Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tàiTrước yêu cầu về việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng trong điều kiện giao lưu dân sự, kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH TRANG
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH TRANG
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến PGS TS Dương Đăng Huệ đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học,
và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ
trợ từ Giáo viên hướng dẫn là PGS TS Dương Đăng Huệ Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ
cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các
nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài
còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ
quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát
hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội
đồng cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Trang
MỤC LỤC
Trang 51.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6
4 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn 7
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 8
1.1 Khái niệm và vai trò của quyền tự do hợp đồng đối với hoạt động của
1.1.1 Khái niệm và nội dung quyền tự do hợp đồng 10
1.1.2 Vai trò của quyền tự do hợp đồng đối với hoạt động của doanh nghiệp 19
1.2 Quan hệ giữa quyền tự do hợp đồng và quyền tự do kinh doanh 22
1.3 Vai trò chủ đạo của pháp luật dân sự trong việc bảo đảm quyền tự do
1.3.1 Khái niệm bảo đảm quyền tự do hợp đồng 23
CHƯƠNG 2: BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 – CƠ SỞ PHÁP LÝ MỚI CHO VIỆC THỰC THI QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 Bộ luật Dân sự năm 2015 – văn bản pháp luật quy định toàn diện các
2.2 Bộ luật Dân sự 2015 giải quyết chính thức mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành, qua đó bảo đảm tốt hơn quyền tự do hợp
2.3 Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận nhiều quy định mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng 38
Trang 62.4 Bộ luật Dân sự năm 2015 mở rộng quyền tự quyết định nội dung hợp
2.4.4 Tự do quyết định việc thay đổi, hủy bỏ hợp đồng khi hoàn cảnh thay
3.4 Tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các quy định còn chưa hợp lý trong Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến việc bảo đảm thực hiện quyền
3.3 Tuyên truyền trong giới doanh nhân nội dung cơ bản của các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến chế định hợp đồng 70
Trang 71 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trước yêu cầu về việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng trong điều kiện giao lưu dân sự, kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ: “Hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế” Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng
chỉ rõ: “Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh; hoàn thiện chế định hợp đồng, bồi thường, bồi hoàn…”.
Thực hiện chủ trương nêu trên của Đảng, Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện pháp luật, trong đó có pháp luật về hợp đồng Ngày 24 tháng 11 năm 2015, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS2015) thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005 BLDS 2015 ra đời với nhiều đổi mới về nhận thức, tư duy pháp lý trong việc hoàn thiện cơ chế điều chỉnh quan hệ dân sự, xây dựng nền tảng pháp lý thống nhất, đồng bộ, ổn định cho hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, thực hiện, bảo vệ quyền dân sự về nhân thân, tài sản của cá nhân, pháp nhân, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phục vụ hội nhập quốc tế Bộ luật này đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về chế định hợp đồng và cùng với nhiều quy định mới khác, các quy định này đã giúp BLDS 2015 trở thành luật gốc của hệ
Trang 8thống pháp luật tư (pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản được thiết lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ)
Doanh nghiệp là nhân vật chủ yếu của nền kinh tế thị trường nên có thể khẳng định rằng, không một ai trong xã hội quan tâm đến BLDS, đặc biệt là phần quy định về hợp đồng như các doanh nghiệp Thông qua việc thiết lập và thực hiện các hợp đồng, các chủ thể kinh doanh có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao Về mặt lý luận, quyền tự do hợp đồng được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng, là biểu hiện sinh động nhất của quyền tự do kinh doanh Việc ghi nhận quyền tự do hợp đồng có tác động lớn tới quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh
Có thể nói, không có tự do hợp đồng thì sẽ không có tự do kinh doanh Mặt khác tự do kinh doanh nói chung và tự do hợp đồng nói riêng cũng chỉ là khẩu hiệu, lời nói suông nếu như sau tuyên bố đó Nhà nước không thông qua
cả hệ thống pháp luật của mình để ghi nhận các cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các quyền tự do đó được thực thi trong thực tiễn Vì vậy, việc nghiên cứu các cơ chế bảo đảm quyền tự do hợp đồng cũng chính là một giải pháp góp phần bảo đảm quyền tự do kinh doanh – một quyền kinh tế cơ bản nhất mà Hiến pháp 2013 đã ghi nhận
Trên quan điểm như vậy, tôi cho rằng, việc nghiên cứu để phát hiện và vận dụng các quy định trong BLDS 2015 có liên quan đến việc bảo đảm quyền
tự do hợp đồng là rất cần thiết và bổ ích trong giai đoạn hiện nay và đó là lý do
để tôi chọn vấn đề: “Bảo đảm quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp trong
Trang 9Bộ luật Dân sự năm 2015” làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Luật Kinh tế
1 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hợp đồng nói chung và quyền tự do hợp đồng nói riêng là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn
đề này như:
- Dương Đăng Huệ (2002), “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt
Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (8);
- Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh
trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Am Hiểu (2004), “Hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo
đảm nhìn từ quyền tự do hợp đồng”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (12);
- Phạm Hoàng Giang (2006), “Quyền tự do giao kết hợp đồng trong
hoạt động thương mại ở Việt Nam”, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học
luật Hà Nội, Hà Nội;
- Trần Hải Hưng (2006), “Đổi mới sự điều chỉnh pháp luật về hợp
đồng trong BLDS năm 2005”, Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội, Hà Nội;
- Nguyễn Thúy Hiền (2006), “Những quy định nghĩa vụ dân sự và hợp
đồng trong BLDS 2005”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (14);
- Mễ Lương (2010), Hợp đồng dân sự trong pháp luật của cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa,
Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
Trang 10- Vũ Đức Lịch (2010), Một số vấn đề về giao kết hợp đồng dân sự trong
pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Nguyễn Thị Trang (2013), Hình thức hợp đồng dân sự - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Hà Nội;
- Thái Thị Hải Yến (2013), Thực hiện hợp đồng dân sự những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội;
- Lê Thị Yến (2013), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Hoàng Trung Hiếu (2013), Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng dân
sự (2013), Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;…
Mặc dù đã được nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu sắc nhưng do đối tượng nghiên cứu của các công trình này là các đạo luật (trong đó có BLDS 2005) đã được ban hành trước khi Nhà nước ta thông qua BLDS 2015 nên có thể nói rằng, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp trong BLDS 2015 Tuy vậy, các công trình nói trên là những tài liệu rất quý giá cho tác giả tham khảo, phục vụ việc nghiên cứu của mình
Hiện nay, sau khi BLDS 2015 đã được ban hành và mặc dù chưa có hiệu lực nhưng đã có một số bài viết nghiên cứu về BLDS 2015 nói chung và phần thứ ba: “Nghĩa vụ và hợp đồng” nói riêng Trong số các bài viết đó đáng lưu ý nhất là:
Trang 11- Bài nghiên cứu “Những sửa đổi, bổ sung quy định về đại diện trong
Bộ luật dân sự năm 2015 có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp” của
ThS Bùi Thị Thanh Hằng – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Bài nghiên cứu “Những điểm mới của Bộ luật dân sự về thực hiện
hợp đồng đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp” của TS Bùi Minh Hồng – Viện
Pháp luật so sánh, Trường Đại học Luật Hà Nội trong Toạ đàm một số nội dung mới của Bộ luật Dân sự (sửa đổi) liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tổ chức ngày 18/12/2016 do Câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp phối hợp với Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015-2020 tổ chức;
- Bài nghiên cứu “Những điểm mới của phần Nghĩa vụ - hợp đồng
trong Bộ luật dân sự năm 2015” của TS Nguyễn Minh Tuấn – Trường Đại học
Luật Hà Nội trong Tọa đàm Giới thiệu Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Bộ Tư pháp ngày 16/7/2016 của dự án JICA, …
Tuy nhiên, do hạn chế về thời lượng và mục đích nghiên cứu nên các bài viết này chưa thể giải quyết một cách đầy đủ các vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn mà tôi đã lựa chọn Vì vậy, có thể khẳng định rằng, đề tài của luận văn mà tôi đã lựa chọn vẫn được coi là vấn đề còn mới, cần được tiếp tục nghiên cứu làm rõ thêm
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về tự
do hợp đồng và bảo đảm quyền tự do hợp đồng; các quy định mới trong BLDS
2015 với tư cách là các đảm bảo pháp lý đối với quyền tự do hợp đồng của
Trang 12doanh nghiệp và những giải pháp mà Nhà nước cần phải triển khai để quyền tự
do hợp đồng ở Việt Nam được bảo đảm thực thi trong thực tiễn
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Quyền tự do hợp đồng được bảo đảm thực hiện bởi nhiều biện pháp; ngoài biện pháp pháp luật còn cần có các biện pháp khác như biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội… Trong biện pháp pháp luật thì có thể khẳng định rằng, cả
hệ thống pháp luật Việt Nam từ Hiến pháp đến các văn bản quy phạm pháp luật
có giá trị thấp nhất đều phải có nhiệm vụ tạo ra các cơ chế, biện pháp, công cụ
về mặt pháp lý để các tổ chức, cá nhân thực hiện được quyền tự do hợp đồng
đã được ghi nhận trong chính sách của Đảng và trong Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta
Tuy nhiên, trong khuôn khổ cho phép của một luận văn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò của BLDS 2015 trong việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng mà thôi Các đạo luật khác, ví dụ như Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng, Luật Các Tổ chức tín dụng, Luật Đất đai… nếu có được nhắc tới thì cũng chỉ có vai trò là công cụ so sánh, minh họa để làm sâu sắc thêm vai trò quan trọng của BLDS 2015 trong việc bảo đảm quyền
tự do hợp đồng nói chung và quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp nói riêng
Trang 13pháp luật dân sự của nước ta, đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm thực thi quyền tự do hợp đồng trong thời gian tới ở nước ta.
4 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề như sau:
- Nghiên cứu, làm rõ khái niệm và vai trò của tự do hợp đồng và bảo đảm quyền tự do hợp đồng, phân tích được quan hệ giữa quyền tự do hợp đồng
và quyền tự do kinh doanh và vai trò chủ đạo của pháp luật dân sự trong việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng;
- Nêu và phân tích nội dung các quy định của BLDS 2015 nhằm bảo đảm cho quyền tự do hợp đồng được thực thi trong thực tiễn của doanh nghiệp;
- Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy triển khai các quy định mới trong BLDS 2015 nhằm bảo đảm quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Luận văn vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, của lý luận nhà nước và pháp luật để làm cơ sở nghiên cứu các vấn đề cụ thể liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn
Ngoài ra, luận văn có sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể tiêu biểu như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp diễn dịch và quy nạp, phương pháp xã hội học, phương pháp lịch sử - cụ thể,…
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn vì đã làm rõ được một số vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, luận văn đã cho thấy, tự do hợp đồng là vấn đề rất quan trọng
đối với doanh nghiệp nhưng vấn đề làm sao để bảo đảm được quyền này trên thực tế còn là vấn đề quan trọng hơn
Thứ hai, luận văn đã làm rõ mối quan hệ giữa tự do hợp đồng và bảo
đảm quyền tự do hợp đồng Đây là hai vấn đề khác nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau Không có tự do hợp đồng thì đương nhiên sẽ không đặt ra vấn đề bảo đảm quyền tự do hợp đồng Nhưng nếu có tự do hợp đồng mà không có cơ chế bảo đảm cho tự do hợp đồng được thực hiện trong thực tiễn thì quyền tự do hợp đồng ấy cũng chẳng có giá trị gì
Trang 15Thứ ba, luận văn đã nghiên cứu khái quát về quyền tự do hợp đồng,
phân tích một cách hệ thống các quy định có tác dụng bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong BLDS 2015 Vì vậy, Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào quan tâm đến vấn đề tự do hợp đồng và bảo đảm quyền tự do hợp đồng ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, từ việc phân tích các quy định của BLDS 2015, tác giả đã đề
xuất các giải pháp cần phải triển khai để bảo đảm quyền tự do hợp đồng nói chung và quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp nói riêng Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa nhất định về mặt thực tiễn, nhất là thực tiễn thi hành pháp luật - một lĩnh vực công tác đang có nhiều yếu kém hiện nay ở nước ta
8 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tự do hợp đồng và bảo đảm quyền
tự do hợp đồng
Chương 2: Bộ luật Dân sự năm 2015 – Cơ sở pháp lý mới cho việc
thực thi quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp ở nước ta
Chương 3: Những giải pháp thúc đẩy triển khai thực hiện bảo đảm
quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp
Trang 16CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO HỢP ĐỒNG VÀ
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG
1.1 Khái niệm và vai trò của quyền tự do hợp đồng đối với hoạt động của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và nội dung quyền tự do hợp đồng
Hợp đồng là một loại giao ước mà đặc điểm chung của chúng là sự thống nhất ý chí Vậy ý chí có vai trò cực kỳ quan trọng đối với hợp đồng Nó được xem là cực kỳ quan trọng bởi nó là yếu tố cơ bản, không thể thiếu được
để hình thành hợp đồng, từ đó làm phát sinh ra các nghĩa vụ pháp lý1 Không thể nghi ngờ được rằng, thương mại không thể phát triển nếu các thoả thuận được lập ra một cách tự do mà không được thi hành một cách bình thường2 Vì vậy, dù ở hệ thống pháp luật nào, người ta cũng đều thừa nhận nền tảng của luật hợp đồng là tự do ý chí
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng hiện nay có nguồn gốc từ thuyết tự
do ý chí trong giao kết hợp đồng từ thế kỷ XVIII và nằm trong hệ thống các quan điểm của nền triết học ánh sáng Theo nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng, các bên chủ thể giao kết hợp đồng được quyết định mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng
1 Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2 Contrat, TroisiÌme Ðdition, Litec, 1989, p 3, trích trong tài
liệu: Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2) , tr.11.
2Edward Younkins, Freedom to contract, Liberty Free Press, June 15, 2000,[http://www.quebecoislibre.org/younkins25.html], 2/2/2008, trích trong tài liệu: Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2) , tr.11.
Trang 17Học thuyết tự do hợp đồng đã phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào thế kỷ XVIII, theo đó, cá nhân chỉ có thể bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình được tuyên bố một cách trực tiếp thông qua các hợp đồng hay gián tiếp thông qua pháp luật Nội dung cơ bản của thuyết này thể hiện ở một số điểm chính như sau: Ý chí của con người là tối thượng và tự do; chỉ có các hành vi xuất phát từ
ý chí của một người mới có hiệu lực ràng buộc đối với người đó; mỗi bên tham gia hợp đồng đều nhằm thỏa mãn những lợi ích riêng của mình trong phạm vi phù hợp với lợi ích chung và dung hòa với các lợi ích đối lập Như vậy, theo thuyết tự do ý chí thì quyền tự do cá nhân là một quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm Thái độ tôn trọng của pháp luật đối với sự thỏa thuận, lựa chọn đối tác, xác lập, thực hiện, thay đổi hay chấm dứt cho thấy biểu hiện rõ nét của nguyên tắc này trên thực tế3 Học thuyết này nhằm tới mục đích công bằng giữa các cá nhân thông qua tự do thương thuyết, và phát triển kinh tế thông qua
tự do cạnh tranh (laisser faire)4, có nghĩa là “để cho muốn làm gì thì làm” Tư tưởng này ngày nay được hiểu rằng, chủ nghĩa tự do kinh tế thời đó là một chế
độ tự do không giới hạn mà sự công bằng là kết quả tự nhiên có được từ luật nghĩa vụ thích hợp được xây dựng trên nền tảng đặc biệt của sự bình đẳng thích hợp Hệ quả là các lý thuyết về luật tư ở thế kỷ XIX đều lấy tiền đề từ sự thống trị của quyền tự do cá nhân vô giới hạn5 Các tư tưởng từ đó đã ảnh
3 PGS.TS Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận Khoa học BLDS 2005 (Tập III) Phần Thứ ba: Nghĩa
vụ dân sự và hợp đồng dân sự (tái bản có sửa chữa, bổ sung), Viện Khoa học pháp lý, tr 2014.
4 Vũ Văn Mẫu (1963), Việt nam Dân luật lược khảo -Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước (In lần thứ nhất), Nxb Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn, tr 84, trích trong tài liệu: Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí
và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2), tr.12.
5 Andreas Abegg and Annemarie Thatcher, “Review essay- Freedom of contract in the 19th Century: Mythology and silence of the sources, German Law Journal, No 1 (1 January 2004), trích trong tài
liệu: Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2), tr.12.
Trang 18hưởng lớn tới Bộ luật Dân sự Đức 1900 Như vậy cả hai Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự Pháp 1804 và Bộ luật Dân sự Đức 1900) làm hình mẫu cho các Bộ luật Dân sự khác đều bị ảnh hưởng sâu sắc bởi học thuyết tự do ý chí.
Với Common Law, tự do hợp đồng là một học thuyết trung tâm của luật hợp đồng cổ điển Học thuyết này nở rộ và phát triển đầy đủ vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX Tại đây, pháp luật được tạo ra bởi các thẩm phán và các học thuyết pháp lý bị ảnh hưởng bởi: (1) Ý tưởng khế ước xã hội từ thời của Locke; (2) Tư tưởng kinh tế cổ điển; và (3) Quan niệm về sự liên kết tự nguyện giữa các chủ thể của quan hệ hợp đồng6 Học thuyết này có nguồn gốc từ Thời đại Khai sáng với tư tưởng của Locke được thể hiện trong công trình Hai luận thuyết về chính quyền chống lại quyền lực tối thượng thần thánh của các nhà vua Theo ông, xã hội vận hành tốt nhất khi các khế ước xã hội đã được định rõ điều chỉnh hành vi của con người, và là cách thức tốt nhất để bảo vệ đời sống,
tự do và tài sản của cá nhân họ được gọi là các quyền tự nhiên7
Các lý thuyết gia về hợp đồng ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX đã tiến hành các quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá và hệ thống hoá các vấn đề liên quan tới hợp đồng để xây dựng nên một lý thuyết duy nhất dựa trên các giá trị đạo đức thay thế cho các tín ngưỡng truyền thống có nền tảng là đạo đức đang
bị xói mòn Kết quả là việc xem hợp đồng như luật giữa các cá nhân Điều đó
6Lee Boldeman, The Cult of the Market: Economic Fundamentalism and its Discontents, [http://epress.anu.edu.au/cotm/mobile_devices/index.html], 2/7/2008, trích trong tài liệu: Ngô Huy
Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên
Trang 19có nghĩa là họ quan niệm nghĩa vụ hợp đồng phát sinh từ các ý chí của các cá nhân trong một mối quan hệ hợp đồng cụ thể
Ngày nay, các điều kiện của hợp đồng được giải thích căn bản trên cơ
sở học thuyết tự do ý chí Người ta thừa nhận rằng ý chí là tự do và ý chí của các bên là yếu tố duy nhất hình thành hợp đồng và làm phát sinh các hậu quả pháp lý8 Nhưng với sự phát triển của xã hội, vì đời sống chung của cộng đồng, nên tự do ý chí bị hạn chế trên các phương diện như ký kết, không ký kết, và xác lập hay thay đổi nội dung của hợp đồng Tuy nhiên, trong bất kể một công trình nghiên cứu nghiêm túc nào về hợp đồng, vấn đề tự do hợp đồng hay tự do
ý chí đều được đề cập đến một cách thích đáng Ở các bộ pháp điển hóa về hợp đồng đều có các quy định về nguyên tắc tự do hợp đồng hay tự do ý chí
Pháp luật của các nước đều thừa nhận quyền tự do hợp đồng Pháp luật hợp đồng của Nhật Bản được xây dựng trên nguyên tắc chủ đạo là tự do giao kết hợp đồng Nguyên tắc này biểu hiện ở các điểm sau: các chủ thể có quyền giao kết hoặc không giao kết hợp đồng; giao kết với người này hoặc với người khác, tự do xác định nội dung và hình thức của hợp đồng Luật hợp đồng Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa cũng quy định: “Đương sự có quyền tự nguyện lập
hợp đồng theo luật pháp, không đơn vị hoặc cá nhân nào được phép can thiệp bất hợp pháp” (Điều 4).
Đối với Việt Nam, nguyên tắc tự do hợp đồng là một trong những nguyên tắc, một tư tưởng chỉ đạo đánh dấu một bước phát triển của pháp luật dân sự về hợp đồng Trước khi BLDS 1995 ra đời, Pháp lệnh hợp đồng dân sự
8 Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2 Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, p 4, trích trong tài
liệu: Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2), tr.13.
Trang 201991 quy định “hợp đồng dân sự được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội” (Điều 4) Quy
định này cho thấy pháp luật dân sự trước đây đã không phản ánh được quyền tự
do giao kết hợp đồng của các chủ thể vốn là thuộc tính tất yếu phải có khi tham gia ký kết hợp đồng dân sự, là nguyên tắc cốt lõi, quan trọng nhất của hợp đồng
BLDS 2015 của Việt Nam định ra nguyên tắc: “Quyền tự do cam kết,
thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” (Điều 4)
Luật Thương mại 2005 của Việt Nam cũng có nguyên tắc: “Các bên có
quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại và bảo hộ các quyền đó” (Điều 11, khoản 1).
Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 quy
định tại Điều 1.1 rằng: “Các bên được tự do giao kết hợp đồng và thỏa thuận
nội dung của hợp đồng” Cũng như vậy, nhưng có phần thận trọng hơn, các
nguyên tắc của Luật hợp đồng châu Âu quy định: “Các bên được tự do giao kết
hợp đồng và xác định nội dung của hợp đồng phụ thuộc vào các yêu cầu về thiện chí và công bằng và các quy tắc bắt buộc được thiết lập bởi các Nguyên tắc này” (Điều 1.02).
Qua các quy định này, chúng ta có thể nhận thấy tự do hợp đồng là một nguyên tắc hết sức quan trọng của luật hợp đồng mà nếu không có nó thì các thỏa thuận sẽ trở nên vô nghĩa vì không một quan hệ nghĩa vụ nào có thể được tạo thành9
Trang 21Theo Adam Smith và Thomas Hobbes thì: “Tự do hợp đồng là một tư
tưởng mà theo đó các cá nhân được quyền tự do thoả thuận giữa họ với nhau
về các điều kiện của hợp đồng, không có sự can thiệp của chính quyền Bất kể những gì khác hơn các quy định tối thiểu và thuế có thể xem là sự vi phạm nguyên tắc Nó là trụ cột của học thuyết kinh tế tự do (the theory of laissez- faire economics) Các nhà kinh tế học xem xét nó như một lợi ích đối với xã hội bởi làm tăng sự lựa chọn và làm giảm thất nghiệp gây ra bởi các quy định chẳng hạn như tiền lương tối thiểu”10
Tự do hợp đồng được xem xét ở hai khía cạnh khác nhau của sự lựa chọn của chủ thể Ở khía cạnh tích cực, chủ thể có quyền lựa chọn người giao kết hợp đồng với mình, và có quyền lựa chọn ấn định hay thay đổi các điều kiện của hợp đồng trong sự thoả thuận với bên kia Ở khía cạnh tiêu cực, chủ thể có quyền lựa chọn không giao kết hợp đồng, và có quyền lựa chọn rút lui khỏi hợp đồng sau khi đã cân nhắc tới các hậu quả bất lợi cho việc đó (tuy nhiên theo chúng tôi, đây là một điểm tranh luận) Khi nói tới tự do hợp đồng là nói tới các khía cạnh đó
Từ những nghiên cứu trên đây cho thấy, quyền tự do hợp đồng bao gồm những thuộc tính cơ bản như sau:
Một là, quyền tự do hợp đồng là một trong những bộ phận cơ bản cấu
thành quyền tự do kinh doanh;
9 Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp
chí nghiên cứu lập pháp, (2), tr.13.
10 Wikipedia, the free encyclopedia, Freedom of contact, [http://en.wikipedia.org/wiki/Freedom_of_
contact], 2/2/2008, trích trong tài liệu: Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2), tr.14.
Trang 22Hai là, quyền tự do hợp đồng là quyền luôn được đặt trong khuôn khổ
pháp luật và bị ràng buộc bởi những giới hạn nhất định Giới hạn này được thể hiện trên hai phương diện, bao gồm: (i) mức độ ghi nhận của pháp luật về quyền tự do của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh tế và (ii) những bảo đảm pháp lý (khả năng bảo vệ của pháp luật) cho việc thực thi những quyền đó
Tóm lại, quyền tự do hợp đồng là quyền của công dân, pháp nhân, là một bộ phận của quyền tự do kinh doanh Quyền này mang tính chất tự nhiên (tức là không do Nhà nước ban phát) nhưng để trở thành “thực quyền” thì quyền tự do hợp đồng phải được pháp luật Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế Chính vì vậy, quyền tự do kinh doanh dù ở bất cứ nơi đâu cũng phải nằm trong khuôn khổ và trong những giới hạn nhất định của pháp luật Các khuôn khổ, giới hạn này sẽ được “nới” dần theo đà phát triển của xã hội
Cũng như các quyền khác, quyền tự do hợp đồng có nội dung rất cụ thể Nội dung của quyền này cũng không bất biến mà luôn có sự bổ sung theo hướng ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn do sự hoàn thiện không ngừng của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ta Quyền tự do hợp đồng bao gồm các quyền cơ bản:
(1) Quyền lựa chọn đối tác;
Các bên có quyền tự do giao kết hợp đồng hoặc tự do không giao kết hợp đồng với chủ thể nhất định mà không một tổ chức, cá nhân nào được ngăn cản hay can thiệp vào quyền này một cách bất hợp pháp Theo đó, các bên có quyền tự quyết định việc đưa ra đề nghị hay không đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng cũng như nội dung của đề nghị giao kết Khi nhận được đề nghị, các bên
có quyền tự quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị Việc quyết
Trang 23định ký hay không ký hợp đồng là do ý chí của các bên, không bị ảnh hưởng bởi ý chí hay sự ép buộc của bên kia hay người thứ ba nào khác Nói cách khác, các chủ thể của lưu thông dân sự có quyền lựa chọn ký kết hợp đồng với chủ thể này và từ chối ký kết hợp đồng với chủ thể khác theo ý chí của mình, không
ai có quyền can thiệp
(2) Quyền lựa chọn đối tượng hợp đồng;
Các bên được tự do thoả thuận về đối tượng của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật Việc lựa chọn đối tượng hợp đồng hoàn toàn do ý chí của hai bên trong quan hệ hợp đồng trên cơ sở nhu cầu và sự thống nhất giữa các bên giao kết mà không có sự ép buộc, can thiệp từ các chủ thể khác
(3) Quyền quyết định nội dung của hợp đồng (quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng);
Nội dung hợp đồng là toàn bộ các vấn đề mà các bên đã thoả thuận với nhau Nội dung của hợp đồng được thể hiện dưới dạng các điều khoản, chính là các quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên giao kết với nhau Khi đàm phán, ký kết hợp đồng, các bên có quyền thể hiện ý chí của mình trong việc thoả thuận
về quyền và nghĩa vụ của các bên mà không bị ép buộc Các chủ thể tự do quy định các điều khoản của hợp đồng, các bên có quyền thoả thuận bất cứ nội dung gì trong hợp đồng, miễn là không trái pháp luật
(4) Quyền lựa chọn các biện pháp trách nhiệm pháp lý như phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, mức phạt, mức bồi thường thiệt hại…;
Sau khi hợp đồng có hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy
đủ các nội dung trong hợp đồng Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp các bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng do thực hiện nghĩa vụ không
Trang 24đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận gây thiệt hại cho bên còn lại Để đảm bảo tính bắt buộc thực hiện đúng hợp đồng và tôn trọng sự thoả thuận của các bên khi giao kết hợp đồng, hạn chế rủi ro cho các bên, pháp luật quy định nhiều biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng Theo đó, khi thoả thuận giao kết hợp đồng, các bên có quyền lựa chọn các biện pháp trách nhiệm pháp lý như phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, các bên có quyền tự quyết định về mức phạt, mức bồi thường thiệt hại mà không ai
có thể can thiệp được
(5) Quyền tự do lựa chọn hình thức hợp đồng;
Hình thức hợp đồng là phương thức ký kết, phương tiện ghi nhận nội dung thoả thuận của các bên Nó có thể là thủ tục ký kết hợp đồng hoặc hình thức thể hiện thoả thuận của các bên, bằng lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản, trừ trường hợp do pháp luật quy định “cứng” thì các bên phải tuân theo Hình thức hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ hợp đồng đã, đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm hợp đồng xảy ra Các bên có quyền xác lập hợp đồng dưới bất cứ hình thức nào, theo cách mà họ muốn, chỉ cần đạt được sự thoả thuận, thống nhất ý chí của các bên là coi như hợp đồng đã hình thành Sự thoả thuận hợp đồng không phải theo một công thức nào Các bên có thể lập hợp đồng bằng cách trao đổi văn bản, thư từ truyền thống, bằng điện tín, bằng điện thoại, qua mạng internet và các phương tiện điện tử khác… Các bên có quyền
tự do lựa chọn hình thức hợp đồng dưới dạng: bằng lời nói, cử chỉ, hành vi hay bằng văn bản…
(6) Quyền tự do quyết định phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng;
Trang 25Sau khi hợp đồng được giao kết hợp pháp, các bên có trách nhiệm nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng luôn tiềm ẩn những vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Đó có thể là hành vi không thực hiện hợp đồng, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng làm cho lợi ích của bên kia có nguy cơ bị xâm hại, dẫn đến tranh chấp hợp đồng Tranh chấp hợp đồng là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, lợi ích giữa các bên liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo thoả thuận hợp đồng Do tranh chấp hợp đồng phát sinh trực tiếp từ quan hệ hợp đồng, nên theo nguyên tắc tự do ý chí, việc giải quyết tranh chấp thuộc quyền tự định đoạt của các bên Theo nguyên tắc này, các bên trong hợp đồng có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp, địa điểm giải quyết tranh chấp,… Nói cách khác, hình thức giải quyết tranh chấp, cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp, nơi giải quyết tranh chấp… phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên Khi có tranh chấp, các bên có thể tự quyết định việc giải quyết bằng một trong các hình thức như thương lượng, hoà giải, trọng tài, toà án.
1.1.2 Vai trò của quyền tự do hợp đồng đối với hoạt động của doanh nghiệp
Hình thức pháp lý chủ yếu của các quan hệ kinh doanh chính là hợp đồng Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự
do, tự nguyện, bình đẳng Tự do ý chí luôn được xác định là nguyên tắc cốt lõi của hợp đồng Quyền tự do hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nhà kinh doanh Thông qua việc thiết lập và thực hiện các hợp đồng, các bên có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao Về mặt lý luận, quyền tự do hợp đồng được coi là một bộ phận
Trang 26cấu thành quan trọng, là biểu hiện sinh động nhất của quyền tự do kinh doanh Việc ghi nhận và bảo đảm quyền tự do hợp đồng bằng pháp luật có tác động lớn tới quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, với những đặc trưng và quy luật của nó, các chủ thể kinh doanh phải có quyền tự do hợp đồng Hợp đồng là hình thức pháp lý của các giao dịch dân sự, thương mại Do đó, không có hợp đồng thì không có quan hệ kinh tế và do đó không thể có bất cứ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào là cuối cùng thì cũng chẳng có bất cứ nền sản xuất xã hội nào Khi
đề cập đến vai trò của hợp đồng, Lê Thị Bích Thọ cho rằng “hợp đồng là hình
thức pháp lý thích hợp và có hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hóa – tiền tệ Thực tiễn của các nền kinh tế thị trường trên thế giới từ xưa đến nay đã khẳng định giá trị, vai trò của hợp đồng”11
Nghiên cứu về hợp đồng trong kinh doanh cho thấy việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Ý nghĩa quan trọng này được thể hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, với tính cách là một công cụ điều chỉnh các quan hệ tài sản,
lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế, hợp đồng trước hết là công cụ để các chủ thể thiết lập và thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, hợp đồng được các doanh nghiệp sử dụng như công cụ pháp lý để thực hiện các hoạt động kinh doanh Thông qua hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận với nhau bất cứ điều gì, với bất
11 Lê Thị Bích Thọ (2002), “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của Hợp đồng kinh
tế vô hiệu”, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.10.
Trang 27cứ điều kiện nào, dưới bất cứ hình thức gì, miễn là pháp luật không cấm, để phục vụ việc thực hiện các hoạt động kinh doanh Vì vậy, khi có được quyền tự
do hợp đồng thì doanh nghiệp mới có quyền tự do hành động, tự do xác lập quan hệ kinh tế với bên ngoài, tự do quyết định nội dung giao dịch và các khả năng hành động theo ý chí khác của doanh nghiệp Tóm lại, không có tự do hợp đồng thì doanh nghiệp không có điều kiện để hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận và khi đó, doanh nghiệp sẽ không còn là doanh nghiệp nữa Nói cách khác, doanh nghiệp sinh ra là để tìm kiếm lợi nhuận mà lợi nhuận chỉ có thể có được qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh (đầu tư, mua bán, trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụ để kiếm lời), do đó, không có tự do hợp đồng thì không
có điều kiện và phương tiện để doanh nghiệp đạt được mục đích này của mình
Vì vậy, tự do hợp đồng có vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp
Thứ hai, hợp đồng không chỉ là công cụ giúp các bên xác lập quan hệ
để qua đó mà thu được lợi nhuận mà hợp đồng còn là công cụ để các bên thực hiện sự hợp tác với nhau trong hoạt động của mình Nói cách khác, hợp đồng không chỉ là phương tiện để “làm tiền” mà còn là công cụ để các doanh nghiệp hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua hoặc khắc phục các khó khăn có thể xuất hiện trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Như vậy, khi có tự do hợp đồng thì doanh nghiệp mới có cơ hội, điều kiện để thực hiện một cách tốt hơn tinh thần hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Thứ ba, tự do hợp đồng không chỉ có ích cho các doanh nghiệp mà còn
có ích cho nền kinh tế nói chung Điều này thể hiện ở chỗ, nguồn lực của xã hội thì luôn luôn có hạn và do đó, khi pháp luật bảo đảm tốt quyền tự do hợp đồng thì cũng có nghĩa là pháp luật đã góp phần bảo đảm sự phân bổ có hiệu quả các
Trang 28nguồn lực của các doanh nghiệp, qua đó góp phần đáp ứng tốt nhất yêu cầu tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của đất nước nói chung.
1.2 Quan hệ giữa quyền tự do hợp đồng và quyền tự do kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh là quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế, được
ghi nhận tại Điều 33 Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh
trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Hiện nay, nội hàm của
quyền tự do kinh doanh doanh là gì, bao gồm những yếu tố nào, đây là vấn đề còn nhiều tranh luận, chưa có sự nhất trí cao trong giới nghiên cứu kinh tế cũng như pháp lý Tuy nhiên, nhìn chung theo đa số học giả thì quyền tự do kinh doanh bao gồm 5 nội dung cơ bản: (1) quyền tự do thành lập doanh nghiệp; (2) quyền lựa chọn ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh; (3) quyền tự do hợp đồng; (4) quyền tự quyết định các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và (5) quyền rút lui khỏi thị trường
Như vậy, có thể thấy, quyền tự do hợp đồng là một trong những bộ phận cơ bản cấu thành nội dung quyền tự do kinh doanh Cũng cần khẳng định rằng, tự do hợp đồng không chỉ là một bộ phận cấu thành của tự do kinh doanh
mà còn là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của quyền này Như đã trình bày ở trên, tự do hợp đồng, đến lượt mình lại có nội hàm cụ thể, bao gồm một
số quyền năng nhất định như quyền tự do xác định đối tác, tự do xác định đối tượng hợp đồng, tự do xác định nội dung hợp đồng (quyền và nghĩa vụ của các bên), tự do xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, tự do xác định phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh, tự do lựa chọn hình thức hợp đồng và các quyền tự do khác Vì vậy, có thể khẳng định rằng, không có tự do hợp đồng thì về cơ bản sẽ không có tự do kinh
Trang 29doanh Việc ghi nhận và bảo đảm quyền tự do hợp đồng có tác động to lớn đến việc ghi nhận và thực thi quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp
1.3 Vai trò chủ đạo của pháp luật dân sự trong việc bảo đảm quyền
tự do hợp đồng
1.3.1 Khái niệm bảo đảm quyền tự do hợp đồng
Quyền tự do hợp đồng suy đến cùng là quyền của con người, mặt khác
đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo đảm những quyền của chủ thể kinh doanh Nếu chỉ thừa nhận quyền mà không bảo đảm cho nó những điều kiện để thực hiện thì quyền đó cũng chỉ mang tính hình thức Sẽ không tồn tại quyền tự do hợp đồng của các chủ thể nếu nó không được pháp luật thừa nhận và bảo đảm Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng mức độ, hình thức và nội dung bảo đảm quyền tự do hợp đồng tuỳ thuộc vào từng điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử
Hiện nay, chưa thấy ở đâu trong khoa học pháp lý cũng như trong các tài liệu văn bản chính thức của Nhà nước đưa ra khái niệm, nội hàm của “bảo đảm quyền tự do hợp đồng” Tuy nhiên, qua nhận thức của tôi, có thể định nghĩa về bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam như sau:
Bảo đảm quyền tự do hợp đồng theo pháp luật Việt Nam là hệ thống các quy phạm pháp luật và các thiết chế do Nhà nước xây dựng nhằm tạo điều kiện để các cá nhân, pháp nhân giao kết, thực hiện hợp đồng một cách thuận lợi nhất.
Nội dung việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng thực chất là việc Nhà nước bằng chính sách, pháp luật của mình ghi nhận các cơ chế, phương tiện, công cụ để các chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng một cách nhanh nhất,
Trang 30thuận lợi nhất và hiệu quả nhất Quyền tự do hợp đồng được coi là bộ phận cấu thành quan trọng, là biểu hiện sinh động nhất của quyền tự do kinh doanh Theo quy định của pháp luật hiện hành thì bảo đảm quyền tự do hợp đồng bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật đưa ra những quy định ghi nhận quyền của các chủ
thể được tự do trong việc giao kết hợp đồng như: (1) tự do lựa chọn các đối tác, (2) quyền tự do lựa chọn nội dung, (3) tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng, (4) tự do lựa chọn biện pháp trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng, (5) tự
do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng, …
Thứ hai, pháp luật đưa ra những quy định để hướng dẫn đồng thời tạo
điều kiện, cơ chế để các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng thực hiện được một cách trôi chảy trên thực tế tất cả các bộ phận (quyền) cấu thành nội dung của quyền tự do hợp đồng như đã nêu ở trên
1.3.2 Vai trò của các luật chuyên ngành
Với tư cách là luật cơ bản, Hiến pháp 2013 ghi nhận quyền tự do kinh doanh một cách khái quát nhất, mà quyền tự do hợp đồng là một bộ phận cơ bản, quan trọng của quyền tự do kinh doanh Để thực hiện được quyền tự do hợp đồng trên thực tế, pháp luật nói chung và các đạo luật chuyên ngành nói riêng phải có trách nhiệm tạo cơ sở pháp lý cụ thể, đầy đủ và rõ ràng hơn trong từng lĩnh vực chuyên ngành để tổ chức, cá nhân có thể thực hiện được một cách dễ dàng, thuận lợi và hiệu quả quyền tự do hợp đồng Sau Hiến pháp năm
2013 thì Bộ luật Dân sự đóng vai trò chủ đạo vì bộ luật này quy định một cách đồng bộ mọi vấn đề cơ bản liên quan đến tự do hợp đồng, còn các Luật chuyên
Trang 31ngành sẽ cụ thể các quy định trong BLDS trong từng lĩnh vực cụ thể mà nó điều chỉnh.
Ví dụ, cụ thể hoá nguyên tắc tự do hợp đồng và các quy định chung về hợp đồng trong BLDS, Khoản 4 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định
doanh nghiệp có quyền: “Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết
hợp đồng” Quy định này đã khẳng định doanh nghiệp được chủ động tìm kiếm
khách hàng, lựa chọn đối tác để ký kết hợp đồng Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có nhiều quy định cụ thể điều chỉnh việc tổ chức của doanh nghiệp như hợp đồng trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp (Điều 19), hợp đồng hợp nhất (Điều 194), hợp đồng sáp nhập (Điều 195), … Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định người thành lập doanh nghiệp được ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp, mà không quy định các nội dung cụ thể của các hợp đồng này, do đó, có thể hiểu rằng, các bên giao kết có quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng Đối với hợp đồng hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định các điều khoản cơ bản phải
có trong hợp đồng để đảm bảo quyền, lợi ích của các bên giao kết, còn nội dung khác thì các bên được tự do thỏa thuận trên cơ sở thống nhất ý chí giữa hai bên
Khoản 1 Điều 11 Luật Thương mại 2005 quy định về nguyên tắc tự do,
tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại như sau: “Các bên có quyền
tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục
và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó” Luật Thương
Trang 32mại cũng khẳng định quyền tự do hợp đồng của các chủ thể kinh doanh trong hoạt động thương mại Các doanh nghiệp (trong Luật Thương mại gọi là thương nhân) được tự do thoả thuận, xác lập quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động thương mại và quyền này được Nhà nước tôn trọng và bảo hộ Luật Thương mại cũng cụ thể hoá nguyên tắc tự do thoả thuận và các quy định chung về hợp đồng trong BLDS Luật Thương mại năm 2005 đã quy định chi tiết các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như hợp đồng mua bán hàng hoá; hợp đồng đại diện; hợp đồng dịch vụ; hợp đồng dịch vụ khuyến mại; hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại; Hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ; hợp đồng môi giới; hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá; hợp đồng đại lý; hợp đồng gia công; hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá; hợp đồng nhượng quyền thương mại… Cụ thể như trong hợp đồng mua bán hàng hoá, các bên được tự do thoả thuận về địa điểm, thời hạn giao hàng, thanh toán, xác định giá hàng hoá, …(Mục 2 Chương II Luật Thương mại 2005) Trong hợp đồng đại diện, các bên có thể thoả thuận về phạm vi đại diện, thời hạn đại diện, mức thù lao đại diện, quyền và nghĩa vụ của các bên,… (Mục 1 Chương V Luật Thương mại 2005) Trong hợp đồng dịch vụ, Luật Thương mại đã quy định rõ
về hình thức, đối tượng hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên…
Trong lĩnh vực bảo hiểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 dành hẳn chương II quy định về hợp đồng bảo hiểm, trong đó, quy định cụ thể về các loại hợp đồng bảo hiểm, gồm: Hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự (Điều 12); về nội dung hợp đồng bảo hiểm (Điều 13); về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm (Điều 17) và quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm (Điều 18) Ngoài
Trang 33những nội dung pháp luật quy định bắt buộc phải có để đảm bảo quyền, lợi ích
của các bên, các bên có thể thoả thuận các nội dung khác như thời điểm phát
sinh trách nhiệm bảo hiểm, phí bảo hiểm, sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm,
chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm,…(Chương II – Hợp đồng bảo hiểm) Hợp
đồng bảo hiểm là một loại hợp đồng đặc thù, đòi hỏi phải được quy định cụ thể
trong luật chuyên ngành và đó là nhiệm vụ của Luật Kinh doanh bảo hiểm
Ngoài những nội dung mà Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định bắt
buộc phải có để đảm bảo quyền lợi các bên giao kết thì hợp đồng bảo hiểm có
thể có các nội dung khác do các bên thỏa thuận
Luật Điện lực năm 2004 cũng quy định rất cụ thể về hợp đồng mua bán
điện (mục 2 Chương IV), quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cung
cấp điện (Chương VI) Điều 22 Luật Điện lực năm 2004 quy định các nội dung
cơ bản mà hợp đồng mua bán điện có thời hạn phải có, ngoài ra, các bên có thể
thỏa thuận về các nội dung khác của hợp đồng này
Mục 2 Chương VII Luật Xây dựng năm 2014 quy định về hợp đồng xây
dựng cũng có rất nhiều quy định đảm bảo sự tự do hợp đồng của các bên Các
bên có thể thoả thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, về phương thức
thanh toán, thời gian thanh toán, hồ sơ thanh toán và điều kiện thanh toán…
Chương VII Luật Nhà ở năm 2014 quy định cụ thể về quyền và nghĩa
vụ của các bên, thời hạn, đối tượng,… trong hợp đồng mua bán, cho thuê nhà
ở, cho mượn nhà ở; quy định trình tự, thủ tục, điều kiện thế chấp nhà ở, góp
vốn bằng nhà ở…
1.3.3 Vai trò chủ đạo của Bộ luật dân sự
Trang 34Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, BLDS giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do hợp đồng với tư cách là một bộ phận cấu thành quan trọng của quyền tự do kinh doanh đã được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 Vai trò này được thể hiện thông qua những đóng góp (việc làm) mà không một đạo luật nào có thể làm được ngoài BLDS Cụ thể là:
Thứ nhất, BLDS 2015 khẳng định mối quan hệ giữa BLDS với các luật
khác có liên quan (luật chuyên ngành), theo đó, BLDS là luật chung còn các
luật khác là luật riêng Điều 4 BLDS 2015 quy định: “Bộ luật này là luật chung
điều chỉnh các quan hệ dân sự” Với vai trò là luật chung, BLDS điều chỉnh
các quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ hợp đồng Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS trong đó có
nguyên tắc: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” (Khoản 3
Điều 3) Với quy định như trên, BLDS đã khẳng định tự do thoả thuận là nguyên tắc cơ bản mà các luật khác có liên quan cũng phải tuân thủ Trong đó,
cá nhân, pháp nhân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, bảo đảm quyền tự do thoả thuận của các chủ thể trong các quan hệ dân sự, thương mại Nhờ có các quy định có tính chất nền tảng này mà các quan hệ thị trường mới
có thể phát sinh, tồn tại và phát triển một cách thuận lợi và bền vững
Thứ hai, BLDS quy định một cách đầy đủ, toàn diện mọi vấn đề cơ bản
liên quan đến hợp đồng, đặc biệt là ghi nhận quyền tự do hợp đồng của các chủ thể BLDS quy định toàn diện các vấn đề liên quan đến hợp đồng như khái
Trang 35niệm hợp đồng, đề nghị giao kết hợp đồng, nội dung hợp đồng, địa điểm, thời điểm giao kết hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng, phụ lục hợp đồng, giải thích hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng Đây là cơ sở, căn cứ nền tảng để các luật chuyên ngành khác quy định về hợp đồng trong các lĩnh vực chuyên ngành.
Kết luận Chương 1:
1) Tự do hợp đồng là một quyền cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mọi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Đối với doanh nghiệp thì quyền tự do hợp đồng lại càng có vai trò quan trọng vì quyền tự do hợp đồng là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của quyền tự do kinh doanh Nếu không có quyền tự do hợp đồng thì về cơ bản sẽ không có quyền tự do kinh doanh
Trang 362) Nếu có tự do hợp đồng mà không có cơ chế để đảm bảo quyền tự do hợp đồng thì quyền này không còn là thực quyền và do đó sẽ không có ý nghĩa
gì trong thực tiễn, nhất là thực tiễn sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp
Do đó, Nhà nước ta không chỉ phải quan tâm, ghi nhận quyền tự do hợp đồng
mà điều quan trọng hơn là phải xây dựng đầy đủ, đồng bộ các cơ chế, công cụ, phương tiện để làm sao giúp các doanh nghiệp thực hiện được quyền này trên thực tiễn Đấy là lý do tại sao sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013, trong đó ghi nhận quyền tự do kinh doanh thì một loạt các đạo luật chuyên ngành lần lượt được Quốc hội ban hành, trong đó có BLDS 2015
3) Cả hệ thống pháp luật của nước ta có trách nhiệm bảo đảm quyền tự
do hợp đồng Tuy nhiên, xét về phạm vi, quy mô của các quy định pháp luật cũng như tầm quan trọng của các vấn đề mà BLDS đã giải quyết (ghi nhận) thì BLDS 2015 cần được coi là đạo luật có vai trò quan trọng nhất trong việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 2: BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 – CƠ SỞ PHÁP LÝ MỚI CHO VIỆC THỰC THI QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH
NGHIỆP Ở NƯỚC TA 2.1 Bộ luật Dân sự năm 2015 – văn bản pháp luật quy định toàn diện các vấn đề liên quan đến ký kết, thực hiện hợp đồng
Trang 37Trong bất cứ nền kinh tế nào cũng tồn tại nhiều loại quan hệ xã hội Nhưng cơ bản nhất là hai nhóm quan hệ: quan hệ sở hữu và quan hệ hợp đồng Quan hệ sở hữu là quan hệ tĩnh, thể hiện mối quan hệ giữa người với người về vật (tài sản) Quan hệ này được xác lập và bảo vệ bởi một hệ thống quy định của pháp luật từ Hiến pháp đến các đạo luật, trong đó quan trọng nhất, đầy đủ nhất là BLDS Ở Việt Nam ta, đó là phần thứ hai của BLDS 2015: “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản”.
Nhóm quan hệ thứ hai cũng rất đa dạng và không kém phần quan trọng,
đó là quan hệ hợp đồng Các quan hệ này được xác lập, thực hiện nhằm hoàn thành một công việc nào đó và kết quả của nó là đem lại những lợi ích nhất định cho các chủ thể thiết lập ra các quan hệ đó Quan hệ này gọi là quan hệ lưu thông hàng hóa, tồn tại chủ yếu dưới hình thức hàng hóa – tiền tệ Nói theo ngôn ngữ hiện nay đó là quan hệ thị trường Không có các quan hệ này thì không có hoạt động sản xuất – kinh doanh, không có đời sống kinh tế và do đó cũng không thể có bất cứ nền kinh tế nào
Để cho nhóm quan hệ kinh tế này hình thành phát triển một cách có trật
tự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người (chủ thể) đã tạo ra chúng, nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật để điều chỉnh và quan trọng nhất trong số các văn bản đó là BLDS 2015 Trong Bộ luật này, Nhà nước đã dành hẳn một phần là phần thứ ba có tên gọi là: Nghĩa vụ và hợp đồng Đây là phần lớn nhất của BLDS 2015 với 5 chương, 334 điều, quy định tất cả những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất của chế định hợp đồng, bao gồm: khái niệm hợp đồng, giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, điều kiện hợp đồng có hiệu lực, trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng và một số loại hợp đồng thông dụng ở Việt Nam Các quy định này được áp dụng
Trang 38chung cho tất cả các quan hệ hợp đồng, trong đó có hợp đồng lĩnh vực hoạt động kinh doanh, thương mại, … Những quy định chung này mang tính khái quát cao, có khả năng bảo đảm tính thống nhất của pháp luật về hợp đồng và được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng được ký kết bởi bất kỳ ai và trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh nào ở Việt Nam Cụ thể là:
1) Điều 385 BLDS quy định khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” So với BLDS 2005 thì BLDS 2015 đã bỏ từ “dân sự” sau từ
“hợp đồng” để làm tăng tính khái quát và tính áp dụng chung của các quy định trong BLDS Thực tế cho thấy, khái niệm về hợp đồng chỉ được quy định trong BLDS, còn trong các văn bản pháp luật chuyên ngành đều không quy định hoặc chỉ quy định khái niệm về từng loại hợp đồng đặc thù thuộc phạm vi điều chỉnh của từng văn bản pháp luật chuyên ngành đó
2) Về giao kết hợp đồng
Tại tiểu mục 1 Mục 7 Chương XV Phần thứ ba BLDS quy định các vấn đề cơ bản nhất trong giao kết hợp đồng, bao gồm các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng, thông tin trong giao kết hợp đồng, thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực, thay đổi, rút lại đề nghị giao kết; chấm dứt, huỷ bỏ, sửa đổi, chấp nhận, thời hạn trả lời, rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng; nội dung, địa điểm, thời điểm giao kết, hiệu lực, hình thức hợp đồng; phụ lục, giải thích hợp đồng, các trường hợp hợp đồng vô hiệu… Đây là các vấn đề chung nhất mà các bên thường phải đề ra và thoả thuận trong quá trình giao kết bất cứ loại hợp đồng nào
3) Về nguyên tắc thực hiện hợp đồng
Trang 39Tiểu mục 2 Mục 7 Chương XV Phần thứ ba quy định rõ các nguyên tắc thực hiện hợp đồng trong hợp đồng đơn vụ, hợp đồng song vụ, quyền hoãn thực hiện hợp đồng, thực hiện hợp đồng vì người thứ ba, thoả thuận phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Đây là các nguyên tắc chung, cơ bản, là cơ sở để các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình thực hiện hợp đồng.
4) Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
Điều 407 BLDS 2015 đã quy định rõ rằng quy định về giao dịch dân sự
vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu Các quy định này đã chỉ rõ các trường hợp hợp đồng bị coi
là vô hiệu, còn hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu thì được quy định cụ thể trong Điều 131 Khi giải quyết hậu quả pháp lý của bất cứ một loại hợp đồng nào cũng cần phải tuân thủ các quy định chung này
2.2 Bộ luật Dân sự 2015 giải quyết chính thức mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành, qua đó bảo đảm tốt hơn quyền tự
do hợp đồng của các doanh nghiệp
Ngoài BLDS, lĩnh vực hợp đồng còn chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: Luật Thương mại, Luật Các tổ chức tín dụng, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp,… Trong thực tiễn giao kết, thực hiện hợp đồng đã xảy ra tình trạng, theo đó, một vấn đề cùng được
Trang 40quy định trong nhiều văn bản pháp luật và điều này đã dẫn đến dẫn đến tình
trạng áp dụng pháp luật chưa đúng, gây hậu quả xấu cho các chủ thể tham gia,
ảnh hưởng không tốt đến sự vận hành bình thường của đời sống kinh tế Vì
vậy, đây là vấn đề cần phải được sớm giải quyết một cách dứt điểm Thực tiễn
lập pháp Việt Nam đã có những trường hợp giải quyết (xử lý) vấn đề này theo
đúng thông lệ quốc tế và đúng với bản chất mối quan hệ giữa luật chung và luật
chuyên ngành Ví dụ: Khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 đã quy định
cụ thể nguyên tắc cơ bản về áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên
quan: “Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và
trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự” Quy định này đã
bảo đảm tính thống nhất của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng, bảo đảm nguyên tắc điều chỉnh pháp luật giữa BLDS – đóng vai trò luật
chung với Luật Thương mại và các luật chuyên ngành
Ngoài ra, còn nhiều quy định cụ thể khác ghi nhận việc ưu tiên áp dụng luật
chuyên ngành khi BLDS và luật chuyên ngành cùng điều chỉnh một vấn đề, ví
dụ như Luật Thương mại 2005 quy định mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ
hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận
trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi
phạm (Điều 301) hay Luật Xây dựng quy định đối với công trình xây dựng sử
dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp
đồng bị vi phạm (Khoản 2 Điều 146) Điều này có nghĩa rằng, khi các bên thoả
thuận phạt vi phạm đối với hợp đồng thương mại thì mức phạt vi phạm không
được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm; đối với hợp đồng
xây dựng có công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước thì mức phạt vi phạm
do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi