Vì vậy, có thể nói đây là đề tài thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về những giải pháp pháp lý trong Bộ luật dân sự 2015 liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và đã chứng minh rằng các giải
Trang 1LÊ MINH CHI
NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁP LÝ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT - KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 2LÊ MINH CHI
NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁP LÝ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT - KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Đăng Huệ
HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 3tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều thầy cô và các bạn.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dương Đăng Huệ đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian nghiên cứu hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa đào tạo Sau đại học cũng như các khoa chuyên môn trong nhà trường đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè thuộc lớp cao học Kinh tế 22A
đã giúp tôi tìm kiếm tài liệu để hoàn thành luận văn này.
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót hoặc có những phần nghiên cứu chưa sâu Rất mong nhận được sự chỉ bảo và thông cảm của các thầy cô.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Minh Chi
Trang 4năm 2015 góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp” tôi đã tự mình nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng các kiến thức đã học và trao đổi với giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Dương Đăng Huệ.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, hoàn toàn không sao chép từ tác phẩm nào khác Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chính xác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Lê Minh Chi
Trang 5Chương 1 VAI TRÒ CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 ĐỐI VỚI HOẠT
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh
1.2 Vai trò của Bộ luật dân sự trong hoạt động của doanh nghiệp 16
1.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Bộ luật dân sự Việt
1.2.2 Ý nghĩa của Bộ luật dân sự đối với hoạt động sản xuất - kinh
Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT –
2.1 Bộ luật dân sự 2015 hoàn thiện chế độ sở hữu và bổ sung thêm một
số quyền khác đối với tài sản, góp phần củng cố cơ sở vật chất (tài sản)
2.1.2 Bộ luật dân sự 2015 bổ sung các quyền khác đối với tài sản 39
2.2 Bộ luật dân sự 2015 hoàn thiện chế định hợp đồng, góp phần tạo thuận lợi cho việc xác lập, thực hiện các giao dịch trên thị trường 44
2.2.2 Bộ luật dân sự 2015 ghi nhận trách nhiệm cung cấp thông tin
2.2.5 Bộ luật dân sự 2015 bổ sung quy định mới về điều chỉnh hợp đồng
2.2.6 Bộ luật dân sự 2015 bổ sung quy định về đại diện của pháp nhân
2.3 Bộ luật dân sự 2015 tăng cường cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 62.3.3 Bộ luật dân sự 2015 quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưa có điều
2.4.2 Một số hạn chế của Bộ luật dân sự 2015 liên quan đến hợp đồng
68
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015, GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU
3.1 Giải pháp thúc đẩy việc thực hiện các quy định của Bộ luật dân sự
3.1.1 Tuyên truyền để các doanh nghiệp nắm vững được các quy định mới của Bộ luật dân sự 2015 liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp 71 3.1.2 Tổ chức nghiên cứu, soạn thảo, ban hành các cuốn bình luận Bộ luật dân sự dưới góc độ hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp 73 3.1.3 Tổ chức triển khai Bộ luật dân sự 2015 sâu rộng trong bộ máy cơ
3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định trong Bộ luật dân sự 2015 liên
Trang 7Để có thể tác động một cách có hiệu quả đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp, Nhà nước đã sử dụng nhiều công cụ, trong đó pháp luật được coi là công cụ hiệu quả và hiệu lực nhất Bên cạnh Hiến pháp cũng như các luật chuyên ngành, Bộ luật dân sự 2015 ra đời đã ghi nhận nhiều giải pháp pháp lý mới chưa từng có trong pháp luật dân sự nước nhà và
sự áp dụng các quy định mới này chắc chắn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Xét về tổng thể, Bộ luật dân sự 2015 đã thể chế hóa nhiều nội dung trong Hiến pháp 2013, phù hợp với chiến lược phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước
Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017, tức là hiện nay chưa được áp dụng trong thực tiễn Tuy nhiên, việc nghiên cứu ngay từ bây giờ với mục đích nắm bắt, nhận diện và tìm các biện pháp để áp dụng các quy định mới trong Bộ luật dân sự này là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với giới
doanh nhân Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Những giải pháp pháp lý trong Bộ luật dân sự năm 2015 góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi Bộ luật dân sự 2015 ra đời, các công trình nghiên cứu đều hướng đến Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) Trong số các công trình này đáng lưu ý nhất là Tạp chí “Thông tin khoa học pháp lý” đã phát hành hẳn
một đặc san với chuyên đề “Một số ý kiến về Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa
Trang 8đổi)” (số 4/2015) Trong đặc san này, có nhiều bài viết đề cập đến nhiều vấn
đề khác nhau của Dự thảo Bộ luật dân sự như vấn đề vật quyền, vấn đề trách nhiệm của Tòa án không được từ chối giải quyết các vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật cụ thể để áp dụng, vấn đề pháp nhân thương mại, vấn đề thời hiệu, vấn đề vô hiệu của hợp đồng khi vi phạm quy định về hình thức Những quan điểm, ý tưởng, lý luận được nêu ra trong đặc san có ý nghĩa rất lớn đối với tác giả khi viết luận văn này
Từ khi Bộ luật dân sự 2015 được ban hành, nhiều bài viết, công trình khoa học đã phân tích một số khía cạnh khác nhau về Bộ luật này, điển hình:
- Sách tham khảo: “Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật
dân sự năm 2015” của tác giả Đỗ Văn Đại, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia
Việt Nam, Hồ Chí Minh, 2016
- Bài viết: “Bộ luật dân sự 2015 – Cở sở pháp lý mới cho việc thực
hiện quyền tự do kinh doanh tại Việt Nam” của tác giả Dương Đăng Huệ tại
buổi tọa đàm: “Một số nội dung mới của Bộ luật Dân sự 2015 liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”, diễn ra ngày 18/12/2015 do Bộ Tư pháp phối hợp với Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp tổ chức
- Bài viết: “Vai trò của Bộ luật dân sự 2015 trong việc xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của tác giả Dương Đăng Huệ
trong tạp chí “Nghiên cứu lập pháp”, số 13 (317), kỳ 1 tháng 7/2016 (trang 10-17)
Nhìn chung, những bài viết, sách tham khảo nên trên đều tập trung nghiên cứu vai trò, những điểm mới cơ bản của Bộ luật dân sự 2015, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến nội dung những quy định mới của Bộ luật dân sự 2015 góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Vì vậy, có thể nói đây là đề tài thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về những giải pháp pháp lý trong Bộ luật dân sự 2015 liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và đã chứng minh rằng các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
Trang 93 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nhận diện và phân tích những điểm mới cơ bản của Bộ luật dân sự 2015 so với Bộ luật dân sự 2005, tác giả muốn khẳng định rằng, Bộ luật dân sự 2015 là bộ luật của nền kinh tế thị trường, có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
b Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào việc nghiên cứu hai đối tượng chủ yếu:
Thứ nhất, nghiên cứu để làm rõ có những yếu tố gì ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Qua việc nghiên cứu các yếu tố này, tác giả muốn khẳng định rằng, trong các yếu tố đó thì pháp luật có vai trò cực kỳ quan trọng nếu không nói là quyết định
Thứ hai, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định mới của Bộ luật
dân sự 2015 có liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp như chế định về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản (các nước gọi là vật quyền), chế định hợp đồng Khi phân tích các quy định mới này tác giả có đối chiếu, so sánh với các quy định tương ứng trong Bộ luật dân sự 2005 để nêu bật tính mới của Bộ luật dân sự 2015
c Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Bộ luật dân sự 2015 có nội dung phức tạp và có rất nhiều điểm mới Tuy nhiên, luận văn không nghiên cứu toàn bộ các điểm mới mà chỉ nghiên cứu những điểm mới quan trọng có liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Một số quy định trong các văn bản pháp luật khác (Hiến pháp 2013, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 ) được phân tích trong đề tài chỉ có tính minh họa, so sánh nhằm nâng cao tính hệ thống của đề tài, không phải là đối tượng nghiên cứu của luận văn
4 Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biến chứng và duy vật lịch sử Các quan điểm của Đảng Cộng sản
Trang 10Việt Nam trong việc đổi mới và phát triển đất nước cũng là một cơ sở lý luận quan trọng mà tác giả đã sử dụng khi nghiên cứu đề tài.
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và đặc biệt là phương pháp so sánh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học
1 Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề lý luận liên quan đến vai trò của pháp luật nói chung và vai trò của Bộ luật dân sự nói riêng đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
2 Đề tài đã làm rõ các điểm mới nhất của Bộ luật dân sự 2015, trong
đó có vấn đề về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản Bộ luật dân
sự 2015 đã chấm dứt quan điểm lạc hậu tồn tại lâu nay trong khoa học pháp lý Việt Nam nói chung và khoa học pháp lý dân sự nói riêng về việc đối với quyền trên tài sản thì chỉ có một loại quyền duy nhất là quyền sở hữu mà không có thêm loại quyền nào khác (các nước phương Tây gọi là vật quyền hạn chế) Quan điểm mới của Bộ luật dân sự 2015 đã làm cho Bộ luật dân sự Việt Nam đến gần hơn với thế giới trong lĩnh vực vật quyền
3 Luận văn cũng khẳng định rằng, do có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nên muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp thì Nhà nước ta phải quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật, không chỉ hoàn thiện các luật chuyên ngành mà còn phải đặc biệt quan tâm đến Bộ luật dân sự - luật gốc của hệ thống luật tư
b Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, đặc biệt là cho giới doanh nhân Hơn ai hết các doanh nhân là người sẽ có điều kiện nắm vững hơn về các quy định mới của Bộ luật dân sự, từ đó có thể vận dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của mình Ngoài ra, luận văn có thể được các sinh viên, những người nghiên cứu pháp luật sử dụng để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu,
Trang 11giảng dạy của mình.
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương
Chương 1: Vai trò của Bộ luật dân sự 2015 đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Những quy định mới của Bộ luật dân sự 2015 góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy thực thi các quy định của Bộ luật dân sự 2015, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trang 12Chương 1 VAI TRÒ CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT – KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Ngày nay, doanh nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh
tế đất nước Có thể nói, xã hội hiện đại là xã hội của doanh nghiệp Với hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình, doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành nghề nói riêng và nền kinh tế nói chung; tạo việc làm, thu nhập và nâng cao đời sống xã hội cho người lao động; tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước và thúc đẩy
sự phát triển chung của toàn xã hội Sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế đất nước phụ thuộc rất lớn vào sự lớn mạnh của hệ thống các doanh nghiệp
Pháp luật Việt Nam từ trước đến nay đã đưa ra nhiều định nghĩa pháp
lý về doanh nghiệp Các định nghĩa này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp như: Luật Công ty
1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 và mới đây là Luật Doanh nghiệp 2014
Theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì “Doanh nghiệp là tổ
chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Cũng theo luật này thì
“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”1 Có thể thấy, khái niệm doanh
nghiệp ở đây có nội hàm hẹp hơn khái niệm chủ thể kinh doanh Hiểu theo nghĩa thông thường, chủ thể kinh doanh là tất cả các cá nhân, tổ chức tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh Nhưng không phải tất cả các chủ thể kinh doanh đều được coi là doanh nghiệp Bởi lẽ, có những chủ thể kinh doanh như hộ gia đình, cá nhân và ngay cả các hợp tác xã cũng không thỏa mãn các điều kiện theo định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp, do đó cũng không được gọi là doanh nghiệp Trên thực tế, địa vị pháp lý của các chủ thể
1 Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014.
Trang 13kinh doanh là doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh không phải là doanh nghiệp cũng được quy định khác nhau.
Ở mỗi lĩnh vực, mỗi góc độ lại có những khái niệm riêng về doanh nghiệp Do đó, để hiểu sâu hơn về doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét khái niệm doanh nghiệp dưới nhiều quan điểm khác nhau
- Theo từ điển Tiếng Việt online2: Doanh nghiệp là cơ sở hoạt động sản xuất để kiếm lời Và kinh doanh là hoạt động tổ chức buôn bán để thu lời lãi Ví dụ: đầu tư vốn để kinh doanh cửa hàng tạp hóa Với cách hiểu này, doanh nghiệp là tổ chức và phải tiến hành hoạt động sản xuất, buôn bán để sinh lợi
- Theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch, có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được3
- Theo quan điểm kinh tế - xã hội: Doanh nghiệp là những thực thể xã hội, được tạo lập với chức năng chủ yếu là hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp được cấu thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm: người lao động, vốn, tài sản, bộ máy quản trị Bằng hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình, doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo
ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như toàn xã hội
- Theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế, thường
có tư cách pháp nhân, kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm với mục đích kiếm lời Doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của pháp luật từ khi thành lập, đi vào hoạt động cho đến khi chấm dứt sự tồn tại của mình (giải thể hoặc phá sản) Sự thay đổi của luật pháp tất yếu cũng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Ngoài ra, có thể kể thêm nhiều quan điểm khác khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc độ khác nhau Song dù xem xét dưới góc độ nào
2 https://vdict.com/kinh%20doanh,3,0,0.html
3
http://voer.edu.vn/c/quan-tri-doanh-nghiep/4dbdd6c5?fb_comment_id=225163257668724_332787596906289#fb6a8c8e0c061
Trang 14chăng nữa thì doanh nghiệp cũng đều có những đặc điểm chung sau đây:
Thứ nhất, doanh nghiệp là một thực thể pháp lý độc lập, chủ yếu tồn tại
dưới hình thức pháp nhân Tính độc lập về mặt pháp lý là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Việc khẳng định tư cách pháp lý độc lập của doanh nghiệp, một mặt giúp doanh nghiệp được Nhà nước bảo hộ đối với các hoạt động sản xuất - kinh doanh, mặt khác buộc doanh nghiệp phải có trách nhiệm về các hoạt động của mình với đối tác, với người tiêu dùng, với cộng đồng và xã hội
Thứ hai, doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh
như mua bán, trao đổi, cho thuê tài sản Hoạt động này bao gồm nhiều công đoạn, được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành đời sống kinh tế của một đất nước
Thứ ba, doanh nghiệp hoạt động vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận Đây
là điểm khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác không được coi là doanh nghiệp Doanh nghiệp được thành lập để sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ với mục đích kiếm lời Tuy nhiên, trong một giai đoạn hoạt động nào đó, trong một thương vụ nào đó có thể doanh nghiệp không đạt được mục đích này Nhưng điều đó không có nghĩa là lúc đó doanh nghiệp này không được coi là doanh nghiệp Hay nói cách khác, sự thua lỗ, tự
nó không làm mất đi tư cách doanh nghiệp của chủ thể kinh doanh
Với những đặc điểm trên, có thể đưa ra khái niệm về doanh nghiệp như
sau: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, thường có tư cách pháp nhân, được
thành lập theo quy định của pháp luật và tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
1.1.2 Phân loại doanh nghiệp
1.1.2.1 Căn cứ vào hình thức sở hữu
- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ4, tồn tại dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp: (1) do hai bên hoặc nhiều
4 Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014.
Trang 15bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài; (2) do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam; (3) do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu
tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh Doanh nghiệp liên doanh hiện nay được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
1.1.2.2 Căn cứ vào trách nhiệm pháp lý
- Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn là loại hình doanh nghiệp mà chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán các món nợ của doanh nghiệp bằng tất cả tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ đối với các chủ nợ Tài sản doanh nghiệp và tài sản của chủ sở hữu là không tách rời nhau
- Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn là những doanh nghiệp mà chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Điều này có nghĩa là khi tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ lấy tài sản riêng của mình (tài sản không góp vào doanh nghiệp đó) để trả nợ thay cho doanh nghiệp
1.1.2.3 Căn cứ vào hình thức pháp lý
- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên
là chủ sở hữu của công ty (thành viên hợp danh), cùng kinh doanh dưới tên chung Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty Ngoài ra, công ty hợp danh có thể
có thành viên góp vốn
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên) là loại hình doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ
Trang 16tài sản của công ty trong phạm vi số vốn mà mình đã góp vào công ty.
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu
cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn mà mình đã góp vào doanh nghiệp
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
Yếu tố chính trị là yếu tố rất phức tạp, tuỳ theo điều kiện cụ thể yếu tố này sẽ tác động tốt hay xấu đến sự phát triển kinh tế trong phạm vi quốc gia Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho việc phát triển và mở rộng các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước Các hoạt động đầu tư đó lại tác động trở lại rất lớn tới hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, khi đất nước rơi vào tình trạng bất ổn về chính trị, bạo loạn thường xuyên xảy ra, đương nhiên, không chỉ doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc sản xuất - kinh doanh mà cả người dân cũng khó khăn trong việc ổn định cuộc sống Doanh nghiệp không có điều kiện kinh doanh - sản xuất tất yếu nền kinh tế cũng ngày càng đi xuống
và kém phát triển
Thứ hai, môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế là yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất -
Trang 17kinh doanh của doanh nghiệp Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và những đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người… là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp Nếu tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân cao, Chính phủ có nhiều chính sách ưu tiên khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ không đáng kể, lạm phát được giữ ở mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng… sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh Ngược lại, nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, các chính sách khuyến khích đầu tư không được quan tâm, tỉ lệ lạm phát tăng cao chắc chắn hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng Khi hoạt động của doanh nghiệp không tốt, nền kinh tế đi xuống cũng kéo theo sự thay đổi về chính trị, văn hóa, xã hội
Do vậy, mọi quốc gia, không chỉ Việt Nam đều phải đặc biệt quan tâm đến môi trường kinh tế - yếu tố chi phối trực tiếp đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường kinh tế vững mạnh sẽ đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được diễn ra thuận lợi và đạt kết quả cao
Thứ ba, môi trường pháp lý.
Yếu tố pháp lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và tạo hành lang cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Nếu một quốc gia có hệ thống luật pháp không ổn định và thiếu minh bạch, thiếu đồng bộ sẽ gây ra tâm lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chỉ mang tính chất tạm thời, không có những dự án đầu tư dài hạn và quy mô lớn Đồng thời số lượng các nhà đầu tư có khả năng chấp nhận mạo hiểm đầu
tư vào quốc gia đó cũng rất hạn chế Pháp luật luôn đưa ra những quy định cho phép, không cho phép hoặc những đòi hỏi buộc các doanh nghiệp phải chấp hành Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ thống luật pháp như chính sách về thuế, chính sách về đầu tư cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản
Trang 18xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, việc xây dựng hệ thống pháp luật có chất lượng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp được tối ưu nhất.
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các văn bản pháp luật có tác động đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp có thể kể đến
là Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật dân sự Các văn bản này đưa ra những định hướng về thể chế kinh tế (Hiến pháp); những quy định chung nhất về pháp nhân, về quyền sở hữu, về hợp đồng (Bộ luật dân sự) và bao gồm cả những quy định chi tiết về thương nhân, về pháp nhân, về hoạt động kinh doanh (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư) Tất cả các văn bản này hợp thành cơ sở pháp lý vững chắc vừa bảo vệ quyền dân sự của doanh nghiệp, vừa bảo đảm quyền tự do kinh doanh, giúp cho hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
Thực tế cho thấy, môi trường pháp lý là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải nắm vững tinh thần cũng như nội dung cụ thể của luật pháp để tận dụng được tối đa các ưu đãi mà luật pháp mang lại và có những đối sách kịp thời để tránh được các thiệt hại do sự thiếu hiểu biết về pháp lý của mình có thể gây ra trong kinh doanh
Thứ tư, môi trường văn hóa - xã hội.
Môi trường văn hóa - xã hội phản ánh trình độ dân trí, phong tục tập quán của một đất nước, cho thấy nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Các khía cạnh hình thành môi trường văn hóa - xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: những quan niệm
về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, nghề nghiệp; những phong tục, tập quán, truyền thống; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội
Trong môi trường văn hóa, các nhân tố nổi lên giữ vai trò đặc biệt quan trọng là tập quán và lối sống Tập quán của người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu tiêu dùng hàng hóa Phần lớn người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm theo số đông, với mức giá ở tầm trung và thường chọn những nhãn hiệu
có từ nhiều năm trước Những sản phẩm mới, thương hiệu mới xuất hiện cũng
Trang 19phải mất một thời gian dài để có thể được người tiêu dùng quan tâm và lựa chọn Do vậy, thị hiếu, tập quán người tiêu dùng mang đặc điểm riêng của từng vùng, từng dân tộc và phản ánh yếu tố văn hóa, lịch sử, tôn giáo của từng địa phương, từng quốc gia.
Bên cạnh đó, đạo đức xã hội nói chung và đạo đức kinh doanh nói riêng cũng được coi là một khía cạnh thiết thực và quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Đạo đức kinh doanh đặt nền móng, chi phối mọi hành
vi và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt động lành mạnh hay không, tuân thủ pháp luật hay không cũng dựa vào yếu tố này Đạo đức kinh doanh tốt sẽ góp phần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo yếu tố cạnh tranh Ngược lại, chỉ cần đạo đức kinh doanh của một doanh nghiệp không tốt sẽ làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác cũng như ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung Hành vi này còn tác động xấu đến môi trường kinh doanh, đi ngược lại các quy định của pháp luật Nói tóm lại, đạo đức kinh doanh có thể coi như một nhu cầu xã hội và vì vậy bất kỳ một thể chế kinh tế nào cũng cần xây dựng được một khuôn khổ đạo đức kinh doanh tốt để đảm bảo môi trường kinh doanh được lành mạnh, công bằng
Ngoài các yếu tố nêu trên, môi trường công nghệ hay môi trường tự nhiên cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các yếu tố này đều đạt chuẩn, ngày càng tiệm cận đến vạch chuẩn thì hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ngày càng thuận lợi và khởi sắc
1.1.3.2 Yếu tố chủ quan
Thứ nhất, tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều cần đến tài sản, do vậy tình hình tài chính tốt hay xấu đều tác động đến quá trình sản xuất
- kinh doanh của doanh nghiệp
Thông thường, doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh không những đảm bảo cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh được diễn ra liên tục mà còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng
kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất và
Trang 20chất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu khả năng tài chính của doanh nghiệp yếu thì doanh nghiệp sẽ không đảm bảo cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh diễn ra bình thường và cũng không có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, do đó không nâng cao được năng suất và chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất - kinh doanh, tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đối với lãnh đạo doanh nghiệp, cần nắm vững tình hình tài chính của doanh nghiệp mình để cân đối tài chính, biết được lợi nhuận, khả năng thanh toán, trả nợ của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những định hướng, chiến lược kinh doanh phù hợp ở từng giai đoạn Đối với các nhà đầu tư và ngân hàng, dựa trên tình hình tài chính của doanh nghiệp mà họ quyết định có đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không và các ngân hàng quyết định có cho doanh nghiệp
đó vay vốn hay không Vì vậy, tình hình tài chính của doanh nghiệp là yếu tố tác động trực tiếp và nhanh chóng tới hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai, bộ máy quản trị doanh nghiệp.
Bộ máy quản trị doanh nghiệp có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay phá sản của doanh nghiệp Đây được xác định là cơ quan đầu não điều khiển mọi hoạt động của doanh nghiệp, điều phối hoạt động giữa các bộ phận kinh doanh, tác động tới người lao động cũng như hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Nhiệm vụ quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp là xây dựng chiến lược, kế hoạch kinh doanh, phương án kinh doanh và phát triển doanh nghiệp một cách hợp lý Do đó, chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Nếu cơ cấu tổ chức
bộ máy quản trị phù hợp, gọn nhẹ, linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ, chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hợp hành động nhịp nhàng với một đội ngũ quản trị viên có năng lực sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Bộ máy quản trị doanh nghiệp sẽ giúp các bộ
Trang 21phận trong doanh nghiệp hoạt động gắn kết với nhau, hợp thành một thể thống nhất, hoạt động hiệu quả trong quá trình sản xuất - kinh doanh, giúp doanh nghiệp hoàn thành các mục tiêu đề ra Nếu bộ máy quản trị doanh nghiệp được tổ chức hoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo, không rõ ràng hoặc phải kiêm nhiệm quá nhiều, các quản trị viên thiếu năng lực và thiếu tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp không cao Do vậy, để doanh nghiệp hoạt động ở mức tối ưu nhất, đòi hỏi bộ máy quản trị doanh nghiệp phải có năng lực, có trình độ, có tinh thần trách nhiệm cao và phải xây dựng được các chiến lược kinh doanh, phương án kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp cũng như với từng thời kỳ kinh tế.
Thứ ba, người lao động.
Con người là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động sản xuất - kinh doanh Xét trong phạm vi doanh nghiệp, con người được thể hiện cơ bản dưới góc độ người lao động
Người lao động là những người trực tiếp làm ra các sản phẩm, hàng hóa, là đối tượng trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác động đến tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình sản xuất - kinh doanh; tác động đến năng suất, chất lượng sản phẩm, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Việc tuyển dụng,
bố trí, sắp xếp người lao động vào làm việc tại các bộ phận trong doanh nghiệp cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng Người lao động được bố trí công việc phù hợp với bằng cấp và sức lao động đương nhiên hiệu quả lao động sẽ cao Nếu một người lao động học sửa chữa điện tử lại được tuyển dụng làm kế toán thì hiệu quả lao động không đạt được, ảnh hưởng đến chất lượng công việc, đến hoạt động của những người lao động khác trong doanh nghiệp và cũng ảnh hưởng đến tâm lý, thái độ của người lao động đó
Vì vậy, để hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp có lợi nhuận thì việc làm không thể thiếu là thường xuyên đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động; giúp người lao động tiếp cận, học tập những tiến bộ
Trang 22của khoa học kỹ thuật Bên cạnh đó, thường xuyên quan tâm, chăm lo tới đời sống vật chất, tinh thần; quyền, nghĩa vụ của người lao động nhằm tạo động lực cho họ cống hiến hết mình và mang lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp.
Trên đây là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Một nhà lãnh đạo giỏi sẽ phải hiểu rõ các yếu
tố này; có khả năng phân tích, đánh giá và định hướng, điều chỉnh các yếu tố
đó sao cho phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp mình, từ đó có được chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả nhất
1.2 Vai trò của Bộ luật dân sự trong hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ, do đó để điều chỉnh các hoạt động sản xuất - kinh doanh thì không chỉ có luật chuyên ngành như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà Bộ luật dân sự cũng đóng vai trò đáng kể vì Bộ luật này là luật gốc điều chỉnh các quan hệ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Bởi lẽ, đối tượng điều chỉnh chủ yếu của Bộ luật dân sự là quan hệ tài sản mà doanh nghiệp buộc phải tham gia khi tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh Thêm vào đó, Bộ luật dân sự ghi nhận các chế định cụ thể về sở hữu, về hợp đồng, về cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Bộ luật dân sự Việt Nam
Song song với sự thay đổi thể chế kinh tế của nước ta, quá trình hình thành và phát triển của Bộ luật dân sự Việt Nam có thể được chia thành bốn giai đoạn
1.2.1.1 Giai đoạn trước năm 1995
Trong thời kỳ phong kiến, luật dân sự Việt Nam chưa được tách ra thành
bộ luật chính thống độc lập mà các quy định pháp luật dân sự chỉ được tìm thấy rải rác trong các điều khoản của Bộ Luật Hồng Đức và Hoàng Việt luật lệ
Bộ luật dân sự bắt đầu được hình thành ở thời Pháp thuộc và dựa trên khuôn mẫu của Bộ luật dân sự Pháp, có cải biên cho phù hợp với bối cảnh kinh tế và xã hội của Việt Nam Các văn bản pháp lý tiêu biểu ở thời kỳ này
Trang 23có thể kể đến như: Bộ luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu (1883), Sắc lệnh ngày 21/7/1925 về chế độ điền thổ được áp dụng tại Nam Kỳ; Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931) và tại Trung Kỳ là Bộ Dân luật Trung Kỳ (1936) Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, các văn bản này vẫn tiếp tục được áp dụng và chỉ bị hủy bỏ khi có Chỉ thị số 772/TATC ngày 10/7/1957 của Tòa án tối cao
Từ thời điểm đó trở đi, tại miền Bắc Việt Nam không tồn tại Bộ luật dân sự thực thụ Các vấn đề trong luật dân sự được chia nhỏ và được điều chỉnh bởi nhiều luật, pháp lệnh khác nhau
Năm 1959, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành Trong đó chứa đựng nhiều nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với pháp luật dân sự như những quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình; nhiều Thông
tư, Chỉ thị, Điều lệ về dân sự cũng dần xuất hiện Nhìn chung, các văn bản pháp luật dân sự này chủ yếu thể hiện mục tiêu phục vụ công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ ở miền Nam
Tiếp đó, cùng với sự ra đời của Hiến pháp 1980, Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị định, Quyết định về kinh tế, không có văn bản dưới luật mang tính dân sự Các văn bản này chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp cao độ Nhiều lĩnh vực dân sự không được điều chỉnh trực tiếp như thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ Những quy định về nghĩa
vụ dân sự tuy được quy định nhưng chủ yếu về nhà ở, vàng bạc, kim khí quý,
đá quý và mang nặng tính chất hành chính, làm mất đi yếu tố bình đẳng, thỏa thuận, tự nguyện và tự định đoạt giữa các chủ thể Do chưa có một Bộ luật dân sự thống nhất nên hàng năm Tòa án nhân dân tối cao đã tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp giải quyết các tranh chấp dân sự Trong nhiều trường hợp, Toà án nhân dân tối cao đã giải thích những Nghị định quá rộng, làm biến dạng và không loại trừ những trường hợp trái với các quy định của pháp luật
Từ giữa những năm 80, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các văn bản
Trang 24pháp luật được ban hành đã bước đầu thể hiện những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, phù hợp với thông lệ quốc tế trong giao lưu dân sự Các nguyên tắc cơ bản của kinh tế hàng hóa nhiều thành phần bắt đầu được áp dụng, thể hiện ở việc ban hành Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988), Pháp lệnh về Sở hữu công nghiệp (1989), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989), Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990) Bước đột phá căn bản được ghi nhận cho giai đoạn này là việc ban hành Hiến pháp 1992, kéo theo hàng loạt các văn bản pháp luật được ban hành, sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp với Hiến pháp như: Luật đất đai (1993); Pháp lệnh về Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được giao đất, cho thuê đất; Pháp lệnh về Quyền
và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam; Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả (1994) Luật Phá sản doanh nghiệp (1994), Bộ luật lao động (1994)
Khi đó, vẫn tồn tại nhiều vấn đề về dân sự chưa được pháp luật điều chỉnh một cách thống nhất, cụ thể như: Các quan hệ về sở hữu tài sản, nghĩa
vụ dân sự; các loại hợp đồng dân sự thông dụng; vấn đề bồi thường thiệt hại;
về thực hiện công việc không có ủy quyền; được lợi về tài sản không có căn
cứ pháp luật; các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Mặt khác, do sự chuyển đổi của nền kinh tế, cơ chế quản lí kinh tế, nhiều quy định trong các văn bản pháp luật dân sự, kinh tế không còn phù hợp với giai đoạn đổi mới Điều này đã gây không ít khó khăn cho việc áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự Do thiếu văn bản pháp luật nên Toà án các cấp phải vận dụng các báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao để giải quyết các vụ việc, những tranh chấp nảy sinh trong thực tế
1.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1995 đến trước năm 2005
Với nhu cầu cấp thiết kể trên, năm 1980, Nghị quyết về việc xây dựng
Bộ luật dân sự đã được đề cập và đến năm 1995, Bộ luật dân sự đầu tiên đã ra đời, có hiệu lực từ ngày 01/07/1996 Bộ luật dân sự 1995 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của Nhà nước ta Được đánh giá là có
Trang 25vị trí thứ hai sau Hiến pháp, Bộ luật này đã điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp, làm nền tảng và định hướng cho việc phát triển các quan hệ dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình, lao động Bộ luật dân sự còn được xây dựng với quy mô lớn nhất trong các bộ luật từ trước đến nay, gồm 838 Điều được kết cấu bởi 35 Chương, 52 Mục, 7 Phần Do có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nên một loạt văn bản pháp luật hướng dẫn các quy định của Bộ luật dân
sự 1995 đã ra đời, nhiều nhất là các Nghị định của Chính phủ Từ khi có Bộ luật dân sự 1995, hoạt động kinh tế của Việt Nam đã có nhiều thay đổi Giai đoạn này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài Dưới sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự, kinh
tế mở rộng cửa, kim ngạch xuất nhập khẩu được cải thiện, hợp tác song phương và đa phương giữa Việt Nam và nhiều quốc gia khác cũng bắt đầu khởi sắc
1.2.1.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến trước năm 2015
Từ năm 2001 đến năm 2013 là giai đoạn nền kinh tế có sự tăng trưởng mạnh mẽ, Việt Nam có nhiều bước tiến trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới Qua 10 năm thi hành, Bộ luật dân sự 1995 đã thể hiện vai trò tích cực của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích nhà nước và lợi ích công cộng Tuy nhiên, trước những yêu cầu cấp bách của sự phát triển kinh tế, Bộ luật dân sự 1995 cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi như: cần quy định khái quát trong Bộ luật dân sự những nội dung liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân (quyền khai sinh, khai tử ); cần sửa đổi các quy định về giao dịch dân sự, quy định về bảo vệ quyền sở hữu cho phù hợp để vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người chiếm hữu hợp pháp và chủ sở hữu nhưng cũng vừa đảm bảo quyền lợi cho người chiếm hữu ngay tình Hơn nữa, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia vào nhiều Công ước quốc tế thì việc sửa đổi Bộ luật dân
sự 1995 là vô cùng cần thiết Do đó, ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc
Trang 26hội khóa XI đã thông qua Bộ luật dân sự 2005, gồm 777 Điều, chia thành 7 Phần và 36 Chương, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006 Những quy định của Bộ luật dân sự 2005 cơ bản có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Bộ luật này đã điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm của chủ thể trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; giúp cho việc sản xuất kinh doanh của các chủ thể được thuận lợi hơn cũng như đảm bảo quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân được toàn diện hơn.
1.2.1.4 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay
Với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hội nhập, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp 1992 đã được thay thế bằng Hiến pháp 2013 Hiến pháp mới đã khẳng định rõ hơn về đường lối, quan điểm phát triển kinh tế; về vai trò, chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng như quy định lại các hình thức sở hữu Song song đó, Bộ luật dân sự 2005 đã bộc lộ không ít bất cập, hạn chế trong việc thực hiện vai trò là nền tảng pháp lý của các quan hệ tư, hệ thống luật tư
Do vậy, Bộ luật dân sự 2005 đã không còn phù hợp với thực tiễn và cần được thay thế
Theo Nghị quyết số 07/2011/QH13 ngày 06/8/2011 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2011, Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) được đưa vào chương trình xây dựng luật khóa XIII Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân
sự lần này là nhằm xây dựng Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung của
hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội sau khi Hiến pháp 2013 được ban hành Và tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, ngày 24/11/2015, Bộ luật dân sự 2015 đã chính thức được ban hành gồm 6
Trang 27Phần, 27 Chương và 689 Điều (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), hứa hẹn góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật dân sự ở nước ta trong giai đoạn hội nhập quốc tế.
1.2.2 Ý nghĩa của Bộ luật dân sự đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Trước hết có thể hiểu “Giải pháp pháp lý” là những quy định nằm trong luật pháp, mang tính ràng buộc đối với các chủ thể Những giải pháp pháp lý trong Bộ luật dân sự tác động đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp chính là những quy định, cơ chế trong Bộ luật dân sự liên quan đến doanh nghiệp, hay nói cách khác là những quy định mới góp phần thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp
Sự tác động của Bộ luật dân sự đến các hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp được thông qua một cơ chế phức tạp, đó là hoạt động
có ý thức của con người và phải tuân theo những quy luật kinh tế khách quan
Bộ luật dân sự không đặt ra các quy luật mà chỉ tác động đến hành vi của chủ thể kinh doanh, đặt ra các tiêu chuẩn để chủ thể kinh doanh tuân thủ, chấp hành Đồng thời, thông qua Bộ luật dân sự cũng thể hiện yêu cầu của nhà nước đối với các đơn vị kinh tế dưới dạng quyền và nghĩa vụ của chủ thể Do vậy, pháp luật nói chung và Bộ luật dân sự nói riêng đã trở thành một công cụ pháp lý vô cùng quan trọng giúp nhà nước quản lý kinh tế Cụ thể, vai trò của
Bộ luật dân sự đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện như sau:
1.2.2.1 Bộ luật dân sự góp phần bảo đảm quyền tự do kinh doanh – yêu cầu
có tầm quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
a Thế nào là quyền tự do kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh tồn tại như một nhu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế, xã hội Có thể nói, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân nói chung và của doanh nghiệp nói riêng là một yếu tố cần thiết đối với một nền kinh tế phát triển Các nhà đầu tư luôn muốn quyền tự do kinh doanh được đảm bảo về mặt pháp lý để họ có thể yên tâm sản xuất - kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện ở các nội dung sau:
Trang 28- Quyền tự do thành lập doanh nghiệp Mọi người khi có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật đều có quyền được thành lập doanh nghiệp Quyền này là cơ sở để doanh nghiệp được nhà nước công nhận là chủ thể kinh doanh hợp pháp, là tiền đề để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh
- Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh: Doanh nghiệp được
quyền kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm, kinh doanh đơn ngành hoặc đa ngành
- Quyền tự do lựa chọn quy mô kinh doanh, loại hình tổ chức kinh tế: Doanh nghiệp được tự do quyết định mức vốn đầu tư, tùy thuộc vào khả
năng, điều kiện và ý muốn của doanh nghiệp mình Và tùy thuộc vào số lượng thành viên góp vốn, phương thức, cách thức huy động vốn mà chủ doanh nghiệp có thể chọn một trong số các loại hình tổ chức kinh tế phù hợp để kinh doanh như: hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
- Quyền tự do hợp đồng: Hợp đồng là hình thức pháp lý chủ yếu của
các quan hệ kinh doanh Doanh nghiệp có quyền tự do giao kết hợp đồng, tự
do lựa chọn đối tác, tự do thỏa thuận những nội dung trong hợp đồng, tự do thoả thuận để thay đổi hay huỷ bỏ hợp đồng trong quá trình thực hiện
- Quyền tự do cạnh tranh lành mạnh: Cạnh tranh là một trong những
quy luật của nền kinh tế thị trường Nếu lợi nhuận thúc đẩy các nhà kinh doanh thì cạnh tranh buộc họ phải điều hành hoạt động kinh doanh, họ phải sử dụng các nguồn lực có hiệu quả nhất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là thuộc tính
tự nhiên của doanh nghiệp Nó cần được pháp luật bảo hộ với tư cách là quyền của các doanh nghiệp và trở thành nội dung không thể thiếu của quyền
tự do kinh doanh
- Quyền tự do lựa chọn hình thức, cách thức giải quyết tranh
chấp: Hoạt động kinh doanh luôn tiềm ẩn phát sinh các tranh chấp Khi có
tranh chấp xảy ra, các bên có quyền lựa chọn phương thức giải quyết: hòa giải, thương lượng, tòa án hay trọng tài
Trang 29Để thực hiện quyền tự do kinh doanh, đó là nhiệm vụ của cả hệ thống pháp luật Do vậy, không chỉ Hiến pháp, các văn bản pháp luật chuyên ngành
mà cả Bộ luật dân sự qua các thời kỳ đều thừa nhận và đưa ra những quy định cần thiết nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp
b Vai trò của Hiến pháp trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh
Việt Nam đã có năm bản Hiến pháp: 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 Tuy nhiên, không phải Hiến pháp nào cũng ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền tự do kinh doanh Chỉ từ năm 1986 khi Nhà nước ta bắt đầu công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nguyên tắc tự do kinh doanh với tư cách là một quyền cơ bản của công dân mới được ghi nhận trong Hiến pháp (Điều 57 Hiến pháp 19925
và Điều 33 Hiến pháp 20136)
Quyền tự do kinh doanh cũng được ghi nhận trong Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới Ví dụ, tại khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 1993 của Cộng hòa
Liên bang Nga đã quy định: “Ở Cộng hòa liên bang Nga, sự thống nhất của
không gian kinh tế; sự tự do chuyển dịch của hàng hóa, dịch vụ và các phương tiện tài chính; sự ủng hộ cạnh tranh; sự tự do hoạt động kinh tế được bảo đảm” Thực tiễn cho thấy, một trong những lý do cơ bản dẫn đến sự thất
bại của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây chính là việc Nhà nước không ghi nhận quyền tự do kinh doanh trong Hiến pháp Điều này đã làm hạn chế năng lực sáng tạo, khát vọng làm giàu một cách hợp pháp của người dân; không khuyến khích được mọi tổ chức, cá nhân đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; làm lãng phí nhiều nguồn tài lực, vật lực trong xã hội
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, quyền tự do kinh doanh cũng đã được Hiến pháp ghi nhận
một cách không giống nhau Tại Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi
người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” So với Hiến pháp 1992, đây là thay đổi hết sức quan trọng về
5 “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
6 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.
Trang 30nội dung trong cách tiếp cận về quyền tự do kinh doanh Xét về góc độ đối tượng, Hiến pháp 1992 chỉ quy định “công dân” có quyền tự do kinh doanh, còn Hiến pháp 2013 quy định “mọi người” có quyền tự do kinh doanh, đối tượng quyền đã được mở rộng hơn rất nhiều Xét về góc độ phạm vi hoạt động, Hiến pháp 2013 được hiểu rộng theo hướng mọi người có quyền làm tất
cả những gì pháp luật không cấm thay vì chỉ được làm những gì pháp luật cho phép như trong Hiến pháp 1992 Chính điều này đã mở rộng tối đa giới hạn của quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế và thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh
c Vai trò của một số đạo luật chuyên ngành với việc thực hiện quyền tự
do kinh doanh
Thứ nhất, vai trò của Luật Doanh nghiệp.
Với tư cách là luật cơ bản, Hiến pháp 2013 chỉ ghi nhận quyền tự do kinh doanh một cách khái quát nhất Do vậy, pháp luật nói chung và các đạo luật chuyên ngành nói riêng phải có trách nhiệm tạo cơ sở pháp lý cụ thể, đầy
đủ và rõ ràng hơn để tổ chức, cá nhân có thể thực hiện được một cách dễ dàng, thuận lợi và hiệu quả quyền tự do kinh doanh
Để thực hiện quyền tự do kinh doanh, trước hết công dân, pháp nhân phải có quyền tự do thành lập doanh nghiệp, tức là có quyền xây dựng các mô hình sản xuất – kinh doanh mà mình cho là phù hợp Vì vậy, các Luật về doanh nghiệp đã lần lượt được ban hành để trả lời cho câu hỏi có bao nhiêu loại hình doanh nghiệp được phép thành lập ở Việt Nam và cách thức cũng như điều kiện để thành lập các loại hình doanh nghiệp này là như thế nào Ví
dụ, Luật Doanh nghiệp 2014 ghi nhận bốn loại hình doanh nghiệp ở nước ta là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công
ty hợp danh
Quyền tự do kinh doanh không chỉ thể hiện ở chỗ nhà đầu tư được lựa chọn mô hình doanh nghiệp, mà còn ở chỗ họ có quyền được kinh doanh những ngành nghề gì và như thế nào Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh những ngành nghề đã được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Điều đó có nghĩa là, có những ngành nghề
Trang 31tuy không bị pháp luật cấm nhưng nếu doanh nghiệp chưa đăng ký với Nhà nước thì doanh nghiệp cũng không được kinh doanh Quy định này rõ ràng là không còn phù hợp với tinh thần tự do kinh doanh của Hiến pháp 2013 nên đã được Luật Doanh nghiệp 2014 hủy bỏ và thay thế bằng một quy định mới Theo đó, doanh nghiệp được chủ động lựa chọn ngành nghề và được kinh doanh rất nhiều ngành nghề, không cần đăng ký trước với cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền7 Đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó8 Hơn nữa, rất nhiều khía cạnh khác của quyền tự do kinh doanh cũng đã được Luật Doanh nghiệp
2014, với tư cách là một luật chuyên ngành, quy định cụ thể, rõ ràng, tiến bộ
và thông thoáng hơn nhiều so với Luật Doanh nghiệp 2005, để góp phần đưa nguyên tắc tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 đi vào cuộc sống
Thứ hai, vai trò của Luật Đầu tư 2014.
Ngoài ra, để quyền tự do kinh doanh được thực hiện trên thực tế thì một trong những vấn đề rất quan trọng mà hệ thống pháp luật cần phải giải quyết
là việc phải xác định được một cách rõ ràng và đầy đủ các ngành, nghề bị cấm kinh doanh ở Việt Nam Nhiệm vụ này là thuộc sứ mệnh của Luật Đầu tư Theo đó, Luật Đầu tư 2014 đã xác định rõ ở Việt Nam hiện nay có sáu ngành nghề bị cấm kinh doanh, bao gồm: kinh doanh mại dâm; mua, bán người, mô,
bộ phận cơ thể người, hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người9
Đặc biệt, Luật Đầu tư 2014 cũng đã khẳng định một nguyên tắc cố hữu, theo đó, các luật chuyên ngành không được quyền quy định về các ngành nghề bị cấm kinh doanh, vì đây được coi là công việc độc quyền của Luật Đầu tư.Bên cạnh những ngành nghề bị cấm kinh doanh, Luật Đầu tư 2014 còn đưa ra những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, gồm 267 ngành, nghề như: kinh doanh dịch vụ cầm đồ, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm10
7 Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2014.
8 Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2014.
9 Điều 6 Luật Đầu tư 2014.
10 Điều 7 Luật Đầu tư 2014.
Trang 32Như vậy, tự do kinh doanh không có nghĩa là tự do thực hiện các công việc mình muốn mà không cần phải có bất cứ điều kiện gì Việc quy định điều kiện kinh doanh không mâu thuẫn với quyền tự do kinh doanh, mà là yếu tố
vô cùng cần thiết, không thể thiếu được để chủ thể kinh doanh có quyền thực hiện trên thực tế quyền tự do kinh doanh của mình Các quy định này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện quyền tự do kinh doanh tại Việt Nam
d Vai trò của Bộ luật dân sự đối với việc thực thi quyền tự do kinh doanh
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật dân sự giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh đã được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 Vai trò này được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Bộ luật dân sự tăng cường nền tảng kinh tế cho hoạt động
kinh tế của doanh nghiệp Điều này thể hiện ở các nội dung sau: Bộ luật dân
sự đã hoàn thiện rất nhiều quy định về quyền sở hữu và bổ sung thêm ba
quyền khác đối với tài sản; ghi nhận sự bình đẳng giữa các chủ sở hữu: “Tổ
chức cá nhân được bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”11;
quy định các chủ sở hữu có quyền sở hữu tài sản mà không bị hạn chế về số lượng và giá trị
Thứ hai, Bộ luật dân sự tăng cường cơ sở pháp lý cho việc thực hiện
quyền tự do hợp đồng Tự do hợp đồng là một trong những bộ phận cơ bản cấu thành nội dung tự do kinh doanh ở bất cứ đâu, trong đó có Việt Nam Có thể khẳng định rằng, không có tự do hợp đồng thì không có tự do kinh doanh
Thứ ba, Bộ luật dân sự tăng cường cơ chế bảo vệ quyền dân sự khi quy
định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền không được từ chối giải quyết
vụ việc dân sự với lý do chưa có điều luật để áp dụng
Tóm lại, không có Bộ luật dân sự 2015 thì không thể thực hiện được quyền tự do kinh doanh đã được Hiến pháp quy định
Từ sự phân tích nội hàm của tự do kinh doanh cho thấy không một đạo
11 Khoản 1 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015.
Trang 33luật nào dù đồ sộ đến mấy cũng không thể một mình đảm bảo cho quyền tự
do kinh doanh được thực hiện trong thực tế Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống pháp luật Việt Nam, bắt đầu từ Hiến pháp
1.2.2.2 Bộ luật dân sự quy định chế độ sở hữu tài sản của doanh nghiệp
Chế định tài sản và quyền sở hữu là một trong những chế định hết sức quan trọng trong pháp luật dân sự Ở bất kỳ Bộ luật dân sự nào, chế định tài sản và quyền sở hữu cũng chiếm vị trí trọng tâm Trước đây khi chưa có Bộ luật dân sự, vấn đề tài sản và quyền sở hữu được quy định trong Hiến pháp và trong các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công
ty, Luật Đất đai, Pháp lệnh hợp đồng dân sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Tại Bộ luật dân sự 1995, Bộ luật dân sự 2005, chế định tài sản và quyền sở hữu đều được quy định ở Phần thứ hai gồm 7 Chương, trong đó Bộ luật dân sự 1995 có 113 Điều (từ Điều 172 đến Điều 284), Bộ luật dân sự
2005 có 117 Điều (từ Điều 163 đến Điều 279)
Doanh nghiệp không thể hoạt động khi không có tài sản Tài sản là vấn
đề trung tâm, cốt lõi của nhiều quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng Chế định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự đã quy định chi tiết nhiều vấn đề liên quan đến tài sản như: khái niệm tài sản, phân loại tài sản; khái niệm, nội dung quyền sở hữu; hình thức sở hữu; căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu; bảo vệ quyền sở hữu và những vấn đề khác có liên quan đến quyền sở hữu Đồng thời, Bộ luật dân sự cũng quy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng cũng có những quyền năng nhất định trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người khác
Cụ thể hơn, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Từ đó doanh nghiệp có thể xác định đâu là tài sản, đâu không phải là tài sản để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh Có tài sản, doanh nghiệp sẽ có quyền sở hữu đối với tài sản đó Quyền này bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp có thể dùng tài sản của mình để đầu tư, mua bán, trao đổi; có thể tặng cho hay để
Trang 34thừa kế, thế chấp Doanh nghiệp được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đối với những tài sản là bất động sản như đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất; các tài sản khác gắn liền với đất , về nguyên tắc, để được công nhận là chủ sở hữu, doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký quyền sở hữu Việc đăng ký quyền sở hữu chính là yếu tố minh chứng cho việc xác định ai là chủ sở hữu của bất động sản đó Đối với động sản có một số loại nhất định phải đăng ký quyền sở hữu như ô tô, xe máy, tàu, thuyền Quyền
sở hữu này được pháp luật công nhận và bảo vệ
Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự cũng đưa ra các căn cứ xác lập và chấm dứt quyền sở hữu, từ đó quan hệ sở hữu được xác định cụ thể hơn Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ phổ biến để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thông qua thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên Trong khi đó, muốn tham gia giao dịch dân sự thì chính các chủ thể đó phải có tài sản, và tài sản đó phải được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định Vì vậy, việc quy định đầy đủ và chi tiết các căn cứ xác lập quyền sở hữu là hết sức cần thiết để xác định quyền sở hữu tài sản của cá nhân cũng như của doanh nghiệp
Với những quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự, doanh nghiệp đã được pháp luật công nhận về quyền tài sản Những cá nhân, tổ chức khác không có quyền sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp Từ đó, doanh nghiệp được bảo đảm độc lập về tài sản, có quyền tự do sử dụng, định đoạt tài sản của mình Đây là điều kiện quan trọng hàng đầu của hoạt động sản xuất – kinh doanh
1.2.2.3 Bộ luật dân sự quy định về chế định hợp đồng, tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập và thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Chế định hợp đồng là tập hợp các quy phạm pháp luật dân sự quy định
về hợp đồng dân sự Đây là một chế định quan trọng và đồ sộ nhất trong Bộ luật dân sự Việt Nam
Trong pháp luật của các nước phát triển phương Tây, chế định hợp
Trang 35đồng được coi là một chế định hoàn thiện và ít mang dấu ấn chính trị nhất Ở đây, tự do hợp đồng được khẳng định như một nguyên tắc chủ yếu trong các giao dịch dân sự, thương mại; toàn bộ chế định hợp đồng được xây dựng trên nền tảng của tự do, bình đẳng Có thể nói, đó là chế định pháp luật có tính nhất thể hóa cao trong pháp luật tư sản12 Trong hệ thống pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa, chế định hợp đồng cũng là một chế định cơ bản bên cạnh các chế định quyền sở hữu, quyền thừa kế13….
Ở Việt Nam, các bộ cổ luật đã từng tồn tại trước đây như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long không có quy định riêng về hợp đồng dân sự mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau Cùng với sự phát triển của pháp luật dân sự nói chung, chế định hợp đồng dân sự ngày càng được xem là một chế định có vai trò trung tâm, cơ bản trong pháp luật dân sự
Với Bộ luật dân sự 2005, chế định hợp đồng dân sự đã được khẳng định với 205 Điều trên tổng số 777 Điều luật (từ Điều 388 đến Điều 593) đó
là chưa kể đến 45 Điều quy định về các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (từ Điều 693 đến Điều 732) Điều đó chứng tỏ chế định hợp đồng dân sự đóng vai trò rất quan trọng Các quy định của Bộ luật dân sự đã tập trung làm rõ các vấn đề từ khái niệm, hình thức, nội dung, trình tự giao kết, hợp đồng vô hiệu, thực hiện hợp đồng, trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng Đây là các quy định chung nhất, cơ bản nhất, làm cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp đồng của doanh nghiệp
Thông thường, hoạt động của tất cả các doanh nghiệp đều phải gắn với quan hệ hợp đồng (ví dụ: hợp đồng thuê mướn hay các hợp đồng mua bán, sản xuất, gia công hàng hóa ) Để hợp đồng dân sự có hiệu lực, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ đúng các quy định về nội dung và hình thức của hợp đồng Hợp đồng không đúng theo quy định của pháp luật sẽ không được pháp luật công nhận và cho thi hành Từ đây có thể khẳng định, không có Bộ luật dân sự thì không có việc giao kết hợp đồng và không có hoạt động sản
12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Công an nhân dân,
Hà Nội, tr.179.
13 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 6, tr.411.
Trang 36xuất - kinh doanh trên thực tế.
1.2.2.4 Bộ luật dân sự quy định cơ chế bảo vệ quyền dân sự của các doanh nghiệp trong sản xuất – kinh doanh
Trong Hiến pháp thường có một chương quy định về quyền con người, quyền công dân Với vai trò đặc trưng, Bộ luật dân sự có trách nhiệm xây dựng cơ chế, biện pháp phù hợp với chức năng của mình để góp phần ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do cơ bản đã được ghi nhận trong Hiến pháp Do
đó, việc quy định cơ chế pháp lý hữu hiệu trong Bộ luật dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp là điều không thể thiếu
Đối với quyền sở hữu tài sản, pháp luật dân sự có quy định: Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo
vệ Không ai trong đó có doanh nghiệp có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình Chủ sở hữu có quyền tự bảo
vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật14 Hay mới đây, Bộ luật dân sự 2015 cũng đưa ra nhiều giải pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp như: quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự với lý do chưa
có điều luật để áp dụng; quy định bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự
của cá nhân, tổ chức: “Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm
tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài ”15 Các quy định này đã
góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của các doanh nghiệp khi tham gia giao dịch dân sự; đảm bảo mọi chủ thể đều bình đẳng và được pháp luật bảo vệ
14 Điều 169 Bộ luật dân sự 2005.
15 Điều 19 Bộ luật dân sự 2015.
Trang 37Kết luận chương 1
1 Doanh nghiệp muốn hoạt động được phải cần đến rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Có yếu tố mang tính vật chất (tài sản), có yếu tố mang tính quản lý và có yếu tố mang tính pháp lý Trong các yếu tố này thì yếu tố pháp lý giữ vai trò rất quan trọng
2 Toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta, bắt đầu từ Hiến pháp đến các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý thấp nhất như thông tư đều là cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động Trong hệ thống pháp luật này thì Bộ luật dân sự có vai trò quan trọng hàng đầu
3 Có được vai trò quan trọng như vậy là vì Bộ luật dân sự góp phần bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc ghi nhận chế định vật quyền (quyền sở hữu và các loại vật quyền hạn chế khác), chế định hợp đồng (bao gồm toàn bộ những quy định cơ bản nhất liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng với tư cách là hình thức pháp lý của các quan hệ thị trường do các doanh nghiệp thiết lập với nhau ) và nhiều quy định khác mà thiếu chúng thì doanh nghiệp không thể hoạt động một cách bình thường được
Trang 38Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT –
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Bộ luật dân sự 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định hợp lý của Bộ luật dân sự 2005 Bộ luật này cũng đã ghi nhận nhiều quy định mới như: hoàn thiện chế độ sở hữu và bổ sung thêm một số quyền khác đối với tài sản; tăng cường cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp; hoàn thiện chế định hợp đồng Các quy định mới này đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác lập, thực hiện các giao dịch trên thị trường, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp
2.1 Bộ luật dân sự 2015 hoàn thiện chế độ sở hữu và bổ sung thêm một
số quyền khác đối với tài sản, góp phần củng cố cơ sở vật chất (tài sản) cho hoạt động của doanh nghiệp
2.1.1 Bộ luật dân sự 2015 củng cố chế định quyền sở hữu
Sở hữu là một phạm trù kinh tế và là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong nền kinh tế thị trường Ngay từ khi Nhà nước ra đời, chế độ sở hữu đã được hình thành và thay đổi theo từng hình thái kinh tế xã hội Ở xã hội công
xã nguyên thủy, chế độ sở hữu tồn tại dưới nhiều hình thức như: sở hữu thị tộc, sở hữu bộ lạc, sở hữu công xã về ruộng đất Đến xã hội chiếm hữu nô lệ,
sở hữu lại tồn tại ở các hình thức: sở hữu nô lệ, sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước Và cho đến chế độ xã hội chủ nghĩa như nước ta hiện nay, sự vận động của sở hữu cũng không nằm ngoài quy luật trên, tức là tất yếu tồn tại nhiều hình thức sở hữu với kết cấu đa dạng, phong phú
Khái niệm sở hữu trước hết được nghiên cứu dưới góc độ là khái niệm kinh tế Con người tồn tại trên trái đất, muốn duy trì sự sống tất yếu phải đáp ứng được các nhu cầu của cá nhân Điều này đòi hỏi con người phải có tài sản, từ đó hình thành quan hệ giữa con người và tài sản, quan hệ này được gọi
là quan hệ sở hữu Quan hệ sở hữu tồn tại và được luật hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật sẽ trở thành khái niệm pháp lý, tương ứng là quyền sở hữu Theo đó, quyền sở hữu là quyền của một người được trực tiếp chi phối
Trang 39vật, khai thác những thuộc tính có ích của vật để thỏa mãn nhu cầu của mình
và nó bao gồm các quyền: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Cũng theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê nin, về thực chất các quan hệ sở hữu chính là sự biểu hiện của các quan hệ kinh tế16 Có thể khẳng định, chế độ sở hữu là một trong những nội dung tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của đất nước Do vậy, việc khắc phục những hạn chế về chế độ sở hữu trong
Bộ luật dân sự 2005 và hoàn thiện hơn ở Bộ luật dân sự 2015 là điều rất cần thiết, góp phần tác động tích cực đến nền kinh tế đất nước nói chung và sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng
2.1.1.1 Hạn chế của pháp luật dân sự về quyền sở hữu
Ở Bộ luật dân sự 2005, phần thứ hai “Tài sản và quyền sở hữu” quy định các vấn đề cơ bản về tài sản như nội dung quyền sở hữu, các hình thức sở hữu, quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản Các quy định này đã có những cải thiện rõ rệt so với Bộ luật dân sự 1995, tạo cơ sở pháp lý
để doanh nghiệp thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của các chủ thể khác và là căn cứ để Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại về quyền sở hữu Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như những đòi hỏi của thực tiễn, các quy định này đã bộc lộ nhiều bất cấp và tất yếu phải được hoàn thiện, cụ thể:
Thứ nhất, có sự không thống nhất trong tên gọi về hình thức sở hữu giữa
Bộ luật dân sự 2005 với một số văn bản pháp luật khác như Hiến pháp 2013 (Điều 53), Luật Đất đai 2013 (Điều 4) Trong khi Hiến pháp và Luật Đất đai định danh hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý thì tương ứng Bộ luật dân sự 2005 lại quy định đây
là sở hữu Nhà nước (Điều 200);
Thứ hai, cách phân loại các hình thức sở hữu trong Bộ luật dân sự 2005
được đánh giá là không có căn cứ khoa học và không có ý nghĩa về mặt pháp
lý khi không thể hiện được sự khác biệt cơ bản về nội dung giữa các hình thức
sở hữu Bộ luật dân sự 2005 quy định 6 hình thức sở hữu, bao gồm: (1) sở
16 Nguyễn Văn Thức (2004), Sở hữu: Lí luận và vận dụng ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.20.
Trang 40hữu nhà nước; (2) sở hữu tập thể; (3) sở hữu tư nhân; (4) sở hữu chung; (5) sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (6) sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp Việc phân chia hình thức sở hữu dựa vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể như vậy là không hợp lý, cần phải thay đổi Trên thực tế, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, chỉ có 3 hình thức sở hữu chủ yếu
là sở hữu nhà nước, sở hữu riêng và sở hữu chung;
Thứ ba, chưa bao quát hết các loại quyền đối với vật đang tồn tại một
cách khách quan trong nền kinh tế nước ta Điều này thể hiện ở chỗ, trong phần này chỉ tập trung quy định về quyền sở hữu (với tư cách là loại vật quyền trọng tâm, quan trọng và phổ biến nhất của hệ thống vật quyền) mà có
ít quy định về các loại vật quyền khác mà thế giới gọi là các vật quyền hạn chế, còn ở nước ta thì gọi là quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản (Điều 173 Bộ luật dân sự 2005);
Thứ tư, Bộ luật dân sự 2005 đã ghi nhận các hình thức sở hữu như sở
hữu nhà nước, sở hữu tập thể nhưng chưa quy định đầy đủ các cơ chế pháp lý
cụ thể để thực thi một cách hiệu quả các hình thức sở hữu này Trên thực tế, mặc dù được quy định trong Bộ luật dân sự nhưng các hình thức sở hữu này lại được ghi nhận và thực thi thông qua một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khác như pháp luật về doanh nghiệp nhà nước; về hợp tác xã; về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; về đất đai; về đầu tư Hậu quả là, Bộ luật dân sự chưa làm tốt vai trò là nguồn pháp luật cơ bản về chế định sở hữu ở Việt Nam;
Thứ năm, tên gọi “Tài sản và quyền sở hữu” không tương ứng với nội
dung chứa đựng trong phần này Ngoài quyền sở hữu thì trên thực tế, Bộ luật dân sự 2005 đã quy định về các loại vật quyền khác như quyền sử dụng đất, quyền về lối đi qua bất động sản liền kề Do đó, phải thay đổi tên gọi mới của phần này cho phù hợp
Nhìn nhận một cách khách quan, những hạn chế trên có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế nước ta lúc