ vay đối với các khoản nợ vay của khách hàng theo hai phương thức sau:

- Gia hạn nợ: đây là phương thức ngân hàng chấp thuận kéo dài thời hạn trả nợ để làm giảm áp lực đối với khách hàng vay Tuy nhiên, biện pháp này được giới hạn bởi thời hạn được phép cho vay của ngân hàng

- Điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ: thực hiện thông qua việc ngân hàng chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi trong phạm vi thời hạn cho vay

đã thỏa thuận trước

Để thực hiện được phương thức này phải đảm bảo các điều kiện:

- Thứ nhất: khách hàng vẫn đang tiến hành hoạt động kinh doanh, có nguồn thu để trả nợ;

- Thứ hai: việc thực hiện phương thức này giúp khách hàng khôi phục lại khả năng trả nợ;

- Thứ ba: khách hàng có thiện chí trả nợ

Đây là một trong những phương thức tối ưu trong xử lý nợ xấu Pháp luật quy định về cơ cấu, gia hạn nợ nhằm tạo điều kiện cho các bên trong quan hệ tín dụng thỏa thuận lại cách trả nợ, cơ cấu lại phương án kinh doanh

Trang 33

một cách hợp lý khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra việc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ của bên vay

b Trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu

Trích lập dự phòng rủi ro là việc ngân hàng thực hiện việc trích lập một khoản tiền để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định trong quá trình phân loại nợ và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm

Dự phòng rủi ro gồm có dự phòng chung và dự phòng cụ thể Đây là những khoản được tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng Khi các biện pháp thu hồi không có hiệu quả, ngân hàng có thể dùng nguồn quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp thiệt hại cho các khoản nợ xấu Do tính chủ động cao nên biện pháp này thường được các NHTM vận dụng tối đa nhằm xử lý nợ nhanh chóng Nhưng thực chất, biện pháp này là dùng nội lực của ngân hàng để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng Việc sử dụng quá nhiều biện pháp này sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, nợ xấu thực chất vẫn chưa được xử lý triệt để

Pháp luật quy định khá chặt chẽ về nguyên tắc, cách thức và tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo cho hoạt động NHTM được an toàn

c Xử lý tài sản đảm bảo

Xử lý tài sản bảo đảm là việc ngân hàng/khách hàng bán tài sản bảo đảm (tài sản thế chấp, cầm cố…) trên thị trường, qua trung tâm dịch vụ đấu giá hoặc thanh lý qua thủ tục tố tụng dân sự, thi hành án để thu hồi nợ

Bảo đảm tiền vay là thao tác được áp dụng để hỗ trợ cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Khi các khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại, khách hàng chây ỳ không chịu trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản bảo đảm này để thu hồi nợ

Xử lý tài sản bảo đảm là hệ quả pháp lý của việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ nghĩa vụ của bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm Việc xử lý tài sản bảo đảm có thể do các bên tự thỏa thuận chủ động bán

Trang 34

để trả nợ, bán qua tổ chức đấu giá độc lập hoặc thanh lý qua thủ tục tố tụng dân sự, thi hành án hoặc chuyển giao cho bên nhận bảo đảm để cấn trừ nợ…

Pháp luật có những quy định khá rõ ràng về việc thiết lập giao dịch bảo đảm cũng như trình tự thủ tục để xử lý tài sản bảo đảm nhằm đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia giao dịch

Quy định là như vậy, tuy nhiên việc thực hiện phương thức này không

hề đơn giản Không giống như hai phương thức đã được đề cập (cơ cấu lại thời hạn trả nợ; trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu), xử lý tài sản bảo đảm không mang tính chủ động cao mà phụ thuộc rất lớn vào yếu

tố thị trường cũng như sự hợp tác của bên có tài sản Nếu những quy định pháp luật không chặt chẽ sẽ gây khó khăn rất lớn cho NHTM trong quá trình

và các bên có liên quan Một khoản nợ có thể được bán một phần hoặc toàn

bộ, bán cho nhiều bên mua nợ hoặc mua bán nhiều lần Phương thức bán nợ

có thể được thực hiện thông qua đấu giá các quản nợ về đấu giá tài sản theo quy định, thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán và bên mua hoặc thông qua môi giới Giá bán nợ có thể do các bên thỏa thuận trực tiếp hoặc thông qua môi giới hoặc giá cao nhất trong trường hợp khoản nợ được bán theo phương thức đấu giá

Pháp luật về bán nợ quy định về chủ thể được phép thực hiện mua bán

nợ, điều kiện cũng như những thủ tục pháp lý để thực hiện hoạt động này

Cũng như biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, việc xử lý nợ xấu thông qua bán nợ cũng phụ thuộc rất lớn vào yếu tố thị trường và cơ chế của nhà nước trong việc thiết lập và phát triển thị trường mua bán nợ

Trang 35

e Các phương thức khác

Ngoài các phương thức trên, NHTM có thể lựa chọn giải quyết nợ xấu thông qua con đường tố tụng Đây gần như là phương thức cuối cùng được ngân hàng lựa chọn thực hiện để xử lý nợ xấu khi các biện pháp khác không mang lại hiệu quả Ngân hàng có thể nhờ tòa án can thiệp buộc khách hàng trả

nợ, chuyển giao tài sản bảo đảm hoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp thì ngân hàng với tư cách là chủ nợ có quyền làm đơn xin tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản Việc giải quyết bằng biện pháp này được quy định hết sức

cụ thể, chi tiết thông qua các quy định pháp luật tố tụng Thông thường việc

sử dụng biện pháp này không mang đến hiệu quả, mất nhiều chi phí và thời gian

1.2.2.3 Thủ tục xử lý nợ xấu

Quy định này bao gồm thủ tục xử lý nợ khi các bên có thỏa thuận và khi các bên không thể thỏa thuận Việc xử lý nợ theo thỏa thuận được quy định rõ ràng khi các bên tham gia vào quan hệ tín dụng và được cụ thể hóa bằng hợp đồng tín dụng Khi nợ xấu phát sinh, nếu thỏa thuận được hai bên sẽ căn cứ vào hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và các quy định về

nợ xấu và xử lý nợ xấu có liên quan để xử lý Trường hợp hai bên không thể thỏa thuận, pháp luật về nợ xấu và xử lý nợ xấu cũng quy định những cơ chế

xử lý khoản nợ thông qua con đường tố tụng tòa án hoặc tố tụng trọng tài hoặc sử dụng các chế tài khác phù hợp theo quy định của pháp luật

1.3 Khái quát về thi hành pháp luật xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái quát về thi hành pháp luật

a Khái niệm

Trước hết cần khẳng định, thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật

Trang 36

Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một các sáng tạo quy tắc xử

sự chung mà nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành

vi thực tế hợp pháp của mình.14

Thực hiện pháp luật được tiến hành thông qua các hình thức khác nhau Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, các hình thức thực hiện pháp luật được xác định bao gồm: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật,

sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

Theo đó, thi hành (chấp hành) pháp luật là hình thức thực hiện pháp

luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Các quy phạm pháp luật bắt buộc (các quy phạm quy định nghĩa vụ của chủ thể phải tiến hành những hành vi tích cực nhất định) được thực hiện ở hình thức này.15

b Đặc điểm

Thi hành pháp luật là một trong các hình thức thực hiện pháp luật Do

đó, thi hành pháp luật mang đầy đủ những đặc điểm của hoạt động thực hiện pháp luật

Thứ nhất, thi hành pháp luật được tiến hành ở giai đoạn thứ hai, sau

giai đoạn xây dựng pháp luật Hay nói cách khác, đây là giai đoạn hiện thực hóa các quy định pháp luật, đưa những quy định “trên giấy” hiện hữu trong đời sống xã hội thông qua hành vi của các chủ thể pháp luật Đây chính là hoạt động có ý nghĩa quyết định hiệu lực, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành Những phản hồi của xã hội trong quá trình thi hành pháp luật chính là thước đo hiệu quả xây dựng pháp luật, giúp cho việc phát

14 Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật (2013), NXB Công an nhân dân, tr.181

15 Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật (2013), NXB Công an nhân dân, tr.183

Trang 37

hiện những vấn đề bất cập phát sinh nhằm rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật

Thứ hai, thi hành pháp luật được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác

nhau Mỗi lĩnh vực, mỗi quan hệ xã hội lại liên quan đến hoạt động của các chủ thể khác nhau và được điều chỉnh bởi một hoặc một nhóm các quy định khác nhau Do đó, hoạt động thi hành pháp luật được thực hiện rộng khắp, trên nhiều lĩnh vực cũng như được sự tham gia của nhiều chủ thẻ

c Phân biệt thi hành pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật

Cùng với thi hành pháp luật, thực hiện pháp luật còn bao gồm các hình thức: tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật Mỗi hình thức lại phù hợp với tính chất của các hoạt động thực hiện pháp luật

Thứ nhất, về mặt chủ thể: thi hành pháp luật cùng với tuân thủ pháp luật và sử dụng pháp luật được thực hiện bởi rất nhiều chủ thể khác nhau thì

áp dụng pháp luật lại là hình thức riêng được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền

Thứ hai, về quy phạm pháp luật được thực hiện: nếu như ở thi hành pháp luật, các chủ thể thực hiện những nghĩa vụ pháp lý (các quy phạm pháp luật bắt buộc) thì ở tuân thủ pháp luật, các chủ thể thực hiện các quy phạm pháp luật cấm (kiềm chế, không thực hiện các hoạt động mà pháp luật cấm), khi sử dụng pháp luật, các chủ thể thực hiện các quy phạm pháp luật quy định

Trang 38

thể chủ động thực hiện các nghĩa vụ pháp lý trong hoạt động xử lý nợ xấu Hoạt động thi hành pháp luật ở lĩnh vực này mang những nét đặc trưng riêng.

Thứ nhất, về chủ thể, các chủ thể thực hiện nghĩa vụ bao gồm các NHTM, NHNN, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức cá nhân

có liên quan

Thứ hai, về quy phạm pháp luật được thực hiện bao gồm các quy định

về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro hay xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ… mà khi thực hiện các hoạt động này các chủ thể bắt buộc phải tuân theo

Trong xử lý nợ xấu của NHTM, hoạt động thi hành pháp luật đóng một vai trò vô cùng quan trọng Xử lý nợ xấu không đơn giản là việc giảm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng Khi tiến hành xử lý sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích của nhiều chủ thể Do đó, thực hiện nghiêm các nghĩa vụ pháp lý sẽ đảm bảo công bằng cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể

Kết luận chương 1

Chương 1 của luận văn đã chỉ ra nêu lên những vấn đề chung về thi hành pháp luật và đưa ra cái nhìn tổng quan về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM Nội dung lý luận đã phân biệt thi hành pháp luật với các hình thức thực hiện pháp luật khác, nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế; khái niệm, đặc điểm và những phương thức xử lý nợ xấu Đây sẽ là cơ sở để nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành cũng như các vấn đề thực tiễn thi hành tại các NHTM

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG

HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 2.1 Thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

2.1.1 Quy định về phân loại nợ

Trước đây, việc xác định nợ xấu và phân loại nợ được quy định tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 Ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN

Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập

và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của

tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005 của Thống đốc NHNN Theo đó, nợ xấu là những khoản

nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).16 Việc phân loại nợ được xác định dựa trên số ngày quá hạn và khả năng thu hồi nợ của khách hàng vay Số ngày quá hạn càng lớn hoặc khả năng thu hồi vốn càng thấp thì nợ càng được xếp vào nhóm nợ xấu cao Trong đó, căn cứ số ngày quá hạn vẫn được coi là căn cứ chính để phân loại nợ Đây chính là điểm khác biệt giữa những quy định về phân loại nợ của Việt Nam so với chuẩn mực thế giới Bảng tiêu chí phân loại

nợ theo Hướng dẫn của Ngân hàng thế giới (WB) dưới đây cho thấy, các tổ chức thế giới luôn khuyến cáo việc áp dụng cả hai tiêu chí định lượng và định tính để phân loại nợ

16 Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN được sửa đổi tại Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN

Trang 40

Bảng 2.1: Tiêu chí phân loại nợ theo hướng dẫn của WB

STT Khoản vay Tiêu chí định lượng Tiêu chí định tính

1 Đạt tiêu chuẩn

– Tài sản được bảo đảm hoàn toàn bằng tiền hoặc tương đương – Quá hạn dưới 90 ngày

– Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ

2 Cần theo dõi – Quá hạn dưới 90 ngày

– Những điểm yếu tiềm tàng

có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ

– Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn

3 Dưới tiêu chuẩn

– Những khoản nợ đã được thỏa thuận lại

– Quá hạn từ 90-180 ngày

– Các nhược điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ

4 Đáng ngờ – Qúa hạn từ 180-360 ngày

– Không chắc thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện hiện tại.

– Có khả năng thất thoát

5 Mất vốn – Quá hạn hơn 360 ngày. – Các khoản vay không thu

hồi được

Sự khác biệt giữa những quy định về phân loại nợ của Việt Nam so với chuẩn mực thế giới chính là nguyên nhân dẫn đến việc những chủ thể khác nhau đưa

ra những con số khác nhau về tỷ

lệ nợ xấu của Việt Nam tại cùng một thời điểm Mặt khác, vấn đề minh bạch thông tin yếu kém của các NHTM cũng khiến cho việc phân loại nợ, xác định tỷ lệ nợ xấu trở nên khó khăn Cụ thể, tại thời điểm tháng 2/2013, số liệu tỷ lệ nợ xấu do NHTM cung cấp là 4,46%, theo tính toán của NHNN là 6%, còn theo Fitch thì cao hơn rất nhiều, nợ xấu chiếm 14,28% tổng dư nợ

Năm 2013, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN Việt Nam Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ra đời và có hiệu lực kể từ ngày 01/6/2014 thay thế cho Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN Nếu theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN nợ được phân loại chỉ bao gồm

Ngày đăng: 03/11/2018, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w