Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn cho thấy công tác THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Hoạt động KSĐT chưa được thực hiện ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, thông tin và kết quả được nêu trong Luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Nguyễn Ngọc Ánh
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT Cơ quan điều tra
KSĐT Kiểm sát điều tra
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng số 1: Số liệu vụ án, bị can tội xâm phạm sở hữu VKS hai cấp thành phố Hà
Nội kiểm sát việc khởi tố giai đoạn 2011 – 2015
Bảng số 2: Số liệu kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong các tội xâm
phạm sở hữu giai đoạn 2011 - 2015
Bảng số 3: Số vụ án, bị can tội xâm phạm sở hữu tạm đình chỉ giai đoạn 2011 –
2015
Bảng số 4: Số vụ án, bị can tội xâm phạm sở hữu đình chỉ giai đoạn 2011 - 2015
Bảng số 5: Số vụ án VKS trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung giai đoạn
2011 - 2015
Trang 62 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
6.Những điểm mới và đóng góp của luận văn6
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRACÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU 8
1.1.Khái niệm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 8
1.1.1.Khái niệm thực hành quyền công tố8
1.1.2.Khái niệm Kiểm sát điều tra15
1.1.3.Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra19
1.2.Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
1.2.1.Các tội xâm phạm sở hữu23
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
1.3.Khái quát lịch sử hình thành chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
2.1 Pháp luật hiện hành về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
Trang 72.2 Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm
2.2.1 Những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật hình sự và tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật hình
3.2.2 Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho ngành Kiểm sát; hoàn
3.2.3 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo và kiểm tra của Viện kiểm sát cấp trên
3.2.4 Hoàn thiện cơ chế giám sát của Hội đồng nhân dân và của nhân dân đối với hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu của
3.2.5 Tiếp tục tăng cường quan hệ phối hợp giữa ngành Kiểm sát Hà Nội với Cơ quan điều tra trong việc giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu 82
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Trải qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ trên mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội… nền kinh tế cơ bản phát triển theo hướng kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên bên cạnh những kết quả mà nền kinh tế thị trường mang lại thì mặt trái của nó chính là tai, tệ nạn xã hội, là vi phạm pháp luật và tội phạm gia tăng, diễn biến của tội phạm phức tạp, tính chất thủ đoạn ngày càng tinh vi Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam hiện hành, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan duy nhất có chức năng thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong đó bao gồm hoạt động Kiểm sát điều tra (KSĐT) KSĐT là hoạt động của VKSND trong quá trình giải quyết án hình sự KSĐT đảm bảo cho hoạt động điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo mọi hành vi vi phạm
và tội phạm phải được phát hiện và xử lý trước pháp luật
Công tác THQCT và KSĐT được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật sẽ giúp cho việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can được đúng người đúng tội, hoạt động điều tra được đầy đủ, chính xác và kịp thời, tạo tiền đề cho công tác truy tố và xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội hay bỏ lọt tội phạm
Trước những yêu cầu của tình hình mới, VKSND cần tiếp tục thực hiện đổi mới toàn diện cả về tổ chức và hoạt động thì mới hoàn thành được nhiệm vụ của mình.Việc đổi mới của VKSND đã được Nghị quyết số 08/ NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị: “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” xác định: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức
năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án trong suốt quá trình
tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ…”
Với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý… Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Trang 9Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khoá X) “Về chiến lược cải cách đến năm 2020” đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của các
cơ quan tư pháp trong đó có VKSND:“ Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ,
cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một
bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức
và trách nhiệm nghề nghiệp Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt giam giữ, truy tố xét xử Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu…”
Thành phố Hà Nội là Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của nước ta Trong những năm gần đây, bên cạnh việc giữ vững ổn định chính trị, tập trung phát triển kinh tế, Thành phố Hà Nội còn phải đối mặt với nhiều vấn
đề xã hội cần giải quyết, trong đó có vấn đề đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng So với các địa phương trên cả nước, tội phạm xâm phạm sở hữu ở Thành phố Hà Nội luôn chiếm tỷ lệ lớn và đang có chiều hướng gia tăng Loại tội phạm này đã và đang diễn biến phức tạp với tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn gây không ít khó khăn cho công tác điều tra, giải quyết vụ án
Công tác THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội trong những năm gần đây đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần không nhỏ vào công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn cho thấy công tác THQCT
và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Hoạt động KSĐT chưa được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu của vụ án, Kiểm sát viên (KSV) thiếu chủ động trong việc đề ra yêu cầu điều tra, chưa thường xuyên trao đổi nắm bắt thông tin về hoạt động điều tra nên còn bị động trong quá trình giải quyết vụ án, kỹ năng KSĐT của nhiều KSV còn hạn chế… Điều này dẫn đến nhiều vụ án bị kéo dài, phải gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, còn bỏ lọt tội phạm…Những tồn tại nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên nguyên nhân cơ bản là do nhận thức pháp luật và áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu của Cơ quan điều tra (CQĐT) và VKSND còn chưa thống nhất Lý luận về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự chưa được xem xét, nghiên cứu có tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện Thực tiễn hoạt động của
Trang 10VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng chưa được quan tâm, nghiên cứu, tổng kết thường xuyên
Trước thực trạng nêu trên, với xu hướng hội nhập quốc tế như hiện nay, việc nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại từ đó đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội là vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài: “Thực hành
quyền công tố và Kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
THQCT và KSĐT là chủ đề đã được nhiều học giả nghiên cứu dưới góc
độ lý luận và từ nhiều phương diện khác nhau, trong đó phải kể đến một số công trình điển hình như sau:
- Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Hà Thị Minh Hạnh (2011), Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Hà Nội
- Cao Việt Cường (2013), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ
Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
- Trịnh Duy Tám (2005), Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội
- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
Bên cạnh đó còn có các bài viết của nhiều tác giả khác với các ý kiến,
quan điểm khác nhau được đăng tải trên các báo, tạp chí như: Tổ chức bộ máy
Trang 11và chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp của tác giả Lê Hữu Thể, Tạp chí Kiểm sát số 14 – 16, 2008; Bàn về mô hình Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Lại Hợp Việt, Tạp chí Kiểm sát số 14 – 16, 2008; Thể chế chủ trương “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra” trong Bộ luật tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Tiến
Sơn, Tạp chí Kiểm sát số 09, 2015…
Các công trình nghiên cứu các bài viết nêu trên đã đề cập các góc độ khác nhau của hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu hoạt động THQCT và KSĐT cụ thể đối với các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích của đề tài: Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về THQCT và
KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu, đánh giá thực trạng và đưa ra các đề xuất, phương hướng để nâng cao chất lượng THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm
sở hữu nói riêng và các vụ án hình sự nói chung Qua đó góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về THQCT và KSĐT các vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đề ra
- Nhiệm vụ của đề tài: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có
những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về THQCT và KSĐT nói chung và đặc điểm THQCT và KSĐT đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng
+ Phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế
và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế về THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội (ở cả hai cấp)
+ Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng công tác THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về THQCT và KSĐT các vụ
án hình sự và hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND ở Hà Nội
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian và thời gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu thực tiễn áp hoạt động THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 05 năm từ năm 2011 đến hết năm 2015
+ Phạm vi về giai đoạn tố tụng: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn về THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở Thành phố Hà Nội bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặc phát hiện được dấu hiệu của tội phạm cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển cho Viện kiểm sát đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra vụ án
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, đặc biệt là các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị
quyết số 08/ NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị: “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị: “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học điều tra hình
sự và các phương pháp, kỹ năng khác, như: Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp lịch sử cụ thể; kết hợp
sử dụng các phương pháp khoa học khác như : thống kê tội phạm, so sánh, phương pháp hệ thống…
6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp
độ một luận văn thạc sĩ luật học về hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự và hình sự để làm sáng tỏ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự thông qua hoạt động THQCT và KSĐT của Viện kiểm sát Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Phản ánh được thực trạng THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu;
Trang 13- Phân tích, đánh giá, chỉ ra được những tồn tại, hạn chế mà hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu thường gặp phải;
- Đưa ra những vấn đề cần lưu ý, những kinh nghiệm khi THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu;
- Đề xuất hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng như pháp luật hình sự liên quan đến THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu trong chiến lược cải cách tư pháp hiện nay
Bên cạnh đó, Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng công tác THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu các chuyên đề có liên quan đến thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
Chương 2: Pháp luật hiện hành và thực trạng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2011 đến năm 2015
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra các vụ ánxâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT ÐIỀU TRACÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1.Khái niệm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra
1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố
1.1.1.1 Quyền công tố
Trang 14Trên thế giới, khái niệm quyền công tố và THQCT đã xuất hiện từ rất sớm, gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của nhà nước và pháp luật Nhưng
ở nước ta dưới góc độ lập pháp thì Hiến pháp 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 137) Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1981 Như vậy, hoạt động của VKSND bên cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “quyền công tố” và “Thực hành quyền công tố” Từ đó đến nay đã có nhiều tài liệu giảng dạy, nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học đề cập đến khái niệm này.Song cho đến nay, khi chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh cải cách tư pháp, vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao trên phương diện nhận thức về vấn
Ở nước ta, trong thời gian qua đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
về khái niệm thế nào là quyền công tố, có thể khái quát một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của VKS đều là THQCT Những người theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND Quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét quyền công tố Họ cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT Điều đó có nghĩa là ngay cả khi Viện kiểm sát kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm của mình trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội cũng là THQCT Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp2
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa
các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ
1Nguyễn Như Ý (2007), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
2Võ Quang Nhạn (1984), “Bàn về quyền công tố”, Tập san kiểm sát, (2)
Trang 15lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao cho VKSND.3Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác
Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ
án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…)
Quan điểm thứ ba: Là quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại
trong lĩnh vực hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm (duy trì quyền công tố); ở Việt Nam quyền này được Nhà nước giao cho VKSND Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất một chủ thể có quyền công tố
- đó là VKS; việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là
Tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm.4
Theo tác giả, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố; không những vậy còn không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền công tố Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của Viện kiểm sát tại phiên ṭa chỉ là một trong số những nội dung của hoạt động THQCT
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.5Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ
có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, Tòa
3Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố
và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội.
4 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ
năm 1945 đến nay", Thông tin khoa học pháp lý, Số chuyên đề, (1)
5Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Nhà nước và pháp luật (10)
Trang 16án, Thi hành án) và như vậy quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án.
Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác nhau.Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó Tuy vậy, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác cho thấy các quan điểm nêu trên đã bộc lộ một số bất cập như: Hoặc
là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của VKS trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố…
Theo tác giả luận văn, để làm rõ khái niệm quyền công tố, phải xuất phát
từ lịch sử Nhà nước và pháp luật Dù muốn hay không, chúng ta không thể không thừa nhận Nhà nước ra đời và tồn tại luôn luôn là đại diện chính thức cho
xã hội (xét về mọi phương diện) Trong xã hội có giai cấp, bất kể là xã hội nào,
có nhiều loại quan hệ còn tồn tại, nhưng chung quy lại có hai nhóm quan hệ xã hội cơ bản: nhóm quan hệ xã hội thể hiện lợi ích công cộng và nhóm quan hệ xã hội thể hiện lợi ích của từng công dân Nhà nước nói chung luôn luôn có trách nhiệm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung, đến trật tự xã hội chung và trừng trị những hành vi vi phạm các quan hệ xã hội này Nhà nước bảo
vệ các quan hệ xã hội loại này bằng cách quy định phạm vi những hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và hình phạt với các tội phạm Nhà nước thông qua
cơ quan chuyên môn của mình là VKS có quyền truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa Quyền công tố là quyền của VKS thay thế Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất đó là lĩnh vực TTHS.Ở nước
ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho một cơ quan duy nhất là VKS, không
có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được Điều này thể hiện qua các quy định của pháp luật, các kiến, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước:
- Khi nói về vai trò nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã khẳng định: "Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để
sử dụng quyền công tố, bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người,
Trang 17đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát nhân dân phải trông nom, đảm bảo tốt".
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp".6
- Kết luận tại Hội nghị của ngành kiểm sát nhân dân quán triệt những nội dung cơ bản của Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và những công tác trọng tâm của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được
tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng VKSNDTC đã khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử"
- Hiến pháp 2013 (Điều 107) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp".7Quy dịnh này cũng được
cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003)
Như vậy có thể thấy quyền công tố ở nước ta được giao cho một chủ thể duy nhất đó là Viện kiểm sát Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS và có ở tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử
Từ những nội dung được trình bày trên, tác giả cho rằng: Quyền công tố
ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho VKSND thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội
1.1.1.2 Thực hành quyền công tố
Khái niệm quyền công tố và THQCT có quan hệ mật thiết với nhau, giải quyết chính xác, rõ ràng, rành mạch những vấn đề liên quan đến khái niệm quyền công tố và THQCT sẽ giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức năng, nhiệm vụ của VKS, đặc biệt là trong TTHS Điều này có nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai
6Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 củaBộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
7Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (2013), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trang 18đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách cơ quan tư pháp.
Cũng như khái niệm quyền công tố, khái niệm THQCT cũng ít được đề cập đến trong các tài liệu pháp lý ở nước ta và cũng còn nhiều ý kiến khác nhau
về vấn đề này
Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội Đây là quyền của Nhà nước nhưng được giao cho cơ quan duy nhất là VKS Phạm vi quyền này bắt đầu từ khi
có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị Để đảm bảo thực hiện quyền công tố thì Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố.Các quyền năng đó được giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Do đó, VKS chính là cơ quan duy nhất THQCT Thực tiễn hoạt động THQCT mấy chục năm qua của ngành Kiểm sát cho thấy 100% các vụ án hình sự đều do VKS truy tố và thực hiện sự buộc tội trước phiên tòa sơ thẩm, đưa ra lời kết luận của mình tại phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Việc Cơ quan điều tra và Tòa án thực hiện việc khởi tố vụ án hình sự, cơ quan điều tra bắt giữ người phạm tội, điều tra thu thập chứng cứ thực chất chỉ là những hoạt động hỗ trợ, phục vụ cho công tác công tố Trước cơ sở kết quả điều tra, lời luận tội của Kiểm sát viên và kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên tòa, Tòa
án áp dụng pháp luật để quy kết trách nhiệm đối với bị cáo Bản án kết tội của Tòa
án chính là sự chấp nhận lời buộc tội của VKS đối với người phạm tội
Pháp luật hiện hành cũng đã có quy định cụ thể về THQCT tại Điều 3
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 “ Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử vụ án hình sự”
Phạm vi thực hành quyền công tố: Theo quy định của pháp luật nước ta
thì cơ quan VKS có trách nhiệm thực hành quyền công tố trong tất cả mọi giai đoạn của TTHS từ điều tra, truy tố đến xét xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm)
Trang 19Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội; để đảm bảo thực hiện được sự buộc tội nhân danh Nhà nước đó pháp luật quy định các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các chức năng, nhiệm vụ đó chính là thực hành quyền công tố.8Như vậy, có thể thấy rõ quyền công tố là cơ sở của thực hành quyền công tố, phải có quyền công tố thì mới có thực hành quyền công tố cho nên để xem xét phạm vi của thực hành quyền công
tố thì trước hết phải xem xét đến phạm vi của quyền công tố Như phần trên đã nêu, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện … Còn thực hành quyền công tố thì chỉ phát sinh kể từ thời điểm vụ án được khởi tố bằng quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền - tức là khi cơ quan tố tụng đã áp dụng một trong các biện pháp thực hành quyền công tố Tuy nhiên, trên thực tế có không ít những trường hợp mặc dù có tội phạm xảy ra nhưng không được khởi tố; điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khoa học pháp lý gọi là "tội phạm ẩn" (tức là những tội phạm trên thực tế đã xảy ra nhưng chưa được khởi tố để điều tra)9cho nên cơ quan tố tụng không áp dụng được bất
cứ một biện pháp thực hành quyền công tố nào Qua đây, có thể thấy rằng phạm
vi của thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền công tố, nó chỉ bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ)
Nội dung của thực hành quyền công tố:Nội dung thực hành quyền công
tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được thực hiện ngay từ khi khởi
tố vụ án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố bao gồm: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi cần thiết, trực tiếp tiến hành một
số hoạt động điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; hủy bỏ các
8Lê Cảm (2001), "Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về
quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà
Nội
9Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Nhà nước và pháp luật (10)
Trang 20quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan điều tra; quyết định truy tố bị can; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Từ những phân tích nêu trên ta có thể rút ra kết luận: Thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động do Nhà nước qui định nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền
sở hữu của cá nhân, tổ chức
1.1.2 Khái niệm Kiểm sát điều tra
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn ngữ
- Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 2000, thì "kiểm sát" có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng Quốc
gia chỉ đạo biên soạn, thì "kiểm sát" là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra,
giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước
Với cách giải thích khái niệm "kiểm sát" của hai cuốn từ điển nêu trên, chúng tôi cho rằng, kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và
kiểm tra Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa vi phạm đó Hoạt động kiểm tralà hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của người, cơ quan bị kiểm tra
Kiểm sát điều tra nói một cách đầy đủ đó là kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 Tuy nhiên nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này Một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng trong suốt một thời gian dài chúng ta chưa quan tâm đúng mực đến lĩnh vực tư pháp, điều đó thể hiện ở việc trước khi có Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thuật ngữ quyền tư pháp ít được sử dụng trong ngôn ngữ chính trị, pháp luật và khoa học Điều đó
đã không tạo ra được tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề về tư pháp, trong
Trang 21đó có vấn đề "kiểm sát các hoạt động tư pháp".10Do vậy, hiện nay xung quanh khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp” đang còn có nhiều quan điểm khác nhau, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng "Kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án"11
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng "Kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ án hình
sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần "tư pháp" trong thi hành án"12
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên ngoài cũng như từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát
xã hội Theo nghĩa rộng, kiểm sát tư pháp cũng được hiểu là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Còn theo nghĩa hẹp thì kiểm sát tư pháp được hiểu là chức năng của VKS Phạm vi kiểm sát tư pháp là việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật Mục đích của của kiểm sát tư pháp là bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định.13
Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả Luận văn trước hết cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy
10Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb
Tư pháp, Hà Nội.
11Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát ( 2009 ) tập bài giảng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, tập 3.
12Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát ( 2009 ) tập bài giảng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, tập 3.
13Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát ( 2009 ) tập bài giảng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, tập 3.
Trang 22nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan
tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án
và bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể
án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”
Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là: Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là gì?
Chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Hoạt động kiểm sát điều tra với tính chất là một chức năng của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra các vụ án hình
sự nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm đồng thời cũng không làm oan người vô tội
Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi của nó? Theo tác giả luận văn, đối tượng của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự chính là các hành vi quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người
Trang 23tham gia tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật tổ chức VKS, Bộ luật hình sự, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan để theo dõi, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật, cũng như bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp của các hành vi tố tụng hình sự mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện
Về phạm vi của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự từ trước đến nay đang
là vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên về mặt lý luận tác giả cho rằng phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra, theo đó các
cơ quan tư pháp có thẩm quyền có trách nhiệm khởi động hoạt động công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội CQĐT cũng có quyền phát động công tố nhưng đó là sự phát động nằm trong sự kiểm sát của VKS nên không mang tính độc lập Do vậy, khi CQĐT phát động quyền công tố đồng thời theo đó làm phát sinh các hoạt động tố tụng trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm Nhằm bảo đảm cho các hoạt động tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật, đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ của VKS thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Vì vậy, phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự được xác định bắt đầu từ khi có tội phạm xảy
ra hoặt phát hiện được dấu hiệu của tội phạm cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển cho VKS
đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án Việc xác định phạm vi như vậy là thể hiện tính đầy đủ, toàn diện của công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của VKS, cũng như thể hiện đầy đủ bản chất pháp lý của hoạt động kiểm sát việc điều tra các vụ án hình sự đó là kiểm tra tính có căn
cứ và tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Từ những nội dung nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự làhoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành
vi, quyết định của Cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và trong suốt quá trình điều tra vụ án hình sự
Trang 24Như vậy, kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu chính là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu Hoạt động này của Viện kiểm sát được thực hiện từ khi tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra
1.1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
Theo Hiến pháp năm 2013và Luật tổ chức VKS năm 2014, trong lĩnh vực
tư pháp hình sự VKS có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm sát trong lĩnh vực tư pháp hình sự, VKS các cấp luôn luôn quán triệt đường lối công tác kiểm sát là đấu tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật; không để lọt tội phạm đồng thời cũng không được làm oan người vô tội Nên việc thực hiện đồng thời hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết các
vụ án hình sự là mang tính khách quan, do vậy giữa hai hoạt động này luôn có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ đó được thể hiện ở các phương diện sau:
Khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm, vụ án được khởi tố, tức là quyền công tố được phát động đã làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự, hoạt động này được VKS thực hiện để bảo đảm việc khởi tố đúng với các quy định pháp luật, thông qua hoạt động kiểm sát khởi
tố xét thấy quyết định khởi tố của CQĐT không có căn cứ và hợp pháp, tức là quyết định đó trái pháp luật thì VKS yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấm dứt ngay hoạt động điều tra, đồng thời ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố trái pháp luật, như thế quyền công tố có thể bị triệt tiêu và việc ra quyết định hủy bỏ tức là VKS đã thực hành quyền công tố Do vậy, làm tốt chức năng kiểm sát khởi
tố vụ án hình sự sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định của VKS được chính xác và đúng pháp luật nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và hạn chế được các vi phạm trong việc thực hành quyền công tố của VKS Ngược lại nếu thực hiện kiểm sát khởi tố không tốt sẽ mất đi tính hiệu quả trong việc thực hành quyền công tố, thậm chí quyết định pháp lý của VKS là vi phạm pháp luật Ví dụ, trong trường hợp CQĐT khởi tố vụ án trái pháp luật, nếu kiểm sát khởi tố không kiểm sát chặt chẽ thì sẽ
Trang 25không phát hiện được vi phạm trong việc ra quyết định khởi tố của CQĐT thì VKS sẽ không đưa ra được các yêu cầu và biện pháp khắc phục ngay từ đầu, chính điều đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ án phải đình chỉ điều tra.
Khi VKS quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các quyết định tố tụng khác của CQĐT, tức là VKS trực tiếp sử dụng quyền công tố Nhưng hoạt động thực hành quyền công tố của VKS cũng phải tuân theo quy định của pháp luật, muốn vậy trước khi quyết định các vấn đề trên, VKS phải tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn hoặc trong việc khởi tố bị can của CQĐT, tức là VKS tiến hành thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp
Để thực hiện tốt quyền công tố, có nghĩa là đảm bảo việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác của CQĐT được chính xác, đúng pháp luật thì đòi hỏi phải kiểm tra chặt chẽ tính có căn cứ và tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự mà CQĐT quyết định áp dụng, mà hoạt động kiểm tra này chính là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Trên cơ sở kết quả của hoạt động kiểm sát thấy rằng quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là có căn cứ và hợp pháp thì VKS
sẽ quyết định phê chuẩn để thi hành, ngược lại nếu xét thấy quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự của CQĐT là không có căn cứ và hợp pháp VKS sẽ quyết định không phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT chấm dứt ngay các hoạt động tố tụng Ví dụ, theo quy định mới của BLTTHS năm 2003, quyết định khởi tố bị can của CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải được VKS cùng cấp phê chuẩn Do vậy, để phê chuẩn hay hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của CQĐT thì VKS phải tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố bị can nhằm bảo đảm quyết định khởi tố bị can là có căn cứ và hợp pháp, nếu qua hoạt động kiểm sát xét thấy quyết định khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì VKS quyết định phê chuẩn để CQĐT tiến hành hoạt động điều tra, ngược lại quyết định khởi tố bị can không có căn cứ thì VKS quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT
Với việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm tiền
đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác,
Trang 26nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động thực hành quyền công tố Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra khi chức năng thực hành quyền công tố của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát Ví dụ khi VKS phê chuẩn lệnh bắt khấn cấp của CQĐT thì làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ người bị bắt của CQĐT nhằm bảo đảm việc tạm giữ người phải có lệnh hoặc có quyết định phê chuẩn của VKS, đồng thời bảo đảm thời hạn tạm giữ đúng theo quy định của pháp luật.
Khi truy tố bị can ra Tòa án để xét xử, tức là VKS thực hành quyền công
tố, hoạt động đó thể hiện qua việc ban hành quyết định truy tố Nhưng quyết định truy tố của VKS cũng phải bảo đảm tính có căn cứ và tính hợp pháp và điều
đó có nghĩa là bản thân VKS trong giai đoạn truy tố cũng phải đặt trong sự tuân thủ pháp luật Muốn bảo đảm quyết định truy tố có căn cứ thì phải dựa trên cơ
sở của kết quả hoạt động kiểm sát điều tra vụ án của VKS, nếu thực hiện tốt hoạt động kiểm sát điều tra thì VKS sẽ nắm được nội dung của vụ án, những tình tiết buộc tội, tình tiết gỡ tội của bị can và các tình tiết liên quan khác của vụ án và
đó chính là căn cứ vững chắc cho việc truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, ngược lại nếu VKS thực hiện không tốt hoạt động kiểm sát điều tra thì
có thể dẫn đến việc truy tố oan, sai Cho nên, hoạt động kiểm sát điều tra là cơ
sở rất vững chắc cho hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
và xét xử Bên cạnh đó, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy
tố lại là tiền đề làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS tại phiên tòa xét xử
Như vậy, giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố trong lĩnh vực tư pháp hình sự luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ và biện chứng với nhau, nhiệm vụ của hoạt động này làm tiền đề cho nhiệm vụ của hoạt động kia và ngược lại; kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kia và ngược lại Mối quan hệ biện chứng giữa hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện, khởi tố điều tra cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị
1.2.Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
các vụ án xâm phạm sở hữu
Trang 271.2.1 Các tội xâm phạm sở hữu
1.2.2.1 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu
Quyền sở hữu đối với tài sản là một trong các quyền cơ bản, quan trọng được pháp luật bảo vệ Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp
về tài sản của Nhà nước, của các tổ chức và mọi công dân Điều này được ghi
nhận tại Điều 32, Hiến pháp năm 2013: “1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; 2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ…”
Theo quy định tại Điều 164, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 thì quyền
sở hữu về tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật
Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu là việc chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội (Điều 182, BLDS 2005) Trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định thì người không phải
là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu về tài sản
Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản của mình ( Điều 192, BLDS 2005) Cũng giống như quyền chiếm hữu, đối với các trường hợp không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyền quyền sử dụng hoặc
do pháp luật quy định
Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền
sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản ( Điều 195, BLDS 2005) Theo đó, chủ
sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác theo quy định của pháp luật (Điều 194, BLDS 2005)
Việc xâm phạm vào quyền sở hữu có nghĩa là làm mất đi quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt hoặc chỉ mất đi một hoặc hai quyền trong các quyền đó Điều này tùy thuộc vào từng tội phạm cụ thể
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu nói chung là tài sản Tài sản ở đây phải là dạng vật chất cụ thể Điều 163, BLDS 2005 xác định tài sản bao gồm: Vật có thực, tiền, giấy tờ giá trị được bằng tiền và các quyền tài sản
Trang 28Như vậy có thể định nghĩa các tội xâm phạm sở hữu như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại ở mức độ nhất định cho quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ”
1.2.1.2 Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sở hữu
Dấu hiệu pháp lý hay dấu hiệu cấu thành của một loại tội phạm có tính đặc trưng và điển hình cho loại tội phạm ấy, nó phản ánh đầy đủ bản chất và đủ
để phân biệt loại tội phạm này với các tội phạm khác, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động định tội danh Vì vậy, để thực hiện tốt hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu thì bên cạnh việc nắm vững kiến thức về THQCT
và KSĐT nói chung còn cần hiểu biết đầy đủ về các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sở hữu
Khách thể của các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu là quyền sở hữu
đối với tài sản, làm thiệt hại cho quyền chiếm hữu, quyền sử dụng hoặc quyền định đoạt tài sản Những tài sản thuộc quyền sở hữu bao gồm: tài sản thuộc sở hữu nhà nước, tài sản thuộc sở hữu tập thể, tài sản đang tạm thời thuộc quyền quản lý của nhà nước, xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã, tài sản công dân thuộc thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Mọi tài sản đều thể hiện dưới dạng vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản
Mặt khách quan của các tội phạm xâm phạm sở hữu thể hiện bằng các
hành vi sau đây:
Hành vi chiếm đoạt tài sản: là hành vi chuyển dịch vị trí pháp lý của tài sản trái pháp luật, chuyển dịch quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể sang chủ thể khác không đúng pháp luật Hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng nhiều phương pháp, thủ đoạn khác nhau nhưng tất cả mọi hành vi chiếm đoạt đều thực hiện bằng phương pháp chủ động tích cực (phương pháp hành động), biến tài sản của người khác thành tài sản của mình
Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản: là hành vi chiếm tài sản của chủ thể
đã mất khả năng thực tế quản lý tài sản
Hành vi sử dụng trái phép tài sản: là trường hợp xâm phạm quyền sử dụng tài sản một cách trái phép, khai thác giá trị sử dụng của tài sản mà không được phép của chủ tài sản
Trang 29Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản, làm mất một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản.
Trong các hành vi nêu trên có hành vi có thể được thực hiện bằng hình thức hành động và không hành động Riêng các tội phạm có tính chất chiếm đoạt chỉ có thể được thực hiện bằng hành động
Dấu hiệu hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thành của tội xâm phạm sở hữu mà chỉ là dấu hiệu bắt buộc trong một số tội phạm cụ thể
Các dấu hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm như công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm không phải là dấu hiệu bắt buộc, trừ trường hợp luật định ở những cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ
Mặt chủ quan các tội phạm xâm phạm sở hữu: phần lớn các tội phạm
xâm phạm quyền sở hữu tài sản được thực hiện do hình thức lỗi cố ý, có một số tội được thực hiện do vô ý, như: tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu tài sản là bất kỳ người nào có đủ
năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định chung
Các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản được phân loại thành ba nhóm: các tội thực hiện bằng hành vi chiếm đoạt; các tội không có tính chất chiếm đoạt; các tội không có tính vụ lợi, không chiếm đoạt
Trong BLHS hiện hành, các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI ( từ Điều 168 đến Điều 180) Theo quy định của BLHS, có 13 tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu, đó là: Tội cướp tài sản (Điều 133, BLHS); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134, BLHS); Tội cưỡng đoạt tài sản ( Điều 135, BLHS); Tội cướp giật tài sản (Điều 136, BLHS); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137, BLHS); Tội trộm cắp tài sản (Điều 138,BLHS); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139, BLHS); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140, BLHS); Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141, BLHS); Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142, BLHS); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143, BLHS); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều
144, BLHS); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145, BLHS)
Trang 301.2.2 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
Để thực hiện tốt hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu, bên cạnh việc nắm vững những nội dung cơ bản của công tác THQCT và KSĐT còn phải xác định được những đặc điểm riêng biệt của công tác THQCT
và KSĐT đối với các tội xâm phạm sở hữu Từ nhận thức chung về hoạt động THQCT và kiểm sát các hoạt động điều tra, và đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu, ta có thể rút ra đặc điểm của hoạt động THQCT và KSĐT các vụ
án xâm phạm sở hữu như sau:
Hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu bắt đầu từ thời điểm giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm Đối với các tội xâm phạm sở hữu tin báo, tố giác về tội phạm thường diễn ra rất nhanh thông qua tin báo của người bị hại hoặc quần chúng nhân dân chứng kiến sự việc phản ánh đến Cơ quan công an, VKS Tuy nhiên, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo lại kéo dài hơn so với nhóm tội khác vì phần lớn các tội xâm phạm sở hữu cấu thành vật chất bắt buộc phải có kết luận định giá tài sản hoặc đối với một số tội khi xảy ra
sự kiện phạm tội, chưa xác định được đối tượng phạm tội, người bị hại không cung cấp được các thông tin liên quan đến tài sản… thì CQĐT mới ra quyết định khởi tố hay không khởi tố, nên không tránh khỏi việc chờ đợi
Trong hoạt động THQCT và kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, không khởi tố vụ án hình sự thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu thì yếu tố định lượng tài sản chiếm đoạt hoặc các yếu tố khác có ý nghĩa rất quan trọng Các tội xâm phạm sở hữu còn có những tội danh rất dễ ly lai như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cướp giật tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản hoặc các tội chiếm đoạt khác đều rất khó trong quá trình xác định tội danh Chính vì vậy, nên nhiều trường hợp để khởi tố vụ án, khởi tố bị can cần một khoảng thời gian nghiên cứu nhất định Do đó, khi THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu Kiểm sát viên cần phải kiểm tra kỹ
hồ sơ của CQĐT chuyển sang, đồng thời đối chiếu với các quy định của BLTTHS để đảm bảo tránh tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm
Hoạt động đánh giá chứng cứ khi THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm
sở hữu phải xem xét toàn diệncác vấn đề đặc biệt là các tình tiết mang tính chất định tội như số tiền chiếm đoạt, động cơ, mục đích, thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt Ngoài ra trong đó cần đánh giá cả các yếu tố từ phía người bị hại
Trang 31để đảm bảo việc khởi tố, điều tra đúng tội danh, đúng người phạm tội.
Hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu thường phải
chú ý công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường đặc biệt là đối với các vụ án
cướp tài sản, cướp giật, trộm cắp tài sản Nếu thực hiện tốt công tác điều tra tại hiện trường sẽ nhanh chóng thu thập được các chứng cứ, dấu vết nóng, vật chứng có giá trị quan trọng chứng minh tội phạm Tuy nhiên, hiện trường đối với các tội xâm phạm sở hữu thường hay bị xáo trộn vì khi sự việc xảy ra người phạm tội thường trốn tránh, chạy thoát, còn người bị hại thì hoang mang, thông thường muốn tiếp cận hiện trường để xác định xem tài sản của mình bị chiếm đoạt, mất mát là bao nhiêu Chính vì lý do đó, nên hiện trường của các vụ án xâm phạm sở hữu thường bị xáo trộn Do đó, công tác khám nghiệm hiện trường
và kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường càng cần phải diễn ra nhanh chóng, tỉ
mỉ và chính xác nhằm đảm bảo việc thu thập các chứng cứ tài liệu đầy đủ nhất phục vụ cho hoạt động điều tra vụ án hình sự về xâm phạm sở hữu
Việc áp dụng biện pháp khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, đồ đạc, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm áp dụng trong các vụ án xâm phạm sở hữurất quan trọng Chủ yếu thường được áp dụng để truy tìm vật chứng là hung khí gây
án và kê biên tài sản bồi thường dân sự Đối với những trường hợp CQĐT đề nghị phê chuẩn khám người, khám chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, đồ đạc, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm thì Kiểm sát viên cần khẩn trương nghiên cứu các lệnh, các biên bản khám xét của CQĐT để kịp thời phát hiện và yêu cầu sửa chữa các vi phạm pháp luật Đồng thời, theo dõi và kiểm tra việc bảo quản tài sản, vật chứng; giải quyết xử lý kịp thời những vấn đề liên quan đến vật chứng, tài sản.Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu thì kết quả định giá tài sản của cơ quan chuyên môn có ý nghĩa quan trọng, nhằm xác định hành vi đó có phải là tội phạm hay không, tính chất mức độ của hành vi đó như thế nào Do đó, kiểm sát việc trưng cầu định giá tài sản đối với hoạt động này của Cơ quan điều tra là rất quan trọng Bởi lẽ đây là chứng cứ định lượng để có thể xác định tội phạm
Chủ thể thực hiện hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu chỉ có thể là kiểm sát viên và Viện trưởng, Phó Viện trưởng có thẩm quyền Hoạt động này gắn chặt với hoạt động điều tra của CQĐT và đòi hỏi sự phối hợp cũng như chế ước đối với hoạt động của CQĐT
Để thực hiện hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu, kiểm sát viên chỉ được áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật tố
Trang 32tụng hình sự và tuân theo chức năng, quyền hạn của ngành Kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật.
Hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm sở hữu được diễn ra trực tiếp, đồng thời và đề cập một cách toàn diện mọi hành vi tố tụng của giai đoạn điều tra Nhằm hướng tới mục đích bảo đảm tuân thủ pháp luật trong giai đoạn điều tra, tìm kiếm mọi chứng cứ chứng minh tội phạm, tạo tiền đề cho giai đoạn truy tố, xét xử sau này
1.3 Khái quát lịch sử hình thành chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra ở Việt Nam
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đưa nước ta dành được độc lập và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Ngay từ ngày đầu xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xây dựng các cơ quan chuyên trách như cơ quan Công tố và Tòa án có nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, trừng trị và phòng ngừa các tội phạm hình sự nhằm mục tiêu là bảo vệ chế độ Nhà nước của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.Tiền thân của cơ quan VKS là cơ quan Công tố viện được thành lập theo sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, vào giai đoạn đó Công tố viện là một bộ phận trong hệ thống cơ quan Tòa án, sau Nhà nước ta đã ban hành các Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 20/7/1946
và sắc lệnh số 19 ngày 16/2/1947 quy định thành lập hệ thống Tòa án nhân dân (tòa án thường), trong đó Công tố viện là một tổ chức bên cạnh Tòa án và trực thuộc Bộ tư pháp quản lý Hệ thống Công tố ở Tòa thượng thẩm và Tòa án
đệ nhị cấp do một Viên chưởng lý đứng đầu, lúc này Công tố viện chỉ có chức năng truy tố người phạm tội ra Tòa án để xét xử Cho nên trong giai đoạn lịch sử
từ năm 1945 đến 1950 tổ chức Công tố nằm trong hệ thống Tòa án
Đến năm 1958 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố Từ thời điểm này Viện công tố tách khỏi hệ thống Toà án và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Sau đó Thủ tướng đã ban hành Nghị định 256/TTg ngày 1/7/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố, trong đó có quy định: "Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra ", như vậy ngoài chức năng truy tố theo luật hình sự
Trang 33những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có chức năng trong việc giám sát chấp hành pháp luật trong điều tra vụ án hình sự Từ giai đoạn này trở đi, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự của Viện công
tố bắt đầu được hình thành và thực hiện Đến năm 1959, Quốc hội ban hành Hiến pháp 1959 trong đó đã quy định tổ chức cơ quan VKSND thành một hệ thống độc lập với Chính phủ và chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960
để cụ thể hóa chức năng của VKS trong đó có chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự Việc ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã đánh dấu
sự hình thành hệ thống cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương, đồng thời khẳng định chức năng hiến định là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, và xét xử Cũng trong thời gian này VKSNDTC và Bộ công an đã ban hành nhiều thông tư liên bộ quy định trách nhiệm của hai ngành trong công tác phối hợp phòng chống và đấu tranh tội phạm, cụ thể là thông tư
số 427-TTLB ngày 28/6/1963 đã quy định trách nhiệm của từng ngành đối với việc điều tra xử lý tội phạm, thông tư quy định: Cơ quan Công an điều tra đảm nhiệm việc điều tra tất cả các vụ án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp Còn VKS chủ yếu là làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra, đồng thời trong phạm
vi điều kiện và khả năng của mình sẽ trực tiếp và điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và hành vi phạm pháp đã tương đối rõ
Đến giai đoạn những năm 80, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980 trong đó quy định chức năng của VKS như sau: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và các đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công
tố trong phạm vi trách nhiệm của mình" (Điều 138) Trên cơ sở đó Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra tại chương II Tuy nhiên trong giai đoạn này chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động điều tra, cũng như hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự, từ đó dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm
Trang 34Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội Bộ luật tố tụng đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục khởi tố - điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, bên cạnh đó có quy định về hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra của VKS với mục đích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Điều 23 BLTTHS 1988 quy định:
"Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình
sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào”
Với quy định đó VKS thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Như vậy, từ giai đoạn này trở đi, hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra được thực hiện theo quy định của một văn bản quy phạm pháp luật và trong suốt thời gian hơn 15 năm thực hiện BLTTHS, chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra của VKS
đã góp phần quan trọng trong công cuộc phòng chống, đấu tranh các loại tội phạm, đảm bảo việc ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển một nền kinh tế bền vững trong thời kỳ đổi mới của đất nước ta, đồng thời tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sau đây được gọi là Hiến pháp năm 1992 sửa đổi), lần sửa đổi này đã điều chỉnh chức năng của VKS với quy định:" Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định." (Điều 137), như vậy Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã quy định rõ kiểm sát hoạt động
tư pháp là một trong hai chức năng chính của VKS, điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự nói riêng là chức năng quan trọng và chỉ giao cho cơ quan VKS thực hiện Trên cơ sở quy định của
Trang 35Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức VKSND năm 2002 được ban hành
và tại các Điều 12, 14 chương II quy định: "VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra" Bên cạnh đó để đáp ứng những yêu cầu trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong thời kỳ mới là nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, vừa bảo đảm chống để lọt tội phạm vừa bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân không bị vi phạm , đồng thời trải qua hơn 10 năm thực hiện BLTTHS năm
1988 đã nảy sinh những bất cập trong thực tiễn áp dụng, đòi hỏi cần phải được sửa đổi, bổ sung Nên năm 2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã tiến hành thảo luận và thông qua BLTTHS năm 2003 thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó tại Điều 2 chương II - Những nguyên tắc cơ bản
có quy định: " Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc
vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này
VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội" Ngoài ra còn có những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra tại Điều 113 BLTTHS năm 2003
Cho đến nay, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND vừa ra đời năm
2014 cũng đều khẳng định VKSND thực hiện hai chức năng là THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ quan VKS thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự ngày càng được khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm mục đích là sự tuân thủ nghiêm minh
và thống nhất các quy định pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Trang 37Chương 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
HỮU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Pháp luật hiện hành về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
2.1.1 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Chức năng THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thể hiện qua những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, được quy định tại Điều 112 BLTTHS 2003 bao gồm những hoạt động sau:
Thứ nhất, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can
Khởi tố vụ án là một quyết định mang tính pháp lý của các cơ quan bao gồm: CQĐT, VKSND, Toà án nhân dân và một số cơ quan khác được pháp luật quy định Theo quy định tại Điều 100 BLTTHS 2003, chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Mục đích của việc khởi tố vụ án hình sự là việc xác nhận về mặt pháp lý một vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm
để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, tuỳ từng trường hợp mà Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tự mình khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Theo quy định của BLTTHS 2003 thì việc khởi tố vụ án hình sự do Cơ quan điều tra thực hiện là chủ yếu Viện kiểm sát chỉ trực tiếp khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án Đối với việc khởi tố bị can thì Viện kiểm sát chỉ trực tiếp khởi tố bị can trong trường hợp sau khi nhận hồ sơ vụ án và kết luận điều tra mà Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ
án nhưng chưa bị khởi tố, trong các trường hợp khác, việc khởi tố bị can do Cơ quan điều tra thực hiện và Viện kiểm sát có trách nhiệm phê chuẩn việc khởi tố Thực tế cho thấy Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can chỉ
Trang 38trong một số ít trường hợp, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Viện kiểm sát chủ yếu yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can
Thứ hai,đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo qui định của pháp luật
Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra Để bảo đảm hoạt động điều tra có kết quả thì Viện kiểm sát với vai trò là cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố phải đề ra yêu cầu điều tra ngay từ khi có quyết định khởi tố vụ
án và trong từng giai đoạn của quá trình điều tra, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải bám sát việc điều tra vụ án của Cơ quan điều tra để kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra một cách cụ thể, toàn diện nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Thứ ba, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật, nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự
Khi tiến hành hoạt động TTHS, ĐTV đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án, làm rõ những chứng cứ xác định bị can có tội hoặc không có tội, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS của bị can
Do đó, khi phát hiện thấy ĐTV thuộc một trong những trường hợp bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng, KSV có quyền đề nghị Thủ trưởng CQĐT xem xét để thay đổi ĐTV hoặc đề nghị Viện trưởng VKS cấp mình xem xét để yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được đề nghị của KSV hoặc văn bản yêu cầu của Viện trưởng VKS cùng cấp, nếu xét thấy có căn cứ thì Thủ trưởng CQĐT phải ra quyết định thay đổi ĐTV; nếu thấy không có căn cứ th́ thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do để VKS cùng cấp biết
Điều 44 BLTTHS 2003 quy định các trường hợp ĐTV phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi Dựa vào các quy định của Điều luật này, VKS yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV Đó là các trường hợp:
Trang 39ĐTV đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo
ĐTV đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó
ĐTV đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là KSV, Thẩm phán, Hội thẩm hoặc Thư ký Tòa án Khi đã tiến hành giải quyết vụ án đó với tư cách khác họ đã có những ý kiến đánh giá, những quan điểm, những kết luận cá nhân… thể hiện sự nhận thức và thái độ của mình đối với vụ án, họ không thể đảm bảo sự vô tư khi tiến hành điều tra vụ án Vì vậy, trong trường hợp này, VKS sẽ yêu cầu thay đổi ĐTV
Ngoài những trường hợp trên, ĐTV còn bị thay đổi nếu có căn cứ rõ ràng khác để có thể cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ như: có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ bị mua chuộc, bị đe dọa hoặc có những quan hệ ràng buộc khác với những người tham gia tố tụng…
Bên cạnh việc yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV, nếu hành vi của ĐTV bị thay đổi có dấu hiệu tội phạm thì VKS sẽ khởi tố về hình sự
Thứ tư, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của CQĐT theo quy định của pháp luật.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế do CQĐT, VKSND, TAND
áp dụng đối với người phạm tội, bị can, bị cáo và cả bị án khi có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội mới
Theo quy định tại Điều 79, BLTTHS năm 2003, các biện pháp ngăn chặn bao gồm: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
VKS ra quyết định bắt bị can để tạm giam trong hai trường hợp Một là,người đó phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Đây
là trường hợp bị can phạm tội mà theo quy định của BLHS, mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng đối với tội ấy là đến 15 năm tù (tội phạm rất nghiêm trọng) hoặc phạm tội mà mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng)
Trang 40Hai là, người đó phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng
mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó
sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố hoặc có thể tiếp tục phạm tội Trong một điều luật có nhiều khoản thì phạm tội thuộc khoản có mức hình phạt trên hai năm tù có thể tạm giam, phạm tội thuộc khoản có mức phạt tù từ hai năm trở xuống thì không được tạm giam
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của TTHS Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách ly với xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền của công dân Do đó, đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng, là người già yếu, người bị mắc bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam
mà phải áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ trường hợp: Bị can bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng lại tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra; bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại cho an ninh quốc gia
Đối với việc tạm giữ, VKS không trực tiếp ra quyết định tạm giữ mà chỉ phê chuẩn quyết định tạm giữ của những người có thẩm quyền VKS sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ nếu: Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang; người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu TNHS
Cấm đi khỏi nơi cư trú: Khi VKS ra quyết định áp dụng biện pháp này, thì
bị can không được đi khỏi nơi cư trú của mình và phải có mặt theo giấy triệu tập Đối tượng áp dụng biện pháp này thường là bị can phạm tội ít nghiêm trọng, lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, thái độ khai báo thành khẩn và có đủ cơ sở cho rằng họ sẽ không bỏ trốn, gây cản trở cho việc điều tra hoặc tiếp tục phạm tội Trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú bị can phải chịu sự quản lý, giám sát
về việc đi lại của chính quyền xã, phường hoặc thị trấn nơi mình cư trú Trường hợp bị can cần phải tạm đi khỏi nơi cư trú thì phải được phép của VKS Nếu bị can vi phạm cam đoan sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác
Bảo lĩnh: Khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can theo giấy triệu tập, thì VKS ra quyết định cho cá nhân, tổ chức đó bảo lĩnh bị can Đối tượng áp dụng