Khuyến mại hiện là một trong các hoạt động xúc tiến thương mại được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để thúc đẩy hoạt động bán hàng, cung ứng dịch vụ của mình trên thị trường Qua hơn 10
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ MỸ LINH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KHUYẾN MẠI Ở VIỆT NAM
HƯỚNG TỚI VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ MỸ LINH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KHUYẾN MẠI Ở VIỆT NAM
HƯỚNG TỚI VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Dung
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giản luận văn
Vũ Mỹ Linh
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU KHÁI QUÁT VỀ KHUYẾN MẠI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI
Khái quát về khuyến mại
Khái niệm khuyến mại Đặc điểm của hoạt động khuyến mại
Khái quát về hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại hiện nay
Khái niệm và đặc điểm của pháp luật khuyến mại Cấu trúc hình thức của pháp luật khuyến mại và vị trí của chế định pháp luật khuyến mại trong Luật thương mại năm 2005
Cấu trúc nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về khuyến mại
Quy định về pháp luật khuyến mại của các quốc gia trên thế giới
Pháp luật về khuyến mại của Hoa Kỳ Pháp luật về khuyến mại của Trung Quốc
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Những quy định pháp luật hiện hành về khuyến mại
Quy định về chủ thể hoạt động khuyến mại Quy định về hình thức và hạn mức khuyến mại Quy định về nguyên tắc thực hiện khuyến mại
Trang 5Thực tiễn thi hành pháp luật về khuyến mại
Kết quả triển khai thực hiện các quy định của pháp luật
về khuyến mại Tổng quan việc thực hiện hoạt động khuyến mại của các doanh nghiệp
Về việc thực hiện chính sách, pháp luật và thủ tục hành chính của các doanh nghiệp
Thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực khuyến mại
Những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật về khuyến mại qua hơn 10 năm thi hành
Quy định về chủ thể hoạt động khuyến mại Quy định về hình thức và hạn mức khuyến mại Quy định về nguyên tắc thực hiện khuyến mại Quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước và thủ tục thực hiện khuyến mại
Quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại
KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI HƯỚNG ĐẾN SỬA ĐỔI LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005
Sự cần thiết sửa đổi pháp luật về khuyến mại trong bối cảnh hiện nay
Định hướng sửa đổi pháp luật khuyến mại trong bối
Trang 6Giải pháp chung Giải pháp cụ thể Quy định về chủ thể hoạt động khuyến mại Quy định về hình thức và hạn mức khuyến mại Quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại và quy định về nguyên tắc thực hiện khuyến mại Quy định về thủ tục thực hiện khuyến mại
KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 T nh hi i
Cạnh tranh là vấn đề tất yếu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và việc đưa ra được chiến lược kinh doanh hiệu quả
và kịp thời có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển của doanh nghiệp Trong thời gian qua, các hoạt động xúc tiến thương mại ngày càng phát triển và trở thành công cụ không thể thiếu thúc đẩy hoạt động thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Trong cuộc ganh đua đó, các doanh nghiệp sử dụng mọi giải pháp để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng và cung ứng dịch vụ như: Tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp, thực hiện giảm giá bán hàng, giảm giá cung ứng dịch vụ cho hách hàng, Theo cách hiểu thông thu ờng, xúc tiến thu o ng mại là hoạt đọ ng giới thiẹ u, thúc đẩy mua bán hàng hoá, dịch vụ du ới
mọ t số hoạt đọ ng cụ thể nhu huyến mại, quảng cáo, tru ng bày, giới thiẹ u hàng hoá, dịch vụ nh m mục đ ch phát triển viẹ c mua, bán hàng hoá, dịch vụ
Hoạt động xúc tiến thương mại chỉ hình thành trong cơ chế thị trường khi mà có nhiều chủ thể kinh doanh cùng có khả năng cung cấp một loại hàng hoá, dịch vụ còn người tiêu dùng thì có khả năng được lựa chọn để mua hàng hoá hoặc dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình Trong xu thế cạnh tranh đó,
để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh, phân tích hành vi và nhu cầu mua sắm của khách hàng, tìm mọi cách để tiêu thụ hàng hoá và cung ứng dịch vụ một cách tốt nhất Khuyến mại hiện là một trong các hoạt động xúc tiến thương mại được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để thúc đẩy hoạt động bán hàng, cung ứng dịch vụ của mình trên thị trường Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện, các quy định của pháp luật về xúc tiến thương mại nói chung, pháp luật về khuyến mại nói riêng đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập gây ảnh hưởng đến việc xây dựng các chiến lược
Trang 8kinh doanh của doanh nghiệp và gây hó hăn trong công tác quản lý nhà nước
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và hiểu rõ hơn về các vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật và phương hướng để điều chỉnh các quy định của pháp luật phù hợp với hoàn cảnh thực tế là yêu cầu có tính cần
thiết Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật khuyến mại ở
Việt Nam hướng tới việc sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại năm 2005” để
làm Luận văn Thạc sĩ Luật học
2 T nh h nh nghi n i
Ở Việt Nam, pháp luật về xúc tiến thương mại nói chung và pháp luật
về khuyến mại nói riêng là đã được đưa ra nghiên cứu tại nhiều công trình nghiên cứu ở các góc độ và khía cạnh khác nhau thông qua việc nghiên cứu làm tiểu luận, luận văn, các đề tài nghiên cứu khoa học, sách, báo, tạp ch ,
Có thể kể đến một số tài liệu sau:
- Luật học Lê Hoàng Oanh, “Xúc tiến thương mại – Lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2014;
- Nguyễn Thị Dung, “Pháp luật về khuyến mại – Một số vướng mắc về
lí luận và thực tiễn”, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số
7/2007;
- Nguyễn Thị Dung, “Pháp luật về xúc tiến thương mại trong nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam – Lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện”, Luận
án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006;
- Trần Dũng Hải, “Mấy ý kiến về hoạt động khuyến mại và vai trò của pháp luật của Việt Nam hiện nay”, Tạp ch Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà
nước và Pháp luật, số 6/2008;
- Nguyễn Thị Dung, “Pháp luật về xúc tiến thương mại ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm
2007;
Trang 9- Trần Dũng Hải, “Pháp luật thương mại về hoạt động quảng cáo và khuyến mại – Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, năm
Trang 10điều về khuyến mại và hội chợ, triển lãm thương mại quy định tại Nghị định
số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (sau đây viết tắt là Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC) và các văn bản,, quy định pháp luật khác có liên quan của các quốc gia khác trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về hoạt động khuyến mại, pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại, thực trạng thi hành và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật khuyến mại ở Việt Nam
từ khi Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP và Thông
tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC được ban hành đến nay
4 M h nghi n v nhiệm v nghiên c n va n
Mục đ ch nghiên cứu của luận văn là làm rõ các quy định của pháp luật
và thực tiễn triển khai thực hiện các quy định của pháp luật khuyến mại ở Việt Nam, từ đó, đề xuất phương hướng sửa đổi nh m hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật khuyến mại ở Việt Nam
Để đạt được mục đ ch nghiên cứu ở trên, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Thực hiện nghiên cứu các vấn đề lý luận của pháp luật khuyến mại;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn pháp luật và thi hành pháp luật khuyến mại ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những bất cập, tồn tại của hệ thống pháp luật cũng như những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật;
- Đề xuất, kiến nghị phương hướng sửa đổi nh m hoàn thiện các quy định pháp luật và giải pháp nh m nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật khuyến mại ở Việt Nam
5 Các phu o ng h nghi n ng hự hiẹ n lu n va n
Để giải quyết những mục tiêu nghiên cứu được đặt ra, tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp nh m làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về
Trang 11khái niệm khuyến mại; phương pháp thống ê, đánh giá, phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn nh m nắm bắt được những hó hăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định về khuyến mại; phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật về khuyến mại được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới
6 ngh h họ v hự i n n va n
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tập trung và có hệ thống về pháp luật khuyến mại ở Việt Nam dựa trên cơ sở thực tiễn triển khai và áp dụng các quy định của pháp luật Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần xây dựng các giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật về khuyến mại, xây dựng cơ chế thực thi pháp luật nh m tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, inh doanh, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong quá trình triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập về pháp luật về khuyến mại
Chương 2 Thực tiễn pháp luật và thi hành pháp luật vè khuyến mại ở
Việt Nam hiện nay
Chương 3 Kiến nghị sửa đổi quy định của pháp luật về khuyến mại
hướng đến sửa đổi Luật Thương mại năm 2005
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHUYẾN MẠI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI
1.1 Khái quát v khuy n m i
1.1.1 Khái niệm khuyến mại
Khuyến mại là một trong các hoạt động xúc tiến thương mại được quy định tại Mục 1 Chương IV Luật Thương mại năm 2005 Theo quy định tại
Luật Thương mại năm 2005: Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại Theo cách hiểu thông thường xúc tiến thương mại là hoạt động giới thiệu, thúc đẩy mua bán hàng hoá, dịch vụ dưới một số hoạt động cụ thể như huyến mại, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nh m mục đ ch phát triển việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ
Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nh m xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ b ng cách dành cho khách
đ ch thu hút sự quan tâm của hách hàng đối với hàng hoá, dịch vụ của mình trên thị trường b ng cách tặng thêm cho khách hàng ngoài các lợi ích mà bản thân hàng hoá, dịch vụ mang lại
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động khuyến mại
Khuyến mại là công cụ kinh doanh quan trọng nh m thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ Công cụ kinh doanh này có nhiều tác dụng và có thể áp dụng vào các công đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh của thương nhân như: giới thiệu sản phẩm mới, đưa sản phẩm xâm nhập vào thị trường, quá trình tạo lợi thế cạnh tranh với các thương nhân hác Khuyến
1
Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại năm 2005
Trang 13mại luôn giữ vai trò là một công cụ đắc lực và hiệu quả nhất để thương nhân gia nhập và gia tăng thị phần trên thị trường
Căn cứ theo quy định của Luật Thương mại, khuyến mại có những đặc điểm sau:
* Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại:
Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân Theo hoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm “tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ý inh doanh”
Để tạo nhiều cơ hội thương mại, pháp luật cho phép thương nhân có thể
tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại hoặc sử dụng dịch vụ khuyến mại
do thương nhân hác cung cấp trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại
Như vậy, thương nhân thực hiện khuyến mại gồm có thương nhân tự tổ chức thực hiện khuyến mại và thương nhân inh doanh dịch vụ khuyến mại
* Mục đích của khuyến mại
Giống như các hoạt động xúc tiến thương mại khác, mục đ ch của khuyến mại là xúc tiến bán hàng và cung ứng dịch vụ Để thực hiện mục đ ch này, mục tiêu bao trùm mà khuyến mại hướng tới là tác động tới khách hàng, lôi kéo hành vi của hách hàng để họ mua sản phẩm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu một sản phẩm mới hay kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hoá của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua, qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá, dịch vụ
* Cách thức hoạt động khuyến mại
Cách thức thực hiện xúc tiến thương mại của khuyến mại là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định Dấu hiệu dành cho khách hàng những lợi ích nhất định để tác động tới thái độ và hành vi mua bán của họ là đặc trưng
để phân biệt khuyến mại với các hình thức xúc tiến thương mại hác như quảng cáo, trưng bày giới thiệu hàng hoá, dịch vụ
- Đối tượng hách hàng được khuyến mại:
Trang 14Đối tượng hách hàng được khuyến mại không chỉ là người tiêu dùng
mà còn có thể là các trung gian phân phối
- Loại lợi ích dành cho khách hàng: Lợi ch mà thương nhân dành cho khách hàng rất đa dạng, có thể là lợi ích vật chất (tiền, hàng hoá) hoặc phi vật chất (cung ứng dịch vụ miễn phí ), tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như mục tiêu của đợt khuyến mại, trạng thái cạnh tranh hay kinh phí dành cho khuyến mại
Điều kiện cần đảm bảo là tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại phải là những hàng hoá, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp
Như vậy, bản chất của khuyến mại là hoạt động của thương nhân thông qua việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất định với những công cụ đa dạng như quà tặng, hàng mẫu, giảm giá nh m mục tiêu kích thích, lôi kéo hành vi quyết định mua hàng, sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp, đ ch cuối cùng là tăng thị phần của doanh nghiệp trong thị trường hàng hoá, dịch vụ
1.2 Khái quát v hệ th ng pháp luậ i u chỉnh ho ộng khuy n
m i hiện nay
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật khuyến mại
Với tư cách là một bộ phận của pháp luật thương mại, pháp luật xúc tiến thương mại là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân
Pháp luật khuyến mại là một bộ phận của pháp luật xúc tiến thương mại hay rộng hơn, là một bộ phận của pháp luật thương mại, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình thương nhân tìm iếm, thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ thông qua việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất định
Pháp luật khuyến mại có các đặc điểm cơ bản như sau:
* Pháp luật khuyến mại là một bộ phận của pháp luật thương mại
Trang 15Với tư cách là một bộ phận của pháp luật thương mại, các quan hệ mà pháp luật khuyến mại điều chỉnh bao gồm:
- Quan hệ sử dụng dịch vụ hình thành giữa thương nhân có nhu cầu thực hiện khuyến mại với thương nhân inh doanh dịch vụ khuyến mại;
- Quan hệ giữa thương nhân với người tiêu dùng, với các khách hàng của chương trình huyến mại;
- Quan hệ giữa thương nhân với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền đối với hoạt động khuyến mại
* Nội dung của pháp luật khuyến mại bao gồm các quy định về chủ thể
thực hiện khuyến mại, các hình thức khuyến mại, thủ tục thực hiện khuyến mại và các vấn đề hác liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại
- Các quy định về chủ thể thực hiện khuyến mại được hình thành từ việc xuất hiện các đối tượng có nhu cầu thực hiện các hoạt động nh m thúc đẩy việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ của mình trên thực tế Các đối tượng này rất đa dạng và pháp luật đã hái quát quy định chủ thể thực hiện khuyến mại là các thương nhân và quy định các trường hợp thương nhân thực hiện khuyến mại
- Các quy định về hình thức khuyến mại ra đời do sự sáng tạo của thương nhân trong quá trình triển khai các cách thức nh m thúc đẩy việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ Các hình thức khuyến mại thực sự rất đa dạng Trên cơ sở các cách thức triển khai trên thực tế, các nhà làm luật đã khái quát và dự liệu ra các hình thức khuyến mại phổ biến thường được thương nhân sử dụng để quy định trong Luật Thương mại Với mỗi hình thức khuyến mại khác nhau, pháp luật cũng yêu cầu thương nhân tuân thủ theo các quy định cụ thể khác nhau khi thực hiện
- Các thủ tục thực hiện khuyến mại được quy định dựa trên cơ sở mỗi hình thức khuyến mại đều mang đặc điểm và cách thức thực hiện khác nhau Trên cơ sở đánh giá tác động của từng hình thức khuyến mại cụ thể, pháp luật
Trang 16yêu cầu thương nhân phải tuân thủ và thực hiện các thủ tục được quy định tương ứng hi thương nhân lựa chọn thực hiện dưới từng hình thức cụ thể
- Các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại được đặt ra nh m kiểm tra, kiểm soát và giám sát chặt chẽ hoạt động khuyến mại của các thương nhân Các cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại của thương nhân nh m tránh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các thương nhân, tạo môi trường inh doanh bình đẳng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng khi tham gia hoạt động khuyến mại của các thương nhân
1.2.2 Cấu trúc hình thức của pháp luật khuyến mại và vị trí của chế định pháp luật khuyến mại trong Luật thương mại năm 2005
Nhạ n thức rõ vai trò của hoạt đọ ng xúc tiến thu o ng mại đối với sự phát triển của nền inh tế, Nhà nu ớc đã ban hành nhiều va n bản để điều chỉnh trong lĩnh vực này nhu :
- Nghị định của Ch nh phủ số 194-CP ngày 31 tháng 12 na m 1994 về hoạt đọ ng quảng cáo trên lãnh thổ Viẹ t Nam;
- Quyết định của Thủ tu ớng Ch nh phủ số 390-TTg ngày 01 tháng 8
na m 1994 về viẹ c ban hành Quy chế về họ i chợ và triển lãm thu o ng mại;
- Thông tu số 5-TM/XNK của Bọ Thu o ng mại ngày 25 tháng 2 na m
1995 hu ớng dẫn thực hiẹ n Quy chế Họ i chợ và triển lãm thu o ng mại;
- Thông tu số 37/NHTT-TT ngày 01 tháng 7 na m 1995 của Bọ Va n hóa Thông tin hu ớng dẫn thực hiẹ n Nghị định số 194-CP ngày 31 tháng 12 na m
1994 về hoạt đọ ng quảng cáo trên lãnh thổ Viẹ t Nam;
- Thông tu liên Bọ số 1191-TTN/LB ngày 29 tháng 6 na m 1991 của y ban Khoa học Nhà nu ớc - Bọ Va n hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch quy định về viẹ c quản lý nhãn và quảng cáo sản phẩm hàng hóa;
Trang 17Sau đó, Luật Thương mại đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 10 tháng 5 năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1998 Đây là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước đến nay quy định thống nhất về hoạt động thương mại trên lãnh thổ Việt Nam Qua hơn 7 năm thực hiện, Luật Thương mại năm
1997 đã có những tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam, từng bước đưa hoạt động thương mại vào nề nếp, khuyến khích và phát triển hoạt động thương mại hợp pháp, ngăn chặn và xử lý hành vi bất hợp pháp gây ảnh hưởng xấu đến môi trường thương mại Luạ t Thu o ng mại na m
1997 ra đời đã đánh dấu mọ t bu ớc phát triển mới của hẹ thống pháp luạ t về xúc tiến thu o ng mại Từ đây, các hoạt đọ ng xúc tiến thu o ng mại đã đu ợc điều chỉnh mọ t cách tạ p trung, thống nhất, góp phần đạt đu ợc những mục tiêu quản
lý nhất định Luạ t Thu o ng mại na m 1997 đã dành 4 Mục của Chu o ng II để quy định về các hoạt đọ ng: huyến mại, quảng cáo thu o ng mại, họ i trợ, triển lãm thu o ng mại, tru ng bày, giới thiẹ u hàng hóa Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, Luật Thương mại năm 1997 đã bộc lộ những hạn chế nhất định, đòi hỏi phải sửa đổi
Luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (Luật Thương mại năm 2005) Đạo luật này được ban hành nh m khắc phục những bất cập của Luật Thương mại năm 1997, đáp ứng những yêu cầu của tình hình phát triển kinh tế – xã hội, cũng như của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong giai đoạn phát triển mới trong đó các quy định về xúc tiến thương mại nói chung, về hoạt động khuyến mại nói chung đã có nhiều thay đổi Các hoạt động khuyến mại trước đây chỉ có 6 điều trong Luật Thương mại năm 1997 nay đã được bổ sung và sửa đổi thành 14 điều; Quảng cáo thương mại tăng từ 12 điều lên 15 điều; Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch
Trang 18vụ tăng từ 10 điều lên 12 điều; Hội chợ, triển lãm thương mại tăng từ 11 điều lên 12 điều Nhiều nội dung mới được đưa vào Luật như bổ sung các hình thức khuyến mại, làm rõ các thông tin phải thông báo công khai trong hoạt động khuyến mại, trách nhiệm của các bên trong hoạt động hội chợ, triển lãm
Hoạt động tổ chức khuyến mại hiện nay được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tương đối hoàn chỉnh, trong đó các văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động khuyến mại bao gồm:
- Luật Thương mại năm 2005 gồm 9 chương, 324 Điều, trong đó có 14 điều quy định về hoạt động khuyến mại, bổ sung thêm 6 điều so với Luật Thương mại năm 1997;
- Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2006/NĐ-CP),
- Nghị định số 68/2009/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản
7 Điều 4 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (sau đây gọi tắt là Nghị định số 68/2009/NĐ-CP),
- Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Thông tư liên tịch số 07/2207/TTLT-BTM-BTC ngày 06/7/2007 của
Bộ Thương mại, Bộ Tài ch nh hướng dẫn một số điều về hoạt động khuyến mại và hội chợ, triển lãm thương mại (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC)
Bên cạnh đó, huyến mại cũng được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như:
- Lĩnh vực thương mại (Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm
Trang 19kinh doanh, hạn chế kinh doanh và inh doanh có điều kiện; Nghị định 43/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP);
- Lĩnh vực viễn thông (Luật Viễn thông năm 2009; Nghị định số 25/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật viễn thông; Thông tư số 11/2010/TT-BTTTT quy định hoạt động khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động);
- Lĩnh vực bưu ch nh (Luật Bưu ch nh năm 2010);
- Lĩnh vực kinh doanh xổ số (Nghị định 105/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh xổ số),
- Lĩnh vực kinh doanh thuốc lá (Nghị định 119/2007/NĐ-CP của Chính phủ về sản xuất và kinh doanh thuốc lá);
- Lĩnh vực thuế (Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Luật thuế thu nhập
cá nhân),
- Lĩnh vực giá (Luật Giá năm 2012);
- Lĩnh vực cạnh tranh (Luật Cạnh tranh năm 2004; Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh; Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp),
- Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm (Nghị định số 41/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành ch nh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm),
- Lĩnh vực sản xuất inh doanh rượu (Nghị định số
94/2012/NĐ-CP của Ch nh phủ về sản xuất, inh doanh rượu),
Như vậy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện nay điều chỉnh hoạt động khuyến mại của nước ta về cơ bản đã bảo đảm được công tác quản
lý nhà nước, tạo môi trường pháp lý ổn định, phù hợp và tạo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại hàng hoá, dịch vụ của mình, đồng thời cũng bảo vệ được quyền và lợi ích của người tiêu
Trang 20dùng trong việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, cũng còn một số tồn tại và bất cập do có những quy định hiện nay đã hông còn đảm bảo tính cập nhật so với sự phát triển nhanh chóng và đa dạng, phức tạp của hoạt động xúc tiến thương mại
1.2.3 Cấu trúc nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về khuyến mại
Văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vực xúc tiến thương mại
là Luật Thương mại được ban hành năm 2005, là văn bản quy định tương đối đầy đủ các hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó có hoạt động khuyến mại Hoạt động xúc tiến thương mại được điều chỉnh thông qua các hoạt động cụ thể: khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch
vụ và hội chợ, triển lãm thương mại, theo đó, mỗi hoạt động cụ thể lại được điều chỉnh bởi các quy định hác nhau nhưng đều tựu chung trên một số khía cạnh chủ yếu như nội dung, hình thức, đối tượng tham gia thực hiện, các hành
vi nghiêm cấm, cách thức thực hiện,
Nội dung cơ bản của pháp luật khuyến mại sẽ bao gồm các nhóm quan
hệ pháp luật:
- Nhóm quy định pháp luật về chủ thể hoạt động khuyến mại
Pháp luật về khuyến mại đã quy định rõ các chủ thể được phép thực hiện hoạt động khuyến mại và các chủ thể hông được phép thực hiện hoạt động khuyến mại Việc đặt ra các quy định về chủ thể thực hiện khuyến mại
nh m đảm bảo hoạt động khuyến mại được thực hiện bởi các đối tượng thực
sự có nhu cầu và đủ điều kiện để thực hiện khuyến mại, nh m thúc đẩy việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ của ch nh các thương nhân đó
- Nhóm quy định pháp luật về hình thức và hạn mức khuyến mại
Hình thức khuyến mại được hiểu là cách thức thương nhân biểu hiện để dành cho khách hàng những lợi ích nhất định nh m thúc đẩy việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ của mình Việc đặt ra quy định cụ thể đối với các hình thức khuyến mại là cần thiết, giúp cho các thương nhân có thể tự do lựa
Trang 21chọn cách thức thực hiện để phù hợp với kế hoạch kinh doanh của mình dựa trên các yếu tố như: đối tượng hách hàng mà thương nhân hướng tới, nguồn kinh phí bỏ ra để thực hiện chương trình huyến mại, phạm vi thực hiện khuyến mại Đồng thời thương nhân hông bị giới hạn thực hiện khuyến mại trong các hình thức được luật quy định mà có thể sáng tạo thực hiện theo cách thức hác hông được quy định trong luật nh m đưa hàng hoá, dịch vụ của mình đến với người tiêu dung
- Nhóm quy định pháp luật về nguyên tắc hoạt động khuyến mại
Nguyên tắc hoạt động khuyến mại được hiểu là những điều cơ bản được đặt ra yêu cầu các thương nhân phải tuân thủ trong quá trình thực hiện hoạt động khuyến mại Việc đặt ra các nguyên tắc yêu cầu thương nhân phải tuân thủ nh m đảm bảo các chương trình huyến mại được thực hiện một cách hợp pháp, ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia hoạt động khuyến mại
- Nhóm quy định pháp luật về thẩm quyền quản lý nhà nước và thủ tục khi thực hiện hoạt động khuyến mại
Thẩm quyền quản lý nhà nước về hoạt động khuyến mại có thể được hiểu là quy định về cơ quan nhà nước được giao chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động khuyến mại Hiện nay, thẩm quyền quản lý nhà nước về hoạt động khuyến mại đựợc phân cấp quản
lý gồm cơ quan quản lý cấp trung ương là Bộ Công Thương, cơ quan quản lý cấp địa phương là Sở Công Thương tại các địa phương Việc phân cấp quản
lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại là phù hợp nh m giao trách nhiệm kiểm tra, giám sát cho các địa phương quản lý hoạt động khuyến mại trên địa bàn, đảm bảo việc phân công nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của mỗi cấp
Trước khi thực hiện hoạt động khuyến mại, các thương nhân cần thực hiện thủ tục hành chính cần thiết theo quy định của pháp luật Theo đó, thủ
Trang 22tục hành chính trong hoạt động khuyến mại được hiểu là trình tự do pháp luật quy định mà thương nhân phải tuân theo trước khi triển khai thực hiện khuyến mại với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Việc quy định thủ tục hành chính trong hoạt động khuyến mại là cần thiết nh m đảm bảo chương trình khuyến mại của thương nhân được thực hiện một cách hợp pháp và thể hiện trách nhiệm quản lý của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
- Nhóm quy định pháp luật về các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại
Pháp luật quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại được hiểu là những điều thương nhân hông được làm khi tiến hành hoạt
động khuyến mại Theo Điều 33 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền
tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm” Quyền
tự do kinh doanh của các chủ thể được Nhà nước công nhận như một nguyên tắc hiến định Khuyến mại là quyền của thương nhân trong quá trình hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, trong một xã hội quyền và lợi ích của các chủ thể luôn đan xen như hiện nay, quyền tự do của các chủ thể cần được đặt trong mối quan hệ với quyền và lợi ích của các chủ thể khác, thực hiện quyền của mình nhưng hông được xâm hại đến quyền và lợi ích của các chủ thể khác Pháp luật quy định các hành vi bị cấm trong khuyến mại là hoàn toàn cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích của tất cả các chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động khuyến mại
1 3 Q y ịnh v pháp luật khuy n m i c a các qu c gia trên th giới
1.3.1 Pháp luật về khuyến mại của Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ không có luật hoặc quy định về khuyến mại nhưng hi nói đến chương trình huyến mại nói chung, thì lại liên quan đến các trò chơi miễn phí Có một số bài viết về quy định liên quan đến khuyến mại mà được Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) thông qua thì cần phải thực hiện theo
Trang 23Khuyến mại là cấp độ hoặc loại hình tiếp thị nh m vào cả người tiêu dùng và các kênh phân phối (theo hình thức bán hàng ưu đãi) Khuyến mại được sử dụng để giới thiệu sản phẩm mới, thanh lý hàng tồn ho, thu hút lưu lượng truy cập và để nâng doanh số bán hàng tạm thời
Về các hình thức khuyến mại: Có nhiều phương pháp huyến mại, bao gồm: phiếu giảm giá và giảm giá; thỏa thuận về giá; trưng bày thu hút người mua; hội chợ thương mại, vv Khuyến mại bao gồm các phiếu giảm giá dùng trong thời gian ngắn, giảm giá, các cuộc thi và rút thăm trúng thưởng, sản phẩm mang logo khuyến mại, lấy mẫu sản phẩm, và tài liệu khuyến mại tại cửa hàng Tất cả các hoạt động khuyến mại đều được sử dụng để tạo ra doanh số bán hàng trong một thời gian xác định
Chương trình huyến mại hầu hết nh m vào người tiêu dùng Chương trình khuyến mại cũng được phát triển cho ngành thương mại hoặc cho nhân viên bán hàng nội bộ Các nhà sản xuất sẽ tạo ra chương trình huyến mại cho các ngành thương mại như mạng lưới phân phối của mình vì những lý do chiến lược tương tự như đối với người tiêu dùng, để tạo ra doanh số ngắn hạn
Giảm giá và phiếu giảm giá là chiến thuật ch nh được sử dụng để khuyến mại Giảm giá có thể được quảng bá thông qua tờ rơi in và phát tại cửa hàng hoặc gửi qua bưu điện cũng như giảm giá đặc biệt hàng tuần được hiển thị trên kệ hàng Giảm giá cũng có thể thông qua hình thức chiết khấu Phiếu giảm giá có giá trị b ng tiền có ghi rõ ngày hết hạn và được phát hành trên các tờ báo, tạp chí và trực tuyến
Có thể thấy là đối với các hoạt động khuyến mại, Hoa kỳ tạo cơ chế khá thông thoáng cho các doanh nghiệp tự chủ động đối với kế hoạch kinh doanh của mình với nhiều cách thức khác nhau, không bị bó hẹp trong một khuôn khổ nào
1.3.2 Pháp luật về khuyến mại của Trung Quốc
Nghị định số 18 về biện pháp quản lý các hoạt động khuyến mại của nhà bán lẻ, được thông qua tại cuộc họp điều hành thứ 7 của Bộ Thương mại
Trang 24ngày 13 tháng 7 năm 2006 và được thông qua bởi y ban Phát triển và Cải cách Quốc gia, Bộ Công an, Cục Thuế Nhà nước và Cục Quản lý Nhà nước
về Công nghiệp và Thương mại, được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2006
Pháp luật quy định về trách nhiệm của nhà bán lẻ thực hiện khuyến mại "Nhà bán lẻ”: là các doanh nghiệp và các chi nhánh cũng như các hộ kinh doanh cá thể đã đăng ý tại các cơ quan hành ch nh hoạt động công nghiệp và thương mại và bán hàng hóa cho người tiêu dùng
Các biện pháp quản lý về hoạt động khuyến mại của nhà bán lẻ nh m điều chỉnh các hành vi khuyến mại của các nhà bán lẻ, quy định các nguyên tắc thực hiện khuyến mại và trách nhiệm của nhà bán lẻ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, duy trì sự cạnh tranh công b ng và quyền lợi của công chúng nói chung, và khuyến khích phát triển phù hợp và
có trật tự của các ngành bán lẻ, các biện pháp hiện tại được xây dựng theo các quy định pháp luật liên quan
Về hình thức khuyến mại: Khuyến mại dưới hình thức tổ chức chương trình hách hàng thường xuyên, hay nói cách khác khuyến mại qua thẻ ưu đãi
t ch điểm: Nhà bán lẻ phải nêu rõ phương pháp t ch điểm, thời gian hợp lệ cho các điểm t ch lũy và cho biết các mặt hàng ưu đãi cần có được để mua hàng Sau hi người tiêu dùng nhận được một thẻ ưu đãi t ch điểm, các nhà bán lẻ hông được thay đổi bất kỳ các nội dung nào như đã nêu ở đoạn trên, trừ khi những thay đổi đó sẽ thêm vào các quyền và lợi ích của người tiêu dùng
Về xử phạt vi phạm hành chính: Khi có bất kỳ hành động bán lẻ nào vi phạm các quy định đã nêu trên, nếu thuộc diện điều chỉnh của luật hoặc quy định khác, thì luật hoặc quy định đó sẽ áp dụng Nếu hông được quy định tại các luật hoặc văn bản khác, các nhà bán lẻ sẽ được yêu cầu sửa sai Trong trường hợp trục lợi phi pháp, các nhà bán lẻ có thể bị phạt tiền gấp tối đa 3 lần
số tiền trục lợi phi pháp, nhưng hông quá 30 000 nhân dân tệ Trong trường
Trang 25hợp không có lợi nhuận bất hợp pháp, các nhà bán lẻ sẽ bị phạt tối đa 10 000 nhân dân tệ Ngoài ra còn có thể bị nêu tên trên thông báo Bên cạnh đó, Nghị định yêu cầu các sở của tất cả các địa phương phải giám sát và quản lý các hành vi khuyến mại theo chức năng của mình theo quy định của pháp luật liên quan Trong trường hợp hoạt động khuyến mại tham gia phạm tội, hoạt động
đó sẽ bị điều tra và trừng phạt bởi các cơ quan công an Ngoài ra, Nghị định yêu cầu tất cả các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm, dựa trên tình hình thực tế của mình, xây dựng các quy định liên quan
để điều chỉnh các hành vi khuyến mại
So với Hoa Kỳ, có thể thấy các quy định về khuyến mại trong pháp luật Trung Quốc khá chặt chẽ Pháp luật đã đưa ra các quy định nh m bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và có các quy định xử phạt đối với các hành vi
vi phạm của chủ thể thực hiện hoạt động khuyến mại
Ngoài ra, tại một số nước còn quy định cụ thể về hạn mức khuyến mại như tại Singapore: Vào mùa khuyến mại (từ tháng 5 – tháng 7), các mặt hàng
có thể giảm tới 70% ; Tại Malaysia: Mùa giảm giá được bắt đầu vào dịp lễ hội màu sắc của Malaysia (Colours of Malaysia) diễn ra vào tháng 7 Dịp này, tất
cả hàng hóa, dịch vụ tại Malaysia đều được giảm giá từ 10 – 80% so với ngày bình thường
Việc đặt ra quy định về khuyến mại nh m đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh góp phần
ổn định nền kinh tế, đồng thời hướng tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Tuy nhiên, các quy định của pháp luật cũng hông thể là rào cản của các doanh nghiệp mà phải tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Vì thế, việc học tập kinh nghiệm thực tế trong quy định của các quốc gia khác là cần thiết và phải biết ứng dụng một cách phù hợp đối với điều kiện kinh tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Trang 26KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày hái quát về khuyến mại, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại tại Việt Nam và vị trí của pháp luật khuyến mại trong hệ thống luật thương mại Bên cạnh đó, trong nội dung chương 1 cũng hái quát quy định về khuyến mại của một số quốc gia trên thế giới nh m tiếp thu kinh nghiệm pháp luật của các nước Qua đó có thể thấy, hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động khuyến mại của Việt Nam được xây dựng khá đầy đủ, bao gồm được hết các nội dung cần thiết điều chỉnh hoạt động khuyến mại
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ
KHUYẾN MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Những q y ịnh pháp luật hiện hành v khuy n m i
2.1.1 Quy định về chủ thể hoạt động khuyến mại
Thương nhân được quy định tại Điều 6 Luật Thương mại, theo đó
“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ý inh doanh”
Thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh;
- Thương nhân inh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân hác theo thỏa thuận với thương nhân
đó 2
Tại Điều 89 và Điều 90 Luật Thương mại hiện quy định về kinh doanh dịch vụ khuyến mại hay h p đồng dịch vụ khuyến mại trong hoạt động khuyến
mại Theo đó, Kinh doanh dịch vụ khuyến mại là hoạt động thương mại, theo
đó một thương nhân thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân hác trên cơ sở hợp đồng Hợp đồng dịch vụ khuyến mại phải được lập thành văn bản hoặc b ng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
Điều 95 và Điều 96 Luật Thương mại quy định về quyền, nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại, theo đó hi tổ chức hoạt động khuyến mại, thương nhân có quyền: Lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại; Quy định những lợi ích cụ thể mà hách hàng được hưởng; Tự mình tổ
2
Khoản 2 Điều 88 Luật Thương mại năm 2005
Trang 28chức thực hiên các hình thức khuyến mại theo quy định của pháp luật; Thuê thương nhân inh doanh dịch vụ khuyến mại theo quy định của pháp luật
Thương nhân tổ chức hoạt động khuyến mại có các nghĩa vụ cơ bản sau: Thực hiện đầy đủ các quy định về trình tự thủ tục pháp lý cần thiết để thực hiện các hình thức khuyến mại; Thông báo công khai các nội dung, thông tin về hoạt động khuyến mại cho khách hàng Ví dụ như: tên hoạt động khuyến mại, giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ khuyến mại, thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạt động khuyến mại; Nghĩa vụ thực hiện đúng chương trình huyến mại đã thông báo và cam ết với khách hàng; Nghĩa vụ trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp hông có người trúng thưởng (đối với các hình thức trao thưởng mang tính may rủi); Tuân thủ các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ khuyến mại đã ý ết
Khoản 1 Điều 91 Luật Thương mại năm 2005 quy định:" Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tự tổ chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình"
Tuy nhiên, khác với chi nhánh của thương nhân, văn phòng đại diện của thương nhân hông được khuyến mại hoặc thuê thương nhân hác thực hiện
khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện Khoản 2 Điều
91 Luật Thương mại năm 2005 quy định: "Văn phòng đại diện của thương nhân hông đư c khuyến mại hoặc thuê thương nhân hác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện" Khác với chi nhánh
của thương nhân, được uỷ quyền giao dịch thực hiện tất cả các chức năng hành nghề như thương nhân ch nh; văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích của thương nhân, nó hông được kinh doanh mà chỉ có chức năng thay mặt cho thương nhân về hành chính
Trang 292.1.2 Quy định về hình thức và hạn mức khuyến mại
Có nhiều cách thức khác nhau để thương nhân mang lại lợi ích nhất định cho khách hàng của mình Lợi ch mà hách hàng được hưởng có thể là lợi ích vật chất (tiền, hàng hóa), hay lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch
vụ miễn phí) Pháp luật quy định các hình thức khuyến mại thương nhân được thực hiện tại Điều 92 Luật Thương mại, bao gồm:
* Đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu đề khách hàng dùng thử không phải trả tiền
Thông thường, hình thức này được sử dụng hi thương nhân cần giới thiệu sản phẩm mới hoặc sản phẩm đã cải tiến, do đó hàng mẫu đưa cho khách hàng dùng thử là hàng đang bán hoặc sẽ được bán trên thị trường Pháp luật chỉ quy định về trách nhiệm của thương nhân đối với chất lượng hàng hóa
và thông tin cung cấp cho khách hàng khi thực hiện hình thức này tại Điều 7 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP
Khuyến mại b ng hàng mẫu có nghĩa là thương nhân tạo điều kiện cho hách hàng được sử dụng sản phẩm miễn phí và phải là chính sản phẩm n m trong chiến dịch xúc tiến thương mại của thương nhân Hình thức này thường được áp dụng để tăng cầu đối với những sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường hoặc khi xâm nhập vào thị trường mới nơi người tiêu dùng chưa biết tới chúng hoặc còn tiêu thụ một cách dè dặt Đối với các loại dịch vụ thương mại thì cung cấp dịch vụ lần đầu miễn ph cũng có thể là cách hiểu của hình thức hàng hóa mẫu theo nghĩa rộng
Hàng hóa, dịch vụ được dùng làm quà tặng trong hình thức khuyến mại này có thể là hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc là hàng hóa, dịch vụ của thương nhân hác Thương nhân phải đảm bảo cho quyền lợi của khách hàng: chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa tặng cho
3
Điều 8 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
Trang 30khách hàng, dịch vụ không thu tiền; phải thông bào cho hách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến chương trình huyến mại (tên, thời gian, địa điểm, điều kiện, nội dung chương trình huyến mại )
Mục đ ch của tặng quà là nh m tăng thêm số lượng hàng hóa bán ra, lôi
éo hách hàng đang sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thương nhân huyến mại Hình thức khuyến mại này có tác dụng đặc biệt tạo nên sức hấp dẫn người mua khi giữa các sản phẩm cạnh tranh trên thị trường không có sự khác biệt đáng ể Ngoài ra, một chiến dịch tặng quà được tổ chức chuyện nghiệp
sẽ phát huy hiệu quả lớn trong việc xây dựng cảm tình của khách hàng với doanh nghiệp, củng cố mối quan hệ tốt đẹp và duy trì vững chắc sự gắn bó với các thương hiệu của doanh nghiệp Để đạt được điều đó, quà tặng phải đáp ứng được các yêu cầu như: giá trị quà tặng phải vượt lên so với giá trị thực mà khách hàng phải trả (tức là phải có một giá trị thật về giá cả và chất lượng); quà tặng phải là sản phẩm hữu ích, phải có sức hấp dẫn nhất định đủ
để làm cho khách hàng muốn sở hữu nó
Tuy nhiên, đây là hình thức sẽ làm giảm lợi nhuận trong thời gian đầu
áp dụng vì thương nhân sẽ mất phần lợi nhuận vào hàng hóa, hay dịch vụ miễn ph Đây là hình thức được áp dụng phổ biến nên dần dần khi áp dụng nhiều sẽ tạo nên tâm lý chờ đợi chỉ mua hàng khi có khuyến mại
* Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn gái bán hàng, cung ứng dịch vụ trước đó (giảm giá)
Đối với hình thức khuyến mại này, pháp luật quy định mức giảm giá tối
đa hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trong thời gian khuyến mại tại bất kỳ thời điểm nào hông được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngày trước
Ngoài ra, nếu hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được quy định như sau:
4
Điều 6 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
Trang 31- Không được giảm giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ trong trường hợp giá bán hàng hoá, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định giá cụ thể
- Không được giảm giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch
vụ thuộc diện Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiếu
Thời gian thực hiện khuyến mại cũng được quy định cụ thể: Tổng thời gian thực hiện chương trình huyến mại b ng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ hông được vượt quá 90 (ch n mươi) ngày trong một năm; một chương trình huyến mại hông được vượt quá 45 (bốn mười lăm) ngày
Có thể nói giảm giá là hình thức khuyến mại được các doanh nghiệp sử dụng khá phổ biến Việc pháp luật quy định mức giảm giá tối đa là cần thiết
để đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp xúc tiến thương mại, của người tiêu dùng, khách hàng và của thương nhân hác Tuy nhiên cũng cần có những quy định cụ thể hơn về các mặt hàng giảm giá, bởi đ ng sau các chương trình giảm giá, không ít doanh nghiệp lợi dụng lòng tin của hách hàng để chuộc lợi, tráo đổi các mặt hàng kém chất lượng hoặc không rõ nguồn gốc
Ngoài việc thu hút một lượng khách lớn khi áp dụng các biện pháp giảm giá, hình thức giảm giá còn giúp cho các thương nhân có thể nhanh chóng bán hết được lượng hàng còn lại, thu hồi vốn nhanh để tiếp tục tái đầu
tư vào các hoạt động khác Giảm giá là một trong những hình thức dễ áp dụng
và đơn giản hơn các hình thức khuyến mại khác Chủ doanh nghiệp không cần mất công sức tạo quà tặng, sản phẩm mẫu để tặng hách hàng, các thương nhân chỉ việc áp dụng mức giảm giá nhất định đối với từng sản phẩm, ngay trong các cửa hàng, đại lý của mình để thu hút hách hàng Đối với người tiêu dùng hoạt động bán hàng giảm giá của thương nhân giúp cho người tiêu dùng
có thể mua được những sản phẩm với giá rẻ hơn K ch th ch nhu cầu mua trên thị trường Với những hàng hóa có giá thành cao, khó tiêu thụ trên thị trường,
Trang 32những hàng mới tiếp cận với thị trường thì phương pháp bán hàng giảm giá tỏ
ra khá phù hợp đẩy mạnh cung-cầu của thị trường giúp thương nhân thuận lợi trong quá trình kinh doanh
Tuy nhiên, bán hàng giảm giá cũng có những hạn chế nhất định Việc bán hàng giảm giá tức là lợi nhuận mà thương nhân thu được từ việc bán hàng
sẽ t hơn Mặc dù pháp luật đã nghiêm cấm bán phá giá nhưng việc bán hàng giảm giá dễ dẫn tới việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp,
dễ gây lũng loạn thị trường Hàng giảm giá nếu không xuất phát từ lợi ích của người tiêu dùng thì sẽ dễ dẫn tới việc sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng của những đối tượng chỉ vì lợi nhuận
* Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để hách hàng đư c hưởng một hay một số l i ích nhất định
Phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ èm theo hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng là phiếu để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của
ch nh thương nhân đó hoặc để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của thương nhân, tổ chức khác Phiếu mua hàng thường có ý nghĩa giảm giá hoặc
có mệnh giá nhất định để khách hàng thanh toán trong những lần mua sau Phiếu sử dụng dịch vụ có thể cho phép hách hàng được sử dụng dịch vụ miễn phí hoặc theo điều kiện do nhà cung ứng dịch vụ đưa ra
Khi thực hiện khuyến mại theo hình thức này, thương nhân thực hiện cũng cần tuân thủ quy định về giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được tặng kèm theo một đơn vị hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng trong thời gian khuyến mại phải tuân thủ quy định hạn mức tối đa về giá trị vật chất dùng để khuyến mại quy định tại Điều 5 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP
* Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng
để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố
Phiếu dự thi cho phép các khách hàng tham dự một cuộc thi có thể do thương nhân thực hiện khuyến mại tổ chức Khi tham dự cuộc thi, khách hàng
Trang 33có thể được giải thưởng hoặc hông được lợi ích gì phụ thuộc vào kết quả dự thi của họ Việc tổ chức thi và mở thưởng phải được tổ chức công khai, có sự chứng kiến của đại diện khách hàng và phải được thông báo cho Sở Công
Trên phiếu dự thi phải ghi đầy đủ thông tin liên quan đến chương trình dự thi quy định tại Điều 97 Luật Thương mại
2005 Thương nhân phải tổ chức dự thi công khai, có sự chứng kiến của đại diện hách hàng, theo đúng thể lệ và giải thưởng mà thương nhân đã công bố
và phải được thông báo cho Sở Thương mại nơi tổ chức thi, mở thưởng Nội dung của chương trình thi hông được trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam
* Các hình thức khuyến mại gắn liền với việc tổ chức các sự kiện cho khách hàng tham gia: Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc tr ng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố, tổ chức chương trình hách hàng thường xuyên và tổ chức cho hách hàng tham gia các chương trình văn hoá, nghệ thuật, giải trí và sự kiện khác vì mục đích huyến mại
Đối với các hình thức khuyến mại này, pháp luật đã có những quy định chặt chẽ hơn nh m bảo vệ quyền lợi của khách hàng tham dự chương trình Điều 12 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quy định cụ thể về trách nhiệm của
thương nhân hi thực hiện khuyến mại dưới hình thức “Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi” như quy
định về việc phải công khai khi tổ chức mở thưởng chương trình huyến mại, quy định về b ng chứng xác định trúng thưởng được phát hành, quy định về tổng thời gian thực hiện khuyến mại và việc trích nộp ngân sách nhà nước 50% giá trị giải thưởng hông có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại đó
5
Điều 11 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
Trang 34Hình thức tổ chức chương trình hách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho hách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức hác được quy định cụ thể tại Điều 13 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP Trong đó, thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận việc mua hàng hóa, dịch vụ phải có đầy đủ các nội dung chủ yếu sau đây: Ghi rõ tên của thẻ hoặc phiếu; Điều kiện và cách thức ghi nhận sự tham gia của hách hàng vào chương trình hách hàng thường xuyên, việc mua hàng hóa, dịch vụ của hách hàng Trong trường hợp không thể ghi đầy đủ các nội dung nêu tại điểm này thì phải cung cấp đầy đủ, kịp thời các nội dung đó cho hách hàng hi hách hàng bắt đầu tham gia vào chương trình; Các nội dung liên quan được quy định tại Điều 97 của Luật Thương mại
Thông qua việc tham gia các sự kiện mà thương nhân tổ chức, khách hàng sẽ nhận được những lợi ích vật chất cụ thể (những giải thưởng, những sản phẩm được tặng cho) và lợi ích phi vật chất (sự thụ hưởng dịch vụ miễn phí, sự thư giãn thoải mái hi tha gia các chương trình nghệ thuật giải trí) Điều đó tạo nên sự hấp dẫn đối với khách hàng do tâm lý muốn thử vận may của đại đa số người tiêu dùng từ đó sẽ thu hút được sự chú ý của họ tới hàng hoá, dịch vụ mà thương nhân cung ứng vì vậy số lượng hàng hoá được tiêu thụ ngày càng lớn mang lại nhiều lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong bối cảnh các quan hệ Marketing trên thị trường ngày càng phức tạp hiện nay, việc thường xuyên tổ chức các chương trình huyến khích dành cho khách hàng là một công cụ quảng bá thương hiệu, sản phẩm khá hiệu quả Nó không chỉ thu hút được những khách hàng quen thuộc của doanh nghiệp tiếp tục mua hàng hoá và sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp mà còn ch th ch tiêu dùng đến những đối tượng khách hàng mới
* Các hình thức khuyến mại khác
Trang 35Các hình thức khuyến mại hác được quy định tại khoản 9 Điều 92 Luật Thương mại năm 2005 cũng như được quy định trong Nghị định số 37/2006/NĐ-CP và Thông tư Liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC
Quy định của pháp luật chỉ có thể dự liệu được các hình thức khuyến mại mà thương nhân có thể sử dụng và được áp dụng phổ biến Việc nhận diện các hình thức này là cần thiết, bởi pháp luật hiện hành có một số quy định riêng đối với từng hình thức khuyến mại cụ thể, chủ yếu là quy định về hạn mức giá trị và thời gian thực hiện khuyến mại, thủ tục hành ch nh thương nhân phải thực hiện Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt như hiện nay thì việc thu hút được khách hàng
nh m thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ của mình cũng càng trở nên quan trọng Vì vậy việc không ngừng sáng tạo, tìm cách thay đổi phương thức kinh doanh, xây dựng các chiến lược kinh doanh mới và phù hợp luôn là yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp Các hình thức khuyến mại nhờ
đó mà đa dạng, phong phú hơn, có sự xuất hiện của nhiều hình thức mới lạ Tuy vậy cơ quan chức năng cũng đã dự liệu tình huống này và yêu cầu các thương nhân này trước khi áp dụng hay khi sáng tạo ra hình thức khuyến mại nào n m ngoài danh mục được quy định từ khoản 1 đến khoản 8 Điều 92 Luật Thương mại thì cần có sự xác nhận của Sở Công Thương hoặc Bộ Công Thương nh m mục đ ch lớn nhất là bảo vệ được quyền lợi của người sử dụng dịch vụ hoặc hàng hóa trong hoạt động khuyến mại của thương nhân
Thực tế cho thấy đã có rất nhiều hình thức khuyến mại ra đời và đem lại hiệu quả cao về kinh tế cũng như xây dựng và củng cố được lòng tin, thương hiệu cho thương nhân Chẳng hạn như Trung tâm điện máy WonderBuy đưa ra hàng loạt chương trình huyến mãi nh m đón đầu và khuyến khích nhu cầu mua sắm cuối năm của người tiêu dùng với “Tháng tài trợ vàng mua sắm cuối năm” WonderBuy đưa ra chương trình “Đổi cũ – lấy mới”, tương tự như vậy với công ty đệm Kymdan tung ra chương trình “Thay lời cảm ơn” đã 10 năm đồng hành cùng hách hàng, theo đó hách hàng dùng
Trang 36sản phẩm 20 năm trở lên thì được đổi cũ lấy mới; mua hàng èm tư vấn hướng dẫn sử dụng
Bên cạnh các quy định về các hình thức khuyến mại, pháp luật cũng quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại
Theo quy định tại khản 4 Điều 94 Luật Thương mại năm 2005: “Chính phủ quy định cụ thể hạn mức tối đa về giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ đư c khuyến mại
mà thương nhân đư c thực hiện trong hoạt động khuyến mại”
Điều 5 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quy định cụ thể về hạn mức tối đa
về giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, theo đó giá trị vật chất dùng
để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại b ng các hình thức quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 11, Điều 12, Điều 13 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP Tổng giá trị của hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại mà thương nhân thực hiện trong một chương trình huyến mại hông được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại b ng hình thức quy định tại Điều 7 Nghị định này
Giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại là chi ph mà thương nhân thực hiện khuyến mại phải bỏ ra để có được hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại tại thời điểm khuyến mại, thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Thương nhân thực hiện khuyến mại không trực tiếp sản xuất, nhập khẩu hàng hoá hoặc không trực tiếp cung ứng dịch vụ dùng để khuyến mại, chi ph này được tính b ng giá thanh toán của thương nhân thực hiện khuyến mại để mua hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại
- Hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hoá của thương nhân
đó trực tiếp sản xuất, nhập khẩu hoặc cung ứng dịch vụ, chi phí này được tính
Trang 37b ng giá thành hoặc giá nhập khẩu của hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại
2.1.3 Quy định về nguyên tắc thực hiện khuyến mại
Các nguyên tắc thực hiện khuyến mại được quy định tại Điều 4 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định số 68/2009/NĐ-CP) bao gồm
7 nguyên tắc:
- Chương trình huyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và hông được xâm hại đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác
- Không được phân biệt đối xử giữa các hách hàng tham gia chương trình khuyến mại trong cùng một chương trình huyến mại
- Thương nhân thực hiện chương trình huyến mại phải bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho hách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyết rõ ràng, nhanh chóng các khiếu nại liên quan đến chương trình khuyến mại (nếu có)
- Thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại
- Không được lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của hách hàng để thực hiện khuyến mại nh m phục vụ cho mục đ ch riêng của bất kỳ thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân nào
- Việc thực hiện khuyến mại hông được tạo ra sự so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác nh m mục đ ch cạnh tranh không lành mạnh
- Không được dùng thuốc chữa bệnh cho người, kể cả các loại thuốc đã được phép lưu thông để khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc
Trang 38Các nguyên tắc được đặt ra nh m mục đ ch bảo vệ quyền lợi của khách hàng hi tham gia chương trình huyến mại và đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp
2.1.4 Quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước và thủ tục thực hiện khuyến mại
2.1.4.1 Thẩm quyền quản lý nhà nước trong hoạt động khuyến mại
Cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động xúc tiến thương mại được quy định tại Luật Thương mại và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP, đồng thời căn cứ theo Nghị định số 95/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương, Thông tư liên
tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC cụ thể như sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương: Bộ Công Thương (Cục Xúc tiến thương mại) có vai trò đầu mối, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến thương mại Đối với hoạt động khuyến mại, Cục Xúc tiến thương mại – Bộ Công Thương chịu trách nhiệm giải quyết việc đăng ý thực hiện khuyến mại thuộc thẩm quyền theo quy định:
+ Giải quyết việc đăng ý thực hiện khuyến mại theo hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình huyến mại mang tính may rủi nếu thực hiện trên địa bàn từ 2 tỉnh, thành phố trở lên;
+ Giải quyết việc đăng ý thực hiện khuyến mại theo các hình thức khuyến mại hác theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP
- Cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương (tỉnh, thành): y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, chỉ đạo Sở Thương mại, Sở Thương mại - Du lịch (nay là Sở Công Thương) thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến thương mại trên địa bàn theo quy định của pháp luật Đối với hoạt động khuyến mại, Sở Công Thương chịu trách nhiệm giải quyết việc thông báo, đăng ý thực hiện khuyến mại thuộc thẩm quyền theo quy định:
Trang 39+ Giải quyết việc thông báo thực hiện khuyến mại theo các hình thức: Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền; Tặng hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền kèm theo hoặc không kèm theo việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch
vụ trước đó; Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu
sử dụng dịch vụ; Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố; Tổ chức chương trình hách hàng thường xuyên; Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục
đ ch huyến mại
+ Giải quyết việc đăng ý thực hiện khuyến mại theo hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình huyến mại mang tính may rủi nếu thực hiện trên địa bàn 1 tỉnh, thành phố;
2.1.4.2 Thủ tục thực hiện khuyến mại
Trong quy định về thủ tục hành chính khi thực hiện hoạt động khuyến mại hiện nay có 2 thủ tục hành ch nh mà thương nhân phải thực hiện là thủ tục thông báo thực hiện khuyến mại và thủ tục đăng ý thực hiện khuyến mại
- Thủ tục thông báo thực hiện khuyến mại:
Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP, thương nhân khi thực hiện các hình thức khuyến mại được quy định tại Mục 2 của Nghị định này phải gửi thông báo b ng văn bản về chương trình huyến mại đến
Sở Thương mại (nay là Sở Công Thương) nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất
07 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại
Nội dung thông báo về chương trình huyến mại bao gồm: Tên chương trình khuyến mại; Địa bàn thực hiện khuyến mại; địa điểm bán hàng thuộc chương trình huyến mại; Hình thức khuyến mại; Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại; Thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc chương trình huyến mại; Khách hàng của chương trình huyến
Trang 40mại; Cơ cấu giải thưởng và tổng giá trị giải thưởng của chương trình huyến mại Mẫu thông báo thực hiện khuyến mại được quy định cụ thể tại mẫu KM-
01 Phụ lục èm theo Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC
- Thủ tục đăng ý thực hiện khuyến mại
Thủ tục đăng ý thực hiện khuyến mại được áp dụng đối với thương
nhân thực hiện khuyến mại theo hình thức “Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc tr ng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố” và hình thức khuyến mại khác
- Đối với chương trình huyến mại b ng hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham gia các chương trình mang t nh may rủi quy định tại Điều 12 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP phải được đăng ý tại cơ quan quản
lý nhà nước về thương mại có thẩm quyền sau đây:
+ Sở Thương mại (nay là Sở Công Thương) đối với chương trình khuyến mại thực hiện trên địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
+ Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) đối với chương trình khuyến mại thực hiện trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên
Hồ sơ đăng ý thực hiện chương trình huyến mại bao gồm:
+Văn bản đề nghị thực hiện chương trình huyến mại theo mẫu của Bộ Thương mại Nội dung đăng ý thực hiện chương trình huyến mại, bao gồm: tên chương trình huyến mại; địa bàn khuyến mại; hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại; hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại; thời gian khuyến mại; khách hàng của chương trình huyến mại;
+ Thể lệ chương trình huyến mại;
+ Mẫu vé số dự thưởng đối với chương trình huyến mại có phát hành
vé số dự thưởng;