1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội theo pháp luật việt nam

99 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.” Như vậy, có thể hiểu BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động

Trang 1

MAI THỊ HẬU

ĐỀ TÀI GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ

HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MAI THỊ HẬU

ĐỀ TÀI GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS Lưu Bình Nhưỡng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Mai Thị Hậu

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASXH An sinh xã hội

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

ILO Tổ chức Lao động Quốc tế

KCN Khu công nghiệp

KCX-CN Khu chế xuất – công nghiệp

Trách nhiệm hữu hạn WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4

7 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1 6

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI 6 1.1 Những vấn đề chung về an toàn quỹ bảo hiểm xã hội 6

1.1.1 Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội 6

1.1.2 Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội 10

1.1.2.1 Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội đối với nền kinh tế 11

1.1.2.2 Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội đối với xã hội 12

1.1.3 Đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội 12

1.1.3.1 Khái niệm đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội 13

1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội 13

1.2 Pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội 17

1.2.1 Nguyên tắc hình thành và quản lý quỹ 17

1.2.2 Quy định về tổ chức quỹ bảo hiểm xã hội 20

1.2.2.1 Quy định về nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội 20

1.2.2.2 Quy định về chi quỹ bảo hiểm xã hội 28

1.2.3 Quy định về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội 31

1.3 Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam nhằm bảo đảm an toàn quỹ bảo hiểm xã hội 33

1.3.1 Mô hình bảo hiểm xã hội tiêu biểu của một số quốc gia trên thế giới 33

1.3.1.1 Mô hình bảo hiểm xã hội của Cộng hoà Liên bang Đức 34

1.3.1.2 Mô hình bảo hiểm xã hội của Trung Quốc 36

1.3.2 Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức quản lý và cân đối quỹ bảo hiểm xã hội đối với Việt Nam 36

Kết luận chương 1 40

Chương 2 41

Trang 6

THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 41

2.1 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 41

2.1.1 Xây dựng hoàn thiện pháp luật quỹ bảo hiểm xã hội 41

2.1.2 Tổ chức quỹ bảo hiểm xã hội 44

2.1.2.1 Thực trạng hoạt động thu quỹ bảo hiểm xã hội 45

2.1.2.2 Thực trạng hoạt động chi quỹ bảo hiểm xã hội 51

2.1.2.3 Thực trạng đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội 55

2.2 Đánh giá an toàn quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay 59

2.2.1 Ưu điểm 59

2.2.2 Hạn chế, vướng mắc và thách thức 63

Kết luận chương 2 72

Chương 3 73

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM ĐẢM BẢO AN TOÀN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI 73

3.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội 73

3.1.1 Quy định pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội 73

3.1.2 Quy định pháp luật về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 75

3.1.3 Quy định pháp luật về độ tuổi 76

3.2 Một số giải pháp khác 78

3.2.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư, tạo nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội 78

3.2.2 Nghiên cứu thiết kế một hệ thống hưu trí mới- chuyển sang cơ chế “tài khoản cá nhân” 82

3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo hiểm xã hội 84

3.2.4 Phối hợp hiệu quả với các cơ quan chức năng trong việc giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội 86

Kết luận chương 3 88

KẾT LUẬN 89

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đối với bất kỳ quốc gia nào, bảo hiểm xã hội (BHXH) luôn là trụ cột quan trọng nhất của hệ thống an sinh xã hội Tại Việt Nam, trải qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, chính sách BHXH đã góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống cho người lao động thụ hưởng các chế độ BHXH; góp phần ổn định chính trị - xã hội đất nước

Là một phần trong hệ thống pháp luật BHXH, quỹ BHXH là nguồn lực vật chất không thể thiếu đảm bảo cho việc tổ chức và thực hiện tốt chính sách BHXH hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia quan hệ xã hội Cho đến nay, có thể khẳng định nhờ việc tạo lập và sử dụng quỹ BHXH mà rất nhiều người lao động và gia đình họ vượt qua được hoàn cảnh khó khăn khi phải đối mặt với những sự kiện như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, khi hết tuổi lao động hoặc chết

Có thể thấy rằng, quỹ BHXH đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội Tuy vậy, nguy cơ “vỡ quỹ BHXH” trong tương lai đang trong tình trạng báo động Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc

tế (ILO), với các chính sách hiện hành, đến năm 2021, quỹ BHXH của Việt Nam sẽ mất cân đối thu chi, buộc phải lấy từ nguồn kết dư để chi trả Đến năm 2034, phần kết dư này cũng không còn, dẫn đến khả năng vỡ quỹ và khi

đó, người lao động sẽ không nhận được lương hưu Và trên thực tế khả năng

vỡ quỹ BHXH có thể xảy ra sớm hơn

Nguy cơ vỡ quỹ BHXH đang là vấn đề nóng được dư luận hết sức quan tâm đặc biệt là tầng lớp người lao động bởi quỹ BHXH là tiền đóng góp của người lao động để bảm bảo an sinh khi lâm vào những hoàn cảnh khó khăn như sinh đẻ, tai nạn lao động hay về hưu Vậy nên sự an toàn của quỹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của họ khi gặp rủi ro về thu nhập

Trang 8

Đứng trước nguy cơ đó, việc tìm ra nguyên nhân, những hạn chế trong chính sách BHXH và đặc biệt là những giải pháp để khắc phục tình trạng mất cân đối quỹ BHXH là vô cùng cần thiết Do vậy, với việc lựa chọn đề tài:

“Giải pháp đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội theo pháp luật Việt Nam”,

tác giả luận văn muốn góp phần hoàn thiện hệ thống quy định của pháp luật

về quỹ BHXH cũng như đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng đang suy yếu và mất cân đối hiện nay của quỹ BHXH

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quỹ BHXH tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất cân đối dài hạn là vấn đề mang tính thời sự cao, hiện đang trở thành tâm điểm của truyền thông, không chỉ nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách

mà còn được phần lớn tầng lớp lao động trong xã hội quan tâm

Đứng trước tình hình trên, mới đây Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội phối hợp với Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam đã

tổ chức Hội thảo “Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội- Kinh nghiệm quốc

tế và giải pháp cho Việt Nam”, qua đó đưa ra các khuyến nghị nhằm tránh

nguy cơ mất cân đối dài hạn nguồn quỹ an sinh xã hội này Bên cạnh đó, Chính phủ đã tổ chức những buổi tọa đàm trực tuyến với chủ đề: Giải pháp để quản lý hiệu quả quỹ bảo hiểm y tế, quỹ BHXH, đồng thời cũng đã có những động thái như đề nghị Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tiến hành báo cáo đánh giá và dự báo tài chính quỹ hưu trí, yêu cầu Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, BHXH Việt Nam nghiên cứu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về thông tin cân đối quỹ BHXH Thông qua báo cáo và những số liệu thống kê, vấn đề cải cách các chế độ BHXH ảnh hưởng đến quỹ BHXH là vấn đề hết sức cần thiết

Đến nay, việc nghiên cứu về quỹ BHXH dưới góc độ pháp lý mới tập trung chủ yếu ở những hội thảo, tọa đàm hay những báo cáo, dự báo liên quan đến quỹ BHXH Một số công trình nghiên cứu như: An toàn quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam của ThS Nguyễn Thị Lê Thu; khóa luận tốt nghiệp “ Các quy

Trang 9

định về quỹ bảo hiểm xã hội theo pháp luật Việt Nam”, năm 2006 của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Yến; luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về quỹ bảo hiểm

xã hội và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội”, năm 2014 của tác giả Phạm Thành Công… Có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học phân tích một cách đầy đủ, sâu sắc, những vấn đề về quỹ BHXH còn rất ít, chủ yếu là các bài nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp của giai đoạn trước, trong khi đó tình trạng thâm thủng, mất cân đối quỹ BHXH mới được nhìn nhận nghiêm túc trong thời gian gần đây Chính vì vậy, tác giả mong muốn đóng góp công sức và kiến thức để hoàn thành đề tài nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề liên quan đến pháp luật về quỹ BHXH ở nước ta hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Quỹ BHXH là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả không nghiên cứu cũng như phân tích tổ chức, hoạt động và cơ chế thu chi của quỹ này dưới góc độ kinh tế mà chỉ nghiên cứu dưới góc độ pháp lý, trong đó đặc biệt chú trọng chính sách thu chi, quản lý, sử dụng quỹ này, tìm hiểu và đánh giá tình hình quỹ BHXH, chỉ

ra những nguyên nhân, các thách thức mà quỹ BHXH Việt Nam đang phải đối mặt, từ đó đưa ra một số đề xuất về mặt pháp lý nhằm giải quyết tình trạng mất cân đối của quỹ BHXH

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về quỹ BHXH, pháp luật điều chỉnh về quỹ BHXH để qua đó, tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh về quỹ BHXH nhằm định hướng giải pháp khắc phục tình trạng mất cân đối, đảm bảo tính ổn định, an toàn của quỹ BHXH của nước ta

Để thực hiện được mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 10

- Nghiên cứu được những vấn đề cơ bản về quỹ BHXH và pháp luật điều chỉnh về quỹ BHXH, phân tích được mô hình quỹ BHXH của một số nước trên thế giới, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;

- Phân tích, đánh giá được tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHXH ở Việt Nam Trong đó, tập trung làm rõ những nguyên nhân, hạn chế trong các chế độ BHXH ảnh hưởng đến sự mất cân đối của quỹ BHXH;

- Đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tình hình mất cân đối thu chi quỹ BHXH hiện nay, đảm bảo sự phát triển ổn định bền vững của BHXH

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về nhà nước và pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,

về pháp luật về quỹ BHXH Trong trường hợp cụ thể, để làm sáng tỏ vấn đề luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê nhằm đưa ra các ý kiến đánh giá, nhận xét và rút ra kết luận khoa học

Đặc biệt, luận văn rất chú trọng phương pháp phân tích nhằm nghiên cứu sâu hơn, kĩ hơn từng vấn đề Trên cơ sở kết quả phân tích, tác giả liên kết, thống nhất lại tất cả các bộ phận, các yếu tố trong mối liên hệ tổng hợp, từ đó rút ra những điểm còn tồn tại của hệ thống pháp luật hiện hành điều chỉnh về quỹ BHXH

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trang 11

quyết và chi trả chế độ BHXH Chỉ ra những điểm phù hợp, chưa phù hợp của pháp luật hiện hành là nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, thách thức mà Quỹ BHXH đã đang và sẽ gặp phải, từ đó đề xuất những giải pháp, phương

án cụ thể nhằm đảm bảo an toàn quỹ BHXH

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn được trình bày như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về an toàn quỹ bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam Chương 3: Một số đề xuất nhằm đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN QUỸ

BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Những vấn đề chung về an toàn quỹ bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội

Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro có thể phát sinh bất ngờ không lường trước được, không dễ khắc phục Để phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH Trong tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 10/12/1948 có nêu:

“Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH Quyền đó đặt trên cơ sở sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người ”.Theo Tổ

chức lao động thế giới gọi tắt là ILO, BHXH được hiểu là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để chống lại tình trạng khó khăn

về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật, chết; thêm vào đó BHXH bảo vệ việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình BHXH là một trong những quyền cơ bản của con người trong một xã hội hiện đại và mục tiêu cao

cả nhất của nó là vì sự an toàn, phòng tránh được hậu quả về những tổn thất gây ra bởi những rủi ro trong cuộc sống hay trong quá trình lao động BHXH hướng tới sự phát triển, sự đảm bảo tốt nhất cho con người, góp phần quan trọng vào tạo lập sự ổn định và thịnh vượng của xã hội

Luật BHXH 2014 định nghĩa về BHXH như sau: “Bảo hiểm xã hội là

sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi

Trang 13

nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm

xã hội.” Như vậy, có thể hiểu BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một

phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm thông qua sự hình thành

và sử dụng một quỹ tài chính độc lập, tập trung do sự đóng góp của người chủ

sử dụng lao động và người lao động, nhằm đảm bảo sự an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội Để có nguồn lực vật chất bảo đảm hoặc thay thế thu nhập cho người lao động tham gia BHXH khi họ gặp phải rủi ro làm giảm, mất khả năng lao động hoặc chết, nhằm đảm bảo đời sống cơ bản cho bản thân người lao động và gia đình họ thì cần phải có một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ sự đóng góp của

các bên tham gia BHXH Đó chính là quỹ bảo hiểm xã hội

Khoản 4 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 quy định: “Quỹ bảo hiểm xã

hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước.” Có thể hiểu như sau:

Thứ nhất, nguồn tài chính của quỹ BHXH hình thành từ nguồn đóng

góp của người tham gia BHXH và có sự bảo trợ của Nhà nước Theo đó, những người tham gia BHXH sẽ hàng tháng trích một phần thu nhập để tạo lập và duy trì sự tồn tại của quỹ Việc đóng góp này tùy vào từng hình thức bảo hiểm mà được quy định là có bắt buộc hay không, nhưng đó chính là nguồn hình thành quỹ thường xuyên và ổn định Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, người được hưởng BHXH không phải đóng góp vào quỹ BHXH, quỹ BHXH chỉ hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động (NSDLĐ), điều này dẫn đến chính sách BHXH trở thành gánh nặng đối với ngân sách Nhà nước Việc quy định nguồn hình thành quỹ như hiện nay chỉ được thực hiện từ sau khi đất nước thay đổi chính sách về tổ chức quỹ BHXH

Trang 14

theo nguyên tắc có đóng có hưởng, là cơ sở để quỹ BHXH trở thành quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước

Thứ hai, quỹ BHXH là quỹ phi lợi nhuận mang tính chất tương trợ

cộng đồng, nhằm thỏa mãn các nhu cầu phát sinh về BHXH Qũy BHXH ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ Thông qua việc thực hiện các chính sách BHXH nói chung và tổ chức quỹ BHXH nói riêng, người lao động hàng tháng chỉ phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho quỹ nhưng được hỗ trợ một khoản đủ để chi trả những nhu cầu của cuộc sống khi không may lâm vào những hoàn cảnh làm giảm mất thu nhập Có thể thấy rằng, quỹ BHXH được

sử dụng để bù đắp hoặc thay thế thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khoẻ, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những người ruột thịt của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần

đảm bảo an toàn xã hội và phát triển kinh tế của đất nước

Quỹ BHXH mang những đặc điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất, là quỹ tài chính tập trung hình thành từ sự đóng góp của các

bên tham gia BHXH, được nhà nước hỗ trợ khi cần thiết và bảo đảm an toàn tài chính phục vụ chi trả các chế độ BHXH theo pháp luật

Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính, với mục đích tạo lập quỹ tài chính để phân phối sử dụng nó bảo đảm bù đắp một phần thu nhập nhất định nào đó cho người lao động khi có những sự cố bảo hiểm xuất hiện như: tai nạn, ốm đau, hưu trí, làm giảm hoặc mất hẳn các khoản thu nhập thường xuyên từ lao động nhằm duy trì và ổn định cuộc sống của họ, chính vì lẽ đó sự

an toàn của quỹ BHXH được đặt ra Bởi, nếu quỹ bị mất cân đối, mất khả năng chi trả thì hiệu quả cũng như ý nghĩa của chính sách BHXH chắc chắn

sẽ không đạt được Quỹ BHXH vì vậy không thể bị đưa vào diện phá sản như các loại doanh nghiệp bảo hiểm thương mại

Trang 15

Vì vậy, một yêu cầu được đặt ra là quỹ BHXH phải được bảo toàn về giá trị và không có rủi ro về tài chính Do đặc thù về đối tượng đảm bảo, bản chất, ý nghĩa của hoạt động BHXH mà nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm

sự an toàn về tài chính cho quỹ BHXH

- Thứ hai, hoạt động của Quỹ BHXH không nhằm mục đích lợi nhuận

mà vì mục tiêu dự phòng, bảo đảm khắc phục rủi ro về thu nhập cho đối tượng được bảo hiểm

Quỹ BHXH là "của để dành", là “lưới an toàn thu nhập” của người lao động và gia đình họ trong trường hợp ốm đau, tai nạn hoặc tuổi già, Nguồn thu này được đóng góp và tích luỹ lại theo thời gian trong suốt quá trình lao động Như vậy, sự ra đời, tồn tại và phát triển của quỹ BHXH gắn liền với chức năng vốn có của nhà nước là vì quyền lợi của người lao động chứ không

vì mục đích kiếm lời mà hoạt động trên nguyên tắc bảo toàn và tăng trưởng giá trị nhằm mục tiêu an toàn về tài chính quỹ Quỹ BHXH ra đời, tồn tại, hoạt động và phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng nước, khi nền kinh tế càng phát triển thì càng có nhiều chế độ BHXH được thực hiện và bản thân từng chế độ cùng được áp dụng rộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càng được nâg cao và họ càng

có khả năng tham gia vào nhiều chế độ BHXH

- Thứ ba, phân phối Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang

tính chất không hoàn trả

Tính chất hoàn trả được thể hiện ở chỗ người lao động là đối tượng tham gia và đóng góp BHXH, đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp, được chi trả từ Quỹ BHXH cho dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người có khác nhau tùy thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà

họ gặp phải, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng BHXH của họ1

1 Lương Lê Hoàng (2012), Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú

Thọ, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học bách khoa Hà Nội, Hà Nội, tr.15

Trang 16

Tính không hoàn trả được thể hiện ở chỗ, cùng tham gia và đóng góp BHXH nhưng có người được hưởng trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau, nhưng cũng có những người được ít lần hơn, thậm chí không được hưởng, ví dụ không ốm đau thì sẽ không hưởng chế độ trợ cấp ốm đau Chính từ đặc điểm này nên một số đối tượng được hưởng trợ cấp từ Quỹ BHXH thường lớn hơn nhiều so với mức đóng góp của họ và ngược lại Điều

đó thể hiện tính chất xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH

- Thứ tư, quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung lớn tồn tại trong thời gian

dài, luôn vận động và có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn

Nếu xem xét tại một thời điểm cụ thể nào đó, Quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền nhàn rỗi để chi trả trong tương lai Quỹ BHXH được tạo lập từ

sự đóng góp, tham gia của đông đảo người tham gia và có tính chất phân phối chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội giữa những người tham gia BHXH qua các thế hệ, vì vậy nguồn lực tài chính của quỹ BHXH là rất lớn trong khoảng thời gian dài Việc quỹ BHXH có số dư lớn sẽ giúp việc chi trả được thực hiện một cách kịp thời, đảm bảo giải quyết nhanh chóng nhu cầu BHXH cho người tham gia Ngoài ra, số người tham gia càng đông thì tần suất xảy ra rủi ro càng lớn, vậy nên quỹ BHXH cũng thường xuyên phải chi trả chế độ cho người tham gia BHXH, điều này làm cho quỹ luôn trong trạng thái vận động và biến đổi Lượng tiền này có thể biến động tăng và cũng có thể biến động giảm do mất an toàn Do đó, bảo tồn giá trị và tăng trưởng Quỹ BHXH

đã trở thành yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạt động của BHXH

1.1.2 Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng góp phần giải quyết những "rủi ro xã hội" của những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc san sẻ rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và

Trang 17

thời gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại về kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả NSNN và ngân sách gia đình

Cùng với sự phát triển kinh tế – xă hội của đất nước, vị trí, vai trò của quỹ BHXH trong hệ thống ASXH, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng to lớn, có thể khái quát vai trò của quỹ BHXH trên các mặt sau:

1.1.2.1 Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội đối với nền kinh tế

Quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động tham gia BHXH, những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết Nhờ

có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, tinh thần nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường BHXH chỉ thực sự có ý nghĩa kinh tế khi những thiếu hụt về thu nhập của NLĐ và gia đình họ được bù đắp, trợ giúp theo quy định của pháp luật

Quỹ BHXH góp phần đảm bảo an toàn, bình ổn nền kinh tế Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về

an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, quỹ BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh

ổn định cuộc sống và sản xuất… Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế và sự phát triển của quỹ BHXH là một nguồn tài chính vững chắc đảm bảo quyền được hưởng của người tham gia Cụ thể:

- Quỹ BHXH được tổ chức thành quỹ độc lập theo nguyên tắc đóng – hưởng, qua đó đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời cho các đối tượng BHXH, góp phần đảm bảo đời sống, thu nhập cũng như khả năng tiêu dùng của người lao động, qua đó giảm đáng kể gây ra phần nào sự kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế, cũng như những thay đổi về chất của nền kinh tế như: phúc lợi xã hội, tuổi thọ…

Trang 18

- Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả chi phí quản lý và các chế độ BHXH cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các chương trình, dự án kinh tế – xã hội để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy, xét trên cả phương diện chi trả của quỹ BHXH cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ BHXH đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế

1.1.2.2 Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội đối với xã hội

Không chỉ có vai trò góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, Quỹ BHXH còn có vai trò to lớn trong việc cân bằng xã hội BHXH làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất Người sử dụng lao động tham gia đóng góp vào quỹ BHXH cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm, sự quan tâm của mình đối với người lao động Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó ba bên giữa Nhà nước –người sử dụng lao động –người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế –xã hội Mặt khác, phân phối trong BHXH là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống; Sự phân phối giữa người trẻ, có sức khỏe và người già, người đang làm việc với người

đã về hưu… Có thể thấy rằng, BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý lấy của người giàu chia cho người nghèo mà ý nghĩa của BHXH là phát huy sự đoàn kết, tương trợ phát huy tính tự thân, sống hòa nhập giữa mọi người trong cùng cộng đồng

1.1.3 Đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội

Trang 19

1.1.3.1 Khái niệm đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội

Để thực hiện vai trò của BHXH trong nền kinh tế và xã hội, với chức năng và nhiệm vụ của mình, Quỹ BHXH thường xuyên trong trạng thái vận động bởi các "luồng tiền vào" và các "luồng tiền ra" của Quỹ Các "luồng tiền vào" là những nguồn thu của Quỹ BHXH mà thực chất là những nhân tố làm tăng Quỹ BHXH; còn những luồng tiền ra là những nguồn thực hiện nhiệm vụ chi của Quỹ BHXH thực chất là những nhân tố tác động giảm quỹ BHXH Trên thực tế, không phải bất cứ lúc nào Quỹ BHXH cũng có trạng thái thu vào Quỹ bằng số chi ra của Quỹ BHXH mà ngược lại, Quỹ luôn vận động không ngừng và nó phụ thuộc vào số lượng đối tượng tham gia BHXH, đối tượng hưởng chế độ BHXH, các chế độ chính sách về tiền lương, chế độ phụ cấp và chế độ BHXH Đến nay, cũng chưa có một định nghĩa cụ thể nào về an toàn quỹ BHXH, tuy nhiên, qua nghiên cứu chính sách thu, chi quỹ BHXH ở một số nước và thực trạng thu chi của quỹ BHXH của Việt Nam, ta có thể hiểu: đảm bảo an toàn quỹ BHXH là sự đảm bảo mà tại đó các nguồn thu vào của quỹ BHXH đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chi của quỹ BHXH2

Quỹ BHXH sẽ ở trạng thái bị mất cân đối nếu số thu vào của quỹ thấp hơn so với số chi ra của quỹ BHXH, trong trường hợp này cần phải tìm thêm nguồn thu hoặc có biện pháp để tăng nguồn thu để bù đắp số thiếu hụt của quỹ BHXH nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả BHXH cho các đối tượng theo quy định

1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội

a Những nhân tố tác động đến nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội

Thu BHXH là một khâu quan trọng nhất, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống BHXH, đảm bảo sự cân đối, điều tiết của quỹ BHXH

Để quỹ BHXH được cân đối ổn định và phát triển lâu dài, công tác thu BHXH

2 Lê Minh Châu (2005), Giải pháp đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm xã hội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học

kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr.14-15

Trang 20

phải được đặt trong tổng thể các chính sách và nội dung phát triển kinh tế-xã hội Đó là:

Thứ nhất, chính sách tiền lương Giữa chính sách tiền lương và chính

sách BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHXH, bởi vì cơ sở để tính toán mức đóng và hưởng BHXH của chúng ta hiện nay là phụ thuộc vào tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định Như vậy khi Nhà nước nâng lương tối thiểu, điều đó đồng nghĩa với việc tăng mức đóng BHXH và đương nhiên số thu BHXH cũng tăng lên Thêm vào đó đối với các lao động đóng BHXH theo thang bảng lương Nhà nước quy định, mức đóng còn phụ thuộc vào hệ số lương, vì thế khi Nhà nước điều chỉnh lại thang bảng lương thì mức đóng BHXH cũng tăng lên3

Thứ hai, nguồn lực lao động Người lao động là đối tượng tham gia

BHXH, đang trong độ tuổi lao động, trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội Như vậy nếu một quốc gia có dân số “già” tức là số người trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ thấp trong tổng dân số sẽ dẫn đến việc mất cân đối quỹ BHXH bởi

vì số người tham gia đóng góp vào quỹ ngày càng ít trong khi số người hưởng các chế độ BHXH đặc biệt là chế độ hưu trí ngày càng tăng

Thứ ba, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế

của một quốc gia phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của Nhà nước, vì thế nếu một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định thì chắc chắn đời sống của người dân sẽ cao dần lên, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi vì thế các chủ doanh nghiệp cũng sẵn sàng tham gia BHXH cho người lao động Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững phản ánh nhiều người lao động có thu nhập cao thông qua quá trình lao động, đây là điều kiện tiền đề để người lao động

có cơ hội tham gia BHXH Thêm nữa, khi đời sống kinh tế cao thì nhận thức

3

Trang 21

của người lao động cũng tăng lên, đồng nghĩa với việc người lao động có sự hiểu biết và nhận thức cao về tầm quan trọng và ý nghĩa của BHXH thì họ sẽ

tự giác tham gia vào hệ thống BHXH, làm tăng thu BHXH4

Thứ tư, nguồn lãi từ hoạt động đầu tư quỹ BHXH Quỹ BHXH được

thiết kế theo mô hình tồn tích thì đây là một quỹ tiền tệ tập trung rất lớn, đặc biệt là trong điều kiện cụ thể của nước ta, lực lượng lao động còn đang ở độ tuổi trẻ, số lượng lao động tham gia BHXH còn chiếm tỷ lệ thấp so với tổng

số lao động trong xã hội Nếu hoạt động đầu tư quỹ BHXH đạt hiệu quả cao, không bị rủi ro, thất thoát thì chắc chắc nguồn lãi từ hoạt động đầu tư đem lại

là một khoản tiền không nhỏ, sẽ là nguồn tài chính bổ sung làm tăng quy mô quỹ BHXH Đây là nhân tố không thể thiếu được, cần đặc biệt quan tâm trong hoạt động quản lý và sử dụng quỹ BHXH

Thứ năm, sự hỗ trợ của nhà nước Trong trường hợp cần thiết, khi nhà

nước có những điều chỉnh chế độ đóng góp hay mức hưởng đối với chủ sử dụng lao động và người lao động sẽ ảnh hưởng đến quy mô quỹ, làm cho quỹ mất cân đối, thu không đủ chi thì buộc NSNN phải hỗ trợ để đảm bảo nhu cầu chi trả cho các đối tượng Hầu hết các nước trên thế giới đang tìm mọi cách để điều chỉnh chính sách, chế độ BHXH sao cho giảm tối đa sự hỗ trợ của NSNN cho quỹ BHXH

Thứ sáu, việc tuân thủ chính sách BHXH bắt buộc của Nhà nước Thu

BHXH phụ thuộc vào số lượng người tham gia BHXH Nếu tỷ lệ người nằm trong diện phải tham gia BHXH bắt buộc mà không tham gia BHXH càng lớn thì thất thu BHXH sẽ càng cao Tỷ lệ này phụ thuộc vào tính hấp dẫn của chính sách BHXH; các chế tài đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị trốn tham gia BHXH; việc thực hiện chính sách BHXH của các tổ chức BHXH;

b Những nhân tố tác động đến chi quỹ bảo hiểm xã hội

4 Bộ lao động - thương binh và xã hội (2007), “Một số nhân tố tác động đến công tác thu bảo hiểm xã hội “ , tại địa chỉ: http://www.molisa.gov.vn/vi/pages/chitiettin.aspx?IDNews=16275 ngày truy cập 08/06/2017

Trang 22

Thứ nhất, tổng mức chi các chế độ BHXH cho người được hưởng Mức

chi các chế độ BHXH cho người thụ hưởng được xây dựng theo nguyên tắc:

“Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và

có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.” (Khoản 1 Điều 5 Luật BHXH

2014) Như vậy, thông thường người lao động đóng góp càng nhiều vào quỹ BHXH thì sẽ được hưởng mức cao do nguồn quỹ chi trả Mức hưởng các chế

độ còn phụ thuộc vào tình trạng suy giảm sức khoẻ và tuổi đời của người tham gia bảo hiểm Mức trợ cấp thường thấp hơn thu nhập khi còn đang làm việc Thông thường mức hưởng các chế độ BHXH của người lao động được xác định trên cơ sở thu nhập bình quân trước thời điểm người lao động được hưởng các chế độ BHXH nhân với tỷ lệ phần trăm (%) Tuy nhiên cũng có một số chế độ được quy định mức hưởng tuyệt đối chung cho mọi người có

đủ điều kiện được hưởng

Có thể thấy rằng, Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế

độ BHXH Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất Do đó, tổng mức chi các chế độ BHXH cho người được hưởng là nhân tố quyết định, chiếm đại bộ phận trong tổng số chi của quỹ BHXH

Thứ hai, chi cho hoạt động của bộ máy quản lý và chi phí cho hoạt

động đầu tư quỹ BHXH Chi quản lí có thể hiểu đơn giản là khoản chi cho bộ máy tức là trả lương cho cán bộ, chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, chi mua sắm thiết bị và những tài sản cố định nhằm duy trì hoạt động của tổ chức BHXH Mức chi này có thể được quy định trong điều lệ BHXH hoặc cũng có thể được lập trong NSNN Nguồn chi này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn chi từ quỹ Tuy nhiên nếu tiết kiệm đến mức tối đa nguồn chi này thì cũng có nghĩa

là sẽ làm tăng nguồn để chi BHXH

c Các yếu tố khác

Trang 23

Ngoài yếu tố ảnh hưởng đến thu và chi của Quỹ BHXH, còn có những yếu tố tác động trực tiếp đến công tác quản lý cân đối Quỹ BHXH và nó có tác động gián tiếp đến cân đối Quỹ BHXH như: công tác tổ chức quản lý Quỹ BHXH, năng lực và trình độ của cán bộ BHXH hệ thống thông tin quản lý, cơ

sở vật chất kỹ thuật quản lý, Những yếu tố này nếu được tổ chức quản lý và thực hiện tốt sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý thu và chi BHXH; đặc biệt là việc cải cách hành chính trong công tác thu và chi quỹ BHXH, từ đó tiết kiệm được các khoản chi không cần thiết từ quỹ BHXH, đóng góp tích cực vào trạng thái cân đối Quỹ BHXH

1.2 Pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội

Pháp luật về quỹ BHXH quy định những vấn đề quan trọng, cơ bản nhất về quỹ BHXH như nguồn hình thành quỹ, chi trả trợ cấp của quỹ của tổ chức, quản lý quỹ BHXH Trong đó, quy định về thu, chi quỹ BHXH là quan trọng nhất Việc tổ chức, quản lý quỹ với quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng là nội dung quan trọng không thể thiếu khi điều chỉnh pháp luật về quỹ BHXH

1.2.1 Nguyên tắc hình thành và quản lý quỹ

Việc quy định nguồn lực vật chất hình thành cũng như tổ chức quản lý quỹ BHXH phải được thực hiện dựa trên những yêu cầu, nguyên tắc nhất định Để thực hiện tốt việc quản lý quỹ cũng như nhằm đạt được mục đích của việc sử dụng quỹ BHXH thì quá trình quản lý và điều hành hoạt động quản lý quỹ BHXH cần quán triệt những nguyên tắc cơ bản sau đây:

Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định

và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.5

5 Khoản 4 Điều 5 Luật BHXH năm 2014

Trang 24

BHXH là chính sách lớn, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý Để đảm bảo thực hiện tổng hòa các nội dung nêu trên và đạt được mục tiêu mà BHXH đặt ra thì việc thực hiện BHXH trước hết là trách nhiệm của Nhà nước Nhà nước là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp BHXH thông qua việc ban hành các quy định pháp luật về BHXH và kiểm tra thực hiện các quy định đó Mặt khác, quỹ BHXH với ý nghĩa là một quỹ tích lũy hình thành trên cơ sở đóng góp của ba bên (Nhà nước – người sử dụng lao động – người lao động), nhằm giúp đỡ về mặt vật chất cho người lao động khi họ gặp rủi ro, khó khăn không chỉ khi đang tham gia quan hệ lao động Do đó bên cạnh nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho các chủ thể tham gia quan hệ lao động thuộc khu vực nhà nước (gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội…) thì Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ quỹ BHXH và trong trường hợp cần thiết Nhà nước có các biện pháp để bảo toàn giá trị và sự an toàn về tài chính cho quỹ BHXH

Để hạn chế thất thoát và nâng cao tính hiệu quả trong quản lý quỹ BHXH thì cần phải thực hiện tốt nguyên tắc này Trong quản lý nhà nước về tài chính BHXH cần quy định và hướng dẫn cụ thể về các hạng mục thu, chi; quy chế quản lý đầu tư quỹ BHXH cũng cần phải rõ ràng, minh bạch ; đồng thời phải có cơ chế kiểm tra, giám sát, chế độ báo cáo, kiểm toán… Bên cạnh

đó, BHXH là cơ quan quản lý quỹ cần có chiến lược về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng để hình thành được một đội ngũ cán bộ có đầy đủ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng về quản lý tài chính nhằm đáp ứng tốt nhiệm vụ được giao

Việc áp dụng nguyên tắc trên nhằm tránh sự chồng chéo trong hệ thống BHXH, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng tham gia BHXH, theo đó đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội

Trang 25

Việc hình thành, sử dụng quỹ BHXH phải tuân thủ thực hiện nguyên tắc đóng –hưởng

Xuất phát từ tính chất xã hội của quỹ BHXH, đó là sự “chia sẻ rủi ro”,

“lấy số đông bù số ít”, theo đó tất cả những người tham gia BHXH đều cùng đóng góp một phần tiền lương của mình từ đó mới hình thành nên quỹ để chi trả cho những cá nhân gặp phải những sự kiện rủi ro Rõ ràng, nếu không áp dụng nguyên tắc có đóng có hưởng thì quỹ BHXH chắc chắn phải sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước, còn nếu chỉ thu từ phía NSDLĐ thì sẽ không tạo được nguồn vật chất đủ lớn để chi trả BHXH và kéo theo đó thì ý nghĩa chia sẻ rủi ro, tương trợ cộng đồng cũng không được thực hiện Tuy nhiên, việc NLĐ đóng góp vào quỹ BHXH không có nghĩa sẽ hưởng mọi chế độ BHXH, số tiền họ đóng vào trong trường hợp họ không phải sử dụng đến thì

sẽ sử dụng vào việc chi trả cho các đối tượng ít may mắn, gặp phải nhiều rủi

ro trong cuộc sống hơn, qua đó mới thể hiện được sự tương trợ cộng đồng của BHXH Từ nguyên tắc này, pháp luật BHXH quy định việc xác định mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH Tuy nhiên, nguyên tắc này dường như có một ngoại lệ đối với chế độ bảo hiểm hưu trí Về nguyên lý, tiền lương hưu là “tiền lương trả muộn” nên việc chia sẻ giữa những người hưởng lương hưu cần được nhìn nhận ở góc cạnh khác Ví dụ, chia sẻ ở việc người nghỉ hưu trước sẽ được hưởng phí bảo hiểm của người đang còn trẻ, đang làm việc,

cứ thế có một sự tiếp nối cùng tích lũy và chia sẻ giữa người lao động thuộc thế hệ trước với người lao động thế hệ sau

Cơ chế thu, chi của quỹ phải luôn đảm bảo cân đối, bảo toàn và phát triển quỹ để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH Đây là nguyên tắc rất quan trọng, đòi hỏi trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện nào của nền kinh tế -

xã hội thì Quỹ BHXH cũng phải đảm bảo nguồn lực tài chính để có thể chi trả kịp thời, đầy đủ các chế độ BHXH cho người được thụ hưởng, nếu không sẽ

Trang 26

không thể bảo đảm khắc phục được rủi ro về xã hội của đối tượng tham gia BHXH Việc quản lý phải được xem xét, cân nhắc sao cho đảm bảo sự cân đối thu chi, nếu các khoản đóng góp vào quỹ BHXH không đủ bù đắp cho các khoản chi BHXH thì phải xem xét nâng mức đóng góp hoặc hạ mức chi trợ cấp BHXH để đảm bảo có sự cân đối giữa thu và chi Do đó, tổ chức quản lý điều hành quỹ BHXH phải được tổ chức độc lập thống nhất trong phạm vi cả nước trên cơ sở pháp luật của Nhà nước và chịu sự kiểm tra, giám sát, quản lý của Nhà nước về chấp hành pháp luật BHXH đối với các bên tham gia BHXH cũng như các đối tượng khác có liên quan

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, cơ quan quản lý phải tổ chức tốt công tác kế toán, kiểm tra một cách chặt chẽ nhằm phát hiện sớm nguy cơ mất mát, thiếu cân đối để sớm đưa ra những phương án giải quyết, khắc phục kịp thời Quỹ BHXH phải được tính toán cân đối hàng năm, trung hạn và dài hạn Chính sách, chế độ tạo lập và sử dụng quỹ phải kịp thời điều chỉnh theo các yếu tố và trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội đất nước

1.2.2 Quy định về tổ chức quỹ bảo hiểm xã hội

1.2.2.1 Quy định về nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội

Theo quy định của pháp luật, quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người

sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước Theo quy định tại Điều 82 Luật BHXH 2014 các nguồn hình thành quỹ BHXH gồm:

“1 Người sử dụng lao động đóng theo quy định tại Điều 86 của Luật này

2 Người lao động đóng theo quy định tại Điều 85 và Điều 87 của Luật này

3 Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ

4 Hỗ trợ của Nhà nước

5 Các nguồn thu hợp pháp khác.”

Trang 27

Cụ thể như sau:

- Thứ nhất, Quỹ BHXH do người lao động đóng góp

Đây là nguồn tài chính quan trọng để hình thành quỹ BHXH, hầu như các nước trên thế giới đều quy định mọi người lao động khi tham gia BHXH đều phải có trách nhiệm đóng góp một phần thu nhập của mình vào quỹ BHXH, đây chính là sự “tiết kiệm bắt buộc” của mọi người lao động khi họ còn có khả năng lao động, còn có thu nhập để bù đắp cho chính mình khi gặp phải rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm tạm thời hoặc chết6 Có thể nói rằng, người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH nhằm một phần gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, bên cạnh đó còn có

ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ

* Đối với người lao động tham gia BHXH bắt buộc: Mức đóng và

phương thức đóng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Quyết định số BHXH, quyết định ban hành quy trình thu BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quản lý sổ BHXH, thẻ bảo hiểm y tế, cụ thể như sau:

595/QĐ-“1 Mức đóng và trách nhiệm đóng của người lao động

1.1 Người lao động quy định tại Điểm 1.1, 1.2, 1.3, 1.4, 1.5, và Tiết b Điểm 1.7 Khoản 1 Điều 4, hằng tháng đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất

1.2 Người lao động quy định tại Điểm 1.6 Khoản 1 Điều 4, hằng tháng đóng bằng 8% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất

1.3 Người lao động quy định tại Tiết a, c và Tiết d Điểm 1.7 Khoản 1 Điều 4: Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng BHXH của người lao động trước khi đi làm việc ở nước

6 Lê Minh Châu (2005), Giải pháp đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm xã hội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học

kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr.7

Trang 28

ngoài, đối với người lao động đã có quá trình tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương cơ sở đối với người lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng đã hưởng BHXH một lần

1.4 Người lao động quy định tại Điểm 1.8 Khoản 1, Khoản 2 Điều 4: Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng BHXH của người lao động trước đó đối với người lao động đã có quá trình tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương cơ sở đối với người lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng đã hưởng BHXH một lần

1.5 Người lao động quy định tại Khoản 2 Điều 4, thực hiện theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của BHXH Việt Nam

1.6 Người lao động quy định tại Khoản 1 Điều 4 và người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH bắt buộc còn thiếu tối đa 06 tháng để đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc trợ cấp tuất hằng tháng: mức đóng bằng 22% mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc của người lao động trước khi nghỉ việc hoặc chết vào quỹ hưu trí và tử tuất.”

* Đối với người lao động tham gia BHXH tự nguyện:

Cũng theo quyết định 595/QĐ-BHXH, phương thức tham gia BHXH tự nguyện được quy định một cách linh hoạt hơn Người tham gia BHXH tự nguyện được chọn một trong các phương thức để đóng góp vào quỹ hưu trí và

Trang 29

(v) Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm một lần; (vi) Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng cho

đủ 20 năm để hưởng lương hưu Việc đóng sẽ được thực hiện một lần cho những năm còn thiếu đối với điều kiện người tham gia BHXH đã đủ tiêu chuẩn về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định Nếu người tham gia BHXH

đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định mà thời gian đã đóng BHXH còn thiếu trên

10 năm, thì được tiếp tục đóng BHXH tự nguyện theo một trong các phương thức quy định trên cho đến khi thời gian đóng còn thiếu không quá 10 năm Lúc đó, người tham gia BHXH tự nguyện được đóng một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu

Cùng với các phương thức đóng như trên, người lao động đóng BHXH

tự nguyện dựa trên mức đóng như sau: Điều 10 của Quyết định BHXH quy định chi tiết mức đóng của người lao động tham gia BHXH tự nguyện, theo đó :

595/QĐ Mức đóng hằng tháng của người tham gia BHXH tự nguyện được dựa tính trên công thức do nhà nước quy định Mức thu nhập tháng người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn, cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở

- Đối với phương thức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần được xác định bằng mức đóng hằng tháng nhân với 3 đối với phương thức đóng 03 tháng; nhân với 6 đối với phương thức đóng 06 tháng; nhân với 12 đối với phương thức đóng 12 tháng một lần

- Đối với phương thức đóng một lần cho nhiều năm về sau thì mức đóng được tính bằng tổng mức đóng của các tháng đóng trước, chiết khấu theo lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng do BHXH Việt Nam công bố

Trang 30

của năm trước liền kề với năm đóng được xác định theo công thức do nhà

nước quy định

- Đối với phương thức đóng một lần cho những năm còn thiếu thì mức đóng được tính bằng tổng mức đóng của các tháng còn thiếu, áp dụng lãi gộp bằng lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng do BHXH Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng được xác định theo công thức do nhà

nước quy định

Có thể thấy rằng, điểm khác biệt cơ bản của quy định BHXH tự nguyện với BHXH bắt buộc là cơ chế tham gia chỉ có duy nhất người lao động đóng BHXH và người lao động chỉ tham gia hai chế độ hưu trí và tử tuất tương ứng với mức đóng 22% tiền lương tính đóng BHXH

Cũng tại Điều 12 của Quyết định 595/QĐ-BHXH có quy định người tham gia BHXH tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỉ lệ phần trăm (%) trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn Đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo hỗ trợ 30% tiền đóng BHXH, đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ cận nghèo 25% và đối với các đối tượng khác hỗ trợ 10%

Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ sẽ xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện cho phù hợp Thời gian hỗ trợ sẽ là10 năm tham gia BHXH tự nguyện cho mỗi người Quy định hỗ trợ này được áp dụng từ 1/1/2018

Mức đóng hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn Mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng

Trang 31

Thứ hai, Quỹ BHXH do người sử dụng lao động đóng góp

Các nước trên thế giới đều có quy định mọi người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng góp hình thành quỹ BHXH, để bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ khi người lao động được hưởng quyền lợi

về BHXH do pháp luật quy định

Việc người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động nhằm tránh những thiệt hại lớn khi có những sự cố xảy ra như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động hay khi có rủi ro xảy ra với người lao động; bên cạnh đó còn giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động

Đối với người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc, mức đóng

và phương thức đóng được quy định tại Khoản 2 Điều 5 Quyết định số 595/QĐ-BHXH, quyết định ban hành quy trình thu BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghị; quản lý sổ BHXH, thẻ bảo hiểm y tế, cụ thể như sau:

“2 Mức đóng và trách nhiệm đóng của đơn vị

2.1 Đơn vị hằng tháng đóng trên quỹ tiền lương đóng BHXH của người lao động quy định tại các Điểm 1.1, 1.2, 1.3, 1.4, 1.5 và Tiết b Điểm 1.7 Khoản 1 Điều 4 như sau:

a) 3% vào quỹ ốm đau và thai sản;

b) 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất

2.2 Đơn vị hằng tháng đóng 14% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và

tử tuất cho người lao động quy định tại điểm 1.6 Khoản 1 Điều 4.”

Trang 32

Quyết định 595/QĐ-BHXH có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2017 và thay thế Quyết định số 959/QĐ-BHXH, theo đó điểm thay đổi lớn nhất của Quyết định 595/QĐ-BHXH so với Quyết định số 959/QĐ-BHXH là:

Về mức đóng BHXH, phía doanh nghiệp chỉ còn đóng 17% vào quỹ BHXH (3% vào quỹ ốm đau và thai sản, 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất)

Ngoài 17% nêu trên, doanh nghiệp còn phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mức đóng được quy định tại Điều 3 Nghị định số 44/2017/NĐ-CP quy định mức đóng BHXH bắt buộc vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cụ thể như sau:

“Điều 3 Mức đóng và phương thức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1 Người sử dụng lao động hằng tháng đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật an toàn,

vệ sinh lao động với mức như sau:

a) 0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 Luật BHXH, trừ trường hợp lao động là người giúp việc gia đình

b) 0,5% trên mức lương cơ sở đối với người lao động được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 Luật BHXH

…”

So với quy định tại Điều 4 của Nghị định 37/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc thì mức đóng này đã giảm 0.5 % (mức đóng trước đó là 1%) Với quy định như vậy phần nào sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí để thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 33

- Thứ ba, Quỹ BHXH hình thành từ nguồn lãi từ hoạt động đầu tư tăng

trưởng quỹ BHXH

Quỹ BHXH tạm thời nhàn rỗi sẽ tham gia hoạt động đầu tư Đây là một nguồn vốn trong nước rất quan trọng để tham gia đầu tư, một mặt góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước; mặt khác để bảo toàn quỹ (tránh sự trượt giá) và tăng trưởng quỹ góp phần làm cho nguồn lực của quỹ ngày càng lớn, đảm bảo mọi nhu cầu chi BHXH cho người được hưởng chế độ BHXH

Sự quay vòng bảo toàn và tăng trưởng Quỹ BHXH là một đặc trưng cơ bản của hoạt động BHXH trong nền kinh tế thị trường Hoạt động đầu tư quay vòng vốn để bảo toàn và tăng trưởng giá trị Quỹ BHXH là một yêu cầu nhất thiết khách quan, đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển và phát huy tác dụng của chính sách BHXH trong việc bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển bền vững

Có thể thấy, hoạt động đầu tư trước hết giúp mang lại lợi ích cho chính Quỹ BHXH Thông qua hoạt động đầu tư Quỹ BHXH vào các lĩnh vực có khả năng sinh lời của nền kinh tế, nguồn tài chính nhàn rỗi từ Quỹ BHXH có thể tạo ra một nguồn tài chính tương đối lớn bổ sung vào quỹ, từ đó tăng quy mô

và sức mạnh cho Quỹ BHXH Mặt khác, quy mô số người tham gia BHXH ngày càng tăng cũng tạo nên sự tăng trưởng cho quỹ, đảm bảo khả năng chi trả thường xuyên cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH Tuy nhiên, để bảo toàn và giữ tăng trưởng an toàn, việc đầu tư tiền của quỹ BHXH chủ yếu được thực hiện qua các dự án “an toàn” và có lãi Ở nước ta, quỹ thường đầu tư mua trái phiếu Chính phủ, đầu tư cho vay các quỹ tài chính công hoặc cho vay các ngân hàng quốc doanh…

- Thứ tư, Quỹ BHXH được hình thành do sự hỗ trợ của Nhà nước

Nhà nước với tư cách là chủ sử dụng lao động lớn nhất, là người nhận trách nhiệm về tổ chức, đảm bảo toàn bộ đời sống xã hội của một đất nước

Trang 34

Chính vì vậy, Quỹ BHXH được nhà nước bảo hộ và đóng góp khi quỹ bị thâm hụt không đủ khả năng để chi trả cho các chế độ xã hội Nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động xã hội diễn ra được đều đặn, ổn định Nguồn thu

từ sự hỗ trợ Ngân sách Nhà nước đôi khi là khá lớn, sự hỗ trợ này là rất cần thiết và quan trọng

Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định

xã hội Do mối quan hệ giữa chủ - thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hòa mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật Không chỉ như vậy, nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định, góp phần đảm bảo cuộc sống cho người lao động

và gia đình họ Tuy nhiên, việc hỗ trợ không phải là thường xuyên mà chỉ trong những trường hợp cần thiết khi tình hình tài chính của quỹ BHXH gặp khó khăn

- Thứ năm, các nguồn thu hợp pháp khác

Các nguồn tài chính khác hình thành quỹ BHXH bao gồm: tài trợ, viện trợ, tiền thu nợ Từ sự tìm hiểu các nguồn hình thành quỹ BHXH, nếu xét trên góc độ phân phối các nguồn lực tài chính của toàn bộ nền kinh tế thì thấy rằng quỹ BHXH được hình thành từ kết quả của cả hai quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân Đây là một đặc điểm đặc thù của quỹ BHXH so với những quỹ tiền tệ khác trong hệ thống tài chính quốc gia

1.2.2.2 Quy định về chi quỹ bảo hiểm xã hội

Chi BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH để chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH,chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH, đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH nhằm ổn định cuộc sống của người tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH Đó là quá trình

Trang 35

phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào quỹ BHXH Quá trình phân phối được thực hiện theo từng mục đích sử dụng nhất định

Chi BHXH được thực hiện bởi hai quá trình:

- Phân phối quỹ BHXH: đây là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH để hình thành các quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và thai sản, quỹ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, quỹ hưu trí và tử tuất hoặc phân bổ cho các mục đích sử dụng khác nhau như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ chi trả các chế độ BHXH…

- Sử dụng quỹ BHXH: là quá trình chi tiền của quỹ BHXH đến tay đối tượng được thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể

Phân phối và sử dụng quỹ BHXH là hai phạm trù khác nhau, nhưng trong thực tế, hai quá trình này thường đan xen lẫn nhau Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, từ mục đích sử dụng quỹ đòi hỏi phải tách riêng hai quá trình này theo thứ tự trước sau

Như đã phân tích ở trên, quỹ BHXH được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH và chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH, đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH Cụ thể như sau:

- Hoạt động chi trả các chế độ BHXH:

Nguồn tài chính này chiếm đại bộ phận trong việc sử dụng quỹ BHXH Các chế độ BHXH được áp dụng đối với người lao động nhiều hay ít, mức độ hưởng thụ của từng loại chế độ cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách BHXH

do mỗi nhà nước quy định bằng pháp luật Tại Khoản 1 Điều 84 Luật BHXH

2014 quy định sử dụng quỹ BHXH: “Trả các chế độ BHXH cho người lao

động theo quy định tại Chương III và Chương IV của Luật này”

Theo quy định nêu trên, quỹ BHXH sẽ được sử dụng để chi trả cho các chế độ sau:

+ Đối với BHXH bắt buộc, bao gồm: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất

Trang 36

+ Đối với BHXH tự nguyện, quỹ BHXH được sử dụng để chi trả cho chế độ hưu trí và chế độ tử tuất

- Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng, trợ cấp mất sức lao động7

hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động bị mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành

- Chi trả cho hoạt động quản lý BHXH:

Điều 90 Luật BHXH 2014 quy định về Chi phí quản lý BHXH, theo đó chi phí quản lý BHXH được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

+ Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH; tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về BHXH;

+ Cải cách thủ tục BHXH, hiện đại hóa hệ thống quản lý; phát triển, quản lý người tham gia, người thụ hưởng BHXH;

+ Tổ chức thu, chi trả BHXH và hoạt động bộ máy của cơ quan BHXH các cấp

Nguồn kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ trên hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ

- Chi cho hoạt động đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ:

Theo quy định của Nghị định 30/2016/NĐ-CP, cụ thể tại Điều 4 thì hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện thông qua 5 hình thức theo thứ tự ưu tiên: mua trái phiếu Chính phủ; cho ngân sách nhà nước vay; sau đó mới đến gửi tiền, mua trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hình thức ưu tiên thứ

7 Các đối tượng hưởng trợ cấp mất sức lao động theo quy định tại Quyết định số 60/HĐBT ngày 01 tháng 3 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Quyết định số 812/TTg ngày 12 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 37

4 của nguồn tiền này là cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội vay theo hình thức mua trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

do các ngân hàng này phát hành Cuối cùng là đầu tư vào các dự án quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việc đầu tư vào hình thức 4

và hình thức 5 chỉ áp dụng đối với quỹ BHTN và không được vượt quá 20%

số dư quỹ BHTN của năm trước liền kề

Ngoài ra, Nghị định còn quy định mức tiền gửi tại các ngân hàng thương mại, quy định tiền sinh lời thu được hằng năm của hoạt động đầu tư theo quy định tại Nghị định này và số tiền lãi phát sinh trên tài khoản tiền gửi theo quy định của pháp luật được sử dụng để trích lập quỹ dự phòng rủi ro và phân bổ vào các quỹ

Trong đó, mức trích quỹ dự phòng rủi ro hằng năm tối đa không quá 2% số tiền sinh lời của hoạt động đầu tư cho đến khi số dư quỹ dự phòng rủi

ro bằng 5% số dư nợ đầu tư vào hình thức 3 và hình thức 5 của năm trước liền

kề Mức trích cụ thể hằng năm do Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quyết định Quỹ dự phòng rủi ro trong thời gian chưa sử dụng, được sử dụng đầu tư vào các hình thức 1 và hình thức 2

Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam quyết định và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các hình thức đầu tư và cơ cấu đầu tư của quỹ BHXH và hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH phải được thực hiện trên nguyên tắc bảo đảm minh bạch, an toàn, hiệu quả và thu hồi được vốn đầu tư

1.2.3 Quy định về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ và công khai theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ Việc quản lý quỹ BHXH gồm hai mặt: quản lý Nhà nước về BHXH và quản lý sự nghiệp BHXH Hai mặt quản lý này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng lại có tính chất khác nhau và do các cơ quan khác nhau đảm nhận

Trang 38

Về quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH: đây là quá trình nhà

nước sử dụng trong phạm vi quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh vào các quan hệ nảy sinh trong hoạt động BHXH nhằm đảm bảo cho hoạt động BHXH diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của BHXH

Việc quản lý Nhà nước về BHXH do Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội, cơ quan của Chính phủ đảm nhận và có những nhiệm vụ, quyền hạn sau : xây dựng và trình ban hành pháp luật về BHXH; ban hành các văn bản pháp quy về BHXH thuộc thẩm quyền; Tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về BHXH; Tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách về BHXH đến việc tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH Vụ BHXH là vụ chức năng giúp Bộ Lao động – thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về BHXH

Về quản lý sự nghiệp BHXH: BHXH Việt Nam là một tổ chức có tư

cách pháp nhân, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ BHXH Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan, sự giám sát của tổ chức công đoàn Việc quản lý sự nghiệp BHXH do BHXH Việt Nam, đơn vị sự nghiệp thuộc Chính phủ, quản lý và thực hiện các chế độ BHXH; thực hiện các chế độ, chính sách về BHXH

Ở Việt Nam, cơ quan quản lý cao nhất của BHXH là Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam Hội đồng quản lý BHXH được tổ chức ở cấp quốc gia có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát hoạt động của cơ quan BHXH và tư vấn chính sách BHXH, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp

Hội đồng quản lý BHXH gồm đại diện Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, tổ chức đại diện người sử dụng lao động, cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, BHXH Việt Nam và tổ chức khác có liên quan Có nhiệm vu: chỉ đạo và giám sát, kiểm tra việc thu

Trang 39

chi, quản lý quỹ; quyết định các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH; thẩm tra quyết toán và thông qua dự toán hằng năm; kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan bổ sung, sửa đổi các chính sách, chế độ BHXH; giải quyết các khiếu nại của người tham gia BHXH; đề xuất việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên Ban lãnh đạo BHXH Việt Nam

1.3 Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam nhằm bảo đảm an toàn quỹ bảo hiểm xã hội

1.3.1 Mô hình bảo hiểm xã hội tiêu biểu của một số quốc gia trên thế giới

Qua nghiên cứu tổ chức hoạt động BHXH của các nước cho thấy, không có mô hình tổ chức BHXH chung cho tất cả các nước Trên cơ sở các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về BHXH, tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội và thể chế chính trị, các nước đề ra mô hình tổ chức BHXH phù hợp với đất nước mình Nhưng phần lớn các nước đều đặc biệt quan tâm đến chế độ hưu trí (trợ cấp tuổi già), vì thế chế độ này thường do tổ chức của nhà nước thực hiện Quỹ trợ cấp hưu trí cũng được nhiều quốc gia chú trọng, không chỉ bởi nó là một quỹ thành phần chiếm tỷ trọng rất lớn trong toàn bộ quỹ BHXH của quốc gia, mà nó là nguồn lực tài chính quan trọng để đảm bảo chi trả lương hưu cho người được bảo hiểm trong khoảng thời gian dài

Sau khi nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách BHXH, đi sâu vào lĩnh vực quỹ BHXH của các nước như: Canada, Pháp, Phần Lan, Thuỷ Điển, Đức, Đan Mạch, Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia, Nhật, Ấn Độ đưa ra một số nhận xét sau:

Một là: để có nguồn lực tài chính chi trả các chế độ BHXH cho người

được bảo hiểm, hầu hết các nước đều quy định, mọi người lao động và chủ sử dụng lao động phải đóng góp vào quỹ BHXH Nhà nước với tư cách là người

tổ chức, quản lý xã hội, đồng thời là chủ sử dụng lao động của mọi người lao

Trang 40

động có trách nhiệm đóng góp hoặc hỗ trợ trong trường hợp quỹ BHXH mất cân đối (thu < chi)

Hai là: để được hưởng các chế độ BHXH, người được bảo hiểm phải

đạt được một số điều kiện nhất định như: có thời gian đóng góp vào quỹ BHXH, mức độ suy giảm sức khoẻ, tuổi đời Mức trợ cấp BHXH thường thấp hơn mức thu nhập khi còn đang làm việc (trừ mức trợ cấp cho chế độ thai sản)

Ba là: về cân đối quỹ BHXH có hai loại hình chủ yếu sau đây:

(i) Quỹ BHXH được cân đối thu - chi trong từng năm; có nghĩa là mọi nguồn thu để hình thành quỹ BHXH dùng để chi cho người được hưởng các chế độ BHXH ngay trong năm đó, quỹ BHXH không có kết dư Trường hợp thu BHXH của chủ sử dụng lao động và người lao động không đủ chi thì NSNN sẽ cấp bù

(ii) BHXH được cân đối dài hạn trong nhiều năm Trong loại hình này các quốc gia đặc biệt quan tâm đến quỹ trợ cấp hưu trí 8

Nói về BHXH, có thể nêu một số mô hình BHXH điển hình sau:

1.3.1.1 Mô hình bảo hiểm xã hội của Cộng hoà Liên bang Đức

So với các nước trên thế giới, Cộng hoà Liên bang Đức là nước có lịch

sử phát triển được coi như sớm nhất, là quốc gia đầu tiên áp dụng thành công

mô hình BHXH với tính cách là hình thức dự phòng an sinh xã hội Điều luật BHXH đầu tiên đã ra đời và thực hiện từ những năm 1850 Hiện nay, hệ thống BHXH của Đức bao gồm năm lĩnh vực, được gọi là “Năm trụ cột của BHXH” Đơn vị chủ quản của BHXH không phải là cơ quan nhà nước, mà là

tổ chức công cộng Năm trụ cột của BHXH là:

- Bảo hiểm thất nghiệp

- Bảo hiểm y tế theo luật định

- Bảo hiểm chăm sóc điều dưỡng theo luật định

8

Ngày đăng: 03/11/2018, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Giang Thanh Long (2004), Hệ thống hưu trí Việt Nam: Hiện trạng và những thách thức trong điều kiện dân số già hóa, Diễn đàn Phát triển Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hưu trí Việt Nam: Hiện trạng và những thách thức trong điều kiện dân số già hóa
Tác giả: Giang Thanh Long
Năm: 2004
15. Lê Minh Châu (2005), Giải pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH
Tác giả: Lê Minh Châu
Năm: 2005
16. Phạm Thành Công (2014), Pháp luật về quỹ BHXH và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quỹ BHXH và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Phạm Thành Công
Năm: 2014
17. Lương Lê Hoàng (2012), Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thu BHXH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học bách khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thu BHXH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Lương Lê Hoàng
Năm: 2012
18. Nguyễn Vương Hoàng (2012), BHXH hưu trí – thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BHXH hưu trí – thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Vương Hoàng
Năm: 2012
19. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ (2006), Chủ đề “Luật BHXH”, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 9, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật BHXH
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ
Năm: 2006
20. Lê Thị Ngọc Linh (2008), Cải cách chế độ bảo hiểm hưu trí trên thế giới và một số bải học kinh nghiệm cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách chế độ bảo hiểm hưu trí trên thế giới và một số bải học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Ngọc Linh
Năm: 2008
21. Nguyễn Thị Lê Thu (2015), “An toàn quỹ BHXH Việt Nam”, Tài chính Việt Nam 2014 -2015, NXB tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn quỹ BHXH Việt Nam”, "Tài chính Việt Nam 2014 -2015
Tác giả: Nguyễn Thị Lê Thu
Nhà XB: NXB tài chính
Năm: 2015
22. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình luật an sinh xã hội, Nxb. CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật an sinh xã hội
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. CAND
Năm: 2005
23. Nguyễn Thị Ngọc Yến (2006), Các quy định về quỹ BHXH theo pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định về quỹ BHXH theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Yến
Năm: 2006
1. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 2. Luật BHXH năm 20063. Luật BHXH năm 2014 Khác
4. Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc Khác
5. Nghị định 30/2016/NĐ-CP quy định chi tiết hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp Khác
6. Nghị định 33/2016/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng hương như đối với quân nhân Khác
7. Nghị định 37/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc Khác
8. Nghị định số 166/2016/NĐ-CP, quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp Khác
9. Nghị định số 72/2017/NĐ-CP quy định về nội dung chi hoạt động của Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam Khác
10. Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc Khác
11. Thông tư liên tịch số 105/2016/TTLT-BQP-BCA-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật BHXH Khác
12. Quyết định 959/QĐ-BHXH năm 2015 Quy định về quản lý thu BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; quản lý sổ BHXH, thẻ bảo hiểm y tế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w