Thí nghiệm I: nghiên cứu khả năng sinh trưởng và cải tạo đất của một số cây che phủ đất nhập nội tại các vùng đất đồi bị thoái hoá, bạc màu Lào Cai...34 2.5.3.. Riêng giống cỏVetiver đã
Trang 1đỗ bích nga
nghiên cứu khả năng sinh tr Ưởng, cải tạo
và chống xói mòn sạt lở đất của một số cây
che phủ đất tại lào cai
CHUYấN NGÀNH: TRỒNG TRỌT
MÃ SỐ: 60 62 01
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Thỏi Nguyờn, năm 2010
đại học thái nguyên
trờng đại học nông lâm
-đỗ bích nga
Trang 2nghiên cứu khả năng sinh trởng, cải tạo
và chống xói mòn sạt lở đất của một số cây
che phủ đất tại lào cai
CHUYấN NGÀNH: TRỒNG TRỌT
MÃ SỐ: 60 62 01
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Đặng Văn Minh
Thỏi Nguyờn, năm 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tụi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiờn cứu trong luậnvăn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho một học vịnào Mọi sự giỳp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đó được cảm
Trang 3ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được nghi rõnguồn gốc trong phần phụ lục.
Tác giả
Đỗ Bích Nga
Trang 4Sau quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn Tôi xinbày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS.TS Đặng Văn Minh đã đầu tư công sức và thời gian hướng dẫn,giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thànhluận văn
- Ban giám hiệu trường Trung cấp nghề Lào Cai và tập thể cán bộgiáo viên khoa Nông lâm nghiệp, học sinh lớp Nông lâm K6A, lớp Chănnuôi thú y K1 đã hết sức giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoànthành luận văn này
- Bộ môn hóa sinh – Viện khoa học sự sống – Đại học Thái Nguyên đãtrực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, phân tích và sử lý số liệu
- Bộ môn Nông lâm kết hợp – Viện Khoa học Nông nghiệp miền núi đãtận tình giúp đỡ cung cấp giống cây trồng để tôi thực hiện đề tài
- Khoa sau Đại học Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, TS Lê SĩTrung đã quan tâm, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và bảo
vệ luận văn
- Sự đóng góp to lớn trong đào tạo của tập thể các thầy cô giáo, sự góp ýchân thành của các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi nâng caođược trình độ trong thời gian qua
- Ngoài ra, tôi cũng nhận được sự quan tâm, động viên, tạo điều kiện vàgiúp đỡ của gia đình, người thân
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước những sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2010
Tác giả
Đỗ Bích Nga
Trang 5Bảng 3.1: Thống kê các loại cây cải tạo đất tại Lào Cai 47
Bảng 3.2: Tổng hợp DT trồng cây cải tạo đất tại các huyện điều tra 54
Bảng 3.3: Thời tiết khí hậu của Lào Cai năm 2009 57
Bảng 3.4: Chỉ tiêu dinh dưỡng của vùng đất thí nghiệm trước trồng 58
Bảng 3.5: Chiều cao cây của các công thức thí nghiệm 1 60
Bảng 3.6: Số cành, nhánh của các công thức thí nghiệm 1 62
Bảng 3.7: Đường kính thân các công thức thí nghiệm 1 63
Bảng 3.8: Đường kính tán các công thức thí nghiệm 1 64
Bảng 3.10: Năng suất chất xanh của các công thức thí nghiệm 1 68
Bảng 3.11: Năng suất chất khô của các công thức thí nghiệm 1 70
Bảng 3.12: Hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá của các công thức thí nghiệm 1 .71
Bảng 3.13: Tổng lượng dinh dưỡng trong thân lá trả lại cho đất của các công thức thí nghiệm 1 72
Bảng 3.14: Khả năng nhân giống của các công thức thí nghiệm 1 74
Bảng 3.15: Ẩm độ đất của các công thức thí nghiệm 1 trong năm 76
Bảng 3.16: Dung trọng, độ xốp đất của các công thức thí nghiệm 1 78
Bảng 3.17: Chỉ tiêu dinh dưỡng đất của các công thức thí nghiệm 1 sau trồng 1 năm 80
Bảng 3.18: Chiều cao cây của các công thức thí nghiệm 2 83
Bảng 3.19: Năng suất chất xanh của các công thức thí nghiệm 2 85
Bảng 3.20: Năng suất chất khô của các công thức thí nghiệm 2 87
Bảng 3.21: Khối lượng rễ, chiều dài, độ cắm sâu trong đất của rễ cỏ sau trồng 6 tháng, 1 năm 88
Bảng 3.22: Ẩm độ đất các công thức thí nghiệm 2 trong năm 90
Bảng 3.23: Dung trọng, độ xốp đất của các công thức thí nghiệm 2 92
Bảng 3.24: Lượng đất bị xói mòn của các công thức 94
thí nghiệm 2 trong mùa mưa 94
Bảng 3.25: Chi phí trực tiếp cho 1 kg chất xanh cây cải tạo đất 99
Bảng 3.26: Chi phí trực tiếp cho 1 kg chất xanh cây phủ đất 100
Trang 7Hình 3.1: Chiều cao cây thí nghiệm 1 64
Hình 3.2: Số lượng nốt sần thí nghiệm 1 70
Hình 3.3: Năng suất chất xanh thí nghiệm 1 72
Hình 3.4: Tổng lượng dinh dưỡng trả lại cho đất thí nghiệm 1 76
Hình 3.5: Chiều cao cây thí nghiệm 2 87
Hình 3.6: Năng suất chất xanh thí nghiệm 2 89
Hình 3.7: Lượng đất bị xói mòn thí nghiệm 2 98
Trang 81 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích 2
3 Mục tiêu cụ thể 2
4 Yêu cầu 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cải tạo và chống xói mòn sạt lở đất của một số cây che phủ đất 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu cây che phủ đất 6
1.1.3 Những kết quả nghiên cứu về tập đoàn cây cải tạo đất 10
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 16
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.4 Phạm vi nghiên cứu 33
2.5 Phương pháp nghiên cứu 33
2.5.1 Điều tra tình hình sử dụng cây cải tạo đất bản địa tại Lào Cai 33
2.5.2 Thí nghiệm I: nghiên cứu khả năng sinh trưởng và cải tạo đất của một số cây che phủ đất nhập nội tại các vùng đất đồi bị thoái hoá, bạc màu Lào Cai 34
2.5.3 Thí nghiệm II: nghiên cứu khả năng sinh trưởng, chống xói mòn, sạt lở đất của một số cây che phủ có sinh khối lớn tại các khu vực đất dốc Lào Cai .35
2.6 Chỉ tiêu theo dõi 36
2.6.1 Đối với thí nghiệm 1 36
2.6.2 Thí nghiệm 2 37
2.7 Phương pháp theo dõi 37
2.7.1 Cây trồng 37
Trang 92.9 Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu 42
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên 43
3.2 Đánh giá việc sử dụng cây cải tạo đất trên địa bàn tỉnh Lào Cai 45
3.2.1 Đánh giá việc sử dụng cây cải tạo đất 45
3.2.2 Tổng hợp diện tích trồng cây cải tạo đất tại các huyện điều tra 53
3.2.3 Tổng hợp ý kiến tham gia của người dân vùng điều tra về trồng cây cải tạo đất 55
3.3 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cải tạo của một số cây che phủ đất nhập nội tại các vùng đất bạc màu Lào Cai 56
3.3.1 Đặc điểm khí hậu, đất đai vùng thí nghiệm 57
3.3.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển của cây cải tạo đất 59
3.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá đất 75
3.4 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, chống xói mòn, sạt lở đất của cây che phủ có sinh khối lớn tại các vùng đất dốc của Lào Cai 82
3.4.1 Khả năng sinh trưởng, phát triển của cây trồng 82
3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá đất 89
3.4.3 Đánh giá hiện tượng, khả năng bị sạt lở 96
3.4.4 Nhận định chung: 96
3.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của việc trồng cây che phủ, cải tạo đất 98
3.5.1 Hiệu quả kinh tế 98
3.5.2 Hiệu quả xã hội, môi trường 102
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 103
1 Kết luận 103
2 Đề nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Lào Cai là tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc Việt Nam, địa hình tương
đối phức tạp, đất có độ dốc lớn trên 250 chiếm 84% diện tích toàn tỉnh, vì vậykhả năng xói mòn sạt lở đất mạnh Toàn tỉnh có 805.708 ha diện tích đất tựnhiên Trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 89.273 ha, chiếm 11,08%; diệntích đất lâm nghiệp là 249.447 ha, chiếm 30,95% Hiện nay diện tích đất gòđồi tại Lào Cai chiếm một tỷ lệ rất lớn 60-70% trong tổng số diện tích đấtnông nghiệp và đất tự nhiên Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh là405.083 ha, chiếm trên 50% Đây là loại đất có độ phì thấp, cần phải cải tạo
Việc sử dụng một số loại cây che phủ có khả năng cải tạo, chống xóimòn, sạt lở đất như: Cốt khí, Súc sắc, Lạc dại, Đậu triều, cỏ Vetiver đã chonhững kết quả rất rõ nét ở một số tỉnh thành trong cả nước Riêng giống cỏVetiver đã được các nhà khoa học trong nước và thế giới đánh giá là hiệu quảnhất hiện nay vì các đặc tính tốt như: bộ rễ phát triển nhanh, khoẻ, cắm sâuvào lòng đất dày đặc sâu 3-4m, thân cây thẳng đứng, không bò lan, phát triểntốt trên nhiều địa hình khác nhau; đặc biệt không tranh giành dinh dưỡng củađất đối với cây nông lâm nghiệp xung quanh…Với những đặc tính ưu việtnày, các loài cỏ Vetiver đã được trồng thử nghiệm ở một số vùng sinh tháivùng Nam Bộ và Đông Nam Bộ và có hiệu quả trong việc chống xói mòn sạt
Trang 11lở đất Ngoài cỏ Vetiver, một số cây họ đậu hoang dại khác đã được thuần hoánhư cây lạc dại (cây nhập nội), đậu mèo (cây bản địa) còn có khả năng sinhtrưởng, che phủ đất tốt Những năm gần đây, nhiều chương trình, dự án đãkhảo nghiệm, đánh giá khả năng thích ứng, cải tạo đất của tập đoàn cây họđậu; các giống cỏ làm thức ăn gia súc để lựa chọn ra được các giống câyvừa có khả năng cải tạo đất tốt, vừa có thể làm thức ăn gia súc để gieo trồng ởcác vùng sinh thái khác nhau.
Một số giống cây che phủ nhập nội có tác dụng cải tạo đất rất tốt như:
Cốt khí Vogelli (Kennya), Súc sắc 5 lá chét (Kennya), Đậu triều, Lạc dại
Cây che phủ có sinh khối lớn, có khả năng chống xói mòn sạt lở đất tốt như:
cỏ Vetiver, cỏ Goatemala…chưa được trồng thử nghiệm và đánh giá tại LàoCai Chính vì vậy đề tài “ Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cải tạo và chốngxói mòn sạt lở đất của một số cây che phủ đất tại Lào Cai ” là cần thiết
2 Mục đích
Nghiên cứu một số loài cây phân xanh có khả năng cải tạo và chống xóimòn sạt lở đất tại Lào Cai, góp phần đa dạng hóa cơ cấu các giống cây trồngtại các vùng đất đã bị thoái hóa bạc màu do sử dụng đất không hợp lý, cácvùng đất có nguy cơ sạt lở cao nhằm hướng tới một nền sản xuất nông nghiệpbền vững, an toàn cho con người và môi trường sinh thái
Trang 124 Yêu cầu
- Đánh giá, xác định được khả năng cải tạo đất của một số cây bản địa
- Thử nghiệm, nghiên cứu và đánh giá được khả năng sinh trưởng, pháttriển, của một số cây che phủ đất tại các khu vực đất bạc màu
- Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng, chống xói mòn sạt lở đấtcủa một số cây che phủ có sinh khối lớn tại vùng đất dốc, có nguy cơ bị xóimòn sạt lở cao của Lào Cai
- Xây dựng mô hình để nhân rộng và phát triển trên địa bàn
Trang 13
bị rửa trôi chỉ bằng 10-20% so với không áp dụng các biện pháp bảo vệ đất vànếu kết hợp tốt với các biện pháp bố trí cây trồng, trồng cây cải tạo đất, bón phânđầy đủ và cân đối sẽ duy trì được độ bền vững của đất.
Nguyên nhân chính gây thoái hóa đất là những sai lầm của con ngườitrong quá khứ về sử dụng và quản lý đất dốc, dẫn đến xói mòn đất, đất bị nénchặt mất khả năng giữ nước nên bề mặt dòng chảy lớn gây lũ ống, lũ quét ởmiền núi và lụt lội ở miền đồng bằng Do đất mất khả năng giữ nước nên hạnhán thường xảy ra khi thiếu mưa và suốt trong mùa khô Rõ ràng, xói mòn đất
Trang 14tuy là hiện tượng chính dẫn đến thoái hóa đất, xong chỉ là hậu quả của hoạtđộng sản xuất trên đất dốc.
Quan niệm trước đây cho rằng dòng chảy bề mặt là nguyên nhân chínhgây xói mòn đất Song với cách nhìn mới thì chính năng lượng va đập của hạtmưa với mặt đất trống mới là nguyên nhân quan trọng nhất, vì nó tách các hạtđất khỏi nền đất Sau đó các hạt đất này mới bị dòng chảy bề mặt cuốn trôi đi[45]
Nguyên nhân thứ hai gây xói mòn đất là do tác động của dòng chảy bềmặt Một thí nghiệm đã xác định 90% đất bị xói mòn do sự va đập của hạtmưa với đất trần và chỉ 10% đất bị xói mòn do dòng chảy bề mặt Tuy nhiên,theo chúng tôi thì chính việc cày bừa, làm đất kỹ, và đốt tàn dư thực vật làmcho mặt đất bị bóc trần cũng là nguyên nhân gây xói mòn và thoái hóa đất [8].Cải thiện lớp che phủ đất để ngăn chặn sức và đập của hạt mưa với mặtđất và ‘‘bắt trước’’ một cách tốt nhất cơ chế hệ sinh thái rừng và nền đất rừng
để bảo vệ cũng như làm tăng sức sản xuất của đất Quan tâm cải thiện độ mùn
để tăng độ tơi xốp của đất cho nước mưa thấm vào đất nhiều hơn và giảmđược dòng chảy bề mặt Với các biện pháp trên, chúng ta sẽ hạn chế tối đađược sự va đập của hạt mưa và dòng chảy bề mặt tức là đã hạn chế đượcnhững yếu tố chính gây xói mòn đất dốc [8]
Đất rừng có độ phì cao và hệ sinh thái của nó rất bền vững nhờ có tánrừng che chở bảo vệ và luôn được bổ sung các chất dinh dưỡng hữu cơ từ việcphân huỷ và rễ lá rụng, thân và rễ của những cây chết Cũng nhờ có sự chephủ của rừng mà đất không bị xói mòn, dung tích hấp thụ cao, phần lớn nướcmưa được rừng và đất rừng giữ lại, thiên tai lũ lụt cũng được giảm nhiều Tuynhiên, một khi đất bị bóc trần khỏi thảm thực vật che phủ, đất sẽ rất dễ bị xóimòn và thoái hoá Đây là yếu tố hạn chế lớn nhất đang kìm hãm và đe dọatính bền vững trong sản xuất nông nghiệp vùng cao cũng như an ninh lươngthực toàn quốc Đất thoái hoá thường nghèo dinh dưỡng, chua, độc, cứng,không ngậm nước và thiếu hoạt động sinh học Để phát triển sản xuất bềnvững trên đất dốc, cần đảm bảo hai điều kiện bắt buộc sau đây: (a) Bảo vệ đất
Trang 15chống xói mòn và thường xuyên bồi bổ dinh dưỡng cho đất và (b) Cải thiện lýhoá tính của đất, nhất là độ tơi xốp nhằm giảm độc tố và tăng dung tích hấpthụ của đất Muốn làm như vậy, cần tuân thủ những cơ chế tự nhiên trong các
hệ sinh thái rừng, tức là thường xuyên che phủ đất bằng thảm thực vật sốnghay đã chết Tuy nhiên cây che phủ phải là cây đa tác dụng, sinh trưởngnhanh, sinh khối lớn, dễ tính, có bộ rễ khoẻ để phá vỡ đất rắn và khai thácdinh dưỡng từ sâu trong lòng đất, đồng thời phải dễ kiểm soát [32]
Hướng đi cơ bản để canh tác bền vững trên đất dốc ở vùng cao nhiệt đới
là cải thiện và giữ gìn đất bằng các biện pháp luân canh, tái sử dụng tàn dưcây trồng và phân hữu cơ nguồn gốc động vật, giảm sử dụng hóa học trongnông nghiệp, tăng cường áp dụng các loài cây che phủ, nhất là cây họ đậu đểvừa bảo vệ vừa cải tạo đất Cần quan tâm phát triển các kỹ thuật tối đa hóasinh khối, độ che phủ mặt đất và tính liên tục của lớp phủ để chống xói mònđất, tăng cường hoạt tính sinh học, tăng cường các quá trình tái tạo dinhdưỡng, tái tạo các tính chất cơ bản của đất như : cấu tượng đất, hàm lượnghữu cơ, độ xốp, hoạt tính sinh học, độ pH Một trong những biện pháp rẻtiền và đa dụng nhất là tái sử dụng tàn dư cây trồng làm vật liệu che phủ [7]
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu cây che phủ đất
Theo các nghiên cứu qua nhiều năm của Nguyễn Tử Siêm và TháiPhiên trong cuốn “Cây phủ đất ở Việt Nam” cho thấy cây phủ đất cónhiều tác dụng
1.1.2.1 T¸c dông giữ đất, giữ nước
Cây phủ đất chống xói mòn rửa trôi: nước ta nằm trên một đại địa hình
mở với khoảng 4/5 diện tích lãnh thổ bị bóc mòn do mưa, dòng chảy bề mặt
và lũ bão Sản phẩm của trượt đất, xói mòn và rửa trôi phần lớn bị cuốn đimột chiều, ít được lắng đọng do các thung lũng bồi tụ hẹp Hàng năm, hàng tỷmét khối phù sa bị cuốn trôi ra sông biển
Tạo nguồn nước và chống bốc hơi: thảm cây phủ đã giữ lại nước mưa,
tích tụ lại thành nguồn và nhả dần ra cung cấp cho đất quanh năm Dưới tác
Trang 16dụng của tầng lá, sức công phá của các hạt mưa rơi đã bị giảm đi rõ rệt Dòngnước lọc qua tán cây, chạy theo cành, thân, rễ khi tiếp xúc với mặt đất lại bịcản bởi lớp cành lá rụng làm chậm tốc độ, tạo lên nguồn nước mặt và nướcngầm rất phong phú và hữu hiệu.
Nghiên cứu của Nguyễn Tử Siêm - Thái Phiên 2002 cho thấy: ở ViệtNam, thí nghiệm trồng không có băng phân xanh, lượng đất bị xói mòn bìnhquân là 30 tấn/ha/năm; có băng phân xanh, lượng đất bị xói mòn bình quân là5,0 tấn/ha/năm, giảm so với đối chứng không có băng phân xanh là 83,3%
1.1.2.2 T¸c dông cải tạo đất và điều hòa dinh dưỡng
Nhiều thí nghiệm ở Việt Nam cho thấy, biện pháp sinh học cải thiện độphì nhiêu của đất là toàn diện và không gây ra bất cứ hệ quả tiêu cực nào
Cải thiện chế độ mùn: về bản chất, suy thoái đất là sự suy giảm mức
năng lượng hàm chứa trong chất hữu cơ đất và được chuyển hóa bởi quần thể
vi sinh vật đất Vì vậy, tốc độ phục hồi độ phì nhiêu đất phụ thuộc rất lớn vàoviệc sản xuất liên tục sinh khối và cung cấp cho đất lượng chất hữu cơ đủ lớn
để bù lại lượng chất hữu cơ bị mất do khoáng hóa và rửa trôi
Cây phủ đất cải thiện tính chất vật lý - nước của đất: các quan trắc về
cây phủ đất đều cho thấy, đất sau khi trồng cây che phủ trở nên tơi xốp, khảnăng thấm và giữ nước tốt hơn Độ ẩm đất dưới lớp cây phủ luôn cao hơn trênđất trống hoặc đất bỏ hóa Đất sau 3 năm trồng và vùi cốt khí có độ xốp55,7% (đất trống có độ xốp là 46,4%), ẩm độ đất sau 3 năm trồng và vùi cốtkhí là 35,5% (đất trống ẩm độ đất là 29,6%)
Cải thiện chế độ cấu trúc đất: cấu trúc đất cũng được cải thiện rõ rệt xét
về mặt hình thành đoàn lạp Các đoàn lạp có giá trị nông học (> 1mm) tănglên Tăng khả năng kết dính của các vi hạt kết thành đoàn lạp lớn hơn, đất tơixốp hơn Thí nghiệm của Thái phiên, Nguyễn Tử Siêm 2002 theo dõi trên đất
Trang 17thoái hóa, dung trọng đất là 1,58 g/cm3, độ chặt 2,5 kg/cm2; trên đất trồng cốtkhí sau 6 năm, dung trọng đất là 1,36 g/cm3, độ chặt 1,78 kg/cm2
.
Tăng khả năng hấp thu trao đổi: chất hữu cơ có tương quan chặt chẽ vớiphần lớn tính chất hóa học quyết định độ phì nhiêu của đất, là nguồn chủ yếucủa các cation trao đổi trong đất
Tăng cường dự trữ chất dinh dưỡng: khối lượng dinh dưỡng mà cây
phân xanh mang lại là rất đáng kể, đặc biệt là lượng đạm và kali Trung bìnhmột ha cây phân xanh trồng dày đặc có thể cho 500 kg N và 500 kg K
Cây phủ đất - nguồn đạm quan trọng: chất hữu cơ là nguồn dinh dưỡng
thực vật quan trọng trên đất dốc, phần lớn dự trữ đạm trong đất đồi núi là lấytừ nguồn hữu cơ vì dạng đạm khoáng trong đất là rất hạn chế, trung bìnhkhông vượt quá 0,25% với biên độ từ 0,3% đến 0,02%
Chất hữu cơ ngăn ngừa cố định lân: trong đất đồi núi Việt Nam, lân
tổng số từ trung bình đến nghèo Song đứng về độ phì nhiêu thực tế thì tổng
số lân ít có ý nghĩa vì tuyệt đại bộ phận lân ở dạng khó tiêu đối với cây trồng.Mối quan hệ giữa hàm lượng chất hữu cơ đất và năng lực cố định lân theo tỷ
lệ nghịch Mất chất hữu cơ làm cho năng lực cố định lân tăng vọt dẫn đếngiảm hiệu lực phân lân bón vào đất
Cây phủ đất - Nguồn kali sinh học: trên địa hình đất dốc, kali luôn luôn
có nguy cơ bị rửa trôi trong khi phần lớn cây trồng lại có nhu cầu kali cao.Như đã biết, việc bón kali hoá học ở vùng đồi núi là rất thấp cho nên cân bằngkali nếu có đạt ở mức nào đó trên đất dốc chính là dựa vào nguồn kali hữu cơtừ cỏ dại, phụ phẩm cây trồng, phân xanh
Phủ đất để khống chế cỏ dại: trong điều kiện nhiệt đới ẩm, cỏ dại nhất là
cỏ tranh có thân ngầm là mối đe dọa thường xuyên đối với canh tác đất dốc.Việc diệt trừ chúng bằng thuốc hóa học chỉ là biện pháp tình thế, khá tốn kém
và gây ô nhiễm Một số loại cây phủ đất thân bò, lá rộng có thể kiểm soát cỏ
Trang 18dại hữu hiệu lại tránh được những vấn đề trên như đậu Mèo, đậu Ván dại, cỏStylo
1.1.2.3 Tác dụng điều hòa tiểu khí hậu
Lớp đất mặt là nơi tập trung bộ rễ cây và cường độ hoạt động vi sinh vậtmạnh nhất lại là nơi biên độ tiểu khí hậu dao động mạnh hơn cả Theo quantrắc nhiều năm cho thấy thảm cây phân xanh là một lớp đệm tốt điều chỉnhchế độ nhiệt và ẩm của tầng canh tác Theo Nguyễn Tử Siêm - Thái Phiên,2002: dưới thảm cây che phủ đất, ẩm độ thường cao hơn khoảng 5% so vớitầng đất mặt và ở độ sâu tới 60cm độ ẩm vẫn cao hơn so với đất trống
1.1.2.4 Góp phần xóa đói, giảm nghèo
Nhiều loại cây che phủ đất có thể cho thân, lá, củ, quả, hạt ăn được, bổsung đáng kể lương thực hiếu hụt, đặt biệt ở vùng núi Sản phẩm của cây họđậu rất giàu Protein là nguồn đạm quan trọng trong bữa ăn đạm bạc thiếu dinhdưỡng của người dân nghèo Trồng cây phủ đất vừa dùng để che phủ đất, vừalàm thức ăn cho chăn nuôi (cỏ Ghinê, cỏ Stylo, đậu Mèo ) Ngoài ra, củi đun
và sưởi ấm cũng là vấn đề khó khăn đối với những vùng đất trống Việc trồngmột số loại cây che phủ thân gỗ cho sinh khối cao và nhanh như keo, muồng
là vô cùng ý nghĩa và thiết thực
1.1.2.5 Góp phần tôn tạo cảnh quan văn hóa
Môi trường xanh, sạch, đẹp luôn là chủ đề thời sự ở tất cả các quốc gia.Cảnh quan đẹp cũng là nguồn lợi kinh tế rất đáng kể cho đất nước vốn có lợithế về du lịch sinh thái Do vậy, việc phát triển cây phủ đất không chỉ nhằmvào mục đích kinh tế trực tiếp mà còn phải tôn tạo cho cảnh quan đất nước tođẹp hơn Trồng cây phủ đất góp phần tạo ra thảm cây xanh với các loài hoatrái muôn màu nơi đô thị, bản làng, trường học, công sở có một ý nghĩanhân văn sâu rộng hơn là so với mục đích đa dạng sinh học thuần túy
Trang 191.1.3 Những kết quả nghiên cứu về tập đoàn cây cải tạo đất
1.1.3.1 Cốt khí - Tephrosia candida
Cốt khí nguyên sản ở vùng xích đạo - nhiệt đới Malaisia Được trồng ởViệt Nam gần 1 thế kỷ nay chủ yếu là các tỉnh Bắc bộ, ven biển miền Trung,Tây Nguyên và Nam bộ Cốt khí là cây chủ lực được sử dụng làm cây che phủđất, chống xói mòn, trồng xen phụ trợ cho nhiều loại cây trồng khác trong nônglâm nghiệp rất có hiệu quả được nhiều dự án trong và ngoài nước quan tâm và
hỗ trợ phát triển Ở Việt Nam được phát hiện có 9 loài cốt khí được sử dụng.Cốt khí là cây bụi nhỏ thân gỗ cao 2-3 m, đường kính cổ rễ 4-5 cm, tuổithọ trung bình 3-5 năm Hệ rễ phát triển và có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn cốđịnh đạm công sinh Cây 1 tuổi đã ra hoa và cho quả, hàng năm có 2 lứa: lứađầu ra hoa T8-T9, quả chín vào T11-T12, lứa sau ra hoa T12-T1, quả chín vàoT2-T3 năm sau
Cốt khí thích hợp điều kiện khí hậu nóng ẩm, ở vùng thấp có độ cao dưới300m so với mặt biển Lượng mưa hàng năm từ 1000-1500 mm, mùa khô 3-4tháng, nhiệt độ trung bình năm từ 15-250C Yêu cầu đất sâu, ẩm xốp, thànhphần cơ giới trung bình, độ pH từ ít chua đến chua, thoát nước, đất phát triểntrên nhiều nhóm đá mẹ khác nhau Nhưng cũng chịu được đất nghèo xấu, tầngmỏng, tỷ lệ đá lẫn và kết von nhiều, đất nương rẫy thoái hoá Không trồngđược trên đất bị ngập úng, đất bị nhiễm mặn
Cốt khí là một loài cây họ đậu rất quen thuộc Ưu điểm lớn nhất của cốtkhí là chịu chua, chịu hạn rất tốt, mọc nhanh ở giai đoạn đầu, không cần chămsóc đặc biệt, hạt dễ nảy mầm không cần qua xử lý Cốt khí dùng để cải tạo đất
và che bóng cho cây con, vì có vi khuẩn cố định đạm cho nên được trồng đểphủ xanh phục hồi bảo vệ đất và làm phân xanh rất tốt Ở điều kiện thích hợpsau trồng 5 tháng có thể cho 30 tấn sinh khối tươi/ha, là nguồn hữu cơ đáng
kể ( Cục khuyến nông, Khuyến lâm,1999) [6]
Trang 201.1.3.2 Cây muồng hoa vàng – Cassia siamea
Hay còn gọi là muồng đen, có nguồn gốc Đông Nam Á, sinh trưởngtrong phạm vi vũ lượng 500-2.800 mm/năm, nhiệt độ 14-360C, cao độ 0-1.300
m Có thể thích ứng được mùa khô kéo dài 4-8 tháng Cây ưa sáng mạnh, cóthể chịu đất chua đến hơi kiềm (pH = 4,5-7,5), thoát nước tốt
Chiều cao cây thành thục 200-250 cm, đường kính ngang ngực 50 cm,
có khả cố định đạm Thường trồng làm cây đường phố, cây bóng mát, chắngió đường lô Có thể trồng bằng hạt, cây con ươm trong bầu ( 10 tháng ) Hạt
có vỏ cứng, có thể bảo quản lâu, trước khi gieo phải xử lý nước sôi Muồnghoa vàng có thể trồng làm đai rừng, băng chắn, cây đường lô, đường phố,công viên Để làm đai chắn gió trồng khoảng cách 3 x 3 m, 3 x 2 m, có thể thucành củi nhiều năm Đây cũng là cây che bóng phổ biến cho ca cao, chè, càphê Muồng có hoa vàng tươi phô trên tán cao do vậy rất thường trồng venđường, nơi thắng cảnh, công viên
1.1.3.3 Súc sắc - Crotalalia spp
Là những cây họ đậu mọc dại rất nhiều ở Việt Nam, thân thảo hoặc hoá
gỗ, chịu hạn và đất xấu rất tốt, dễ trồng, nhiều loài có thể duy trì màu xanhhoàn chỉnh trong mùa đông Đây là một đặc tính rất quí để duy trì độ che phủđất trong mùa đông khô và lạnh Cây có thể dùng che phủ, cải tạo đất, làmphân xanh và làm củi đun Có thể trồng súc sắc bằng hạt với mật độ gieo tuỳ
ý Hạt súc sắc dễ nảy mầm và không cần phải chăm sóc nhiều Cây đượctrồng xen ngô, trên các bãi trồng, ven đường, ven bờ ruộng để làm phân xanh[32]
Trang 211.1.3.4 Cây lạc dại - Arachis pintoi
Theo nghiên cứu của Viện trưởng Lê Quốc Doanh: Lạc dại (Arachispintoi) là cây họ đậu thuộc loại thân bò, sinh trưởng vô hạn, hoa có màu vàngtươi, hạt nhỏ (8-12 mm x 4-6 mm), màu nâu nhạt, rễ có nhiều nốt sần có khảnăng cố định đạm từ nitơ khí trời rất tốt Lạc dại dễ trồng, sinh trưởng, pháttriển nhanh, có thể thích ứng với nhiều loại đất từ đất xấu bạc màu, nghèodinh dưỡng Lạc dại có khả năng chịu hạn tốt, chịu úng cao, có thể trồng đượcquanh năm, nhưng tốt nhất là mùa xuân và mùa thu với các tỉnh miền Bắc,mùa mưa với các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam
Lạc dại là cây đa tác dụng: có thể trồng thuần dạng đồng cỏ hoặc xen vớicác loại cỏ khác để vừa nhằm bảo vệ, cải tạo đất trống đồi núi trọc rất tốt (cókhả năng cố định đạm từ 200-300 kg N/ha/năm hoặc với lượng chất xanh cóthể cung cấp cho đất mỗi năm 595 kg N/ha, 140 kg P2O5/ha và 200 kg
K2O/ha), vừa cắt chất xanh làm phân xanh hay làm thức ăn cho chăn nuôi giasúc như trâu, bò, dê, cá… với khối lượng bình quân 150 tấn chấtxanh/ha/năm Lạc dại luôn luôn xanh tốt, ra hoa màu vàng quanh năm nên cóthể trồng làm thảm trang trí ở các công viên, đường phố, công sở… vừa có tácdụng tạo cảnh quan đẹp, vừa để bảo vệ môi trường sinh thái rất tốt
1.1.3.5 Cây đậu triều Ấn độ
Đậu triều là cây họ đậu ngắn ngày; thuộc họ phụ Papilionoideae; Cây
cao 1 – 5 m; sống và cho thu hoạch 2 - 3 năm liền; lá xẻ 3 thùy có lông mịn,
hoa màu vàng, quả nang 3 - 9 hạt tròn, hạt giống đậu tương nhưng có màu nâu hay vàng nhạt; cây có nguồn gốc xa xưa từ châu Phi, được du nhập vào Ấn
Độ qua các đường buôn nô lệ, và nay được trồng tới hàng triệu ha hàng năm tại nước này Là cây chịu lạnh khá ở vùng cao nhiệt đới, thích ứng rộng rãi với nhiều loại đất nhưng không chịu úng và mặn.
Trang 22Công dụng quan trọng nhất của đậu triều là thực phẩm cho người và giasúc Khẩu vị và thành phần dinh dưỡng đậu triều gầu với đậu xanh hơn là đậutương Trung bình hạt khô chứa 25% Protein, giàu các Acid có giá trị nhưMethionin và Systin Quả non được sử dụng như rau xanh và giống với đậu
Hà Lan Năng suất hạt khô có thể đạt 5 - 8 tấn/ha/vụ
Khả năng phủ đất của đậu triều phát triển rất tốt Nếu gieo tháng 3 thìtháng 6 đã có thể khép tán Năng suất phân xanh đạt 15 đến 20 tấnkhô/ha/năm nếu thu hoạch vào đầu vụ hoa (tháng 10) Với đất tốt có thể thuhoạch 3 năm liền bằng phương pháp chặt chồi ở độ cao 20cm hoặc tỉa bớtcành của năm cũ vào đầu mùa xuân năm sau (tháng 2) Mùa hoa có bọ cánhcứng ăn quả non Nếu trồng trên diện tích lớn thì tỷ lệ bị phá sẽ giảm đi.Nguồn giống dễ bị lai tạp với giống địa phương nên chất lượng giảm [16]
hạn chế xói mòn đất và phân tán nước mặt chảy tràn rất hiệu quả
Cỏ Vetiver chịu được những biến đổi lớn về khí hậu như hạn hán, ngậpúng và khoảng dao động nhiệt độ rất rộng Cỏ Vetiver có thể thích nghi đượcvới rất nhiều loại đất có độ pH dao động từ 3,3 đến 12,5 mà không cần đến
biện pháp cải tạo đất nào Khi trồng ở những nơi nền đất không ổn định, dễ bị
sạt lở, xói mòn, cỏ Vetiver trước hết giúp hạn chế được sạt lở, xói mòn, tiến tới ổn định nền đất (đặc biệt là nơi đất dốc), tiếp đó giúp cải thiện điều kiện môi trường, vi khí hậu, để sau đó có thể trồng được những loài cây khác mà ta
Trang 23muốn Với những đặc điểm như vậy, có thể coi cỏ Vetiver như là giống cây
tiên phong ở những vùng đất xấu
Cỏ Vetiver có thể làm thức ăn gia súc như trâu, bò sữa, bò thịt, dê, cừu,lợn, cá chép Giá trị dinh dưỡng N = 1,1%; P = 0,17%; K = 2,2%; Protein thô3,3%; chất béo thô 0,4%; chất xơ thô 7,1% [29]
1.1.3.7 Cỏ voi
Cỏ Voi (Pennisetum purpureum) có nguồn gốc từ Nam Phi, hiện nay
được trồng phổ biến các vùng nhiệt đới trên thế giới Cỏ Voi thân có thể caotừ 4-6m, thân phân đốt, lá nhiều, sinh trưởng nhanh, mỗi đốt có thể ra rễ vàphát triển thành bụi nên chúng rất dể trồng Tuy vậy cỏ Voi có hạn chế làphần thân và gốc nhiều nên trâu bò không sử dụng hết nếu không được bămdập hoặc cắt nhỏ Cỏ Voi trồng bằng hom, trên nền đất cao ráo, thoát nướctốt Năng suất bình quân 100- 120 tấn/ha/năm, thâm canh có thể đạt 200-250tấn/ha/năm Cỏ Voi có hàm lượng VCK = 12-15%; Protein thô = 7- 9%
Cỏ Voi chịu được khô hạn, giai đoạn sinh trưởng chính trong mùa hè khinhiệt độ cao và ẩm độ cao Sinh trưởng chậm trong mùa đông và mẫm cảmvới sương muối Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 25-400C, nhiệt độthấp nhất cho sinh trưởng khoảng 150C Cỏ Voi có thể sinh trưởng ở nhữngvùng cao tới 2000 m so với mặt nước biển Thích hợp nhất đất giàu dinhdưỡng, có tầng canh tác sâu, pH= 6-7, đất không bùn, úng Thích hợp trongnhững vùng có lượng mưa khoảng 1500 mm
Cỏ Voi có khả năng cho năng suất rất lớn, từ 100-300 tấn/ha/năm.( Filipe,1965) và có thể lên tới 500 tấn/ha/năm.( Điền văn Hưng, 1974), CỏVoi cho năng suất 240-350 tấn/ha/năm (Nguyễn văn Tuyền, 1973)
Cỏ Voi dùng làm thức ăn tươi hay ủ cho năng suất cỏ cao Sau khi trồng
3 tháng có thể thu lứa đầu, sau đó 40-45 ngày thì cắt lần tiếp theo Ở Việtnam, cắt tốt nhất sau 80 ngày (cao 90-100 cm) Cắt lần đầu sát mặt đất cho
Trang 24cõy sinh trưởng và đẻ nhỏnh nhiều, khụng trồi lờn trờn Nếu sử dụng tốt chonăng suất cao trong 10 năm liền [25]
1.1.3.8 Cỏ Goatemala (Tripsacum laxum)
Cỏ Goatemala thuộc nhúm cỏ hũa thảo, là cõy cú một lỏ mầm, lỏ mọcthành hai dóy, bẹ lỏ to, phiến lỏ dài, võn lỏ song song Thõn cỏ thuộc loại thõnđặc như cỏ Voi, Goatemala cú rễ thuộc loại rễ chựm [5] Cỏ hũa thảo sinhtrưởng và tỏi sinh trải qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt, lỳc này tốc độ sinhtrưởng chậm
- Giai đoạn 2: sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15-20 ngày, cỏ sinh trưởng
Cú khả năng sinh trưởng tốt trờn đất chua cú hàm lượng nhụm di độngtrong đất cao Đặc biệt cỏ cú cú thể sinh trưởng tốt trong mựa lạnh, trờn vựngnỳi đỏ Cỏ có bộ rễ ăn sâu, thân lá rất phát triển, có chiều cao đến 2m, thân to,mập, khoẻ hơn các giống cỏ khác nên cỏ Goatemala vừa là cây thức ăn gia súcvừa có tác dụng chống xói mòn đất rất tốt
Trang 251.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, sự thoái hóa đất đang là một trong những thách thức lớntrong sự nghiệp phát triển nông nghiệp Đất đai bị thoái hóa không những làmmất đi độ màu mỡ mà còn kéo theo sự mất nước, sự sa mạc hóa và đồng thờigây ra hàng loạt những hậu quả như: lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất…
Có nhiều nguyên nhân gây nên sự thoái hóa đất như: do sức ép dân số,
do chiến tranh, do thiên tai Song, nguyên nhân cơ bản vẫn là do sử dụng đấtchưa hợp lý Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định vai tròcủa cây che phủ đất với nền nông nghiệp sinh thái bền vững Khi đánh giá về
sự suy thoái đối với đất ở Đông Nam Á và vai trò của con người trong việcngăn chặn nguy cơ này FAO – UNEP (ISRIC 1997) cho rằng biện pháp sinhhọc (dùng các cây che phủ đất) là có hiệu quả cao nhất Việc nghiên cứu tậpđoàn cây che phủ bảo vệ và cải tạo đất đã có nhiều kết quả nổi bật và đangđược ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia
Ở Thái Lan, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở các vườn cao su thời kỳkiến thiết cơ bản, người ta trồng xen lúa nương, ngô, lạc, đu đủ và việc này đãđem lại hiệu quả cao [44]
Theo kết quả nghiên cứu của Wirat M và Wina S, 1980) [47] thì phủcho lạc trên đất dốc, nước trời làm tăng năng suất lạc cả những năm hạn hán.Mặt khác đây là kỹ thuật cho hiệu quả kinh tế cao, chống xói mòn đồng thờicũng cải thiện lý tính và hoá tính đất
Che phủ cỏ cho ngô ở Nigeria làm giảm nhiệt độ đất giai đoạn cây con ở
độ sâu 5cm là 50C so với không phủ trong mùa nắng Năng suất ngô ở côngthức phủ cỏ tăng trung bình 657 kg/ha so với không phủ [39]
Dutta A.C 1977 [41] khi nghiên cứu ảnh hưởng của cây họ đậu chebóng và phủ đất trồng xen với chè đã nhận xét: việc duy trì hợp lý cây phủ đất
Trang 26sẽ ngăn chặn quá trình mất đạm bởi quá trình nitrat hóa Đốn tỉa hoặc cày vùicây họ đậu cho chè đã đem lại hiệu quả kinh tế lớn, tiết kiệm nhiều công vậnchuyển, bốc dỡ, trả lại cho đất hàm lượng dinh dưỡng mà cây họ đậu đã sửdụng, đồng thời cung cấp thêm cho đất một lượng lớn chất hữu cơ do cây họđậu tổng hợp được.
Obaga.S.M.O, Othieno.C.O,1987 [46] khi nghiên cứu tác dụng chốngxói mòn của một số loại cây họ đậu cho biết: đất trồng chè sau 4 năm, khôngđược trồng cây họ đậu lượng đất bị mất 143 tấn/ha do bị xói mòn, khi trồngxen cây Crolataria lượng đất bị mất 39 tấn/ha, cây Weeds lượng đất bị mất 15tấn, cây Eragrostis lượng đất bị mất 15 tấn, còn trồng cây Cymbopogon lượngđất chỉ mất 10 tấn
Trên thế giới có hàng nghìn loài cây cố định đạm nhưng đến nay mớibiết được hơn 460 loài và chỉ có khoảng 20% trong số cây đó mới có đượchiểu biết tương đối đầy đủ Hầu hết các loài cây cố định đạm được biết là 11
họ thực vật Trong đó, cây họ đậu được chia thành 3 họ phụ, trong đó có họ
phụ trinh nữ (Mimosoideae) có 98%, họ phụ vang (Caesalpinisoideae) có 60% và họ phụ cánh bướm (Papilionideae) có 30% cây cố định đạm Cây cố
định đạm được biết cũng nằm trong 18 chi quan trọng nhất là các chi: bản xe,tống quá sủ, cẩm lai, còng, cốt khí, dáng hương, điền thanh, gõ nước, găng gà,hồng đào, keo, keo dậu me keo, muống pháo, phi lao, phèo heo, trinh nữ vàvông [6]
Trong những năm 1926-1927 nhà nông học Pháp Chauvin đã thu thập vàthử nghiệm tại Playcu một tập đoàn phân xanh gồm 62 giống bản địa và nhậpnội từ Jakarta Kết quả đã chọn được 12 giống phân xanh thích hợp để làmcây tiên phong cải tạo đất hoặc trồng xen trong vườn cây lâu năm như chè, càphê, cao su, cây ăn quả Đó là: đậu triều, đậu lông, đậu bướm, lục lạc mũimác, muồng lá tròn, muồng lá dài, trinh nữ, cốt khí
Trang 27Ở Thái Lan, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở các vườn cao su thời kỳkiến thiết cơ bản, người ta trồng xen lúa nương, ngô, lạc, đu đủ và việc này đãđem lại hiệu quả cao [44].
Ở Philippin, những phương thức sử dụng đất dốc rất có hiệu quả đã đượcTrung tâm phát triển đời sống nông thôn Basptit Mindanao tổng kết hoànthiện và phát triển từ giữa những năm 1970 cho tới nay
+ Mô hình SALT1 (Sloping Agricultural Land Technology): đây là mô
hình dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất để sản xuất lương thực, kỹ thuậtcanh tác nông nghiệp trên đất dốc với cơ cấu: 25% cây lâm nghiệp, 25% câylưu niên, 50% cây nông nghiệp hàng năm
+ Mô hình SALT2 (Simple Agro-Livestock Technology): đây là kỹ thuật
sử dụng đất tổng hợp dựa trên kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc(SALT1) nói trên bằng cách dùng một phần đất trồng cây làm thức ăn để chănnuôi theo phương thức nông súc kết hợp Bố trí diện tích canh tác của SALT
2 như sau: 40% đất dành cho sản xuất nông nghiệp, 20% dành cho trồng câylâm nghiệp, 20% dành cho trồng cây thức ăn và cỏ để chăn nuôi, phần đất cònlại để làm nhà và chuồng trại
+ Mô hình SALT3 (Sustainable Agro-forestry Land Technology):
kỹ thuật này dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với việc sảnxuất cây lương thực, thực phẩm Trong hệ thống SALT3 nông việc giànhphần đất thấp ở sườn dưới và chân đồi để trồng các băng cây lương thựcxen với các hàng rào xanh cây cố định đạm Phần đất cao ở bên trên từsườn lên đến đỉnh đồi trồng rừng hoặc để rừng tự nhiên phục hồi Bố trídiện tích đất sử dụng như sau: 40% dùng cho nông nghiệp, 60% dùng cholâm nghiệp Mô hình này đòi hỏi đầu tư cao cả về nhân lực và nguồn vốn
+ Mô hình SALT4 (Small Agro-fruit Livehood Technology): đây là mô
hình kỹ thuật sản xuất nông lâm kết hợp cây ăn quả quy mô nhỏ, cơ cấu sử
Trang 28dụng đất: 60% cây lâm nghiệp, 15% cây nông nghiệp, 25% cây ăn quả Đây
là mô hình đòi hỏi đầu tư cao về vốn, nhân lực và kỹ thuật canh tác
Ở Inđoneia: trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tựnhiên, 21% là rơm, 16% là cây lá khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giảipháp để giải quyết thức ăn là thâm canh, trồng giống cỏ tốt (cỏ voi, và câyđậu) Ngoài ra có các chương trình về giống cây thức ăn với CIAT và CSIRO
để tìm ra những giống cây thích hợp với đất có độ pH thấp [9]
Những đánh giá về cây cỏ Vetiver: theo tiến sĩ Paul Trương, Trần TânVăn và Elise Pinners: không có nhiều loài cây vừa độc đáo, đa năng, vừa kinh
tế, hiệu quả, thân thiện với môi trường, lại đơn giản như cây cỏ Vetiver Vàchắc cũng không có nhiều loài cây được đặt cho nhiều cái tên thân thương,
trìu mến như cây cỏ Vetiver: nào là “cây cỏ lý tưởng”, “cây cỏ độc đáo”,
“cây cỏ thần diệu”, “cây cỏ đa năng” v.v rồi thì “bức tường sống”, “hàng
rào sống”, “neo đất sống” v.v.
Trên thế giới còn cho thấy, cây cỏ Vetiver đặc biệt có hiệu quả trong cáclĩnh vực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai (lũ lụt, xói mòn, trượt lở, sạt lở đấtdốc, xói lở bờ sông, bờ biển, bảo vệ taluy đường, bờ kênh mương, đê đậpv.v.), bảo vệ các lưu vực sông, các rừng đầu nguồn, bảo vệ môi trường (giảmnhẹ ô nhiễm đất và nước, xử lý nước thải, rác thải, dư lượng thuốc trừ sâu,thuốc bảo vệ thực vật, cải thiện chất đất v.v Tiềm năng ứng dụng Vetiver làrất lớn và những hiểu biết về cây cỏ này cần được phổ biến rộng rãi hơn, đầy
đủ hơn trong xã hội
Trang 291.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước về cây phủ đất
Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên 33.121.159 ha,trong đó đất đồi núi (đất dốc) chiếm 3/4 diện tích, khoảng trên 10 triệu ha, có
ở 41 tỉnh, thành phố thuộc 7 vùng sinh thái Đất đai vùng đồi núi Việt namđóng vai trò quan trọng, nó không chỉ là nguồn tài nguyên quí giá của nền sảnxuất nông lâm nghiệp, mà còn có vị trí xung yếu trong an ninh quốc phòng
Do được hình thành trên các loại đá mẹ khác nhau và phân bố xen kẽ, manhmún, địa hình cao, chia cắt mạnh, độ dốc lớn nên mạc dù có tiềm năng đất rấtlớn nhưng do tác động của con người, đất đồi núi đang có nguy cơ ngày càng
bị thoái hoá trầm trọng Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa Thảmthực vật của Việt Nam về cơ bản thuộc “Rừng mưa nhiệt đới” [43]
Tình hình sử dụng đất đồi núi Việt nam có lịch sử rất lâu đời với tậpquán xa xưa lạc hậu là du canh du cư, phá rừng đốt rẫy, trồng lúa nương, hoamàu ngắn ngày Vì vậy diện tích đất bị thoái hoá tăng nhanh chóng Đến naynước ta có khoảng nửa triệu ha đất xói mòn trơ sỏi đá Tuy nhiên diện tích đấttrống đồi núi trọc vẫn còn khoảng 5 triệu ha Phần lớn diện tích có độ dốc dưới
150 (khoảng 22%) đã được sử dụng cho sản xuất nông lâm nghiệp Diện tích đất
có độ dốc từ 15 – 250 (chiếm khoảng 17%), còn lại là đất có độ dốc lớn hơn 250
(chiếm 61%) Do thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh táctrên đất có độ dốc > 250 chịu xói mòn rất mạnh và thời gian canh tác bị rút ngắn.Thường chỉ trồng được khoảng 2 - 3 vụ cây lương thực ngắn ngày, sau đó trồngsắn và bỏ hoá 3 - 5 năm Vì vậy năng suất cây trồng rất thấp và thời gian canhtác chỉ kéo dài tối đa là 2 vụ [8] Đặc điểm của đất đồi núi là nghèo (39% có hàmlượng chất hữu cơ 1,5- 3,0 %), đa số nghèo lân, nhất là lân dễ tiêu, chua (56%diện tích có độ pH KCL dưới 4), khô (thiếu ẩm trong mùa đông), chặt, mỏng(31% diện tích có tầng dày dưới 50 cm) [1]
Trang 30Đất đồi núi phía bắc có độ cao so với mặt biển từ 25 đến 200 m, chiếm1/10 diện tích cả nước, không có độ dốc đứng và lòng chảo sâu Ranh giớigiữa núi và đồi khó phân biệt chính xác [33] Đất được hình thành trên nhiềuloại đá mẹ khác nhau như phiến sét, phiến thạch mica, gnai dưới những thảmthực vật khác nhau, có mức độ Feralit khác nhau, vì lẽ đó mà đất đai vùng đồinúi phía bắc không đồng đều, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất chênhlệch nhau đáng kể [37] Thành phần cơ giới nặng vì được hình thành từ những
đá mẹ giầu sét, cấu trúc kém, ít tơi xốp Đất thường chua, pHKCL có chỗ < 4,5.Đất tích lũy nhiều sắt, nhôm, hàm lượng chất hữu cơ thấp, nhiều nương chèhàm lượng chất hữu cơ chỉ chung quanh 1%, đạm tổng số thường <0,2%, kalirất nghèo, trung bình khoảng 0,15-0,2% [19]
Những vùng đất có độ dốc thấp, do sức ép của chăn thả tự do, cây cốikhông thể tái sinh, các loại cỏ cho trâu bò cũng không thể phát triển (ngoại trừ
cỏ may, cỏ đắng và cỏ tranh) đã trở thành vùng đất trống, đồi núi trọc với độthoái hoá nặng đến mức khó có thể phục hồi nếu không đầu tư cao và kịpthời Đất bị thoái hoá, năng suất cây trồng thấp, thu nhập từ chăn nuôi cũnggiảm nên cuộc sống của nông dân miền núi rất khó khăn, luẩn quẩn trong
vòng đói nghèo.“Việc chăn thả một cách bừa bãi tùy tiện không có kỹ
thuật đã làm cho một số bãi chăn trở thành đất trống, không còn khả năng khai thác” [26]
Giải pháp mang tính chiến lược đã được đặt ra từ những năm 80 củathế kỷ 20, đó là trồng các giống cỏ có năng suất cao, chất lượng tốt đểcung cấp cho gia súc Song chúng ta đều biết đặc điểm cơ bản của kỹ
thuật đồng cỏ là “tính hệ thống”, ngoài chế độ chăn thả, kỹ thuật chăn
thả (như đối với đồng cỏ tự nhiên) còn có các yếu tố khác như: điều kiện
tự nhiên, điều kiện sản xuất (giống, phân bón, chăm sóc…); mục tiêu kinh tế(lấy thịt, sữa hay cải tạo đất, sản xuất giống…) Chính “việc quan tâm chưa toàn
Trang 31diện các yếu tố này cũng là một trong những nguyên nhân làm cho diện tíchđồng cỏ chưa phát triển và đáp ứng yêu cầu như mong muốn” [12] Đối với giasúc nhai lại, thức ăn xanh đóng một vai trò hết sức quan trọng, vì khẩu phần thức
ăn hàng ngày của chúng chiếm từ 60-100% [21]
Để việc khai thác, sử dụng tiềm năng đất đai vùng đồi núi ngày càng cóhiệu quả thì vấn đề nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng, cải tạo, chốngxói mòn của các loại cây che phủ đất và áp dụng các biện pháp canh tác bềnvững trên đất dốc là rất quan trọng, cần thiết nhằm góp phần xoá đói giảmnghèo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và hướng tới nền sản xuất nông lâmnghiệp bền vững
+ Về tầm quan trọng của cây phân xanh: để phát triển có hiệu quả cây
phân xanh trên đất dốc, điều quan trọng là chúng phải được nông dân chấpnhận Những tiêu chí cần có là: cây đa mục đích, sinh khối cao, năng suất hạtcao, độ nảy mầm tốt, dễ thu hái, khả năng nhân giống vô tính và tái sinh cao[20]
Thật vậy, luân canh cây hoà thảo với cây họ đậu hoặc sử dụng tàn dư câytrồng làm tốt đất đã được mô tả khá sớm trong các thư tịch cổ Việt Nam,(chẳng hạn "Vân đài loại ngữ" của Lê Quí Đôn) Theo tác giả Đậu Quốc Anh,
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: các tài liệu nghiên cứu cây phân
xanh, phủ đất vùng đồi núi ở nước ta cho đến nay chưa nhiều Trong khi đó,vấn đề phủ đất, chống xói mòn và sử dụng phân xanh ở vùng đồi núi đangngày càng trở nên quan trọng Sự phát triển nông lâm nghiệp trong thời giantới sẽ phải dựa nhiều hơn vào việc phục hồi sử dụng đất đồi núi có độ dốckhác nhau Cây phân xanh phủ đất đóng một vai trò quan trọng đặc biệt nhưmột công cụ hữu hiệu chống xói mòn đất, tăng độ xốp, sức chứa ẩm, tăng dựtrữ dinh dưỡng, chuyển hoá các nguyên tố từ dạng khó tiêu sang dễ tiêu, đồngthời tạo ra môi trường đất thích hợp cho hệ rễ Do vậy, phát triển cây phân
Trang 32xanh phủ đất ngày càng được coi là yếu tố quan trọng trong chiến lược pháttriển nông nghiệp sinh thái bền vững trên đất dốc.
Hướng đi cơ bản để canh tác bền vững trên đất dốc ở vùng cao nhiệt đới
là cải thiện và giữ gìn đất, biện pháp rẻ tiền và đa dụng nhất là tái sử dụng tàn
dư cây trồng làm vật liệu che phủ [7]
Đất dốc rất cần bón phân hữu cơ, nhưng phân chuồng có hạn và khó đưalên đồi núi Vì trồng các loại cây phân xanh, cây đậu đỗ bằng phương thứctrồng thuần, trồng thành băng, trồng xen, trồng gối và dùng sinh khối (Thân,
lá ) vùi vào đất vừa có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn, vừa có tác dụng
bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng Tuỳ theo phương thức trồng cây phânxanh, hàng năm có thể bón vào đất từ 2-10 tấn phân xanh/ ha và có thể giảmthiểu được lượng chất bị xói mòn từ 20-60% so với canh tác không có hệthống cây phân xanh Vậy năng suất cây trồng cũng được tăng lên từ 20- 30%
so với đối chứng[3]
Theo tác giả Thái Phiên Nguyễn Tử Siêm - Viện Thổ nhưỡng Nông hoáđánh giá về vấn đề " Cây phân xanh phủ đất với chiến lược sử dụng hiệu quảđất dốc Việt Nam: một trong những đóng góp cơ bản làm nên bước nhảy vọt
về chất đó là cuộc cách mạng về cơ cấu cây trồng với việc tìm ra và đưa cây
bộ đậu vào tập đoàn cây nông nghiệp Với năng lực cung cấp Protein gấp 2-3lần so với hạt ngũ cốc, hạt có dầu và 5-7 lần so với cây có củ, cây bộ đậu làmthay đổi căn bản nguồn dinh dưỡng loài người, hơn thế nữa, trao cho nônghọc một công cụ mạnh và an toàn để cải tạo độ phì đất nhờ năng lực cố địnhđạm tự do
Vai trò cây phân xanh phủ đất đối với nền nông nghiệp sinh thái bềnvững trên đất dốc thể hiện ở chỗ: tạo một lớp phủ nhanh chóng bảo vệ đấtchống xói mòn và dòng chảy trên mặt; giữ dinh dưỡng khỏi trôi theo chiềusâu và kéo dinh dưỡng dưới sâu lên tầng canh tác; bổ sung vào chất lượng dinh
Trang 33dưỡng cây trồng đáng kể, đặc biệt là đạm (từ 200 – 300 kg N/ha) và kali (300-500kg/ha), chống giữ chặt lân và giải phóng lân dễ tiêu; nâng cao dung tích hấp thu
và thành phần kim loại kiềm trong dung tích hấp thu; tạo cấu trúc đất, làm chođất tơi xốp, tăng độ thấm nước, giữ nước; điều hoà tiểu khí hậu khu vực vàmôi trường đất xung quanh hệ rễ; cải thiện căn bản thành phần nông phẩmlương thực thực phẩm vùng đồi núi, tăng hợp thành Protein trong bữa ăn conngười và thức ăn gia súc; tăng thêm nguồn gỗ, củi đun và góp phần cải thiệnmôi trường [23]
Ở nước ta, tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng của cây phân xanh qua kếtquả nghiên cứu của tác giả Đặng Đình Chấn, 1981[4] đã chứng minh: trồngcây phân xanh đã có tác dụng làm tăng chất dinh dưỡng N, P, K và hàm lượngmùn trong đất đáng kể so với đất trước khi trồng phân xanh Hàm lượng mùntăng (từ 3,8-6% lên 5,38%), N% tăng (từ 0,13% lên 0,18%), P205% tăng (từ0,017% lên 0,1%), P205 dễ tiêu tăng (từ 3,75 lên 4,15 mg/100 g đất), K2O dễtiêu tăng (từ 8,5 lên 25,0 mg/100 g đất)
Trên đất đồi trồng cây lâu năm những kết quả nghiên cứu của tác giả LêĐình Định, 1988 [10] đã chỉ rõ: sau 3 năm trồng cây phân xanh hàm lượngchất hữu cơ trong đất tăng lên rõ rệt
1994 [24]; Nguyễn Văn Tiến 1987 [28]; Nguyễn Sĩ Nghị, Quỳnh Anh, 1979
Trang 34[20]) Nhiều cây họ đậu có khả năng cố định đạm, hàng năm 1 ha bình quânđược từ 45-225 kg đạm, một số cây lớn và cây bụi có khả năng cố định đượchơn 500 kg đạm cho 1 ha [6]
Các dân tộc sống lâu đời ở vùng đồi núi đã có nhiều kinh nghiệm tốttrong việc trồng xen một số cây họ đậu với ngô như đậu nho nhe (còn gọi làđậu Cao Bằng), đậu trắng, đậu "tê", khi nương rẫy đã bị thoái hoá thì trồngthuần cây chàm, đậu nho nhe hoặc bỏ hoá cho cỏ mọc một số năm nhằm khôiphục chất dinh dưỡng [17]
+ Về sưu tầm, thu thập, đánh giá tập đoàn cây phân xanh phủ đất vùng đồi núi nước ta: theo tác giả Nguyễn Đăng Khôi (1974), danh mục các
loài cây phân xanh phủ đất hiện có ở vùng đồi núi phía Bắc lên tới 98 loàithuộc các họ trinh nữ (4 loài), họ muồng (4 loài), và nhiều nhất là họ đậu (90loài) Đại bộ phận là cây bụi hoặc cây thân thảo, sống 1 năm hoặc nhiều năm.Phần lớn là cây bản địa, số loài nhập nội chỉ chiếm 11 % trong tổng số 98loài
Theo Đặng Đình Chấn (1981), tập đoàn cây phân xanh bộ đậu rất đadạng và phong phú, bao gồm 98 cây trong đó có 5 cây rất thích hợp cho vùngđồi núi là cốt khí, đậu nho nhe, cỏ Stylo, lục lạc lá tròn, hồng đáo
Theo Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1992: trên đồi núi có rất nhiều câytrồng và cây hoang dại có thể dùng làm cây phân xanh cải tạo đất ờ miền BắcViệt Nam có tới 120 loài có thể sử dụng, trong đó 102 loài thuộc họ cánhbướm chưa kể cây họ đậu ăn hạt
Trần An Phong (1977) trong cuốn "Gieo trồng và sử dụng cây phânxanh", đã giới thiệu sự phân bố các loài cây phân xanh, biện pháp phát triển,
kỹ thuật gieo trồng và sử dụng cây phân xanh theo điều kiện từng vùng
Tóm lại, các tài liệu công bố cho tới nay về sưu tầm, thu thập, gieo trồng
và đánh giá tập đoàn cây phân xanh cho vùng đồi núi ở nước ta là rất phong
Trang 35phú, nêu được nhiều dẫn liệu có giá trị qua hơn 70 năm hoạt động nghiên cứu
và triển khai các loại cây phân xanh phủ đất vùng đồi núi Có thể nhận xétthấy rằng phần lớn các tác giả đều nhất trí ý kiến về danh mục các cây phânxanh phủ đất có triển vọng nhất cho vùng đồi núi để phát triển trong thời giansắp tới, trong đó nhấn mạnh trước hết là cây họ đậu và gần đây có một số cây
họ hoà thảo như cỏ Vetiver
+ Về nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, thực vật học, nông học, kỹ thuật gieo trồng và cơ cấu đưa cây phân xanh, phủ đất vào vùng đồi núi
Nguyễn Tử Siêm (1997) đã nêu bật vai trò cây phân xanh trong tuầnhoàn chất hữu cơ và độ phì nhiêu đất dốc Tác giả khẳng định việc phát triểncây phân xanh chuyên dụng và đa dụng phải được coi là một hợp phần quantrọng trong chiến lược cải tạo đất thoái hoá và sử dụng bền vững đất dốc Hoàng Xuân Tý (1996) giới thiệu kết quả xây dụng các mô hình cải tạođất bằng cây họ đậu ở vùng đồi núi, đề xuất 4 loài cần được dặc biệt quan tâm
nghiên cứu là hồng đáo (Gliricidia sepium), đậu triều (Cajanus cajan), muồng hoa pháo (Calliandra calothyrsus), keo dậu (Leucaena leucophala)
Từ Quang Hiển, Đặng Thị Ngoan và cộng sự (1992), giới thiệu kết quảkhảo nghiệm 12 giống cây phân xanh nhập nội từ Philippin trồng trên đất đồi
sa thạch tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, nêu kết luận sơ bộ các
cây có triển vọng và cốt khí và Flemingia macrophylla.
Bùi Quang Toản, Tôn Gia Huyên (1965), nêu kết quả nghiên cứu khảnăng thích nghi của 24 loài cây phân xanh trên nương của đồng bào các dântộc ở Sơn La, tác dụng chống xói mòn và năng suất chất xanh của một số loàiphân xanh, trong đó đạt cao nhất là cốt khí và muồng lá dài Hai tác giả nàycũng nêu kết quả điểu tra đặc điểm 1 số loài cây phân xanh hoang dại ở Sơn
La như cỏ Lào (Eupatorium odoratum), cốt khí làm thuốc (Cassia
Trang 36occidentalis), muồng na (Cassia tora), điền thanh gai (Sesbania sp.), ngải cứu
rừng (Artemisia vulgaris).
Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên, 2002 [23] tổng kết chi tiết: cốt khí làloại cây phân xanh chịu hạn, có thể phát triển bình thường trên đất có độ pHtừ 3,5-7,0 tuy nhiên trong điều kiện hơi chua thì sinh trưởng phù hợp Khảnăng nảy chồi của cốt khí cao, trồng 1 lần thu hoạch 3-4 năm Một cây cốt khí
3 tuổi có thể che phủ 1,2-1,5 m2 mặt đất Cốt khí là loại cây cho năng suấtchất xanh cao, ngay năm thứ nhất cốt khí có thể cho 15-20 tấn/ha, năm thứ haicho 30-35 tấn/ha Cành lá cốt khí có hàm lượng các chất dinh dưỡng caotrung bình: 4% N, 0,3% P2O5 và 1% K2O
Nguyễn Thế Đặng (1997) nghiên cứu phương thức trồng băng cỏVetiver, một loại cỏ hoà thảo, kết hợp với băng cây phân xanh họ đậu vàtrồng xen lạc trên đất dốc và nhận xét đây là một trong những phương thức tối
ưu cho canh tác trên đất dốc nghèo dinh dưỡng ở miền núi phía bắc
Thử nghiệm trồng đậu triều ở Việt Nam: trong các năm 1991-1995, đề
tài KN 03-13 đã trồng thử đậu triều tại nhiều địa điểm ở Bắc bộ, như PhúThọ, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hoà Bình, Sơn La Ở tất cả các điểm thí nghiệm,
đậu triều sinh trưởng rất tốt và cho năng suất từ 3-4 tấn/ha/vụ Chất lượng hạt
đậu triều ở Hoà Bình và Sơn La rất tốt Protein: 24%, tinh bột 44%, béo 1,9%; đường 3,8-4,7% [16] Đậu triều Ấn Độ sống lưu niên có thể thu hái quảnon liên tục trong thời gian dài với sản lượng 11tấn/ha trong 5 lần thu hái (ởGuzarat Ấn Độ) Ở Việt Nam trồng 1 năm đó thu được 5-6 tấn hạt khô/ha ởHòa Bình [6]
1,5-Đối với những cây lâu năm như cây cà phê tác giả Nguyễn Khải Hòa,
1994 [13] đã cho nhận xét trong những năm đầu mới trồng cà phê, không xenmuồng lượng đất rửa trôi 76 tấn/ha, nếu trồng xen muồng lượng đất mất đãgiảm chỉ còn 26 tấn/ha/năm
Trang 37Ngoài tác dụng hạn chế rửa trôi và xói mòn đất, khi trồng chè có xen cốtkhí sau 2-3 năm hàm lượng mùn của đất tăng được 40% (140% so với hàmlượng mùn ở đất đồi trọc), hàm lượng lân tổng số tăng 80%, lượng kali tổng
số tăng 260% [14]
Về vai trò tác dụng của phân bón đối với cây trồng, có rất nhiều nghiêncứu khẳng định “Phân bón quyết định trên 50% việc tăng năng xuất câytrồng” [11] Trong cây đạm ở dạng Prôtít đơn (các Amino axít), Prôtítkép (Prôtêin) các Alcaloid và Glucozit [30] Các nghiên cứu trước đây,trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng: “Bón đạm có thể tránh được việcgiảm năng suất chất xanh sau mỗi lần thu cắt” [42]
Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sựphát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả Các dạng lân trongcây là Nucleoprotit, Phosphoprotit, Lexithin, Sacarophophat,Photphatide [30]
Ka li ảnh hưởng đến quá trình hình thành màng tế bào và độ chắccủa nó nên bón kali có tác dụng tăng khả năng chống rét, chống lốp đổ,tăng phẩm chất nông sản, tăng kích thước hạt
+ Về hướng tiếp tục nghiên cứu cây phân xanh phủ đất vùng đồi núi ở Việt Nam: các tác giả đề cập đến vấn đề cơ cấu cây trồng, lựa chọn cây phân
xanh, sản xuất giống cây phân xanh, biện pháp sử dụng có hiệu quả phânxanh, vấn đề trồng cây nhiều mục đích, các biện pháp hỗ trợ, khuyến khíchnông dân trồng phân xanh, vấn đề chuyển giao kỹ thuật và sự tham gia củanông dân trong quá trình thử nghiệm, phát triển cây phân xanh Nhiều tác giảnêu hướng tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống những tập đoàn phânxanh phù hợp với từng vùng và từng loại cây nông nghiệp, một mặt chú ý cáccây bản địa, mặt khác chú ý nhập nội các cây triển vọng như đậu mèo TháiLan, cỏ Vetiver zizanioides Một số tác giả nêu hướng nghiên cứu để giảmthiểu sự cạnh tranh giữa cây trồng và băng cây phân xanh trên đồi
Trang 38Nguyễn Tử Siêm, Lê Đình Định, Lê Đình Sơn (1995), nêu hướng nghiêncứu trồng cây phân xanh đa mục đích, vừa làm cây phủ đất và sản xuất phânxanh tại chỗ, vừa làm thức ăn gia súc, làm củi Nhiều tác giả đề cập đếnhướng nghiên cứu cơ cấu cây trồng có phân xanh hợp lý, cách sử dụng phânxanh thế nào cho có hiệu quả cao Vấn đề cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyếnkhích nông dân trồng cây phân xanh góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọccũng được nhiều tác giả đề xuất tiếp tục nghiên cứu Vai trò của các hộ nôngdân miền núi chủ động tham gia vào việc xây dựng kế hoạch và thực hiện cácchương trình trồng cây phân xanh ở địa phương đã được một số tác giả nêulên thành một hướng nghiên cứu trong thời gian tới.
1.2.2.2 Diễn biến thiên tai và thiệt hại do thiên tai gây ra trong 3 năm 2007-2009 tại Lào Cai
+ Diễn biến thiên tai trong 3 năm 2007-2009
Trong những năm gần đây tình hình khí hậu, thời tiết đã có diễn biếnphức tạp và bất thường Rét đậm thường kéo dài gây nhiều thiệt hại cho sản.Lượng mưa thay đổi thất thường, khí hậu hanh khô kéo dài gây hạn hán nhiềunơi, một số địa phương đã xảy ra cháy rừng trên diện rộng Nền nhiệt độ daođộng trung bình từ 20-330C, đặc biệt có đợt lên tới 40-420C Nhiệt độ caocùng với nắng nóng kéo dài làm ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe con người vàgây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Dòng chảy trên các sông suối cạn kiệt.Một số địa phương vùng cao thiếu nước sinh hoạt và nước sản xuất Tổng hợpdiễn biến thiên tai từng năm như sau:
Năm 2007: những tháng đầu năm đó xảy ra 3 đợt rét đậm kéo dài, một
số nơi nhiệt độ xuống thấp đến 0,90C, vùng núi cao Sa Pa, Bắc Hà, MươngKhương, Simacai có băng giá, sương muối Nắng nóng xuất hiện sớm, nềnnhiệt độ ở mức cao, có nơi 39,20C Lượng mưa năm 2006 ít hơn khoảng 20%
so với trung bình nhiều năm cùng kỳ Trong năm có 9 cơn bão đổ bộ vàonước ta, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão, mưa lớn cục bộ xảy ra ở nhiều nơigây nên lũ quét và sạt lở đất Lũ trên các sông suối ở mức trung bình và nhỏ,
Trang 39biên độ thường chỉ từ 1,5-2 m; riêng một số suối ở Văn Bàn biên độ lũ cao3m Trên sông Hồng từ ngày 10-12/10 xảy ra một đợt lũ đạt ngưỡng báo động
II , đỉnh lũ tại Lào Cai là 82,10m Trong năm xảy ra 7 vụ lũ quét sạt lở đất đãgây thiệt hại nghiêm trọng
Năm 2008: trong năm 2008, tình hình thời tiết, khí hậu đó diễn ra rất
phức tạp, không theo quy luật, gây nên hậu quả nặng nề Đầu năm xảy ra mộtđợt rét đậm rét hại lịch sử, kéo dài từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 2 (40 ngày)
và xuất hiện trên diện rộng nhất từ trước đến nay Tại Sa Pa nhiệt độ có ngày
đã xuống tới -1,60C (ngày 14/2); tại các huyện Bát Xát, Mường Khương, Bắc
Hà, Simacai, Sa Pa xảy đều xuất hiện băng giá Trong năm đã xảy ra 3 đợt lốctại Mường Khương, thành phố Lào Cai và huyện Bảo Thắng Tiếp theo là cácđợt mưa lớn trên diện rộng và gây lũ lụt, lũ quét, sạt lở trên phạm vi rộng Lũquét vào các thời điểm: ngày 22/4; ngày 30/5; ngày 26/6; một đợt lũ từ 25/7đến 6/8 Đặc biệt nghiêm trọng do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 đã gâymưa đợt to đến rất to từ đêm ngày 8 rạng sáng ngày 9/8 xảy ra lũ quét và sạt
lở đất trên phạm vi rộng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản của Nhànước và của nhân dân tại các huyện: Bát Xát, Bảo Yên, Sa Pa, Bảo Thắng
Năm 2009: trong năm 2009, tình hình thời tiết, khí hậu thuỷ văn có
những diễn biến bất thường Đầu năm xảy ra hai đợt rét đậm, rét hại; một sốnơi vùng cao xuất hiện băng giá, sương muối với cường độ nhẹ; lượng mưa từtháng 7 có sự gia tăng đột biến cả về cường độ và thời gian Lượng mưa trongnăm phổ biến dao động từ 1.805 mm - 2.366 mm Một số khu vực xảy ra cáctrận mưa lớn như: Bát Xát, Bảo Yên, Bảo Thắng lượng mưa ngày từ 500 –
700 mm Từ tháng 3 đến tháng 5 xảy ra một số đợt dông lốc và sét đánh.Trong tháng 6, 7 trên các sông suối xuất hiện một đợt lũ vừa, biên độ đỉnh lũtừ 1,0-1,5 m Sông Hồng đỉnh lũ lớn nhất 79,1 m; sông Chảy đỉnh lũ lớn nhất73,15 m Lũ quét, sạt lở đất là do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 Cơn bão
số 6, số 7 gây thiệt hại nặng tại xã Nậm Xé, huyện Văn Bàn
+ Tổng hợp thiệt hại do thiên tai
Trang 40Mặc dù đã có dự báo, cảnh báo và chỉ đạo sát sao của các cấp chínhquyền trong việc phòng tránh, đối phó với mưa lũ, song thiệt hại về người,công trình hạ tầng và sản xuất còn rất lớn Tổng hợp thiệt hại do thiên tai gây
ra trong 3 năm gần đây như sau:
- Thiệt hại về người: năm 2007 chết 13 người, năm 2008 chết và mất
tích 103 người, năm 2009 chết và mất tích 9 người
- Thiệt hại về sản xuất: năm 2007, hạn hán làm thiệt hại 1700 ha lúa và
hoa màu, trong đó mất trắng 625 ha Năm 2008 lúa, hoa màu mất trắng vàthiệt hại do rét đậm, rét hại kéo dài là 5.415 ha, gia súc bị chết rét, chết trôi là19.471 con Năm 2009 diện tích lúa mất trắng 77,5 ha; hoa màu hư hại 115,9
ha, số lượng mạ mới gieo bị mất 1,2 tấn Mưa lũ làm nhiều diện tích nuôitrồng thủy sản bị mất trắng
- Thiệt hại về cơ sở hạ tầng
Giao thông: năm 2007 bị sụt lở 26 tuyến; 162.860 m3 Năm 2008 bị sạtlở: 1.318.260 m3, hàng trăm công trình giao thông bị hư hỏng Năm 2009 hưhỏng 21 công trình (05 ngầm tràn, 04 cống qua đường, 11 cầu dân sinh, 01cầu bê tông); khối lượng sạt lở: 134.540 m3 Mưa lũ làm sạt lở nhiều điểm gâyách tắc giao thông
Thủy lợi: trong 3 năm có 23 công trình hư hỏng và nhiều công trình tạm
bị sập trôi Khối lượng kênh mương sạt lở vùi lấp trên 15.000m3 518 côngtrình thuỷ lợi cấp nước sinh hoạt bị hư hỏng
Ngoài ra trong 3 năm, lốc xoáy làm hư hỏng 03 trạm Y tế; 09 phòng học
bị sập đổ và hư hỏng nặng; hàng chục phòng học, trạm y tế bị tốc mái; 13 cộtđiện hạ thế bị đổ, 01 trạm biến áp bị hư hỏng; 01 trạm truyền hình bị đổ; lũquét đã cuốn trôi 01 giàn khoan, 01 máy nghiền đá, 26 máy thuỷ điện nhỏ Ước tổng thiệt hại do thiên tai năm 2007 là 45 tỷ đồng, năm 2008 là
1024 tỷ, 2009 là 20 tỷ đồng (Nguồn Báo cáo tổng kết công tác phòng chốnglụt bão và giảm nhẹ thiên tai năm 2007, 2008, 2009 UBND tỉnh Lào Cai)