1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều tra, khảo sát một số loài cây gỗ lớn quý hiếm có giá trị ven sông sài gòn từ lộc ninh, tỉnh bình phước về bình dương, thủ dầu một và đề xuất các phương án bảo tồn

94 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 5,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT MỘT SỐ LOÀI CÂY GỖ LỚN QUÝ HIẾM CÓ GIÁ TRỊ VEN SÔNG SÀI GÒN TỪ LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC VỀ BÌNH DƯƠNG, THỦ DẦU MỘT VÀ ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN BẢO TỒN

Trang 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT MỘT SỐ LOÀI CÂY GỖ LỚN QUÝ HIẾM CÓ GIÁ TRỊ VEN SÔNG SÀI GÒN TỪ LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC VỀ BÌNH DƯƠNG, THỦ DẦU MỘT VÀ

ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN BẢO TỒN

Ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lê Thanh Quang Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Anh Thư MSSV: 1411090181 Lớp: 14DMT01

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan với Hội Đồng bảo vệ đây là đồ án nghiên cứu độc lập của riêng

em dưới sự chỉ dẫn của giáo viên hướng dẫn Các số liệu điều tra được sử dụng trong

đồ án có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả điều tra trong đồ án do em tự tìm hiểu, đánh giá một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết

quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Đỗ Thị Anh Thư

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề tài được hoàn thành theo chương trình đào tạo chuyên ngành Kỹ Thuật môi trường, tại Trường Đại học Công Nghệ (HUTECH) TP Hồ Chí Minh Em xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Trường Đại học Công nghệ (HUTECH) TP

Hồ Chí Minh; Viện khoa học ứng dụng HUTECH, cùng toàn thể các Thầy Cô trong Viện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện đề tài và trong suốt quá trình

học tập; đặc biệt em xin chân thành tỏ lòng biết ơn đến Thầy Lê Thanh Quang đã tạo

điều kiện và hỗ trợ các dụng cụ, thiết bị để điều tra, thực hiện đề tài và tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp này

Em xin kính chúc Quý Thầy Cô luôn dồi dào sức khỏe, luôn thành công trong công việc và các chỉ tiêu đề ra

Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bạn bè lớp 14DMT01, cũng như

người thân đã luôn động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp này

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ của đề tài 3

5 Phương pháp điều tra 3

5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 3

5.2 Phương pháp nghiên cứu đa dạng về thành phần loài 3

5.3 Phương pháp thống kê sinh học 4

6 Kết quả đạt được 4

7 Kết cấu của ĐA/KLTN 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC 7

1.1 Giới thiệu về sông Sài Gòn 7

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 7

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

1.2 Đa dạng thực vật trên Thế Giới 12

1.2.1 Thực vật trên thế giới 12

1.2.2 Thảm thực vật 16

1.2.3 Hệ thực vật 17

Trang 5

1.2.4 Đa dạng về thực vật thân gỗ 18

1.3 Đa dạng thực vật ở Việt Nam 19

1.3.1 Thực vật ở Việt Nam 19

1.3.2 Đa dạng loài 20

1.3.3 Thảm thực vật 22

1.3.4 Hệ thực vật 23

1.3.5 Đa dạng về thực vật thân gỗ 25

1.4 Vai trò của đa dạng sinh học trong nền kinh tế và đời sống 26

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng 28

2.2 Vị trí khu vực nghiên cứu 28

2.3 Nội dung 29

2.4 Phương pháp điều tra 31

2.4.1 Công tác chuẩn bị 31

2.4.2 Ngoại nghiệp 31

2.4.3 Nội nghiệp 32

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN 33

3.1 Kết quả điều tra đa dạng thành phần loài cây gỗ 33

3.2 Đa dạng về giá trị sử dụng và bảo tồn 38

3.2.1 Giá trị đa dạng sinh học 38

3.2.2 Giá trị sử dụng 39

3.2.3 Giá trị bảo tồn 41

3.3 Các biện pháp bảo tồn 43

3.3.1 Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu conservation) 43

Trang 6

3.3.2 Bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation) 44

3.4 Chính sách và các biện pháp hỗ trợ để bảo tồn đa dạng sinh học 45

3.4.1 Nguồn tài chính 46

3.4.2 Giáo dục và đào tạo 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

Kết luận 51

Kiến nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC A : ĐẶC ĐIỂM CÁC LOÀI CÂY ĐIỀU TRA 57

PHỤ LỤC B: ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA 77

PHỤ LỤC C: CÁC LOÀI CÂY ĐIỀU TRA 79

PHỤ LỤC D: CÁC THIẾT BỊ ĐIỀU TRA VÀ CÁCH ĐO 84

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CITES: Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp DD: Data deficient - Thiếu dữ liệu

ĐDSH: Đa dạng sinh học

EN: Endangered - nguy cấp

GPS: Global Positioning System - Hệ thống Định vị Toàn cầu

IUCN: International Union for Conservation of Nature and Natural Resources

- Tổ chức Bảo Tồn Thiên nhiên Quốc tế KHCN: Khoa học công nghiệp

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NĐ32: NĐ 32/2006/NĐ-CP về Quản lí động, thực vật nguy cấp, quý hiếm Nhóm IA, IIA: Hạn chế khai thác, sử dụng các loài động, thực vật vì mục đích thương

mại

RAMSAR: Công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý và thích đáng

các vùng đất ngập nước SĐVN: Sách đỏ Việt Nam (2007)

UNESCO: Chương trình Giáo dục Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc

VU: Vulnerable - sẽ nguy cấp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Bảng số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới 16

Bảng 1.2: Thống kê các loài thực vật đã biết ở Việt Nam 21

Bảng 2.1: Danh sách loài thực vật điều tra có giá trị ven sông Sài Gòn 30

Bảng 3.1: Số lượng mỗi loài trong khu vực điều tra 33

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH

Biểu đồ 3.1: Phần trăm tổng số cây của từng khu vực điều tra 35

Biểu đồ 3.2: Tổng số cây của mỗi loài điều tra 36

Biểu đồ 3.3: Phân cấp tỉ lệ phần trăm cây gỗ (Gỗ lớn, vừa và nhỏ) 39

Hình 1.1: Khu vực hạ du lưu vực hệ thống sông Sài Gòn 7

Hình 1.2: Điều tra cây gỗ quý tại Bến Cát - Bình Dương 14

Hình 1.3: Điều tra cây tại tuyến Huyện Bến Cát – Bình Dương 20

Hình 2.1: Bảng đồ vị trí khu vực nghiên cứu 28

Hình 3.1: Định vị vị trí cây được điều tra lên bản đồ google map 37

Hình 3.2: Thông số và đặc điểm chi tiết cây điều tra 37

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nơi sống của khoảng 7.500 loài chủng vi sinh vật; khoảng 20.000 loài thực vật có mạch trên cạn và dưới nước; khoảng 10.500 loài động vật trên cạn gồm khoảng

1000 loài động vật không xương sống ở đất, 7700 loài côn trùng, khoảng 1000 loài cá ở nước ngọt, gần 500 loài bò sát - ếch nhái, 850 loài chim, 312 loài thú và trên 1000 loài động vật không xương sống, dưới biển có trên 7000 loài động vật không xương sống, khoảng 2.500 loài cá nước ngọt và xấp xỉ 50 loài rắn biển, rùa biển và thú biển Ngoài ra, các nhà khoa học cho rằng ở Việt Nam, số loài sinh vật đã biết trên đây thấp hơn nhiều so với số loài

đang sống trong thiên nhiên chưa được điều tra, thống kê và mô tả.(Báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học năm 2011)

Trong đó hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, bao gồm 12.000 - 15.000 loài thực vật, trong đó có khoảng 30% số loài là đặc hữu và đã có 7.000 loài được nhận biết

(Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm diện

tích, chất lượng và hệ sinh thái rừng của nước ta bị suy thoái nghiêm trọng Nhiều loài thực vật rừng quý hiếm đang bị khai thác, chặt hạ trái phép nên đang đứng trước nguy

cơ bị đe doạ tuyệt chủng Năm 1996, Việt Nam có 356 loài thực vật bị đe doạ tuyệt

chủng (Sách đỏ Việt Nam, 1996), thì con số này đã tăng lên 450 loài vào năm 2008 (Sách đỏ Việt Nam, 2008 và IUCN, 2008)

Điều tra và khảo sát các loài cây gỗ lớn góp phần bổ sung thêm cơ sở dữ liệu về

đa dạng hệ thực vật của Việt Nam, tài nguyên thực vật của Việt Nam nói chung và tài nguyên thực vật ven sông Sài Gòn nói riêng, với ý nghĩa và tầm quan trọng trên nên

em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra, khảo sát một số loài cây gỗ lớn quý hiếm có giá trị ven sông Sài Gòn từ Lộc Ninh tỉnh Bình Phước về Bình Dương, Thủ Dầu Một và đề xuất các phương án bảo tồn” Nhằm vào việc cung cấp thông

tin, cơ sở dữ liệu về phân bố các quần thể quan trọng của các loài thực vật quý hiếm

Trang 11

theo Nghị định 32/2006, Sách đỏ Việt Nam và Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) Trên cơ sở đó đề xuất được các giải pháp bảo tồn loài tại các khu vực trên địa bàn các tỉnh ven sông Sài Gòn

Trên quan điểm xây dựng một bộ số liệu cập nhật chính xác, thống nhất làm cơ sở cho việc đánh giá tính đa dạng các loài cây gỗ ven sông Sài Gòn ( từ khu vực Lộc Ninh

về Bình Dương), cả về mặt đa dạng loài, đa dạng giá trị sử dụng, dạng sống và tình trạng bảo tồn của các loài thực vật nhằm phục vụ công tác quản lý bảo tồn các loài cây

gỗ lớn quý hiếm ven sông Sài Gòn có hiệu quả hơn Ngoài giá trị cực kì to lớn về Kinh

tế - Môi trường như điều tiết khí hậu, kiểm soát lũ lụt, chống xói mòn đất, giữ nước, giảm ô nhiễm, các khu rừng trong khu vực có giá trị đa dạng sinh học rất cao

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá sơ bộ sự phát triển của một số cây trồng bản địa không tập trung để làm

cơ sở khuyến khích sự tham gia tự nguyện của cộng đồng

- Đánh giá tính đa dạng và giá trị của hệ thực vật các loài cây gỗ lớn quý hiếm và

đề xuất ra các phương án nhằm bảo tồn các loài cây gỗ lớn quý hiếm ven sông Sài Gòn ( từ Lộc Ninh về Bình Dương)

- Làm cơ sở cho các hoạt động trồng cây bản địa và nguồn giống địa phương (cây mẹ)

Trang 12

4 Nhiệm vụ của đề tài

- Điều tra, khảo sát và định danh loài cây gỗ lớn quý hiếm từ khu vực Lộc Ninh Biên giới Việt Nam – Campuchia về Bình Dương

- Thu thập số liệu và đánh giá tính đa dạng, giá trị các loài cây gỗ tại khu vực điều tra

- Định vị vị trí của các loài cây được khảo sát lên bản đồ của Google Earth

- Đề xuất các biện pháp bảo tồn các loài cây gỗ lớn quý hiếm

5 Phương pháp điều tra

5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Kế thừa có chọn lọc các số liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu có liên quan tới vấn

đề nghiên cứu (Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội có liên quan đến

khu vực nghiên cứu)

5.2 Phương pháp nghiên cứu đa dạng về thành phần loài

Lập các tuyến điều tra: bằng cách định vị tọa độ trước trên máy định vị GPS và bản đồ google earth với bán kính tính từ bờ sông là 2 km (bên tả Sông Sài Gòn), chiều dài dọc theo Sông (từ Lộc Ninh của tỉnh Bình Phước Biên giới Việt Nam – Campuchia chảy qua địa phận hai tỉnh Tây Ninh, Bình Dương)

- Thành lập bản đồ khu vực nghiên cứu theo các tài liệu thu thập được kết hợp với các phần mềm hiện có, xác định các khu vực có dân cư sinh sống, các trục đường song song, các khu vực có đồn điền cao su và những vùng đất trồng rừng dọc hai bên bờ sông

- Chuẩn bị các phương tiện, bảng, biểu, dụng cụ đo đếm, la bàn, GPS cầm tay, smartphone, vật tư văn phòng phẩm…, cho công tác điều tra ngoại nghiệp

Trang 13

- Sử dụng phương pháp tổng quan tư liệu và phương pháp quan sát thực tế hiện trường

5.3 Phương pháp thống kê sinh học

- Sử dụng phương pháp thống kê sinh học và phần mềm excel để tính toán mật độ phân bố của các loài cây

- Đánh giá mức độ và khả năng sinh trưởng của các loài cây điều tra

- Tính toán mức độ biến động và mức tương quan giữa các loài với nhau

6 Kết quả đạt được

- Điều tra được các loài cây gỗ thông thường và quý hiếm có giá trị ven sông Sài Gòn ( từ khu vực Lộc Ninh về Bình Dương)

- Tính toán và đánh giá được thành phần các loài cây gỗ

- Phân loại nguồn gốc và tìm hiểu được giá trị của mỗi loài

- Đưa ra các biện pháp để bảo tồn các loài cây gỗ

7 Kết cấu của ĐA/KLTN

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC

1.1 Giới thiệu về sông Sài Gòn

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2 Đa dạng thực vật trên Thế Giới

1.2.1 Thực vật trên thế giới

1.2.2 Thảm thực vật

1.2.3 Hệ thực vật

Trang 14

1.4 Vai trò đa dạng sinh học trong nền kinh tế và đời sống

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN

3.1 Đa dạng thành phần loài cây gỗ

3.2 Đa dạng về giá trị sử dụng và bảo tồn

3.2.1 Giá trị đa dạng sinh học

3.2.2 Giá trị sử dụng

Trang 15

3.2.3 Giá trị bảo tồn

3.3 Các biện pháp bảo tồn

3.3.1 Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu conservation)

3.3.2 Bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation) 3.4 Chính sách và các biện pháp hỗ trợ để bảo tồn đa dạng sinh học 3.4.1 Nguồn tài chính

3.4.2 Giáo dục và đào tạo

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 16

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC 1.1 Giới thiệu về sông Sài Gòn

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lí

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ khu vực Lộc Ninh (Biên giới Việt Nam - Campuchia), tỉnh Bình Phước chảy qua địa phận hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, rồi đổ vào sông Đồng Nai ở mũi Đèn Đỏ thuộc huyện Nhà Bè và gọi là sông Nhà Bè (dòng hợp lưu của hai sông Đồng Nai và Sài Gòn)

Sông Sài Gòn dài 256 km, chảy dọc trên địa phận thành phố dài khoảng 80 km,

có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến

370 m, độ sâu có chỗ tới 20 m, diện tích lưu vực trên 5.000 km² (theo Cảng vụ đường thủy nội địa, 2016)

Hình 1.1: Khu vực hạ du lưu vực hệ thống sông Sài Gòn

Trang 17

Sông Sài Gòn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố nằm trên lưu vực; đồng thời tiếp nhận các loại chất thải đô thị,

công nghiệp và nông nghiệp

1.1.1.2 Địa hình

Đặc điểm địa hình còn có mối quan hệ khắn khít với đặc điểm khí hậu, ảnh hưởng chi phối đến lưu vực hướng nước và môđun dòng chảy bề mặt Ngoài ra, độ dốc bề mặt địa hình còn liên quan đến tiềm năng thuỷ điện của các dòng sông Do vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm địa hình trên lưu vực sông Sài Gòn là rất cần thiết để cùng với việc nghiên cứu về đặc điểm địa chất - thổ nhưỡng và thảm phủ thực vật trên lưu vực đưa ra các luận cứ khoa học phục vụ cho việc quản lý thống nhất và tổng hợp nguồn nước ở lưu vực sông Sài Gòn

Do nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ và Đồng Bằng sông Cửu Long, lại tiếp giáp với thềm lục địa biển Đông nên địa hình lưu vực sông Sài Gòn vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của một đồng bằng, lại vừa có nét đặc trưng của một vùng duyên hải Nhìn tổng thể, lưu vực sông Sài Gòn

có địa hình nghiêng dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ dốc trung bình toàn lưu vực là 4,6% Đỉnh chung của khối địa hình này là cao nguyên Lang Biang Nam Trường Sơn có độ cao khoảng 2.000 m và thấp dần cho tới khi gặp sông Vàm Cỏ có độ cao từ

1 - 3 m Càng lên phía Bắc và Đông Bắc, địa hình càng cao, mức độ chia cắt từ trung bình đến mạnh Mặc dù độ dốc bình quân của lưu vực chỉ đạt 4,6% nhưng trên dòng chính sông Đồng Nai có nhiều thác ghềnh tạo nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn Một cách tổng quát, có thể phân chia địa hình lưu vực sông Sài Gòn thành 4 dạng hình thái như sau:

Trang 18

▪ Địa hình rừng núi

Hầu hết thuộc cao nguyên Lâm Viên và Di Linh trong địa phận tỉnh Lâm Đồng, một ít ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh và liền một dãy với cao nguyên Nam Đắklắk Có thể chia vùng này ra 3 loài địa hình riêng

Vùng núi ven các đồng bằng sát biển với những dãy núi nhỏ có địa hình cắt xẻ mạnh

Vùng núi bao quanh Đà Lạt nằm trên một nền cao nguyên có độ cao trung bình

1200 - 1700 m, địa hình khá phức tạp với nhiều đồi cùng các lòng chảo nhỏ Đây là vùng của cao nguyên Lâm Viên, đỉnh mái nhà của lưu vực Độ cao tuyệt đối của vùng này là đỉnh Bidoup - 2287 m

Vùng cao nguyên Nam Đắclắk có cao độ khoảng 600 - 1000 m và địa hình thoải dần về phía Nam và Tây - Nam Đây là vùng của cao nguyên Xnaro và một phần của cao nguyên Di Linh

Trang 19

nên những đồng bằng nhỏ hẹp có các con sông ngắn và dốc, các dãy núi và mỏm núi cao mà hầu hết là đá và đá phong hoá ăn lan ra tận biển

Địa hình toàn lưu vực nhìn chung là tương đối bằng phẳng, độ dốc dưới 8 độ do địa hình ít bị chia cắt, chỉ phần nhỏ thượng lưu của lưu vực sông Đồng Nai là khu vực phân bố của đồi núi với độ chia cắt từ trung bình đến mạnh thì dốc trên 15˚ tới 35˚, và

1.1.1.4 Khí hậu – khí tượng

Đặc điểm khí hậu và khí tượng trên lưu vực là những yếu tố ảnh hưởng đến dòng chảy bề mặt, chế độ thuỷ văn và môi trường nước Vì vậy các thông tin liên quan đến chúng cần được nghiên cứu, cập nhật để làm cơ sở cho việc đánh giá ảnh hưởng của chúng đến nguồn nước

Đặc điểm chung

Đặc điểm cơ bản đầu tiên của khí hậu trên toàn lưu vực là sự phân hoá theo mùa Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô (mùa mưa từ tháng 5 đấn tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) Mùa khô trùng với gió mùa mùa Đông vốn là luồng tín phong ổn định, mùa mưa trùng với gió mùa mùa Hạ mang lại những khối không khí nhiệt đới và xích đạo nóng ẩm với những nhiễu động khí quyển thường xuyên

Trang 20

Đặc điểm cơ bản thứ 2 của khí hậu vùng này là có một nền nhiệt độ cao và hầu như không có những thay đổi đáng kể trong năm Nhiệt độ trung bình năm ở vùng này đạt tới 26 - 27˚C Chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất không quá 4 - 5˚C

Đặc điểm thứ 3 cần lưu ý là tính biến động, nhưng ít biến động hơn so với khí hậu miền Bắc, điều này thể hiện rõ trong sự biến đổi nhiệt độ và độ ẩm hằng ngày ở vùng này ít hơn so với khu vực phía Bắc

1.1.1.5 Thực vật

Đặc điểm thảm phủ thực vật trên lưu vực bao gồm hệ thống rừng tự nhiên và thảm thực vật canh tác nhằm đảm bảo tích trữ nước để điều hoà lưu lượng vào mùa khô

và hạn chế khả năng xói mòn, rửa trôi đất vào mùa mưa

Trong quá khứ lưu vực sông Đồng Nai bao gồm cả miền Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, đã từng có gần 60% diện tích được rừng tự nhiên che phủ Vào năm 2000 tổng diện tích đất có rừng chỉ còn 1.311.700 ha chiếm 27,8% tổng diện tích, tập trung chủ yếu ở Nam Đăk Lăk, Tây Bình Thuận, Lâm Đồng, Bắc Đồng Nai, Đông Nam Bà Rịa - Vũng Tàu, Bắc Bình Phước và Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh Trong lưu vực hiện có một Khu Dự trữ sinh quyển thế giới (Rừng ngập mặn Cần Giờ với 75.740

ha quy hoạch, trong đó khoảng 26.000 ha rừng) và 2 vườn quốc gia: Cát Tiên (73.837 ha), Lò Gò Xa Mát (10.000 ha); 4 khu bảo tồn thiên nhiên: Bù Gia Mập (22.330 ha), Bình Châu – Phước Bửu (11.293ha), Núi Ông (25.468 ha), Tà Kou (29.134 ha) Ngoài giá trị cực kì to lớn về kinh tế – môi trường như điều tiết khí hậu, kiểm soát lũ lụt, chống xói mòn đất, giữ nước, xử lý ô nhiễm, các khu rừng trong khu vực có giá trị đa dạng sinh học rất cao

Trang 21

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm lớn về kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, văn hoá, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế lớn của cả nước, có lực lượng lao động dồi dào, tay nghề khá, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đang đóng góp tích cực vào sự phát triển của các tỉnh khu vực phía Nam Đồng thời có một hệ thống đô thị, các khu công nghiệp trong quá trình phát triển đã thu được những bài học quý Thị xã Thủ Dầu Một và khu vực Nam Bình Dương và khu vực dọc theo quốc lộ 13, 14 và 51, nơi có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển công nghiệp Vùng nằm trên trục đường giao thông đường sắt và đường bộ xuyên Á ra biển, gần đường hàng hải quốc tế, và tiếp giáp với khu vực các nước Đông Nam Á đang phát triển năng động

Với vị trí này, đây là trung tâm và đầu mối giao lưu của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế, được gắn kết bằng cả đường bộ, đường biển, đường sông và đường hàng không, thông thoáng và rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trong vùng cũng như mở rộng các quan hệ kinh tế liên vùng và quốc tế

1.2 Đa dạng thực vật trên Thế Giới

1.2.1 Thực vật trên thế giới

Khái niệm về ĐDSH:

➢ Theo Công ước ĐDSH năm 1992: “ĐDSH là sự đa dạng và phong phú của sinh vật từ mọi nguồn trên Trái Đất, bao gồm đa dạng trong loài (gen), giữa loài và đa dạng hệ sinh thái.”

➢ Khái niệm về ĐDSH của Bộ KHCN&MT: “ĐDSH là thuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ sinh thái trên đất liền, các hệ sinh thái dưới nước

khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên.”[15]

Trang 22

➢ Theo định nghĩa của Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới thì “ĐDSH là sự phồn thịnh của cuộc sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống”

Một số vùng giàu tính đa dạng sinh học trên Trái Đất giàu tính ĐDSH nhất là các vùng nhiệt đới và tập trung chủ yếu là các cánh rừng nhiệt đới, các rạn san hô nhiệt đới Rừng nhiệt đới tuy chỉ chiếm 7% diện tích bề mặt Trái đất nhưng lại chiếm tới 50%, thậm chí có thể lên tới 90% tổng số loài động thực vật của Trái đất Về thực vật đến nay đã thống kê được khoảng 90.000 loài có mặt ở vùng nhiệt đới Vùng nhiệt đới Nam Mỹ là nơi giàu loài nhất, chiếm 1/3 tổng số loài: Brazil có 55.000 loài, Colombia

có 35.000 loài, Venezuela có 15.000 - 25.000 loài Vùng châu Phi kém đa dạng hơn Nam Mỹ: Tazania 10.000 loài, Camorun 8.000 loài, trong khi đó toàn bộ vùng Bắc Mỹ,

Âu, Á chỉ có 50.000 loài Nhận xét chung, vùng nhiệt đới chiếm 2/3 con số ước tính

250.000 loài thực vật có mạch của thế giới [26]

Tổng số loài thực vật hiện nay trên thế giới có nhiều biến động và chưa cụ thể, tùy từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ Các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.000 – 600.000 loài Các loài thực vật được khoa học biết đến (hiện ở mức 350.699 loài) với các loài thực vật tại 1/3 số khu vườn trên khắp thế giới, vào khoảng 1.116 cơ sở Nghiên cứu cho thấy mạng lưới các vườn thực vật toàn cầu bảo tồn được 2/3 giống thực vật và hơn

90% hệ thực vật [14]

Trang 23

Nguồn ảnh: Lê Thanh Quang

Hình 1.2: Điều tra cây gỗ quý tại Bến Cát - Bình Dương

Nghiên cứu đa dạng thực vật trên thế giới được bắt đầu bằng việc phân loại thực vật Mở đầu là Theophraste, học trò của Aristotle Ông đã đề xướng phương pháp phân loại và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo cơ thể thực vật Trong tác phẩm

“Lịch sử tự nhiên của thực vật” và “Cơ sở thực vật” ông đã mô tả gần 500 loài cây và phân ra thành cây to, cây nhỡ, cây nhỏ, cây thân gỗ, cây sống trên cạn, cây sống dưới

nước… [27]

Các công trình nghiên cứu phân loại thực vật dựa trên những bằng chứng tiến hóa dựa trên học thuyết của Darwin, tác giả được đề cập nhiều nhất là nhà thực vật học

Trang 24

người Đức là Eichler Ông đã chia giới thực vật thành Thực vật không hạt

(Cryptogramae) và Thực vật có hạt (Phaerogramae) Nhóm thứ nhất gồm Nấm, Tảo và

Rêu; nhóm thứ hai gồm thực vật Hạt trần và thực vật Hạt kín (bao gồm thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá mầm)

Năm 1965, Al A Phêđôrốp dự đoán thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 – 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000

- 18.000 loài rêu; 19.000 – 40.000 loài tảo; 15.000 – 20.000 loài địa y; 85.000 – 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác

Đối với từng châu lục, G N Slucop (1962) đưa ra số lượng các loài thực vật hạt

kín phân bố ở các châu lục như sau (Đào Ngọc Tú, 2010):

- Châu Á có khoảng 125.000 loài, trong đó: Đông Nam Á (80.000 loài); các khu vực nhiệt đới Ấn Độ (26.000 loài); Tiểu Á (8.000 loài); Viễn Đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc (6.000 loài); Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á (5.000 loài)

- Châu Âu có khoảng 15.000 loài, trong đó: Trung và Bắc Âu (5.000 loài); Nam

Âu, vùng Ban căng và Capcasơ (10.000 loài),

- Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài, trong đó: Hoa Kỳ và Canada (25.000 loài), Mêhicô và Trung Mỹ (17.000 loài), Nam Mỹ (56.000 loài), Đất lửa và Nam cực (1.000 loài)

- Châu Phi có khoảng 40.500 loài, trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm (15.500 loài); Madagasca (7000 loài); Nam phi (6.500 loài); Bắc phi, Angieri, Marốc và các vùng phụ cận khác (4.500 loài); Abitxini (4.000 loài); Tuynidi và Ai cập (2.000

loài); Xomali và Eritrea (1.000 loài)

- Châu Úc có khoảng 21.000 loài, trong đó: Đông bắc Úc (6.000 loài); Tây

nam Úc (5.500 loài); Lục địa Úc (5.000 loài); Taxman và Tây tây lan (4.500 loài) Lecointre và Guyader (2001) đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được

mô tả trên toàn thế giới như sau:

Trang 25

Bảng 1.1: Bảng số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới

(% số loài đã được mô tả)

Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả Mô tả

A.F.W.Schimper (1898) đã chia thảm thực vật vùng nhiệt đới thành những quần

hệ khí hậu và quần hệ thổ nhưỡng

Rubel (1935) [30] đã lập một bảng phân loại được xem như kinh điển Nhưng

cách phân chia các đơn vị của ông không dựa trên một tiêu chuẩn thống nhất và ông đã không chú ý đến tiêu chuẩn quan trọng trong cấu trúc quần lạc tức độ che nền đất của

tần ưu thế sinh thái để phân chia các thảm thực vật

J Beard (1938) [3] đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và

loạt quần hệ) Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền

núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm

Trang 26

Sennhicop (1941, 1964) [31] đưa ra quan điểm phân loại rừng theo nơi sống và

quần xã thực vật, trên đó có các kiểu thảm thực vật đặc trưng Kiểu phân loại này được

dùng nhiều với loại đồng cỏ sử dụng làm cơ sở chăn nuôi và các quần xã cây trồng

Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó

Segova (1957) lại chia thảm thực vật theo vành đai: Vành đai ven biển bùn lầy, vành đai núi thấp dưới 800 – 1000m và vành đai cao hơn

UNESCO (1973) đưa ra một khung phân loại chung cho thảm thực vật thế giới

mà có thể thể hiện trên bản đồ 1:1.000.000 và nhỏ hơn Khung phân loại này không dựa hẳn vào một nguyên tắc hay hệ thống đã có mà nó kết hợp các nguyên tắc lại với nhau ở những mức độ khác nhau Tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc, ngoại mạo Bậc phân loại cao nhất của hệ thống này là lớp quần hệ, bậc thấp nhất

ở dưới phân quần hệ (dưới quần hệ phụ),[41]

Trên thế giới, các nghiên cứu về thảm thực vật đều hướng vào việc xây dựng khung phân loại để trên cơ sở đó xác định các kiểu thảm thực vật phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo như kinh doanh rừng, đánh giá hiện trạng, phân bố của thực vật Đối với lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng sinh học thì đây là một nội dung cần thiết nhằm xác định đối tượng, môi trường, cảnh quan và các yếu tố sinh thái liên quan đến nơi sống, điều kiện sinh trưởng phát triển của thực vật làm cơ sở cho việc xây dựng

chiến lược bảo tồn loài, bảo tồn sinh cảnh.[24]

1.2.3 Hệ thực vật

Thực vật chí Hồng Kông, 1861; thực vật chí Australia, 1866; Thực vật chí vùng Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ, 1874; Thực vật chí Ấn Độ, gồm 7 tập (1872- 1897); Thực vật chí Miến Điện, 1877; Thực vật chí Malaisia, 1892-1925; Thực vật chí Hải Nam, 1972-1977; Thực vật chí Vân Nam, 1977; Đối với các nước Âu, Mỹ Hầu hết các

Trang 27

vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô (herbarium) nổi tiếng thế giới như Kew (Anh quốc), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga) Đối với các nước khu vực Đông Nam Á đã có bộ Thực

vật chí khá hoàn chỉnh như Trung Hoa, Thái Lan, Indonexia và Malaysia [17]

Engler (1882) [19] đưa ra con số thống kê cho thấy số loài thực vật thế giới là

275.000 loài, trong đó thực vật có hoa có 155.000 - 160.000 loài, thực vật không có hoa 30.000 - 135.000 loài Riêng thực vật có hoa trên thế giới, Van lop (1940) đưa ra con số 200.000 loài, Grosgayem (1949) là 300.000 loài Hai vùng giàu có nhất thế giới

là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaixia 45.000 loài Hệ thực vật giàu loài liên quan không chỉ có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi mà còn phụ thuộc vào các nhân tố lịch sử Trung Âu có 3500 loài, 800 chi, 120 họ (1/6,6/29,2 tức là một họ có 6,6 chi và 29,2 loài) trong khi đó ở Trung Hoa có 2900 loài 936 chi 155 họ (1/6/12,2)

Theo Phạm Hoàng Hộ (1999-2003), hệ thực vật trên thế giới như sau: Pháp có khoảng 4.800 loài, châu Âu 11.000 loài, Ấn Độ khoảng 12-14.000 loài, Canada có khoảng 4.500 loài kể cả loài du nhập, cả Bắc Mỹ có trên 14.000 loài, Malaysia và

Indonesia có khoảng 25.000 loài.[28]

1.2.4 Đa dạng về thực vật thân gỗ

Kuznetsov A N và cs (2011) [11] đã nghiên cứu trong hầu hết các kiểu rừng

nhiệt đới gió mùa điển hình Kết quả đã thống kê được những cây gỗ thuộc 119 họ thực vật, trong đó có 8 họ hạt trần, 110 họ thực vật có hoa và 1 họ thực vật bào tử Từ

119 họ, có tới 3140 loài cây gỗ, đặc biệt có 10 họ với số lượng loài rất lớn có tới 1720 loài cùng với 10 chi lớn nhất chứa 574 loài năm 1999, nhóm chuyên gia Thông của IUCN/SSC đã công bố Hiện trạng và Kế hoạch bảo tồn của nhóm (Farjon & Page,

1999) [10] Báo cáo này đánh giá tình hình của Thông trên thế giới, bao gồm cả Danh

lục đỏ toàn cầu cũng như những gợi ý chung cho công tác bảo tồn loài Trên thế giới

Trang 28

có 630 loài Thông thuộc 69 chi, trong đó có 291 loài Thông trên thế giới được đánh giá bị đe dọa tuyệt chủng ở mức quốc tế

1.3 Đa dạng thực vật ở Việt Nam

1.3.1 Thực vật ở Việt Nam

Việt Nam nằm ở phần đông bán đảo Đông Dương, trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu tiếp cận với xích đạo, phần đất liền trải dài trên 15 vĩ độ từ phía Bắc xuống phía Nam khoảng 1.650km Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên trên đất liền là 329.241 km2, 75% diện tích trong đó là đồi núi Vùng biển có bờ biển dài khoảng 3.260 km với vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2 gồm hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Về khí hậu, Việt Nam không chỉ có khí hậu nhiệt đới gió mùa mà còn có cả khí hậu á nhiệt đới và ôn đới núi cao

Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam

Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu là cơ sở rất thuận lợi tạo nên tính đa dạng sinh học phong phú và đặc sản của Việt Nam, thể hiện ở đa dạng các

hệ sinh thái, loài và nguồn gen Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mức độ đa dạng sinh học của Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo thời gian

Trang 29

Hình 1.3: Điều tra cây tại tuyến Huyện Bến Cát – Bình Dương

1.3.2 Đa dạng loài

Việt Nam là quốc gia có khí hậu nóng ẩm, lượng mưa hàng năm tương đối cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật phát triển, vì thế nước ta có mức độ đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế giới Việc nghiên cứu về hệ thực vật ở nước

Trang 30

bão, duy trì được độ phì nhiêu của đất, giảm bớt sự ô nhiễn không khí, tạo môi trường sống thuận lợi cho sự phát triển của động vật

Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao về các loài động vật, thực vật và vi sinh vật Qua các tài liệu điều tra cơ bản, đến năm 2010 đã có các con số thống kê về thực vật: tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 13.766 loài thực vật Trong đó, 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch Sau đó, trong công trình Danh lục các loài thực vật Việt Nam, chưa kể

các nhóm vi tảo ở nước , các nhà thực vật đã thống kê có tới 16.428 loài thực vật.[20]

Bảng 1.2: Thống kê các loài thực vật đã biết ở Việt Nam Các nhóm thực vật Số lượng loài

Trang 31

1.3.3 Thảm thực vật

Ở miền Bắc có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý của các tác giả người nước ngoài như: Chevalier A với việc đưa ra bảng xếp loại thảm thực vật rừng Bắc Bộ

thành 10 kiểu Maurand P (1943) [14] đã chia Đông Dương thành 3 vùng và 8 kiểu

quần thể thực vật Dương Hàm Hy (1956) đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam

Ở miền Nam, Maurand P (1953) đã tổng kết những công trình nghiên cứu Rollet B., Lý Văn Hội và Neang sam Oil và đưa ra một bảng xếp loại các quần thể thực vật Nghiêm Xuân Tiếp cũng đưa ra một bảng phân loại những kiểu rừng ở Việt Nam dựa trên cơ sở tổng hợp bảng phân loại của Maurand P và của Dương Hàm Hy (Hoàng

Chung, 2005)[21]

Thái Văn Trừng (1978, 1999) [32] đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh

quần thể thực vật để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Tư tưởng học thuật của quan điểm này là trong một môi trường sinh thái cụ thể chỉ có thể xuất 19 hiện một kiểu thảm thực vật nguyên sinh nhất định Trong môi trường sinh thái đó có 5 nhân tố sinh thái phát sinh ảnh hưởng quyết định đến tổ thành loài cây rừng, hình thái, cấu trúc

và hình thành nên những kiểu thảm thực vật rừng tương ứng Trên cơ sở đó Thái Văn Trừng đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật có trên đất lâm nghiệp Luồng di cư từ phía Bắc xuống là luồng các nhân tố Vân Nam - Qúy Châu, hướng Tây và Tây Nam là luồng các yếu tố Ấn Độ - Miến Điện Trên nền tảng quan điểm sinh thái phát sinh, Thái Văn Trừng (1971) đã xây dựng hệ thống phân loại

và lập bản đồ phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam

Trần Ngũ Phương (1970) [33] xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam

gồm có các đai rừng và kiểu rừng Nhưng do không đứng trên quan điểm sinh thái phát sinh nên bảng phân loại này cũng chỉ là một bảng kể tên các kiểu quần hệ và xã hợp,

ưu hợp thực vật đã điều tra được mà không làm nổi bật được quan hệ nhân quả giữa

Trang 32

thảm thực vật và các điều kiện của môi trường Mặt khác do không nghiên cứu vùng phân bố, lịch sử và thành phần của hệ thực vật Việt Nam, nên không lý giải được vì sao

ở vùng này lại có kiểu phụ này, ở vùng khác độ cao khác lại có loại hình khác, kiểu

phụ khác[24]

Phan Kế Lộc (1985) [29] dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đưa ra

khung phân loại thảm thực vật ở Việt Nam, có thể thể hiện được trên bản đồ 1:2.000.000 Bảng phân loại gồm 5 lớp quần hệ, mỗi một phân lớp quần hệ lại phân thành các nhóm quần hệ và thấp nhất là phân quần hệ Bảng phân loại này đã được một

số tác giả áp dụng: Lê Đồng Tấn (2002) [12, Lê Ngọc Công (2004) [13], Trần Văn Thụy và cs (2006) [34], Trần Văn Hoàn và cs (2009) [35], Nguyễn Nghĩa Thìn và cs (2011)[22]

Nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam đã có một số tác giả nổi tiếng như: Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phương, Phan Kế Lộc,…trong những năm gần đây có thêm nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, nhìn chung các nghiên cứu này đều áp dụng theo những phương pháp phân loại trên Tuy nhiên, xu hướng phân loại theo UNESCO, 1973 đã được Phan Kế Lộc áp dụng ở Việt

Nam ngày càng phổ biến do nó thích hợp với hiện trạng thảm thực vật thứ sinh.[24]

1.3.4 Hệ thực vật

Để phục vụ công tác khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thực vật, Bộ Lâm

nghiệp đã công bố 07 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 – 1988) [4], đến năm 1996

công trình này đã được Vũ Văn Dũng dịch sang tiếng Anh Trần Đình Lý (1993) đã

công bố 1900 cây có ích ở Việt Nam [36]; Võ Văn Chi (1996) đã công bố Từ điển cây thuốc Việt Nam [42] với 3105 loài cây sử dụng làm thuốc

Trong tài liệu về Tài nguyên cây gỗ Việt Nam , Trần Hợp (2000)[37], đã mô tả

đặc điểm nhận biết, phân bố và giá trị sử dụng của 1566 loài cây gỗ phổ biến từ Bắc

Trang 33

vào Nam Trong đó các loài được sắp xếp theo hệ thống tiến hóa của Armen Takhtajan

Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993), (1999 – 2000), [28] có bộ Cây cỏ Việt Nam tác

giả đã thống kê có mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam Tập thể các Nhà thực vật học Việt Nam (2001, 2003, 2005) biên soạn cuốn Danh lục

các loài thực vật Việt Nam Averyanov (1994) có họ Orchidaceae Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) có Euphorbiaceae Nguyễn Tiến Bân (2000) có Annonaceae Vũ Xuân Phương (2000) có Lamiaceae Trần Thị Kim Liên, (2002) Myrsinaceae Nguyễn Khắc Khôi (2002) Cyperaceae

Theo Nguyễn Khắc Khôi và cs (2011) [23], trong tổng số khoảng 25 ngành, 560

họ, 3400 chi với 18.000 loài thực vật có ở hệ thực vật Việt Nam, đã có 7 ngành (28%),

111 họ (19,65%), 175 chi (4,8%) với 448 loài (2,5%) được đánh giá có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ở Việt Nam Trong đó nhóm thực vật bậc cao có mạch gồm 4 ngành (67,15%), 99 họ (82,2%), 160 chi (91,43%) với 429 loài (95,75%)

Về dạng sống chủ yếu là cây gỗ với 126 loài chiếm 28,13%

Theo Thái Văn Trừng (1970), do điều kiện tự nhiên thích hợp, ở Việt Nam có 3 nguồn di cư lớn, đưa các yếu tố ngoại lai thuộc các khu hệ thực vật lân cận xâm nhập vào ( những luồng di cư này đã diễn ra từ đầu kỷ Thứ Ba) :

+ Luồng thứ nhất, từ phía Nam lên từ các yếu tố vùng Inđônêxia – Malaixia, trong

đó họ Dầu (Dipterocatpaceae) là tiêu biểu nhất

Trang 34

+ Luồng thứ hai từ tây bắc xuống, gồm các yếu tố ở vùng ôn đới Vân Nam, Qúy Châu và dãu Hymakaia, trong đó các loài cây lá kim của ngành Hạt trần, các loài cây rụng lá trong mùa đông thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), Hoa mộc ( Betulsceae), Đỗ quyên ( Ericeae)…

+ Luồng thứ ba, từ phía tây và tây nam, gồm các yếu tố vùng Inđônêxia – Malaixia tồn tại chủ yếu trên các vùng khô cạn của Ấn Độ, Myanma, trong đó tiêu biểu

là họ Bảng (Combretaceae) và một số loài cây lá rụng thuộc họ khác

Ta điển hình về hệ thực vật Vườn Quốc gia Cát Tiên Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm giữa 2 vùng sinh học địa lý từ vùng cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, do vậy hội tụ được các luồng hệ thực vật phong phú, đa dạng Đặc trưng

là các kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới với thành phần các loài cây gỗ,

chủ yếu thuộc các họ sao dầu (Dipterocarpaceae) và họ đậu (Fabaceae), đại diện cho

các kiểu rừng, thảm thực vật, thành phần các loài thực vật miền Đông Nam Bộ

Danh lục thực vật tại Vườn quốc gia Cát Tiên hiện nay đã xác định được 1.610 loài thuộc 724 chi, 162 họ và phụ họ, 75 bộ thực vật bậc cao có mạch, với thành phần

loài chiếm ưu thế thuộc họ sao dầu (Dipterocarpaceae), họ đậu (Fabaceae) và họ tử vi (Lythraceae) Có thể kể tên một số loài cây quý hiếm có tên trong sách đỏ như: gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), gõ mật (Sindora siamensis), cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis), cẩm lai nam (Dalbergia cochinchinensis), cẩm lai vú (Dalbergia mammosa),giáng hương (Pterocarpus macrocarpus) [24]

1.3.5 Đa dạng về thực vật thân gỗ

“Thực vật thân gỗ là cây sống nhiều năm, có thân sinh trưởng thứ cấp, hóa gỗ, thân chính phát triển mạnh, trên thân chính phân cành bên và chồi mang vòm lá” (Võ

Văn Chi, 2003).[43]

Trang 35

Cây gỗ là thực vật sống lâu năm, có thân hóa gỗ mọc thẳng và phát triển mạnh hơn các bộ phận khác (cao trên 5m) Cây gỗ là dạng sống quan trọng và thống trị trong

hệ sinh thái rừng (Trần Văn Con, 2008).38

Ở Việt Nam, tài nguyên cây gỗ lớn nhất tập trung vào hai ngành: Ngành thông và ngành Ngọc lan Nguyễn Đình Hưng (1996)25, đã thống kê rừng Việt Nam có khoảng 700 loài cây gỗ lớn và nhỡ, 400 loài cây gỗ nhỏ thuộc khoảng 100 họ thực vật khác nhau, trong đó có khoảng 30% loài cây thân gỗ có đường kính lớn nằm trong 60

họ thực vật khác nhau, phần còn lại là những loài cây gỗ nhỡ và nhỏ

Thực vật thân gỗ là nguồn tài nguyên rất quan trọng đối với cộng đồng và có ý nghĩa lớn trong khoa học nhưng những nghiên cứu về nó còn ít và tản mạn, chưa có tính hệ thống, chỉ mới có một số nghiên cứu nhỏ về thực vật thân gỗ, một số nghiên cứu rời rạc về một loài hoặc một nhóm loài thực vật thân gỗ Chính vì vậy, nghiên cứu

về vấn đề này là cần thiết và mang tính chiến lược

Hầu hết các loài cây thân gỗ đều có giá trị kinh tế cao Gỗ khai thác từ cây được dùng làm các vật liệu xây dựng, đóng các đồ dùng gia đình, đồ trang trí nội thất (như

gỗ cẩm lai, gỗ giáng hương), đồ mộc mĩ nghệ, đóng tàu thuyền hoặc lấy củi, ngoài ra một số bộ phận khác như tinh dầu, rễ, vỏ thân, lá cũng được dùng làm thuốc chữa bệnh Ngoài lấy gỗ các loài cây thân gỗ còn có giá trị thẩm mỹ cao cây cho bóng mát hoa đẹp dùng để thiết kế cảnh quan trên các vỉa hè, đường phố, xí nghiệp, công viên, khu dân cư, đô thị,…một số cây còn cho quả vào các mùa thu hoạch

1.4 Vai trò của đa dạng sinh học trong nền kinh tế và đời sống

Mặc dù chưa được thường xuyên ghi nhận, nhưng ĐDSH Việt Nam đã đóng góp giá trị quan trọng cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và dược phẩm Năm 2010, ngành nông nghiệp đóng góp trên 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chiếm 28% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Khoảng 20 triệu người dân Việt Nam phụ thuộc vào tài nguyên thuỷ sinh và đang khai thác, sử dụng trên 300 loài hải

Trang 36

sản và trên 50 loài thuỷ sản nước ngọt có giá trị kinh tế; khoảng 25 triệu người sống trong hoặc gần các khu rừng và 20 - 50% thu nhập của họ là từ các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, gồm hàng trăm loài cây thuốc, cây cho dầu - nhựa, thuốc nhuộm ĐDSH và các cảnh quan đẹp trên cạn, ven biển và hải đảo còn là các điểm và khu du lịch hấp dẫn và nổi tiếng của Việt Nam, đặc biệt loại hình du lịch sinh thái đang trở thành dịch vụ phổ biến ở các khu bảo tồn, một mặt có ý nghĩa khám phá và giáo dục bảo vệ thiên nhiên, mặt khác còn mang lại lợi ích cho người dân địa phương khi tham gia dịch vụ Nhiều loài động - thực vật đã gắn liền với lịch sử, văn hóa và trở thành vật thiêng liêng hoặc vật thờ cúng của cộng đồng người Việt, ví dụ loài rùa hồ Gươm gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả lại gươm thần sau khi chiến thắng giặc Minh

Bên cạnh những giá trị kinh tế - xã hội và văn hóa, ĐDSH còn cung cấp nhiều dịch vụ quan trọng Các kiểu thảm thực vật ở trên cạn cũng như ở vùng nước ven bờ giúp điều hoà khí hậu thông qua dự trữ các bon, lọc không khí và nước, phân huỷ rác thải, giảm nhẹ tác động tiêu cực của thiên tai như lở đất và bão lũ Rừng ngập mặn dọc bờ biển đóng vai trò là những “lá chắn xanh” làm giảm từ 20 đến 70% sức mạnh của sóng biển, đồng thời giúp đảm bảo an toàn đê biển, tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí tu bổ đê điều hàng năm, đồng thời hỗ trợ

sự hình thành những vùng đất mới ở các vùng cửa sông, ven biển

Trang 37

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2 Vị trí khu vực nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu, bán kính 2 km từ bên tả của sông và trải dài dọc theo sông Sài Gòn từ khu vực Lộc Ninh (Biên giới Việt Nam - Campuchia), tỉnh Bình Phước qua địa phận hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh

Hình 2.1: Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu

Trang 38

Ưu tiên chọn những khu vực có dân cư sinh sống hay dọc theo các trục đường song song bên tả của bờ sông Sài Gòn

Ưu tiên xác định những cây bản địa:

+ Hiện có

+ Nguồn gốc tự nhiên (không phải cây trồng lại)

+ Cây trồng (Nguồn giống, nếu có thể)

+ Đã từng có trong các khu rừng gần sát và dọc theo hai bên nhánh sông Sài Gòn + Quan sát và ghi nhận sự phát triển của các cây rừng bản địa được trồng lại trên các loại đất ( thuộc khu vực điều tra)

2.3 Nội dung

Đánh giá độ đa dạng loài cây gỗ lớn (thông thường và quý hiếm) bản địa bên tả

bờ sông

- Số lượng loài hiện có

- Tầng số xuất hiện của mỗi loài

- Nguồn gốc của các loài (tự nhiên hay cây trồng)

- Đánh giá sự phát triển của các loài cây gỗ lớn (thông thường và quý hiếm),cây bản địa bên tả bờ Sông, đồng thời xác định các vị trí cây phát triển tốt nhất

Qua kết quả điều tra, khảo sát vùng nghiên cứu đã thu thập được 854 cây được điều tra

đo đếm và định vị, thuộc 18 loài và 11 họ (Phụ lục A)

Trang 39

Bảng 2.1: Danh sách loài thực vật điều tra có giá trị ven sông Sài Gòn

1 Sao đen Hopea odorata Roxb Sao Dầu -

4 Xà cừ Khaya senegalensis Xoan - Meliaceae

5 Dầu Dipterocarpus alatus Roxb Sao Dầu-

Dipterocarpaceae

6 Tếch Tectona grandis Họ tếch - Verbenaceae

7 Phi lao Casuarina equisetifolia Phi lao - Casuarinaceae

8 Bằng lăng ổi Lagerstroemia calyculata

10 Giáng hương Pterocarpus macrocarpus Đậu - Fabacea

11 Trắc Dallbergia cochinchinensis

13 Trôm Sterculia foetida Trôm - Sterculiaceace

14 Kơ nia Irvingia malayana Kơ nia - Irvingia

15 Osaka VN Erythrina fusca Đậu - Fabacea

16 Điệp phèo heo Enterolobium cyclocarpum Đậu - Fabacea

17 Cây Sưa Dalbergia

tonkinensis Prain Đậu - Fabacea

18 Căm xe Xylia xylocarpa Đậu - Fabacea

Trang 40

+ Để đánh giá sự phát triển các loài cây gỗ và vị trí phát triển tốt, thông qua các đặc điểm về chiều cao, đường kính ngang ngực (D1,3m), chiều cao vút ngọn (Hvn) và đường kính tán cây (Dtán), cả 3 đặc điểm này tương đồng thể hiện cây phát triển tốt Cây phát triển tốt thường không bị cụt ngọn và tán đẹp Tán cây cả hai phía Đông Tây

và Nam Bắc cân bằng không chênh lệch quá sẽ được kết luận là một cây đạt phẩm chất tốt

3.4 Phương pháp điều tra

2.4.1 Công tác chuẩn bị

Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có liên quan đến khu vực nghiên cứu

Thu thập các loại bản đồ hiện trạng của sông Sài Gòn

Thành lập bản đồ khu vực nghiên cứu theo các tài liệu thu thập được kết hợp với các phần mềm hiện có, xác định các khu vực có dân cư sinh sống, các trục đường song song, các khu vực có đồn điền cao su và những vùng đất trồng rừng dọc bên tả bờ sông

Lập các tuyến điều tra: khoảng cách tuyến, chiều dài mỗi tuyến (bán kính 2 km bên

Ngày đăng: 02/11/2018, 23:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm