Trong đó, công tác kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một trong những nội dung rất quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt
Trang 3sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đỗ Thị Phượng – Trường Đại học Luật Hà Nội.
Những thông tin, số liệu và trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chính xác.
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Tác giả luận văn
PGS TS Đỗ Thị Phượng Tăng Ngọc Kim Mỹ
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của quý thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sỹ Luật học
Qua đây tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu cùng quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Cám ơn Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện quản lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như chương trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp hoàn thành luận văn này đúng tiến độ
Cám ơn Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương đã giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS Ts Đỗ Thị Phượng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện luận văn
Cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Tác giả luận văn
Trang 6BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
VKS: Viện kiểm sát
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ……… 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TẠM
1.1 Khái niệm kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án
1.2 Cơ sở của việc kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra 18 1.3 Ý nghĩa của kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra 25 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003
VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ KIỂM SÁT VIỆC TẠM GIAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ
2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ
2.2 Thực tiễn thi hành hoạt động kiểm sát việc tạm giam trong giai
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SÁT VIỆC TẠM
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập trong tố tụng hình sự, có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh tội phạm và người phạm tội, xác định rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội đồng thời kiến nghị các cơ quan
và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm
VKS có vị trí rất quan trọng trong bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Trong giai đoạn điều tra, VKS có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động điều tra của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra VKS có trách nhiệm
áp dụng các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định nhằm đảm bảo các hoạt động điều tra được tiến hành chính xác, nhanh chóng không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội
Công tác kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra là công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS nhằm kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Đây là nhiệm vụ quan trọng của VKS, bởi vì biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS, có ảnh hưởng đến quyền cơ bản của công dân Vì vậy, việc
áp dụng biện pháp tạm giam vừa phải có tác dụng phục vụ giải quyết các vụ
án hình sự nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo cho người bị tạm giam có các quyền và lợi ích hợp pháp không bị pháp luật tước bỏ được bảo vệ và tôn trọng
Trang 9Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra của VKS có ý nghĩa quan trọng, góp phần khắc phục những hạn chế, thiếu sót hiện nay và nâng cao vai trò của VKS trong kiểm sát tạm giam ở giai đoạn điều tra, bảo đảm quyền con người và tính nghiêm minh của pháp luật trong giai đoạn hiện nay Trong phạm vi bài viết, để phân tích các vấn đề kỹ lưỡng và sâu sắc hơn, chúng tôi
sẽ chỉ đề cập đến việc kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra của VKSND
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” để nghiên cứu làm Luận văn Thạc sỹ luật
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Ngành kiểm sát nhân dân Trong đó, công tác kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một trong những nội dung rất quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND nói riêng nên thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu lý luận và chỉ đạo thực tiễn trong
và ngoài Ngành kiểm sát trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đề cập đến vấn đề này, nổi bật là:
- Sách chuyên khảo:
Hệ thống hóa các văn bản cần thiết cho công tác kiểm sát, tập II - Kiểm sát giam, giữ, cải tạo của VKSND Tối cao, năm 1991; Tài liệu tập huấn công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của VKSND Tối cao, năm 2008; Lê Hữu Thể (chủ biên) (2005):
“Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn
Trang 10điều tra”; Phạm Mạnh Hùng (2007): “Hoàn thiện các quy định của BLTTHS
về quan hệ giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự Việt Nam”…
- Các đề tài khoa học, chuyên đề của VKSND Tối cao:
Đề tài khoa học cấp Bộ: Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong việc tạm
giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay của VKSND Tối cao, Th.s Ngô Quang Liễn làm
chủ nhiệm đề tài và các thành viên thực hiện, năm 2007; đề tài khoa học cấp
bộ: “Vai trò của VKS trong thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của bộ chính trị”, Viện
khoa học kiểm sát - VKSND Tối cao;…
- Luận văn thạc sỹ luật học:
Phạm Duy Trường: “Vai trò của VKS trong việc áp dụng biện pháp
tạm giam” (bảo vệ năm 2006); Nguyễn Vũ Quang: “Chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của VKSND trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS” (bảo vệ năm 2011); Bùi Ngọc Tú: “Nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra” (bảo vệ năm 2013); Nguyễn Thị
Thu Phượng: “Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc bắt, tạm giữ,
tạm giam” (bảo vệ năm 2013); Giáp Thị Nhung: “Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” (bảo vệ năm 2015);…
- Các bài viết khác trên tạp chí chuyên ngành:
“Một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao chật lượng công tác kiểm sát hoạt động bắt, tạm giữ, tạm giam” (Tạp chí Kiểm sát số 14/2012) của
tác giả Dương Ngọc An; “Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về biện
pháp tạm giam” (Tạp chí Kiểm sát số 21/2012) của tác giả Trần Văn Độ;
“Căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một
số loại tội phạm, thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc
áp dụng biện pháp tạm giam” (Tạp chí Kiểm sát số 19/2012) của Tiến sỹ
Trang 11Đỗ Văn Đương; “Tình trạng tạm giữ, tạm giam bị can, bị cáo khi đã hết
thời hạn tạm giam, tạm giữ, trách nhiệm thuộc về ai ?” (Tạp chí Tòa án
nhân dân số 7/2005) của tác giả Nguyễn Thị Mai,…
Những công trình nghiên cứu, bài viết, sách chuyên khảo, tài liệu trên đã nghiên cứu về chức năng và hoạt động của VKSND nói chung, một số công trình, bài viết nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong giai giai đoạn điều tra hoặc nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát các biện pháp ngăn chặn
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện hệ thống về hoạt động kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra của VKSND Luận văn này là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra hiện nay Do vậy, không có bất kỳ một công trình khoa học nào trùng lặp với đề tài luận văn mà tác giả chọn nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, các phương thức và các điều kiện bảo đảm kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra
Trang 12- Khảo sát đánh giá thực trạng công tác tạm giam của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam trên cả nước và công tác kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra của Ngành kiểm sát nhân dân trong thời gian 5 năm.
- Phân tích các quy định của BLTTHS, Luật tổ chức VKSND, các văn bản pháp luật khác và thực tiễn công tác kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra; nêu ra những điểm thuận lợi và khó khăn khi áp dụng các điều luật cũng như vai trò của VKS trong lĩnh vực này
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm sát tạm giam trong giai đoạn điều tra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu đề tài là các quy định của pháp luật hiện hành và của các văn bản pháp luật sắp có hiệu lực thi hành; thực tiễn tạm giam và kiểm sát chế độ tạm giam tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu của luận văn để làm rõ thực tiễn và họat động kiểm sát việc tạm giam tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam của VKSND trong khoảng thời gian 05 năm: Từ năm 2011 đến hết năm 2015 ở phạm vi toàn quốc
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của Chủ nghĩa Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý giam giữ tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam và công tác kiểm sát tạm giam của VKSND
Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ
Trang 13thể như: phân tích, thống kê, lấy ý kiến chuyên gia, so sánh, tổng hợp, tổng kết thực tiễn, dự báo,… phù hợp với yêu cầu của đề tài
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Trước yêu cầu của cải cách tư pháp, chức năng, nhiệm vụ của VKSND tiến trình cải cách tư pháp và những đòi hỏi phải đảm bảo dân chủ, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đề tài tổng hợp một cách khoa học đưa ra những nguyên nhân, tồn tại, vướng mắc trong công tác kiểm sát tạm giam của VKSND Đưa ra những giải pháp để xây dựng, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong công tác kiểm sát tạm giam theo yêu cầu đổi mới hiện nay Những kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát và ứng dụng trực tiếp vào việc hoàn thiện pháp luật
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Đề tài làm rõ lý luận về vị trí, vai trò của VKSND trong công
tác kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra, đề xuất những giải pháp, kiến nghị trên cơ sở đúc kết thực tiễn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho quá trình sửa đổi, bổ sung một số quy định về tạm giam, Quy chế trại giam, Luật tổ chức VKSND, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự,…
Về thực tiễn: Luận văn được sử dụng là một tài liệu tham khảo về kiến
thức chuyên sâu cho cán bộ, Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác kiểm sát việc tạm giam và tất cả những ai quan tâm lĩnh vực này, cũng có thể nói rằng đây là
đề tài có giá trị như tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy đối với các chức danh tư pháp nói chung và chức danh Kiểm sát viên nói riêng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
03 chương, 07 tiết
Trang 14Khi tội phạm xảy ra, việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn
và do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất vụ án, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Hoạt động tố tụng hình sự là một khái niệm chung của khoa học pháp lý, dùng để chỉ những hoạt động được thực hiện bởi các cơ quan và người tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động
tố tụng, các tổ chức, cá nhân tham gia tố tụng, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án1
Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm
vụ do pháp luật quy định
BLTTHS năm 2003 chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành năm giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố vụ án hình sự; giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai
1 Lê Hữu Thể (chủ biên),Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong giai đoạn điều tra, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006
Trang 15đoạn thi hành bản án hình sự Đối với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm
và giám đốc thẩm không phải là các giai đoạn tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà các hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án hình sự đã xét xử có kháng cáo và kháng nghị
BLTTHS năm 2015 chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố vụ án hình sự; giai đoạn xét xử vụ án hình sự Riêng giai đoạn thi hành án hình sự đã được tách ra và điều chỉnh theo Luật thi hành
án hình sự năm 2010
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng hình sự được BLTTHS năm 2003 quy định trong 6 chương, từ Chương VIII đến Chương XIII Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của CQĐT về việc đề nghị VKS truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định thì vụ án bị đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra đối với vụ án đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp
vụ án bị đình chỉ điều tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra vụ án
Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể cả các lần gia hạn điều tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20 tháng kể
từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài các thời hạn điều tra nêu
Trang 16trên thì Viện trưởng VKSND Tối cao có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết, thời hạn gia hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp của vụ án mà Viện trưởng VKSND Tối cao ấn định thời gian gia hạn.Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền có quyền áp dụng mọi biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các Cấp, các Ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm Nhiệm vụ trên được thực hiện bởi các chủ thể là CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là một giai đoạn
của tố tụng hình sự trong đó CQĐT và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án Giai đoạn điều tra được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra (trong những vụ án áp dụng thủ tục rút gọn, không làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định truy tố và gửi hồ sơ cho VKS).
Từ khái niệm trên, có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập tiếp nối giữa giai đoạn khởi tố và giai đoạn truy tố, được bắt đầu bằng việc
cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Đây cũng là mốc đánh dấu sự khởi đầu của một quá trình tố tụng nhằm làm rõ một hay nhiều tội phạm để xử lý theo pháp luật và kết thúc khi CQĐT hoặc một số cơ quan
có nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra ra Bản kết luận điều tra và Quyết
Trang 17định của CQĐT về việc đề nghị VKS truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng
Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là phát hiện kịp thời tội phạm và người phạm tội, áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS nhằm điều tra làm rõ, thu thập đầy đủ các chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội; đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại vật chất do người phạm tội gây ra
Thứ ba, chủ thể tiến hành tố tụng trong giai đoạn này chủ yếu là CQĐT
và VKS Ngoài ra còn một số cơ quan khác như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển, một số cơ quan khác trong Lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân…được khởi tố bị can và điều tra những tội phạm ít nghiêm trọng xảy ra trong lĩnh vực của mình quản lý hoặc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự rồi chuyển đến VKS cùng cấp để quyết định việc điều tra theo quy định
Thứ tư, các biện pháp cưỡng chế tố tụng mà các cơ quan có thẩm quyền được sử dụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, ngoài việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn như một số giai đoạn khác còn có một
số biện pháp nhằm thu thập chứng cứ như khám xét, dẫn giải,…
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp tạm giam nói riêng là một trong những hoạt động có ý nghĩa rất lớn Nó chứa đựng cả mục đích ngăn chặn tội phạm, không để người thực hiện hành vi phạm tội gây khó khăn cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và chấp hành bản án hình sự, đồng thời nó còn có tác động ảnh hưởng rất lớn đến quyền và nghĩa vụ của công dân2
2 Dương Ngọc An (2012), “Một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao chật lượng công tác kiểm sát hoạt động bắt, tạm giữ, tạm giam”, Tạp chí Kiểm sát, (14)
Trang 18BLTTHS năm 2003 mặc dù không đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn chặn, nhưng theo quy định tại Điều 79 BLTTHS năm 2003 đã quy định:
“Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị
cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, CQĐT, VKS, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo qui định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt (bao gồm bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người bị truy nã và bắt bị can, bị cáo để tạm giam), tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm”.
Theo quy định của điều luật này, biện pháp ngăn chặn là một loại biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với người bị nghi thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo, người bị án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, giải quyết vụ án hình sự Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, gây tác động, ảnh hưởng nhất định đến các quyền và lợi ích của đương sự, thậm chí hạn chế một số quyền, hạn chế tự do đối với người bị áp dụng
Ngoài mục đích chung, thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo
có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì ở mỗi giai đoạn tố tụng nhất định, việc áp dụng biện pháp tạm giam còn có mục đích riêng nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng Việc tạm giam đối với bị can trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận lợi cho CQĐT có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng
cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải triệu tập nhiều lần, đồng thời cũng giúp cho việc quản lý, giám sát bị can được chặt chẽ3
Trang 19Tạm giam theo từ điển Luật học năm 2006 là: Tạm giam là biện pháp cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi, là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân
Quy chế tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 98/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 và Nghị định 09/2011/ND-CP ngày 25/01/2011) (gọi tắt là Quy chế tạm giữ, tạm giam) đã đưa ra khái niệm tạm giam như sau:
“Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do
CQĐT, VKS hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người có lệnh tạm giam đang có hiệu lực pháp luật, phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định tại nhà tạm giữ hoặc trại tạm giam, để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt tù hoặc thi hành án tử hình”.
Như vậy tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất tạm thời tước bỏ tự do của bị can, bị cáo trong một thời gian nhất định theo quy định của pháp luật Tạm giam không phải là hình phạt tù vì mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án được tiến hành đúng theo quy định Còn hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
3 Trần Thanh Thủy (2011), “Bàn về yêu cầu điều tra của VKS trong hoạt động kiểm sát
điều tra vụ án hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (2).
Trang 20do Tòa án áp dụng để trừng phạt người phạm tội cách ly họ ra khỏi đời sống
xã hội
Với vai trò là một biện pháp ngăn chặn, tạm giam có ý nghĩa rất lớn trong việc đấu tranh và phòng chống các loại tội phạm cũng như bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân, cụ thể:
Một là, tạm giam góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, củng cố tăng cường Pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự kiên quyết của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm Với việc áp dụng biện pháp tạm giam sẽ đảm bảo cho trật tự xã hội được ổn định, pháp luật được giữ vững, chế độ xã hội chủ nghĩa được bảo vệ, các quyền cũng như lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng
Hai là, tạm giam tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm đảm bảo sự tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, đảm bảo không một công dân nào bị tạm giam trái pháp luật, khi áp dụng biện pháp tạm giam không đúng pháp luật quy định, công dân có quyền khiếu nại đến các chủ thể có thẩm quyền
Ba là, tạm giam là biện pháp hữu hiệu bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đạt hiệu quả cao nhất Bởi đây là biện pháp bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo sự chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng, ngăn ngừa các đối tượng tiếp tục phạm tội hoặc tìm cách xóa dấu vết phạm tội, chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án
Cuối cùng, tạm giam thể hiện tính ưu việt của Nhà nước ta Đó là biện pháp bảo đảm cho mọi công dân được sống trong xã hội mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ được tôn trọng và bảo vệ, tránh được sự tấn công, xâm hại từ phía các đối tượng nhất định, bảo đảm cho mọi công dân yên tâm sinh sống,
Trang 21học tập, làm việc tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao nhất.
Ở nước ta, hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự được thực hiện bởi các Kiểm sát viên - là người tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự, trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKS được ghi nhận trong Luật tổ chức VKSND và BLTTHS Vì vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc hội giao cho VKS nhằm bảo đảm Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động tư pháp hình sự, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm
Bản chất của kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát, do đó, chúng tôi đồng ý với quan điểm
cho rằng: “đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt
động tư pháp ở giai đoạn điều tra là hành vi xử sự của các CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra”4 [9] Ngoài ra, mối quan hệ giữa VKS cấp trên với các VKS cấp dưới không phải là quan hệ
“kiểm sát việc tuân theo pháp luật” Đây chỉ là quan hệ quản lý trong chỉ đạo,
điều hành giữa cấp trên và cấp dưới Do đó, VKS cấp trên không thể áp dụng các quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với VKS cấp dưới như đối với các chủ thể khác
Về nguyên tắc, phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố (một số trường hợp có thể được tiến hành trước khi khởi tố: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi ) và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án Còn phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi
4 Lê Hữu Thể (chủ biên), tldd chú thích 1
Trang 22tố và kết thúc khi VKS quyết định việc truy tố hoặc không truy tố người phạm tội ra tòa, hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của luật tố tụng hình sự.Từ những nội dung trình bày trên, theo chúng tôi, kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự là chức năng được Hiến pháp quy định cho cơ quan VKS, có nội dung là giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, qua đó bảo đảm Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tương tự, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động của VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm cho việc điều tra được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật, qua đó bảo đảm pháp chế chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, tôn trọng và bảo vệ các quyền
cơ bản của con người, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm
Kiểm sát việc tạm giam là một hoạt động của kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự, một bộ phận trong những khâu công tác thực hiện chức năng của VKS Theo Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm sát (tập 5), xuất bản năm
2010 của Trường đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (nay là trường Đại học kiểm sát): Kiểm sát việc tạm giam là một trong các công tác thực hiện chức năng của VKSND nhằm bảo đảm việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giam; bảo đảm việc tạm giam theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm việc thực hiện các chế độ đối với người bị tạm giam; bảo đảm tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm
Trang 23của người bị tạm giam và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng5.
Theo quy định tại Điều 2 Quy chế số: 35/QĐ-VKSNDTC-V4 của VKSND Tối cao ngày 29/01/2013 quy định về công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự (sau đây gọi là Quy chế kiểm sát) thì:
“Đối tượng của công tác kiểm sát việc tạm giam là việc tuân theo pháp luật
của trại tạm giam; người có trách nhiệm trong việc tạm giam theo quy định của pháp luật”.
Đặc trưng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác tạm giam trong giai đoạn điều tra bao gồm:
Thứ nhất, kiểm sát trong việc tạm giam trong giai đoạn điều tra là một hoạt động của những khâu công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành kiểm sát nhân dân Có thể khẳng định rằng, qua các giai đoạn lịch sử
từ khi thành lập Ngành kiểm sát nhân dân đến nay, kiểm sát việc tạm giam là công tác mang tính ổn định và không thể thiếu được trong hệ thống tổ chức và hoạt động của VKSND các cấp
Thứ hai, mục đích của kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra là nhằm phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật của cơ quan và người có trách nhiệm trong việc tạm giam Trên cơ sở đó để có những biện pháp nhằm tiến tới loại trừ, hạn chế và khắc phục hành vi vi phạm pháp luật trong việc tạm giam một cách kịp thời và có hiệu quả
Thứ ba, là công tác giữ vai trò và vị trí quan trọng trong bảo đảm việc tạm giam trong giai đoạn điều tra phải có căn cứ; việc giam giữ phải có lệnh đúng thẩm quyền và đúng thời hạn; bảo đảm đúng chế độ tạm giam và trật tự nơi giam giữ; bảo đảm cho việc người bị tạm giam không bị bức cung, nhục
5 Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (nay là Đại học kiểm sát) (2011), Tập bài
giảng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, Hà Nội.
Trang 24hình trong quá trình điều tra; bảo đảm các quyền không bị pháp luật tước bỏ của người bị tạm giam được tôn trọng, bảo đảm nhân quyền.
Thứ tư, kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra có thể sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ khác nhau như kiểm sát thường kỳ theo quy định của pháp luật, kiểm sát bất thường khi phát hiện có vi phạm pháp luật xảy ra nơi giam giữ (phạm tội mới, chết bất thường,…), yêu cầu cơ quan quản lý giam giữ và người có trách nhiệm tự kiểm tra và thông báo kết quả
Thứ năm, thông qua công tác kiểm sát việc tạm giam, VKS có quyền ra quyết định và trả tự do ngay cho người bị tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật theo quy định tại Khoản 2 Điều 22 Luật tổ chức VKSND năm 2014.Thứ sáu, kịp thời phát hiện và xử lý oan, sai khi kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra, có trách nhiệm tiếp nhận kịp thời các trường hợp có dấu hiệu oan, sai đến cơ quan có trách nhiệm xem xét giải quyết theo thẩm quyền
Cuối cùng là khi tác nghiệp kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra phát hiện có dấu hiệu tội phạm thuộc các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp trong quản lý giam giữ thì Kiểm sát viên có trách nhiệm ghi lại đầy đủ các tình tiết có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, có thể chụp ảnh hiện trường nơi xảy ra sự việc, xem xét các dấu vết, lấy lời khai hoặc ghi âm lời khai của người bị hại, những người có liên quan, báo cáo CQĐT của VKSND Tối cao để xem xét, kiểm tra xác minh và quyết định việc khởi tố vụ án hình sự
Từ những phân tích trên có thể hiểu: “Kiểm sát tạm giam trong giai đoạn
điều tra là chức năng được pháp luật quy định cho cơ quan VKSND được giám sát mọi hoạt động của cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhằm đảm bảo pháp chế xã hội
Trang 25chủ nghĩa, tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm”.
1.2 Cơ sở của việc kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra
1.2.1 Cơ sở lý luận
Để hoạt động của các cơ quan tư pháp đúng pháp luật và hiệu quả, ngoài việc chấp hành pháp luật và tự giám sát, kiểm tra nội bộ của các cơ quan tư pháp, Hiến pháp và các đạo luật đã quy định cơ chế giám sát và quy định các
cơ quan tư pháp phải được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của Quốc hội và cơ quan được Quốc hội giao quyền kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật.Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền lập hiến, thực hiện quyền lập pháp và phân công quyền lực nhà nước Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước Tuy nhiên, Quốc hội chỉ trực tiếp thực hiện quyền giám sát của mình trong những phạm vi mà Quốc hội thấy cần thiết nhất, quan trọng nhất (như hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, VKSND Tối cao trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong các hoạt động thực tiễn về tổ chức và thực hiện Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội, về năng lực, trình độ và trách nhiệm của những người do Quốc hội bầu và phê chuẩn bằng các phương thức giám sát do luật xác định được tiến hành tại các kỳ họp của Quốc hội).Thực tế cho thấy, từ khi có Hiến pháp năm 1959 đến nay, Quốc hội không thể và không cần thiết phải tự mình trực tiếp giám sát toàn bộ hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước Quốc hội đã giao cho VKS thực hiện quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trong phạm vi được Quốc hội giao cho (quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế,
Trang 26xã hội từ năm 1960 đến năm 2002 và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp từ năm 2002 đến nay) Việc Quốc hội giao cho VKS thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội trước đây
và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp hiện nay là xuất phát từ lý do VKS
do cơ quan lập pháp cao nhất của nhà nước là Quốc hội lập ra, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất và độc lập so với các cơ quan nhà nước khác VKS là cơ quan không nằm trong hệ thống các cơ quan hành pháp và cơ quan xét xử Mặt khác, Quốc hội đã giao cho VKS thực hiện quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật như nêu ở trên Ngoài ra, còn xuất phát từ nhu cầu và sự đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước, giữa các Ngành, các cơ quan nhà nước với nhau
Nghị quyết số: 51/2001/NQ-QH ngày 25/12/2001 của Quốc hội về sửa
đổi, bổ sung Điều 137 của Hiến pháp năm 1992 xác định: “VKSND Tối cao
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất VKSND địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định” Như vậy, từ năm 2002 tới nay, chức năng
kiểm sát các hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS vừa là một hoạt động tư pháp (do VKS cũng được coi là cơ quan tư pháp), vừa là hoạt động kiểm tra, giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp khác như CQĐT, Tòa án, Cơ quan thi hành án và của những người hoạt động trong các cơ quan
bổ trợ tư pháp như luật sư, giám định viên Chức năng kiểm sát các hoạt động
tư pháp của VKS luôn hướng tới mục tiêu bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của công dân và của các chủ thể trong xã hội được bảo đảm một cách tốt nhất,
Trang 27không bị vi phạm Tiến hành kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự nhằm bảo đảm cho việc điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ về vụ án hình sự, xét xử vụ
án một cách khách quan, đúng pháp luật cũng là một điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố của VKS tại phiên tòa hình sự.Theo quy định của Hiến pháp năm 1960, VKS thực hiện cả chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Các chức năng trên đây của VKS được duy trì đầy đủ cho tới năm 2013 khi Hiến pháp 2013 ra đời và ban hành Luật tổ chức VKSND năm 2013 Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2013 thì VKS vẫn thực hiện cả chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Thực tế đã chứng minh rằng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội từ năm 1960 đến năm 2002 và hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp từ năm 2002 đến nay đã có kết quả tốt, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và chấp hành pháp luật trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội Những kết quả
và đóng góp của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS được thể hiện trên các mặt sau:
Một là, VKS đã góp phần quan trọng vào việc đấu tranh có hiệu quả đối với mọi loại tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phục
vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua các thời kỳ cách mạng
Hai là, VKS đã phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật; từ đó kịp thời kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu các cơ quan và cá nhân có hành vi vi phạm phải tuân thủ pháp luật và khắc phục sửa chữa những vi phạm đã gây ra Đối với những vi phạm tới mức nghiêm trọng, VKS đã giải quyết, xử lý kịp thời
Trang 28bằng các biện pháp cụ thể như khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự, kiến nghị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật
Ba là, thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp, VKS đã kịp thời phát hiện những lĩnh vực chưa được pháp luật điều chỉnh để kiến nghị với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và các Bộ, Ngành ở Trung ương ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh kịp thời Những sơ hở, thiếu sót trong
cơ chế và quá trình quản lý cũng được VKS yêu cầu, kiến nghị với các cơ quan quản lý, kịp thời có biện pháp bổ sung, khắc phục nhằm ngăn chặn các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật
Bốn là, thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp, VKS đã có những biện pháp cụ thể tác động tới các
cơ quan quản lý, các cơ quan tư pháp khác trong việc củng cố đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ tư pháp để thực thi pháp luật theo đúng các quy định của pháp luật
Năm là, từ kết quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật và kiểm sát các hoạt động tư pháp, VKS đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân và các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc đối tượng của hoạt động kiểm sát
Từ những phân tích trên đây cho thấy: Nếu như VKS không thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp thì các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp liệu có được phát hiện kịp thời, đầy đủ và xử lý nghiêm minh không và ai sẽ là người phát hiện, xử lý những vi phạm đó khi
mà người công dân chưa hoàn toàn tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, việc Đảng, Nhà nước tiếp tục giao cho VKS thực hiện đồng thời hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hoàn toàn hợp lý, sát thực tiễn và khoa học Tuy nhiên, cần phải thấy
Trang 29rằng: Kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS phải được tiến hành ở tất cả các loại tố tụng khác nhau từ tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế,
tố tụng hành chính đến tố tụng lao động và trong quá trình thi hành các quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quá trình thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp với nước ngoài
Ngày 08/01/2012, phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác năm 2012 của ngành kiểm sát nhân dân, đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên
Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung
ương đã chỉ rõ: “Ngành kiểm sát cần phải tập trung làm tốt công tác thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, bảo đảm việc khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, việc điều tra, xử lý của CQĐT có căn cứ, đúng pháp luật; kiểm sát chặt chẽ việc tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án và bị can để đảm bảo mọi hành vi phạm tội và người phạm tội được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; trong đó, hết sức quan tâm tới việc phát hiện kịp thời,
xử lý nghiêm minh đối với tội phạm tham nhũng để ngăn chặn, đẩy lùi loại tội phạm này Đẩy nhanh việc giải quyết các vụ án trọng điểm, các vụ án dư luận
xã hội đặc biệt quan tâm Phát huy trách nhiệm và nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa”6
Như vậy, để “bảo đảm việc khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
việc điều tra, xử lý của CQĐT có căn cứ, đúng pháp luật” thì VKS phải tăng
cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát điều tra
Trang 30http://vkshue.gov.vn/index.php/tinkiemsat/Phat-bieu-cua-dong-chi-Truong-Tan-Sang-tai-Hoi-nghi-hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” Như vậy,
quyền con người là những điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho mỗi con người được hưởng Quyền con người được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên
cơ sở đảm bảo lợí ích xã hội Bảo đảm quyền con người là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu quả, hiệu lực nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đây là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới Việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng trong đó Nhà nước bảo đảm về mặt pháp lý, các cơ quan tố tụng bảo đảm thực thi pháp luật có hiệu quả là vấn đề cực kỳ quan trọng
Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ ràng buộc quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa hai bên chủ thể Một bên là Nhà nước (bao gồm các cơ quan Nhà nước, và các chủ thể có trách nhiệm được Nhà nước trao quyền) và bên kia là cá nhân công dân Việc bảo đảm đầy đủ các quyền
và nghĩa vụ pháp lý của công dân, đảm bảo được quyền con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng… trong đó bảo đảm về mặt pháp lý là vấn đề rất có ý nghĩa Đặc biệt là, các cơ quan Nhà nước có mối quan hệ trực tiếp với người dân, trong đó hoạt động của các cơ quan tố tụng là vấn đề cực kỳ quan trọng7
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế một số quyền của công dân, quyền con người của người bị bắt Mục đích của các biện pháp này là để đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế Các biện pháp ngăn chặn khi áp dụng chúng
7 Phạm Hồng Quân (2012) – VKSND Thành phố Hải Phòng, “Về chức năng và nhiệm
vụ của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự”, Tạp chí khoa học Đại học
Quốc gia Hà Nội, Luật học (28), tr.186-198
Trang 31cũng rất dễ tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Bởi vì, một số hoạt động tố tụng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được thông tin của người bị bắt.
Những năm gần đây bắt, giam đang là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và đông đảo quần chúng nhân dân Việc bắt người tuỳ tiện, bắt oan người không có tội, tạm giam người không có Lệnh đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như uy tín của Nhà nước Bắt người, tạm giữ, tạm giam oan sai tuy chưa phải là hiện tượng phổ biến nhưng đã xảy ra ở nhiều địa phương, gây nên sự bất bình trong dư luận xã hội, có trường hợp gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng chẳng hạn: vụ oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, của anh Bùi Minh Hải ở Đồng Nai, của ông Hoàng Minh Tiến ở Hà Nội; ông Nguyễn Minh Nam bị giam oan ở Tiền Giang; Ba người trong một oan “án” kéo dài ở tỉnh Sóc Trăng; nỗi oan của bà Út sau 12 năm mới được giải trong “Kỳ án cháy nhà ở Gò vấp” Tp.Hồ Chí Minh thời gian vừa qua
Với yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, việc bắt, giam giữ cần phải được tiến hành kiên quyết, kịp thời Tuy nhiên, không thể vì bất
cứ một lý do gì mà áp dụng các biện pháp ngăn chặn tràn lan, sai tính chất, sai đối tượng, không đảm bảo các yêu cầu của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Vì vậy việc quy định phải có một cơ quan để kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là rất cần thiết, đảm bảo quyền con người, quyền công dân được tôn trọng trong công tác thực thi pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng
1.3 Ý nghĩa của kiểm sát việc tạm giam trong giai đoạn điều tra
Trang 32Trong thẩm quyền được giao của mình, việc kiểm sát hoạt động tạm giam của VKS có ý nghĩa quan trọng Cụ thể như sau:
Thứ nhất, kiểm sát việc tạm giam nhằm đảm bảo Pháp chế xã hội chủ nghĩa Theo đó, khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý tối thượng là Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan để xem xét, bảo đảm sự tuân theo pháp luật của các chủ thể bị kiểm sát, cũng như bảo đảm tính hợp pháp của ngay chính các hoạt động kiểm sát của VKS Việc kiểm sát tạm giam của VKS là kiểm sát việc tiến hành tạm giam đúng theo căn cứ, theo đúng trình tự thủ tục, đúng thời gian và đúng người có thẩm quyền ra quyết định tạm giam Công tác kiểm sát tạm giam nhằm đảm bảo bị can bị tạm giam phải có Lệnh hoặc Quyết định hợp pháp của người có thẩm quyền Khi VKS thực hiện hoạt động kiểm sát tạm giam của mình tức là kiểm tra và giám sát các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật hay không Ngoài ra thông qua việc kiểm tra giám sát, VKS phát hiện được những vi phạm pháp luật trong thực hiện các thủ tục tạm giam cũng như chế độ tạm giam, qua đó xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm và yêu cầu khắc phục hậu quả Chính vì vậy, khi VKS thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ kiểm sát của mình thì sẽ đảm bảo cho hoạt động tạm giam trong giai đoạn điều tra được diễn ra theo đúng quy định của pháp luật; tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giam và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng và bảo vệ, từ đó góp phần đảm bảo được pháp chế xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta
Thứ hai là, kiểm sát tạm giam nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam Đó là các quyền được bảo về về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giam và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng và bảo vệ
Trang 33Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013 Hiến pháp 2013 khẳng định nguyên tắc: Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân; “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn
chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”
(Khoản 2 Điều 14) Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện tư tưởng pháp quyền, đề cao trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, đồng thời là cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyền con người, quyền công dân của mình Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, để đạt được mục đích cao nhất là phát hiện tội phạm và người phạm tội, pháp luật của tất
cả các nước đều cho phép áp dụng một số biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân Song vấn đề cần nhấn mạnh là, không phải bất cứ đối tượng nào cũng có thể bị áp dụng biện pháp này Trường hợp cần phải áp dụng biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân thì phải đáp ứng đầy đủ căn cứ luật định, phải trên cơ sở và chỉ trong khuôn khổ quy định của pháp luật Theo đó, đối với các biện pháp có tính chất hạn chế quyền tự do của con người phải được VKS quyết định hoặc phê chuẩn nếu vụ án ở giai đoạn điều tra, truy tố
Những người bị tạm giam bị hạn chế một số quyền và lợi ích nhất định, đặc biệt là quyền tự do đi lại Tuy nhiên quyền và lợi ích hợp pháp khác của
họ vẫn cần phải được tôn trọng và bảo vệ, đó là các quyền cơ bản của con người về sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm Khi thực hiện lệnh bắt người để tạm giam, tâm lý của nhiều người thuộc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là tâm lý buộc tội, tức là coi người bị tạm giam
là người có tội Từ đó có các hành vi phân biệt đối xử với người bị tạm giam, đánh đập, dùng nhục hình để ép cung, mớm cung gây ra tình trạng oan sai
Trang 34nghiêm trọng Chính vì vậy, hoạt động kiểm sát tạm giam phải đảm bảo cho người bị tạm giam được bảo vệ về các quyền này, tránh việc người bị tạm giam bị xâm phạm bởi Điều tra viên, cán bộ quản giáo hoặc các phạm nhân, người bị tạm giam, tạm giữ khác.
Thứ ba là, kiểm sát tạm giam nhằm đảm bảo thuận lợi cho các hoạt động
tố tụng Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc xét xử của Tòa án, mọi quyết định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm đều phải dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS nhằm ngăn chặn tội phạm và các hành vi khác gây cản trở cho hoạt động điều tra vụ án hình sự Việc tạm giam đối với bị can trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận lợi cho CQĐT có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải triệu tập nhiều lần, đồng thời cũng giúp cho việc quản lý, giám sát
bị can được chặt chẽ Vì vậy, thực hiện tốt việc kiểm sát tạm giam sẽ bảo đảm
sự có mặt của bị can theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo sự chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng, ngăn ngừa các đối tượng tiếp tục phạm tội hoặc tìm cách xóa dấu vết phạm tội, chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án Từ đó sẽ đẩy nhanh quá trình xác định sự thực khách quan, làm sáng tỏ vụ án, đảm bảo cho các giai đoạn tố tụng sau này như giai đoạn truy tố của VKS, xét xử của Tòa án được thực hiện đúng và nhanh chóng theo quy định của pháp luật
Với ý nghĩa như trên, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm sát tạm giam phải được thực hiện nghiêm túc, khách quan Kiểm sát tạm giam phải gắn liền với nhiệm vụ bảo đảm quyền và lợi ích của người bị tạm giam Nếu một người bị tạm giam trái pháp luật thì thông
Trang 35qua hoạt động kiểm sát tạm giam, Kiểm sát viên cần nhanh chóng phát hiện
để kịp thời trả tự do cho người bị giam giữ không có căn cứ và trái pháp luật Nhìn lại hoạt động của kiểm sát việc tạm giam và những thành quả đạt được trong những năm gần đây cho thấy công tác kiểm sát tạm giam về cơ bản đã làm tốt nhiệm vụ của mình Qua đó, làm giảm tình trạng án oan, sai, giảm tình trạng điều tra viên lạm quyền trong quá trình điều tra vụ án, đảm bảo sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm của người bị tạm giam
Tuy nhiên, cũng không thể không nhắc đến những sai sót trong quá trình kiểm sát tạm giam gây ra những hậu quả lớn, ảnh hưởng đến hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam như các vụ án oan của ông Chấn ở Bắc Giang, vụ án Vườn điều, Đó là những bài học đắt giá trong thực hiện chức năng kiểm sát tạm giam của VKS cần ghi nhớ để tránh các sai lầm tương tự Tóm lại, kiểm sát tạm giam là khâu công tác không thể thiếu trong hệ thống công tác kiểm sát hình sự nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của VKSND trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền làm chủ của công dân Vị trí, vai trò của VKSND trong kiểm sát tạm giam đã góp phần bảo đảm việc tạm giam được thực hiện nghiêm chỉnh và đúng pháp luật, góp phần tích cực trong công tác đấu tranh chống tội phạm, ngăn chặn người phạm tội tiếp tục phạm tội, ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật Đồng thời, từ đó làm hạn chế những sai phạm của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng trong quá trình điều tra làm rõ một vụ án hình sự Tạm giam đúng pháp luật là bảo đảm quyền dân chủ của công dân, thúc đẩy tiến độ điều tra, truy tố, xét xử, đảm bảo đúng thời hiệu theo luật định, đảm bảo pháp chế
xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới
Kết luận chương 1
Trang 36Thiết chế tổ chức VKSND ở nước ta có tuổi đời cùng với Nhà nước cách mạng và trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ năm 1945 đến nay với những mô hình, phương án tổ chức khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng Song VKSND các cấp vẫn là cơ quan duy nhất có chức năng thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Thông qua việc thực hiện chức năng này, VKSND thực hiện quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, quyền làm chủ của nhân dân và bảo đảm mọi hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể
và lợi ích hợp pháp của công dân phải được xử lý nghiêm
Tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất tạm thời tước bỏ tự do của bị can, bị cáo trong một thời gian nhất định theo quy định của pháp luật Trong giai đoạn điều tra, công tác kiểm sát việc tạm giam là một trong những nhiệm
vụ quan trọng, thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND theo quy định của Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo đảm việc tạm giam theo đúng quy định của pháp luật; chế độ tạm giam được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giam
và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng
Chương 2:
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003
VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ KIỂM
Trang 37SÁT VIỆC TẠM GIAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ
2.1.1.1 VKS quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Lệnh tạm giam của CQĐT
Trong giai đoạn điều tra, việc áp dụng biện pháp tạm giam của CQĐT đều chịu sự kiểm sát chặt chẽ của VKS thông qua quyền phê chuẩn của VKS
“Lệnh tạm giam của những người được quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 80
của Bộ luật này phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành”
(Khoản 3 Điều 88 BLTTHS năm 2003) Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp tạm giam được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp gián tiếp bằng việc nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu liên quan đến việc đề nghị áp dụng biện pháp tạm giam mà CQĐT chuyển cho VKS Trong thời hạn nhất định, VKS phải phê chuẩn hoặc không phê chuẩn
Quyết định tạm giam của CQĐT, “Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận
được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn” (Khoản 3 Điều 88 BLTTHS năm 2003) Xét về nội dung và tính chất
Trang 38các Quyết định của CQĐT phải được VKS phê chuẩn, có thể phân thành hai loại Quyết định: Quyết định được VKS phê chuẩn trước và Quyết định được VKS phê chuẩn sau, trong đó có Lệnh tạm giam bị can của CQĐT thuộc loại quyết định phải được VKS phê chuẩn trước thì mới có hiệu lực thi hành.
Việc VKS quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Lệnh tạm giam của CQĐT có ý nghĩa rất quan trọng Bản chất của việc VKS phê chuẩn Lệnh tạm giam của CQĐT là quá trình VKS kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn
cứ về mặt nội dung cũng như hình thức của Lệnh tạm giam Những vấn đề về mặt nội dung của Lệnh tạm giam bao gồm những vấn đề liên quan đến căn cứ tạm giam, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam, những vấn đề liên quan đến mặt hình thức của Lệnh tạm giam bao gồm những vấn đề liên quan đến thẩm quyền, thủ tục ban hành Lệnh tạm giam
Thứ nhất, về kiểm sát căn cứ, đối tượng tạm giam:
Không phải tất cả trường hợp khởi tố bị can đều bị áp dụng biện pháp tạm giam, mà việc áp dụng biện pháp tạm giam phải có căn cứ theo quy định của BLTTHS
BLTTHS năm 2003 không trực tiếp quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà chỉ quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung Điều 79 BLTTHS năm 2003 quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bao gồm:
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khắn cho việc điều tra, truy tố, xét xử
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội
- Để đảm bảo thi hành án
Trong số các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn kể trên, căn cứ “để kịp
thời ngăn chặn tội phạm” chỉ áp dụng cho các trường hợp bắt người phạm tội
Trang 39quả tang theo Khoản 1 Điều 82 hoặc bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo Điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS năm 2003 nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, không để tội phạm xảy ra hay không để người phạm tội kết thúc hành vi phạm tội của mình, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Căn cứ này không thể là căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam vì đối tượng
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là bị can, bị cáo, hành vi phạm tội của
họ là hành vi đã được thực hiện trong quá khứ Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bao gồm:
* Căn cứ thứ nhất: Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
Hành vi gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thể hiện qua việc sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm có thể bỏ trốn, tiêu hủy, làm giả hoặc thay đổi chứng cứ, xóa các dấu vết của vụ án, bàn bạc nhau trốn tránh pháp luật, mua chuộc, dụ dỗ, cưỡng ép, khống chế người làm chứng, người bị hại… gây khó khăn phức tạp cho việc xác định, làm rõ
* Căn cứ thứ ba: Để đảm bảo thi hành án
Khi cần đảm bảo thi hành án, tùy theo tính chất cụ thể của từng vụ án, tùy theo nhân thân của người bị kết án, Tòa án có thể áp dụng biện pháp ngăn
Trang 40chặn thích hợp trong đó Tòa án có thể sử dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án, còn nếu có đủ cơ sở cho rằng
bị cáo sẽ không bỏ trốn, không gây cản trở khó khăn cho việc thi hành án thì không cần áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà chỉ cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn
Theo quy định tại Điều 88 BLTTHS năm 2003 thì đối tượng có thể bị áp
dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo Bị can là “người đã bị
khởi tố về hình sự” (Khoản 1 Điều 49 BLTTHS năm 2003), tức là những
người có quyết định khởi tố bị can về một tội phạm cụ thể được quy định
trong BLHS Còn bị cáo là “người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét
xử” (Khoản 1 Điều 50 BLTTHS năm 2003) Tuy nhiên, không phải tất cả bị
can, bị cáo đều bị áp dụng biện pháp tạm giam, mà chỉ áp dụng đối với họ trong hai trường hợp sau:
- Thứ nhất, bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên
15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù (Khoản 3 Điều 8 BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2003) Nếu bị can, bị cáo thuộc những trường hợp này, người có thẩm quyền ra Lệnh tạm giam có thể tạm giam ngay mà không cần có thêm căn cứ nào khác
- Thứ hai, bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt từ trên 02 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Theo quy định của BLTTHS năm 2003, tạm giam chỉ áp dụng đối với những bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy