1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự tham gia của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự so sánh pháp luật của nước cộng hoà XHCN việt nam với pháp luật của nước cộng hoà DCND lào (luận văn thạc sĩ luật học)

87 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 646,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự là những công việc cụ thể do pháp luật quy định đối với VKSND trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng các vụ việc dân sự từ k

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong bộ máy nhà nước của Việt Nam cũng như Lào, Viện Kiểm sát đều là cơ quan tư pháp rất quan trọng Viện Kiểm sát của hai nước đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ chính quyền nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế xã hội chủ nghĩa

và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân tại nước mình Việc nghiên cứu

về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam nhằm tiếp thu, kế thừa những ưu điểm, thành công trong quá trình xây dựng pháp luật TTDS về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) của Việt Nam đồng thời nhận thức những hạn chế, vướng mắc ở Việt Nam trong quá trình xây dựng pháp luật Trên cơ sở nghiên cứu so sánh, có thể rút

ra những bài học, kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, hoàn thiện những quy định của pháp luật TTDS về sự tham gia của VKSND ở Lào

Việc nghiên cứu về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mà cả hai nước Lào và Việt Nam đều tiến hành cải cách tư pháp, hoàn thiện pháp luật để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự đang giữ một vị trí quan trọng trong quá trình sửa đổi BLTTDS của cả Lào và Việt Nam Bước sang thế kỷ XXI, tiến trình cải cách tổ chức và hoạt động của VKSND trong lĩnh vực dân sự đã được tiến hành ngày càng sâu rộng Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng trong tố tụng dân sự, xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Vì vậy, những quy định về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự cần được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, đảm bảo phù hợp với lý luận và thực tiễn

Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 trong đó xác định rõ: "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Nghiên cứu hướng tới chuyển thành Viện công tố" Tiếp đó, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị nước Cộng hoà XHCN Việt

Trang 2

Nam ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW và tiếp tục khẳng định: Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên nhiệm vụ, quyền hạn như hiện nay là thực hành quyền công tố

và kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án

Như vậy, ở Việt Nam, các Nghị quyết trên đã chỉ rõ nhiều nội dung cụ thể về cải cách tư pháp đòi hỏi phải được thể chế hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) nói chung cũng như vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS nói riêng trong tố tụng dân sự

Ở Lào, sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong TTDS cũng được Đảng và Nhà nước Lào quan tâm Ngày 10 tháng 12 năm 2000, Bộ Chính trị nước Cộng hoà DCND Lào tại nghị quyết số 03/NQ-TW khoá VI đã có chỉ đạo: “Cải cách thể chế tư pháp theo chiều sâu, … bảo đảm cơ quan xét xử, viện kiểm sát thực thi quyền xét xử và quyền kiểm sát của mình một cách công bằng và tuân theo pháp luật” Tiếp đó, Nghị quyết số 12/NQ-TW ngày 16/11/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp chỉ đạo cụ thể: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”

Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ X ngày 7/4/2011 đã nhấn mạnh việc hoàn thiện pháp luật dân sự và tố tụng dân sự “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phục vụ sự giàu mạnh và phồn vinh của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào” Nghị quyết này là nền tảng quan trọng để định hướng quá trình đổi mới công tác lập pháp và chương trình cải cách hành chính đang diễn ra trên đất nước Lào Nghị quyết này cũng đề cập tới việc xây dựng nền tư pháp trong sạch, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động tố tụng nói chung và xét xử nói riêng của ngành tư pháp, trong đó VKSND có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh và bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp bổ sung và hoàn thiện các chính sách về tố tụng hình sự, tố tụng dân sự trong cả nước

Trang 3

Ngoài ra, trong Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ X, Đảng

cũng nêu rõ “Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay” , “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” ; “nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử”.

Thực tiễn thi hành BLTTDS Lào năm 2012 cho thấy quy định của Bộ luật này về

sự tham gia của VKS trong tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho VKS thực hiện được đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức VKSND của Lào Việt Nam và Lào là hai nước

xã hội chủ nghĩa anh em, có đa dân tộc, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, nền kinh tế và pháp luật Việt Nam có những bước chuyển nhanh trong bối cảnh hội nhập Việt Nam là nước có nền khoa học pháp lý tiên tiến, đặc biệt trong quá trình cải cách tư pháp đã ban hành BLTTDS năm 2015 có những quy định về sự tham gia của VKSND trong TTDS với nhiều ưu điểm tiến bộ hơn BLTTDS Lào năm 2012 Do vậy, việc nghiên cứu tham khảo việc xây dựng các quy định về sự tham gia của VKS trong tố tụng dân sự ở Việt Nam nhằm rút kinh nghiệm cho việc hoàn thiện BLTTDS năm 2012 của Lào là cần thiết

Từ những lý do đã nêu trên, cho thấy việc lựa chọn đề tài “Sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự - So sánh pháp luật của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam với pháp luật của nước Cộng hoà DCND Lào” làm đề tài nghiên cứu luận văn

thạc sỹ luật học là hết sức cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự của Nhà nước Việt Nam và Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là một vấn đề rộng

và luôn là vấn đề mang tính thời sự Tuy nhiên, vấn đề này mới chỉ được đề cập đến trong một số ít công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và Lào mà chủ yếu là các bài viết trên các Tạp chí thí dụ như:

"Đổi mới vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yê cầu cải cách

tư pháp" của tác giả Nguyễn Minh Hằng, sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Tư pháp, năm

Trang 4

2008; "Hoàn thiện chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật Tố tụng dân sự", Đề tài khoa học cấp Bộ của tiến sĩ Trần Văn Trung, năm 2003; Luận án tiến sĩ "Quá trình hình thành, phát triển và đổi mới Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam", của tác giả Trần Văn Nam, năm 2010; Luận văn thạc sĩ luật học "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam" của tác giả Hoàng Thế Anh, năm 2006; Luận văn thạc sĩ luật học "Sự tham gia

tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam" của tác giả Võ Thị Phượng, năm 2010; "Nhận thức đúng thẩm quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật Tố tụng dân sự" của tác giả Khuất Văn Nga, đăng trên Tạp chí Kiểm

sát, số 09 năm 2004 Ngoài ra, còn có Luận văn thạc sĩ luật học của Somsaone Sosavit

năm 2005: “Pháp luật về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong TTDS

- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” – Trường Đại học Quốc Gia Lào; Luận văn thạc sĩ của Phon Sa Đy Saiser: “Hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” – Khoa

Luật Học viện an ninh nhân dân Lào Gần đây có một số đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước

đáng chú ý như “Hoàn thiện cơ chế kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân và quốc hội trước yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn từ 2015-2020” năm 2015 của Kitisiak Boulom, Phalouda Sengsouda- Bộ Tư pháp Lào; “Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2016, của

Symaiteng Phalouk, Tạp chí kiểm sát – VKSNDTC ngày 23 tháng 06 năm 2016 Tuy nhiên, chưa có công trình so sánh pháp luật của các nhà khoa học hai nước Việt Nam và Lào về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự hai nước

Các nghiên cứu và các ý kiến nêu trên chưa nhiều nhưng đã có những cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, có những giá trị khoa học nhất định, là nguồn tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các nội dung về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân

sự Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này đề cập đến những vấn đề riêng biệt về sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Lào hoặc Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ so sánh về sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Lào và Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu so sánh với BLTTDS năm 2015 của Việt Nam vừa có hiệu lực từ 1/7/2016

Trang 5

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, các quy định của pháp luật về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự của Lào và Việt Nam Do thời gian có hạn

và trong khuôn khổ của một Luận văn thạc sỹ luật học nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu

về thực tiễn thi hành các quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự tại Lào làm cơ sở cho đề xuất, kiến nghị về hoàn thiện pháp luật của Lào

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, diễn giải, chứng minh, đối chiếu, so sánh pháp luật, quy nạp, hệ thống hóa Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã cố gắng kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để làm sáng tỏ những vấn

đề nghiên cứu cũng như đề xuất kiến nghị

5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và những giải pháp

cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ở CHDCND Lào

- Từ mục đích nghiên cứu như trên, có thể xác định những nhiệm vụ chính của việc nghiên cứu đề tài như sau:

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự của Cộng hòa DCND Lào và Việt Nam;

+ Nghiên cứu và so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam

về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự;

+ Đưa ra những nguyên tắc, phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ở Cộng hòa DCND Lào

6 Những đóng góp mới của Luận văn

- Luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trong tổ tụng dân sự ở Lào và ở Việt Nam;

Trang 6

- Luận văn đã nghiên cứu và so sánh một cách đầy đủ, có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự;

- Luận văn đã trình bày được những nguyên tắc, phương hướng và các giải pháp

cụ thể, thiết thực, có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ở Cộng hòa DCND Lào

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân

sự ở Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh

Chương 2: So sánh quy định hiện hành của pháp luật Lào và Việt Nam về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật Lào về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự và kiến nghị trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ Ở LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Lào và Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Lào

Ở Lào, cũng có nhiều ý kiến cho rằng thi hành án là một giai đoạn tố tụng độc lập,

là giai đoạn tố tụng tiếp theo sau giai đoạn xét xử: "Có xét xử thì phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở của của công tác xét xử Xét xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự"4 hay “Thi hành án thực chất là hoạt động

tố tụng của Tòa án, của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm bảo đảm cho bản án và

1 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2010.

2 Từ điển Luật học (2006), Nxb tư pháp, Hà Nội.

3Xem: Nguyễn Công Bình, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb CAND 2014, tr 10; Công trình nghiên cứu cấp nhà nớc “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn

mới” do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ tư pháp chủ trì thực hiện năm 2003, tr 13; Công trình nghiên

cứu cấp bộ “Những quan điểm cơ bản về Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam” do Viện nhà nước và pháp luật của

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia chủ trì thực hiện năm 2001, tr 63

4 Boun Thavy Inmedy (2003), Chế định về sự tham gia tố tụng của VKSND –Một số vấn đề lý luận và thực tiễn,

Nxb.Quốc gia, Viêng Chăn, tr 65.

Trang 8

quyết định của Tòa án được thi hành một cách chính xác, kịp thời”5 Tuy nhiên, theo tác giả, về bản chất, thi hành án không phải là một giai đoạn tố tụng, mang tính tư pháp, mà

là một giai đoạn mang tính hành chính tư pháp Bởi thi hành án có mục đích khác với mục đích của tố tụng Tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên

cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định của pháp luật Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ và phải bảo đảm các nguyên tắc như bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng và khi có phán quyết của Tòa án thì quá trình tố tụng kết thúc Trong khi đó, thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật6 Khác với trong thủ tục tố tụng, mối quan

hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thi hành án là tổ chức thi hành, có tính hành chính, mệnh lệnh liên quan

Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân gồm hai nội dung chính là quyền hành động và quyền quyết định Quyền hành động là quyền được làm những công việc nhất định; quyền quyết định là quyền giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép Hiến pháp năm 2013, BLTTDS năm 2015 của Việt Nam đã khẳng định VKSND là cơ quan chịu trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân

sự Các hoạt động tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng dân sự và những người tham gia tố tụng dân sự là đối tượng kiểm sát của VKSND Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là giám sát, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, đối với văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự của chủ thể tiến hành tố tụng và đó là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước, một trong những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động

tư pháp của VKSND Ở Lào Điều 62, BLTTDS Lào năm 2012 quy định: “VKSND tham gia tố tụng dân sự để theo dõi, kiểm tra việc áp dụng pháp luật tại Tòa án và hoạt động như một nguyên đơn trong vụ án dân sự theo quy định của pháp luật trong việc đảm bảo tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng được diễn ra đầy đủ, khách quan, chính xác”

5 Boun Thavy Lee (2005), Thủ tục tham gia phiên toà của VKSND theo quy định pháp luật hiện hành Nxb.Quốc gia,

Viêng Chăn, tr 20.

6 Cha Khăm Bupha Livan (2005), Thẩm quyền tham gia TTDS của VKSND theo pháp luật TTDS Lào hiện hành

Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Quốc gia Lào, tr.17.

Trang 9

Như vậy, mục đích của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự ở hai nước Việt Nam và Lào về cơ bản là giống nhau đều là nhằm bảo đảm cho các hành vi

xử sự của các chủ thể tiến hành, tham gia tố tụng và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết

vụ việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật Nội dung hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là việc VKSND sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định để kịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản là BLTTDS Lào quy định VKS hoạt động như một nguyên đơn trong vụ án dân sự theo quy định của pháp luật trong việc đảm bảo tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng được diễn ra đầy đủ, khách quan, chính xác

Để có thể sử dụng được các biện pháp, quyền năng pháp lý quy định trong BLTTDS, Nhà nước trao cho VKSND những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định Do vậy, để làm rõ hơn khái niệm về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự ta phải làm rõ hai khái niệm là quyền hạn và nhiệm vụ:

Nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự là những yêu cầu cụ thể do Nhà nước đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức VKSND, BLTTDS và các văn bản pháp luật khác mà VKSND phải thực hiện bằng những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, cụ thể là:

- Bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự ở Tòa án các cấp nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời

- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có căn cứ và đúng pháp luật

- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật, kịp thời

Như vậy, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự là những công việc cụ thể do pháp luật quy định đối với VKSND trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng các vụ việc dân sự (từ khi Tòa án thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự) nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng

Trang 10

Còn về khái niệm "quyền hạn" được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ cho phép7 Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật8

Quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể Trong khoa học pháp lý, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó Quyền hạn của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức Quyền hạn của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó Đối với quyền của chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự xuất phát từ sự thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định

Quyền hạn và nhiệm vụ là hai khái niệm khác nhau, song lại có mối liên hệ chặt chẽ Nhiệm vụ của VKS là việc phải thực hiện các chức năng tố tụng mà BLTTDS quy định, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ thì tùy theo tính chất và mức độ giải quyết vụ việc dân sự sẽ không chính xác Nhiệm vụ của VKS trong tố tụng dân sự được xác định bắt buộc trong những trường hợp quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2015 của Việt Nam Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình pháp luật cần trao cho VKS những quyền hạn đầy đủ

Tuy nhiên, khái niệm quyền hạn và nhiệm vụ đặt trong một điều kiện với một chủ thể xác định thì quyền hạn và nhiệm vụ là tương đối thống nhất Pháp luật quy định nhiệm vụ của VKS phải thực hiện những công việc gì, đồng nghĩa là pháp luật trao cho VKS những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đó Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS nói chung được quy định trong Luật tổ chức VKS Còn trong tố tụng dân sự, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự

Như vậy, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự là quyền quyết định thực hiện các hoạt động tố tụng (từ khi Tòa án thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên tòa giải

7 Xoom Khay Xikha Chay (2010), Hoàn thiện pháp luật tổ chức VKSND Lào trong quá trình cải cách tư pháp hiện

nay, Nxb.Tư pháp, tr.47.

8 Xoom Khay Xikha Chay (2010), Hoàn thiện pháp luật tổ chức VKSND Lào trong quá trình cải cách tư pháp hiện

nay, Nxb.Tư pháp, tr 56.

Trang 11

quyết vụ việc dân sự) nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng.

Ở Lào cũng như Việt Nam, khái niệm sự tham gia của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự chưa được quy định trong BLTTDS Dưới góc độ lý luận, ở Lào đang tồn tại nhiều quan điểm về sự tham gia của VKSND nhưng tựu chung lại có hai quan điểm chính về sự tham gia của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Theo

đó, sự tham gia của VKSND trong TTDS được hiểu là “việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục pháp lý nhằm kiểm sát các hoạt động

tố tụng của toà án, cơ quan thi hành án dân sự nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự chính xác, kịp thời, đúng pháp luật”9; hay là “hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân đối với cơ quan tiến hành tố tụng dân sự và người tiến hành tố tụng dân sự nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án dân sự được tiến hành theo quy định của pháp luật”10 Tuy nhiên, những khái niệm này chưa khái quát đầy đủ quyền hạn và nhiệm vụ của VKSND

Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự như sau:

Sự tham gia của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là hoạt động thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ của viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tố tụng (từ khi Toà án thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên toà, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự) nhằm bảo đảm việc tuân theo pháp luật của Toà án và những người tham gia tố tụng.

1.1.2 Đặc điểm về sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Lào

và Việt Nam

Thứ nhất, sự tham gia của VKSND ở Lào và Việt Nam do pháp luật quy định:

Sự tham gia của VKSND ở Lào và Việt Nam do pháp luật quy định, VKSND không thực hiện những hoạt động ngoài nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Đây chính là nội dung trong nguyên tắc pháp chế - nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và

9 Symaiteng Phalouk (2016), “Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự – một số vấn đề

lý luận và thực tiễn”, Tạp chí kiểm sát – VKSNDTC ngày 23 tháng 06 năm 2016, tr 23-24.

10 Kitisiak Boulom, Phalouda Sengsouda (2015), Hoàn thiện cơ chế kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân và quốc

hội trước yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn từ 2015-2020, Bộ Tư pháp Lào, tr 53.

Trang 12

hoạt động của các cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội, của những người có chức vụ, quyền hạn và của công dân Đây là nguyên tắc hiến định được hiểu là việc thường xuyên, nhất quán tuân thủ và chấp hành các quy định của Hiến pháp, của các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác của tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, của những người có chức vụ, quyền hạn, của công dân Trong hoạt động của VKSND, nguyên tắc bảo đảm pháp chế hay đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND

do pháp luật quy định, VKSND không được thực hiện những hoạt động ngoài nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định đã được cụ thể hóa thông qua việc xác lập những hoạt động cụ thể mà VKSND được tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự Nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động của VKS phải được luật điều chỉnh chặt chẽ, cụ thể và các quy định của pháp luật phải được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, thống nhất Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật, VKSND có trách nhiệm phải áp dụng biện pháp để khắc phục vi phạm đó

Để đảm bảo việc kiểm sát các vụ việc dân sự khách quan, công bằng, đúng pháp luật thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình VKSND, Viện trưởng VKSND và các kiểm sát viên phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Đây là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự nên Viện trưởng VKSND và các kiểm sát viên chỉ thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành, VKSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Với chức năng, nhiệm vụ của mình, VKSND thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếp tham gia giám sát các hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm trật

tự xã hội

Khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân (TAND), VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát thông báo, quyết định và các văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; kiểm sát việc chuyển giao các loại văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; kiểm sát việc chuyển giao các loại văn bản trên của Tòa

án có đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự hay không

Trang 13

Thứ hai, sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự là nhằm thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, khách quan của bản án, quyết định của Tòa án

VKSND là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, có những quyền và nghĩa

vụ tố tụng nhất định (quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị) với vị trí pháp lý hoàn toàn khác với vị trí của các chủ thể tham gia tố tụng để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình tố tụng dân sự VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng, song khác với TAND - chủ thể chính trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, sự tham gia của VKSND không mang tính chất bắt buộc thường xuyên liên tục Về mặt pháp lý, VKSND tham gia kiểm sát việc thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, kiểm sát việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án

Khi tham gia phiên tòa, phiên họp thì kiểm sát viên đại diện cho VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND được pháp luật tố tụng dân sự quy định Đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, người tham gia tố tụng Vấn đề này được thể hiện rõ nét nhất tại phiên tòa mà chủ thể tiến hành là kiểm sát viên Trong tố tụng dân

sự, VKSND là chủ thể đặc biệt Khi thực hiện chức năng giám sát hoạt động giải quyết

vụ việc dân sự tại phiên tòa, phiên họp trong phạm vi quyền hạn của mình, kiểm sát viên phải tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Bên cạnh đó, VKSND còn kiểm sát hoạt động tố tụng của các đương sự và cơ quan tiến hành tố tụng Hoạt động kiểm sát của VKSND góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được đúng đắn, khách quan

Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hai nước Lào và Việt Nam đã khẳng định rõ về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND Theo đó, VKSND vẫn là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, đại diện VKSND là người tiến hành tố tụng Được coi là cơ quan tiến hành tố tụng, song các quyền và nghĩa vụ của VKSND chủ yếu để thực hiên chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ trong hoạt động xét xử của Tòa án Mặc dù, đều là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng khác với Tòa án, VKS

Trang 14

không ra bản án, quyết định giải quyết nội dung vụ việc dân sự Mục đích tham gia tố tụng chủ yếu của VKSND là nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

Như vậy, sự tham gia tố tụng của VKSND trong tố tụng dân sự là việc VKSND tham gia với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án

Thứ ba, sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự được thực hiện thông qua hoạt động của kiểm sát viên (ở Lào là Công tố viên) và Viện trưởng VKSND

Đứng đầu VKSND là Viện trưởng VKSND Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Viện trưởng VKSND có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn như tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự; quyết định phân công kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng, tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật TTDS Việt Nam năm 2015 và Bộ luật TTDS Lào năm 2012; kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng của kiểm sát viên; quyết định thay đổi kiểm sát viên; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, bản

án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật TTDS Việt Nam năm 2015 và BLTTDS Lào năm 2012; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định Kiểm sát viên là một trong những người tiến hành tố tụng tham gia bảo đảm tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS Trong tố tụng dân sự, kiểm sát viên khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn như kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Tòa án Đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về thủ tục, cũng như nội dung; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng, người phiên dịch

Trang 15

1.1.3 Ý nghĩa về sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Lào và Việt Nam

- Sự tham gia của VKSND ở Lào và Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được chính xác, khách quan, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Ở Lào cũng như ở Việt Nam, pháp luật tố tụng hình sự giải quyết quan hệ giữa một bên là Nhà nước, đại diện cho lợi ích công và một bên là người phạm tội do đó, trong

đó, VKS với vai trò đại diện Nhà nước ra cáo trạng buộc tội đối với bị cáo Pháp luật tố tụng dân sự giải quyết những tranh chấp các lợi ích tư giữa các đương sự Mục đích trực tiếp của pháp luật tố tụng dân sự là bảo vệ lợi ích tư của các đương sự nên một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự là trao quyền tự quyết cho đương

sự - chủ thể của các lợi ích Các chủ thể tiến hành tố tụng chỉ thực hiện các nhiệm vụ làm sáng tỏ vụ việc để giải quyết trên cơ sở pháp luật chứ không thay mặt cho đương sự quyết định những lợi ích của chính họ Do đó, việc tham gia tố tụng của VKS nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được chính xác, khách quan, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng không được hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự

Trong tố tụng dân sự, do quan hệ pháp luật dân sự đa dạng về nội dung, hình thức

và chủ thể tham gia Khi tham gia các quan hệ dân sự, các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng những nội dung đã cam kết và quy định của pháp luật Tuy nhiên, khi một trong các bên không tuân thủ các quy định pháp luật hoặc không tuân thủ thỏa thuận

đã cam kết, xâm phạm đến lợi ích của bên kia thì bên bị vi phạm có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ Trong quá trình Tòa án bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự thì sự tham gia của VKSND trong TTDS có ý nghĩa bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất Thông qua việc thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ, bảo đảm cho tiến trình tố tụng được tiến hành một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và thực hiện trên thực tế

Trang 16

Sự tham gia của VKSND trong TTDS nhằm phát hiện, hạn chế những sai lầm, vi phạm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đồng thời góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ việc dân

sự Sự tham gia của Viện Kiểm sát góp phần kiểm soát sự lạm quyền của cán bộ Tòa án

và các chủ thể khác trong giải quyết vụ việc dân sự, tạo được niềm tin của người dân vào công lý và bảo đảm thực hiện các quyền tố tụng của đương sự cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của họ

Sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự còn bảo đảm cho sự độc lập, khách quan của Tòa án, tránh sự can thiệp từ các chủ thể có quyền lực nhưng không có nhiệm

vụ, quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự Trong quá trình kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự, VKSND có thể giám sát, ngăn chặn hoặc phát hiện sự vi phạm nguyên tắc này để có những kiến nghị nhằm bảo đảm cho nguyên tắc này được tôn trọng thực hiện trên thực tế Với vai trò của mình, VKSND thúc đẩy việc giải quyết các vụ việc dân sự ở Tòa án các cấp được nhanh chóng theo đúng thời hạn luật định, đảm bảo tính có căn cứ và đúng pháp luật của các bản án, quyết định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

- Sự tham gia của của VKSND ở Lào và Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong việc hạn chế sai lầm trong việc giải quyết các vụ án dân sự

Thực tiễn thi hành pháp luật TTDS ở hai nước cho thấy sai lầm trong việc giải quyết các vụ án dân sự vẫn còn tồn tại Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng còn có những bản án, quyết định của Tòa án có sai sót nhưng không bị phát hiện ra Do đó, đòi hỏi phải có cơ chế kiểm tra, giám sát bản án, quyết định của Tòa án một cách có hiệu quả Trong khi đó, hiệu quả giám sát từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội còn hạn chế, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân chưa cao (đặc biệt là một bộ phận người dân như người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần luôn bị thua thiệt khi tham gia tố tụng) nên sự tham gia vào quá trình tố tụng dân sự của VKS vẫn cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Hơn nữa, về nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là thuộc về các đương sự nhưng trong điều kiện thực tiễn Việt Nam và Lào, khi mà trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn để tự chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình

Trang 17

trước Tòa án thì họ phải yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ Do đó, để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động xét xử, đại diện VKS cần tham gia phiên tòa để kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử của Tòa án.

1.2 Sự hình thành và phát triển các quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ở Lào và Việt Nam

Việt Nam và Lào đều là hai quốc gia đang phát triển nhưng mỗi quốc gia có một nét đặc thù riêng về mặt lịch sử, kinh tế – xã hội Chính vì vậy mà sự phát triển pháp luật nói chung, pháp luật về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự nói riêng cũng có những điểm riêng biệt Thông qua việc nghiên cứu tiến trình phát triển pháp luật TTDS Lào và Việt Nam, ta có thể sơ lược như sau:

1.2.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển các quy định của pháp luật Lào về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Trong giai đoạn chế độ phong kiến tập quyền từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII, chế định VKSND không tồn tại trọng pháp luật Lào Giai đoạn này, việc xét xử và kết án chủ yếu diễn ra bởi các phiên xét hỏi của người đứng đầu bản mường và đội ngũ quan lại cai trị của triều đình Chế định công tố xuất hiện lần đầu trong Bộ Dân luật Lanxang có từ thế

kỷ XIX, quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Công tố viên trong tố tụng dân sự

Bộ Dân luật Lanxang được xây dựng dựa trên nội dung của Bộ Luật Dân sự Pháp 1804

và Bộ luật TTDS Pháp 1806 Trong đó, những quy định về Công tố viên, Viện công tố được ghi nhận ở Mục 7, Phần III, trong tố tụng dân sự, Viện công tố có hai vai trò chính: thực hiện quyền khởi kiện như một bên đương sự; thực hiện quyền yêu cầu áp dụng pháp luật, với tư cách như một cơ quan tiến hành tố tụng Bên cạnh, Toà án Viêng Chăn thì Viện Công tố Viêng Chăn được thành lập Viện Công tố Viêng Chăn có thể tham gia vào việc giải quyết các vụ việc dân sự (theo nghĩa rộng) với tư cách là đại diện cho lợi ích chung, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và bảo vệ trật tự công11 Bộ dân luật Lanxang quy định: "Viện công tố có thể tham gia tố tụng như một bên đương sự chính hoặc tiến hành

tố tụng để bảo đảm việc tuân thủ pháp luật Viện công tố đại diện cho người khác trong những trường hợp pháp luật quy định" Như vậy, pháp luật dân sự thời kỳ này ở Lào là sự

kế thừa những quy định tiến bộ trong pháp luật tố tụng dân sự của Pháp

11 Yoo Lang Sa (2007), Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật TTDS ở Lào, tr 28

Trang 18

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Pathet Lào với sự hỗ trợ của Việt Nam đã giải phóng toàn bộ nước Lào khỏi tay Chính phủ phản động cách mạng Ngày 2 tháng 12 năm

1975, nhà vua Lào buộc phải thoái vị và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào được thành lập Sau năm 1975, trước bối cảnh đất nước hoàn toàn độc lập Điều này đòi hỏi Lào phải có hệ thống pháp luật mới để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội trên cả nước, ngày

19 tháng 4 năm 1976, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị Quyết số 03/CP ngày 19/4/1976 của Hội đồng chính phủ về vấn đề hướng dẫn thi hành và xây dựng pháp luật cho nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, trong đó có việc xây dựng một đạo luật để điều chỉnh hoạt động xét xử của Tòa án và kiểm sát Trong thời gian chưa có Luật điều chỉnh thì việc giải quyết các vụ việc dân sự … sẽ tạm thời áp dụng Bộ Dân Luật Lanxang có từ thế kỷ XIX Pháp luật Lào, thời kỳ này chịu sự ảnh hưởng lập pháp từ Việt Nam

Năm 1977, Hội đồng bộ trưởng Lào đã ban hành Nghị định số 53/1977/NĐ-HĐBT quy định về giải quyết các vụ việc dân sự Tiếp đến, năm 1990 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1990 của Lào được ban hành trong đó các quy định về tố tụng được xây dựng có ý nghĩa định hướng hành vi ứng xử của người tiến hành tố tụng và các đương sự có liên quan Mặc dù còn chưa hoàn chỉnh, có những quy định còn chưa cụ thể

và chưa thật sự hợp lý làm ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết các vụ án dân sự, ảnh hưởng đến mục đích của pháp luật TTDS là xử lý kịp thời, nhanh chóng tất cả các vụ án dân sự nhưng đây là văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh hoạt động của Công tố viện trong tố tụng dân sự

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1990 được tiến hành sửa đổi bổ sung năm 1996, trong đó lần đầu tiên, pháp luật TTDS về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Công tố viện được quy định một cách đầy đủ và chi tiết tại các Điều 15, 16, 17 Theo đó Công tố viện có quyền:

- Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân;

- Kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án cùng cấp và cấp dưới một cấp;

- Kiểm sát việc chấp hành các bản án và các quyết định của Toà án

Trang 19

Tiếp đến, ngày 19/9/2004, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức VKSND năm

2004, Công tố viện được đổi tên là Viện kiểm sát nhân dân, được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương và không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính địa phương, trong đó tại Điều 6 và Điều 17 có quy định

cụ thể các hình thức tham gia kiểm sát xét xử của Tòa án như tham gia tố tụng tại phiên tòa; kháng nghị các bản án quyết định của Tòa án và khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của nhân dân

Nhìn chung, cho đến năm 2004 trở về trước nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự không được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành Trong giai đoạn này nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND đã có sự thay đổi quan trọng nhằm đáp ứng với yêu cầu mới và thực tiễn cách mạng Lào

Trên tinh thần Luật TCVKSND năm 2004, Quốc hội nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã thông qua BLTTDS 2004, trong đó có những quy định về sự tham gia tố tụng của VKSND trong tố tụng dân sự được mở rộng Cụ thể quy định tại Điều 38 BLTTDS năm 2004: Khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự và những việc khác do pháp luật quy định, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, yêu cầu Tòa án nhân dân hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án;

2 Khởi tố những vụ án dân sự theo quy định của pháp luật, tham gia phiên tòa xét

xử những vụ án mà Viện kiểm sát nhân dân đã khởi tố hoặc kháng nghị đối với những vụ

án khác, Viện kiểm sát nhân dân có thể tham gia bất cứ giai đoạn nào nếu thấy cần thiết;

3 Yêu cầu Tòa án cùng cấp áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;

4 Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự"

Như vậy, theo quy định của BLTTDS năm 2004 đã xác định rõ hơn các hình thức tham gia tố tụng dân sự của VKSND, đó là: khởi tố vụ kiện dân sự vì lợi ích chung; tham

Trang 20

gia tố tụng đối với các vụ án dân sự; kháng nghị những bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, mở ra một thời kỳ mới cho sự hoàn thiện và phát triển của chế định này trong pháp luật TTDS Lào.

Sau đó năm 2009, Quốc hội Lào đã tiến hành sửa đổi Luật Tổ chức VKSND năm

2009, tại Điều 2 quy định: “Viên kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khu vực toàn quốc và truy tố bị can trước Tòa án theo luật định” Quy định này nhằm tăng cường và tập trung chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, trong đó có hoạt động xét xử các vụ

án dân sự, kinh tế và lao động

Trước nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập thế giới, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân Lào và học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về TTDS nói chung và sự tham gia của cơ quan Viện kiểm sát trong TTDS nói riêng, Bộ Chính trị Lào đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 02/01/2005 Nghị quyết này của Bộ Chính trị Lào xác định: “Tiếp tục …hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh; hoàn thiện chế định thẩm quyền dân sự của toà án nhân dân các cấp…” Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy của các cơ quan tư pháp, trong đó sự tham gia của VKSND trong hoạt động TTDS tiếp tục được mở rộng

Trên tinh thần của Nghị quyết số 12-NQ/TW và những yêu cầu của cải cách tư pháp, ngày 29/3/2012, Quốc hội Lào đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS (gọi tắt là BLTTDS sửa đổi, bổ sung), trong đó có những quy định về sự tham gia của VKSND trong TTDS BLTTDS sửa đổi bổ sung có những sửa đổi quan trọng về quy định VKSND có quyền tham gia bất cứ giai đoạn nào nếu xét thấy cần thiết; mở rộng phạm vi các trường hợp VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm Cho đến nay, BLTTDS năm 2012 và Luật Viện Kiểm sát năm 2009 vẫn có hiệu lực và đang được Quốc hội của Lào xem xét, sửa đổi, bổ sung

Trang 21

1.2.2 So sánh với sự hình thành và phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện kinh tế,

xã hội và những biến động chính trị Trước thời Pháp thuộc, pháp luật Việt Nam dường như không có sự phân biệt rạch ròi giữa dân sự và hình sự, cơ quan tài phán và cơ quan quản lý Các tranh chấp về dân sự được giải quyết bởi người đứng đầu bộ máy cai trị các cấp theo các quy tắc chung về tố tụng được thiết lập để giải quyết các việc kiện cáo trong dân Các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc được xây dựng trên cơ sở tham chiếu và giản lược các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Pháp 1807 cho phù hợp với đời sống của người dân bản địa Do vậy, cũng giống như Lào các quy định về tố tụng dân sự trong những Bộ luật này chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật tố tụng dân sự Pháp

Ngay từ sau Cách mạng tháng Tám, để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật quy định về

tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Pháp luật Việt Nam trong giai đoạn này quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Công tố viên trong tố tụng dân sự như sau: trong cuộc cải cách tư pháp lần đầu tiên năm 1946: Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức Tòa và các ngạch thẩm phán theo quy định thẩm phán được chia thành hai ngạch: sơ cấp và nhị cấp (trong đó, Thẩm phán ở ngạch đệ nhị cấp được chia thành hai loại: thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội) Công tố viện lúc đó được ra đời ở Tòa thượng thẩm

và chịu sự lãnh đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, đứng đầu Công tố viện và chưởng lý Cơ quan công tố không được thành lập ở tòa đệ nhị mà chỉ có cán bộ làm công tác biện lý Trong giai đoạn này, Thẩm phán buộc tội đã hợp thành một bộ phận độc lập và chịu sự lãnh đạo của Chưởng lý Khi tham gia phiên tòa, "Biện lý ngồi ghế Công tố viên" Sắc lệnh số 7/SL ngày 15/01/1946 còn quy định: "Đứng buộc tội, tùy quyết nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ là nhân viên của Công tố viện do Chưởng lý Tòa thượng thẩm chỉ định" Theo quy định của Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 thì Công tố viện tham gia tố tụng dân sự dưới hình thức, đó là tham gia tố tụng đối với những vụ án dân sự với tư cách

là người thi hành quyền công tố (Điều 22 Sắc lệnh) và khởi tố vụ án dân sự (đứng là Chánh tố - Điều 41 Sắc lệnh) Như vậy, Công tố viện bước đầu được hình thành và nằm

Trang 22

trong hệ thống của cơ quan Tòa án với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Nhà nước.

Công cuộc cải cách tư pháp lần thứ hai: bắt đầu vào năm 1950, Công tố viện được đặt dưới sự điều khiển của Ủy ban kháng chiến hành chính Trong giai đoạn này, Công tố viện nằm trong cơ cấu của cơ quan hành pháp, các đường lối phạm vi hoạt động, sự tham gia tố tụng của Công tố viện được mở rộng sang các vụ việc dân sự

Công cuộc cải cách tư pháp lần thứ ba: diễn ra vào năm 1958, đây là giai đoạn giao thời, quyết định cho việc chuyển Công tố viện thành VKSND, một hình thức hoàn thiện hơn, đáp ứng như cầu mới của cách mạng trong những năm tiếp theo Trong tố tụng dân sự, theo Công văn số 1137/HCTP ngày 5/6/1958 của Bộ Tư pháp về việc đơn giản một số thủ tục ở phiên tòa quy định rõ hơn về quyền khởi tố và tham gia tố tụng của Công tố viện có hướng dẫn như sau: "… về việc dân sự, Công tố viện có nhiệm vụ khởi

tố và tham gia tố tụng đối với những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích Nhà nước của nhân dân Còn đối với những vụ án dân sự thường thì Công tố viện không cần phải tham dự phiên tòa"

Như vậy, trong giai đoạn này, các quy định về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự đã được quy định tương đối đầy đủ, khẳng định được vị trí và vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự; là cơ sở cho sự kế thừa và phát triển cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS sau này

Hiến pháp 1959 ra đời, Công tố viện chính thức được chuyển thành VKSND, được

tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương và không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính địa phương Ngoài chức năng công

tố, VKSND còn được giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ các Bộ trở xuống; trong đó có cả hệ thống các TAND Quyền hạn và nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự được quy định cụ thể tại các Điều 17, 18 và 19 Luật Tổ chức VKSND năm 1960

Tiếp đến, ngày 13/7/1981, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức VKSND, trong đó tại Điều 3 và Điều 13 có quy định cụ thể các hình thức tham gia kiểm sát xét xử của Tòa

án như tham gia tố tụng tại phiên tòa; kháng nghị các bản án quyết định của Tòa án và

Trang 23

khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của nhân dân.

Nhìn chung, cho đến năm 1989 trở về trước nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự không được quy định trong các văn bản pháp luật nào khác ngoài Luật Tổ chức VKSND Trong giai đoạn này của VKSND đã có sự thay đổi quan trọng nhằm đáp ứng với yêu cầu mới và thực tiễn cách mạng Việt Nam

Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và hai đạo Luật Tổ chức VKSND (1989, 1992) ra đời tiếp tục kế thừa và quy định mới cho chức năng của VKSND đáp ứng nhu cầu thay đổi của xã hội đặc biệt là quá trình cải cách tư pháp trong giai đoạn toàn Đảng toàn dân bước vào xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đây là thời kỳ đổi mới, trên cơ sở Hiến pháp và Luật

Tổ chức VKSND, là sự ra đời của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động (1996)… Theo quy định của các văn bản pháp luật này, sự tham gia tố tụng của VKSND trong tố tụng dân sự được mở rộng Cụ thể quy định tại Điều 17 Luật

Tổ chức VKSND năm 1992:

Khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự và những việc khác do pháp luật quy định, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, yêu cầu Tòa án nhân dân hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án;

2 Khởi tố những vụ án dân sự theo quy định của pháp luật, tham gia phiên tòa xét

xử những vụ án mà Viện kiểm sát nhân dân đã khởi tố hoặc kháng nghị đối với những vụ

án khác, Viện kiểm sát nhân dân có thể tham gia bất cứ giai đoạn nào nếu thấy cần thiết;

3 Yêu cầu Tòa án cùng cấp áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;

4 Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự"

Trang 24

Việc nghiên cứu so sánh cho thấy các quy định trên có nhiều điểm tương đồng với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1990 và BLTTDS năm 2004 của Lào, đặc biệt là quy định về kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, yêu cầu Tòa án nhân dân hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án; Khởi tố những vụ án dân sự theo quy định của pháp luật, tham gia phiên tòa xét xử những

vụ án mà Viện kiểm sát nhân dân đã khởi tố hoặc kháng nghị; Yêu cầu Tòa án cùng cấp

áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật

Như vậy, quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 1992 của Việt Nam đã xác định rõ hơn các hình thức tham gia tố tụng dân sự của VKSND, đó là: khởi tố vụ kiện dân

sự vì lợi ích chung; tham gia tố tụng đối với các vụ án dân sự; kháng nghị những bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Sau đó, Điều 1 Luật Tổ chức VKSND năm 2002 ngày 02/4/2002 quy đinh: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật" Quy định này nhằm tăng cường và tập trung chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, trong đó có hoạt động xét xử các vụ án dân sự, kinh tế và lao động

Khác với quy định trong Luật Tổ chức VKSND năm 1992, khoản 3 Điều 21 Luật

Tổ chức VKSND năm 2002 xác định VKSND có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết đối với tất cả các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kink tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật ở tất cả các giai đoạn tố tụng, tham gia tất cả các phiên tòa xét xử các vụ án này ở Tòa án các cấp và phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án Quy định như vậy nhằm tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực dân sự, kink tế, lao động và thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp

Công cuộc cải cách tư pháp song song với tiến trình phát triển xã hội, những quy định về tố tụng dân sự mới phù hợp với sự tiến bộ xã hội thay đổi những quy định tố tụng dân sự trước, BLTTDS có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005 Trong đó, sự tham gia tố tụng của VKSND được quy định cụ thể tại Điều 21 BLTTDS:

1 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật;

Trang 25

2 Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các vụ việc dân sự mà VKS kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án.

Bộ luật Tố tụng dân sự ra đời (tại Điều 21) đã giới hạn sự tham gia tố tụng của VKSND, đồng thời bỏ đi quyền khởi tố vụ án dân sự của VKSND Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2004 trong thời gian qua cho thấy quy định của BLTTDS về tham gia tố tụng dân sự của VKSND trong tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho VKSND thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức VKSND Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS 2004 được Quốc hội khóa XII thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2012

đã có những sửa đổi quan trọng về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Cụ thể, tại Điều 21 Luật sửa đổi bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi các trường hợp VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm, VKSND không chỉ tham gia các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án mà đương sự có khiếu nại về biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án mà VKS còn tham gia "…các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoạc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần"

Ngoài ra, Điều 85 BLTTDS năm 2004 cũng được sửa đổi bổ sung theo hướng quy định: "…Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp

hồ sơ, tài liệu, vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm" Điều 170 quy định: "…trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời đơn khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết"

Ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự (Luật số 92/2015/QH13) và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2015 được bố cục thành 10 phần, 42 chương, 517 điều, trong đó tiếp tục khẳng định về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự, bổ sung vai trò của VKSND trong thủ tục rút gọn Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải

Trang 26

quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường, nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành BLTTDS năm 2015 đã quy định về sự tham gia tố tụng của VKSND trong thủ tục rút gọn với những sự đổi mới về việc Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục rút gọn nếu Kiểm sát viên vắng mặt Cụ thể là sau khi ra Quyết định đưa vụ

án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn, Tòa án phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ án; trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn: Các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử

Về thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục rút gọn: Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định Về việc nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát để tham gia phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn: Sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, Tòa án phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ án; trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án Có thể thấy, so với Viện công tố các nước, nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND khi tham gia tố tụng dân sự ở Việt Nam được quy định rộng hơn nhiều Cụ thể là ngoài quyền tham gia tố tụng như Viện công tố các nước, VKSND còn được trao thêm các thẩm quyền đặc thù của một cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của TAND và những người tham gia tố tụng, quyền kháng nghị tất cả các bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Quá trình hình thành và phát triển pháp luật tố tụng dân sự Lào và Việt Nam về sự tham gia của Viện Kiểm sát trong tố tụng dân sự có nhiều điểm tương đồng như cùng chịu ảnh hưởng của pháp luật tố tụng dân sự Pháp, sau đó là ảnh hưởng của pháp luật xã hội chủ nghĩa với vai trò kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, BLTTDS năm 2012 của Lào đang trong quá trình nghiên cứu

Trang 27

hoàn thiện, trong khi đó ở Việt Nam các quy định về sự tham gia của VKSND trong BLTTDS năm 2015 đã có những thay đổi so với pháp luật của Lào.

Trang 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, luận văn đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận

về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong TTDS Luận văn đã xây dựng khái niệm

về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong TTDS, phân tích đặc điểm, ý nghĩa về

sự tham gia của VKSND trong pháp luật tố tụng dân sự của Lào và Việt Nam Từ đó giúp cho việc làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về sự tham gia của VKSND trong TTDS đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài Ngoài ra, tác giả cũng đã nghiên cứu và so sánh quá trình phát triển các quy định của pháp luật TTDS của Lào và Việt Nam về sự tham gia của VKSND trong TTDS Có thể thấy rằng, quá trình hình thành và phát triển pháp luật tố tụng dân sự Lào và Việt Nam về sự tham gia của Viện Kiểm sát trong tố tụng dân sự có nhiều điểm tương đồng Bên cạnh đó, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật TTDS Lào và Việt Nam quy định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự cũng có nhiều điểm khác biệt Sự tham gia của VKSND được quy định theo hướng mở rộng hay thu hẹp phạm vi thẩm quyền tùy theo quan niệm lập pháp của từng thời kỳ của Lào và Việt Nam Tuy nhiên, quy định về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự trong pháp luật của cả hai nước là khá rõ ràng, cụ thể, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước

Trang 29

2.1.1 Về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 125 Hiến pháp Lào năm 2010, thì Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát

là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng Pháp luật tố tụng dân sự quy đinh về sự tham gia của Viện kiểm sát trong các vụ án dân sự tại phiên Tòa sơ thẩm và phúc thẩm Sự tham gia của Viện kiểm sát đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực thi đúng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND; nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có ngạch giá hơn 300.000.000 triệu kíp và những việc khác theo quy định của pháp luật được quy định tại Điều 3 và Điều 29 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2009

Điều 62 Bộ luật tố tụng dân sự Lào năm 2012 quy định: “VKSND tham gia tố tụng dân sự để theo dõi, kiểm tra việc áp dụng pháp luật tại Tòa án và hoạt động như một nguyên đơn trong vụ án dân sự theo quy định của pháp luật trong việc đảm bảo tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng được diễn ra đầy đủ, khách quan, chính xác” Thông tư số 56/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn về việc thi hành một số quy định trong BLTTDS năm 2012 ngày 06 tháng 01 năm 2013, trong đó có quy định về sự tham gia của VKSND trong TTDS Theo đó, Điều 17 quy định vị trí và vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự như sau:

Trang 30

- Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.

- Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa

sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại Điều 51, Điều 52, Điều 53 của Bộ luật TTDS Lào năm 2012

- Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này

2.1.2 Về các hình thức tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

BLTTDS Lào năm 2012 không quy định hình thức tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự12 Cụ thể, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật tố tụng dân sự

2012 được giải thích theo quy định tại Điều 17 TTLT VKSNDTC hướng dẫn về việc thi hành một số quy định trong BLTTDS năm 2012 ngày

56/2013/TTLT-TANDTC-06 tháng 01 năm 2013 bao gồm:

- Việc tham gia phiên tòa, phiên họp:

Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự mà đương

sự là người chưa thành niên, trẻ em dưới 18 tuổi không có người giám hộ, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 63)

Điều 61, BLTTDS Lào năm 2012 quy định những cá nhân có thẩm quyền tham gia phiên toà, phiên họp là Công tố viên công cộng và phó Công tố viên công cộng ở VKSNDTC; Công tố viên công cộng và trợ lý Công tố viên công cộng ở VKSND địa phương

Trong trường hợp, một vụ án dân sự được xác định có ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội mà không có tổ chức, doanh nghiệp đưa ra khiếu nại, Công tố viên

12 Soun Puoang Miya (2014), Cải cách nền tư pháp Lào trong giai đoạn mới, Nxb.Quốc gia, Viêng chăn, tr 145.

Trang 31

công cộng có quyền nộp đơn khiếu nại với Tòa án là nguyên đơn trong một vụ án dân sự theo quy định của pháp luật (Khoản 2, Điều 63 BLTTDS Lào năm 2012).

- Việc phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, phiên họp:

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, đại diện VKS phát biểu ý kiến tại phiên tòa về việc đương sự, Thẩm phán Tòa án, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án (Điều 64); đại diện VKS phát biểu ý kiến tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án (Điều 112); đại diện VKS phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ

án và về việc giải quyết vụ án (Điều 145) Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Công tố viên có thể “Tham gia thẩm vấn những người tham gia phiên tòa để theo dõi, kiểm tra và lập báo cáo bổ sung trong phiên tòa khi cần thiết” (khoản 3, Điều 64 BLTTDS Lào năm 2012); Công tố viên cũng có thể “Kiến nghị rằng các Tòa án điều tra lại bất kỳ vấn đề không rõ ràng” (Khoản 2, Điều 64 BLTTDS Lào);

“Kiến nghị đối với bản án, bản án nếu thấy có vi phạm pháp luật” (khoản 4, Điều 64 BLTTDS Lào năm 2012); và “Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật” (Khoản 5, Điều 64 BLTTDS Lào năm 2012); để Công tố viên thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia TTDS, BLTTDS Lào năm 2012 còn quy định cho phó Công tố viên có quyền : “Phó Công tố viên có nhiệm vụ hỗ trợ các Công tố viên công cộng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình Trong trường hợp Công tố viên công cộng vắng mặt, các Phó Công tố viên có trách nhiệm thay mặt họ tham gia phiên toà theo quy định của pháp luật”; trợ lý Công tố viên công cộng cũng có quyền giám sát và kiểm tra việc áp dụng Luật tại Tòa án trong các trường hợp: “Để tham gia vào các câu hỏi của người tham gia trong phiên tòa nhằm theo dõi và lập báo cáo trước Tòa án theo phân cấp” (khoản 2, Điều 65 BLTTDS Lào năm 2012); “Kiến nghị phản đối hành vi vi phạm pháp luật của Tòa án và bản án” (Khoản 3, Điều 65 BLTTDS Lào năm 2012); và “Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật” (Khoản 4, Điều 65 BLTTDS Lào năm 2012) Trợ lý Công tố viên công cộng khi tham gia vào phiên toà với tư cách là một nguyên đơn dân sự thì phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ như một đương sự của

vụ án và phải tuân theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát và các quy định khác của pháp luật (Khoản 1, Điều 67 BLTTDS Lào năm 2012) Theo quy định của pháp luật Lào thì trong

Trang 32

TTDS, Công tố viên công cộng, phó công tô viên công cộng, trợ lý Công tố viên công cộng là một chức danh tố tụng có quyền đại diện VKS tham gia TTDS như nhau sau đây

để tiện nghiên cứu và so sánh với pháp luật TTDS Việt Nam về sự tham gia của VKSND trong TTDS, tác giả gọi chung là Công tố viên, trừ phần những quy định của pháp luật thì tác giả giữ nguyên văn

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp, Công tố viên phải gửi bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ việc

- Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát:

Công tố viên có nhiệm vụ, quyền hạn “Kiểm tra các chứng cứ trong hồ sơ vụ án”

(khoản 1, Điều 64 BLTTDS Lào năm 2012);

Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (trong đó có Viện trưởng VKSND tối cao và viện trưởng VKSND Miền) có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết

Công tố viên tham gia phiên tòa phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ để nắm đầy đủ nội dung vụ việc, các quy định pháp luật có liên quan và phải tuân thủ trình tự sau:

Thứ nhất, làm rõ và hiểu được nội dung vụ việc: Công tố viên có nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ việc để xác định vấn đề như nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vấn đề

gì, quan hệ pháp luật từ đó phát sinh tranh chấp là quan hệ gì, tính chất và nội dung tranh chấp như thế nào; quan hệ pháp luật tranh chấp Tòa án đã xác định có đúng hay không?

Thứ hai, làm rõ việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, người tham gia tố tụng Để làm rõ vấn đề này, Công tố viên phải nghiên cứu từng văn bản tố tụng như thông báo thụ lý, giấy triệu tập người tham gia tố tụng, quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, biên bản lấy lời khai, biên bản tiến hành hòa giải, biên bản thẩm định… quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Công tố viên phải nghiên cứu chi tiết từng văn bản Khi nghiên cứu đồng thời phải đối chiếu với các quy định của pháp luật xem xét đã hợp lý hay chưa Tất cả vấn

Trang 33

đề về thời hạn, thời hiệu tố tụng, trách nhiệm cung cấp tài liệu chứng cứ, việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời… đều phải được kiểm tra, kết luận có vi phạm hay không.

Thứ ba, Công tố viên có nhiệm vụ cần làm rõ các chứng cứ có trong hồ sơ đã đầy

đủ và hợp pháp không Để khẳng định điều này, Công tố viên phải kiểm tra từng loại nguồn chứng cứ và khẳng định nguồn chứng cứ đó là hợp pháp, đồng thời kiểm tra thủ tục Tòa án thu thập chứng cứ để xác định chứng cứ đó là hợp pháp

Tóm lại, trong giai đoạn này, VKSND luôn có các hoạt động giám sát quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án, thông qua việc kiểm sát việc lập hồ sơ vụ việc dân sự của Tòa án Qua công tác này, VKSND có thể phát hiện những vi phạm, thiếu sót trong quá trình áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án không tuân thủ quy định của pháp luật Từ đó, VKSND có quyền được kiến nghị, yêu cầu kịp thời đối với Tòa án, nhằm đảm bảo cho việc lập hồ sơ của Tòa án được thực hiện một cách khách quan, đúng quy định của pháp luật

- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân:

Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản

án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm (Điều 164 BLTTDS Lào năm 2012)

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân Miền; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Khoản 1, Điều

Trang 34

2.2 So sánh với các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

2.2.1 Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

2.2.1.1 Vai trò của VKSND Việt Nam trong Tố tụng dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp Việt Nam năm 2013, thì Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng Pháp luật tố tụng dân sự quy đinh về sự tham gia của Viện kiểm sát trong các vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm Sự tham gia của Viện kiểm sát đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực thi đúng pháp luật của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND; nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật được quy định tại Điều 4 và Điều 27 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam năm 2014 Cụ thể là:

Khoản 1, Điều 4: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động

tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”;

Điều 27, “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật:

1 Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.

2 Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc.

3 Thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp pháp luật quy định.

Trang 35

4 Tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật.

5 Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.

6 Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.

7 Kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng.

8 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam năm 2014, VKSND không thực hành quyền công tố, không khởi tố vụ án dân sự, không chủ trì thực hiện bất kỳ một giai đoạn tố tụng dân sự nào như TAND (cụ thể: thụ lý vụ án, lập hồ sơ

vụ án, thu thập chứng cứ, hòa giải, ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án, trưng cầu giám định…), mà chỉ kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng dân

sự, thể hiện rõ được cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013 giữa TAND và VKSND

Qua thực tiễn thi hành cho thấy các quy định của BLTTDS Việt Nam năm 2015 về

sự tham gia của VKS trong tố tụng dân sự có những tiến bộ và quy định hợp lý tạo điều kiện cho VKS thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND Việt Nam năm 2014 Đặc biệt, trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, chưa có điều kiện nhờ Luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình và đội ngũ Luật

sư hiện nay cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tham gia tất cả các phiên tòa Xét về thực trạng thì hệ thống pháp luật còn bất cập, quản lý hành chính Nhà nước còn nhiều hạn chế, hoạt động bổ trợ tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, năng lực, trình độ của bộ phận không nhỏ cán bộ tư pháp còn hạn chế so với yêu cầu cải cách tư pháp Thực tiễn tố tụng tại Tòa án cho thấy nhiều vụ việc giải quyết chưa bảo đảm tính khách quan, gây

Trang 36

khiếu kiện búc xúc, kéo dài, khiếu kiện đông người làm mất ổn định trật tự xã hội nhưng VKS không kịp thời phát hiện để kháng nghị Chính vì lẽ đó, Điều 21 BLTTDS theo hướng mở rộng phạm vi tham gia phiên tòa, phiên họp của VKSND là hợp lý Điều 21 BLTTDS Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định:

Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 quy định về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự như sau:

- “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.

- Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa

sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.

- Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này”

Theo quy định này, VKS phải tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự trong các trường hợp sau đây:

- Viện kiểm sát có trách nhiệm tham gia phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự trong bốn trường hợp:

+ Một là, những vụ án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ:

Theo quy định của BLTTDS, Thẩm phán được tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 Nếu như trước đây, VKS chỉ tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với các vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự

có khiếu nại về thu thập chứng cứ đó, thì nay theo quy định của BLTTDS sửa đổi, bổ sung, bất cứ vụ án dân sự nào mà Tòa án tiến hành một hoặc nhiều biện pháp thu thập chứng cứ VKS có trách nhiệm phải tham gia phiên tòa, không phụ thuộc vào việc đương

sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của Tòa án hay không

Trang 37

+ Hai là, những vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng:

Vấn đề đặt ra là cần hiểu thống nhất thế nào là tài sản công? Có thể nói thuật ngữ tài sản công không phải mới nhưng còn có nhiều cách hiểu khác nhau Theo quy định của Điều

53 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 tài sản công là “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản

do Nhà nước đầu tư, quản lý” Ví dụ: vụ án dân sự tranh chấp về tài sản của một cơ quan nhà nước mà tài sản đó được mua sắm từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp Trong trường hợp này VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm Quy định này đã khắc phục được cách hiểu không thống nhất về tài sản công bởi vì trong thực tiễn có rất nhiều vụ án dân

sự mà đối tượng tranh chấp là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước, được hình thành

từ nguồn ngân sách nhà nước đang do các doanh nghiệp nhà nước quản lý, sử dụng; các tranh chấp hợp đồng vay vốn giữa cá nhân, tổ chức với tổ chức tín dụng mà vốn vay do ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc do ngân sách nhà nước (ngân hàng chính sách, ngân hàng nông nghiêp…) BLTTDS năm 2015 đã mở rộng quyền tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm của VKS đối với các vụ án mà đối tượng tranh chấp là tài sản công, một mặt tạo cơ chế thuận lợi để VKS thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp trong dân sự nói chung

+ Ba là, những vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, nhà ở:Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân

sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự ngày 1 tháng 08 năm 2012 của Việt Nam, thì vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở, bao gồm:

(1) Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất hoặc ai là người có quyền

sở hữu nhà ở Ví dụ: A và B tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất đối với một thửa đất có diện tích 500 m2 hiện do B đang quản lý, sử dụng A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để buộc B phải trả lại thửa đất đó cho A Trong trường hợp này, đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, VKS có trách nhiệm tham gia phiên tòa sơ thẩm

Trang 38

(2) Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở (ví dụ: tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng mua bán nhà ở; tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng tặng cho nhà ở;…) Đối với tranh chấp về hợp đồng có liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc nhà ở nhưng quyền sử dụng đất hoặc nhà ở đó không phải đối tượng của hợp đồng thì không thuộc trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm Ví dụ: A vay ngân hàng B

số tiền là 500 triệu đồng, đồng thời thế chấp cho ngân hàng một ngôi nhà và quyền sử dụng đất giá trị 1 tỷ đồng Đến thời hạn trả nợ, A không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng tiến hành xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng không xử lý được vì khu đất này đang trong diện quy hoạch, không được phép chuyển đổi, chuyển nhượng Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết buộc A phải thực hiện nghĩa

vụ trả nợ Trong vụ án dân sự này, đối tượng tranh chấp là khoản tiền A vay ngân hàng chứ không phải là quyền sử dụng đất và nhà ở A dùng để thế chấp, do đó, không thuộc trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa

(3) Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất hoặc thừa kế nhà ở

(4) Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho

+ Bốn là, những vụ án dân sự có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần:

Người chưa thành niên là những người yếu thế, hạn chế về khả năng bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định của pháp luật, tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi, họ là những người chưa phát triển đầy đủ về trí lực và thể chất

Người có nhược điểm về thể chất là những người mà cơ thể bị khuyết tật do bẩm sinh hoặc do bị tai nạn Người có nhược điểm về tâm thần là người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác gây ra những rối loạn về tư duy, nhận thức, cảm xúc hoặc hành vi Theo

Trang 39

hướng dẫn tại khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số TANDTC về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự Việt Nam ngày 1 tháng 08 năm 2012, thì người có nhược điểm về tâm thần phải có giấy tờ, tài liệu được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận; người có nhược điểm về thể chất thuộc một trong các trường hợp: bị mù hai mắt, bị câm, bị điếc có xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên Cần phân biệt người bị tâm thần và người mất năng lực hành vi dân sự Người bị tâm thần phải có giấy

04/2012/TTLT-VKSNDTC-tờ của cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận còn một người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó bị mất năng lực hành vi dân sự

Vì vậy, đối với những vụ án dân sự có một bên đương sự là người chưa thành niên, người

có nhược diểm về thể chất, tâm thần thì VKSND phải tham gia phiên tòa nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Đối với các việc dân sự, theo quy định của BLTTDS, VKS tham gia vào tất cả các phiên họp sơ thẩm tuy nhiên tại khoản 1 Điều 232 BLTTDS Việt Nam năm 2015 quy định: "Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa" Theo tinh thần của Điều 21 BLTTDS Việt Nam năm 2015, đại diện VKSND phải tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự Thông thường phiên họp giải quyết việc dân sự do một Thẩm phán tiến hành, trong một số trường hợp đặc biệt có thể do một tập thể gồm 3 Thẩm phán thực hiện Ngoài ra, do tính chất đặc thù của của một số việc dân sự nên phiên họp có thể không có mặt tất cả các bên đương sự Pháp luật quy định sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên họp giải quyết việc dân sự là nhằm bảo đảm tính khách quan và tránh sự lạm quyền trong việc ra quyết định giải quyết việc dân sự Theo đó, quy định tại Điều 232 BLTTDS Việt Nam hiện nay là không hợp lý làm hạn chế hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát

Để đảm bảo tính vô tư, khách quan theo quy định của Điều 16 BLTTDS thì Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên không được tiến hành hoặc tham gia

tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Trang 40

2.2.1.2 Về các hình thức tham gia của Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam trong tố tụng dân sự

Cụ thể, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 bao gồm:

Việc tham gia phiên tòa, phiên họp:

Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa

sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Đã phân tích ở trên)

Khi tham gia phiên tòa sơ thẩm VKS có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:

+ Chuẩn bị tham gia phiên tòa: theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 220

BLTTDS Việt Nam năm 2015, thì quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ "họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên dự khuyết, nếu có" Việc ghi họ tên Kiểm sát viên dự khuyết trong quyết định đưa vụ án ra xét xử và Kiểm sát viên dự khuyết phải có mặt tại phiên tòa là quy định tiến bộ Vì vậy, VKS phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án về việc phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên dự khuyết trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo thụ lý vụ việc dân sự (Điều 3 Thông tư liên tịch 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự Việt Nam ngày 1 tháng 08 năm 2012) Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 220 BLTTDS, trừ trường hợp VKS tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS thì Tòa án phải có trách nhiệm gửi hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp để nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày VKS nhận hồ sơ vụ án Ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án do Tòa án chuyển đến, Kiểm sát viên phải kịp thời nghiên cứu để chuẩn bị tham gia phiên tòa Việc nghiên cứu hồ sơ tập trung vào các nội dung: xem xét quá trình tố tụng giải quyết vụ án dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ

án ra xét xử (việc chấp hành pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng); nắm vững nội dung, các tình tiết, về chứng cứ của vụ án, việc cung cấp và thu thập chứng cứ đã đầy đủ hay

Ngày đăng: 03/11/2018, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w