1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ DÀNH CHO HỌC VIÊN CAO HỌC NGÀNH QTKD

136 165 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, ngoài việc đề cập đến môi trường và các yếu tố trong nước môi trường và các yếu tố về mặt tự nhiên, mô hình và chính sách phát triển kinh tế, nguồn vốn đầu tư trong nước, nguồn

Trang 2

1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của kinh doanh quốc tế 5

1.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế 7

1.2.1 Vai trò đối với nền kinh tế của quốc gia 7 1.2.2 Vai trò đối với sự phát triển của doanh nghiệp 8

1.3 Các lý thuyết về kinh doanh quốc tế 9

1.3.3 Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú hích từ bên ngoài” 11

CHƯƠNG II MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ CÁC

YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH DOANH QUỐC TẾ 14 2.1 Môi trường và các yếu tố trong nước 14

2.1.1 Môi trường và các yếu tố về mặt tự nhiên 14 2.1.2 Mô hình và chính sách phát triển kinh tế 15

2.1.5 Sự phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 22

2.2 Sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế giữa các nước 23

2.2.1 Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển kinh tế 23 2.2.2 Sự phân chia các nước theo mức độ phát triển kinh tế 27

2.3 Môi trường toàn cầu hóa và tự do thương mại kinh tế quốc tế 30

2.3.2 Môi trường tự do hóa thương mại quốc tế 31 2.3.2.1 Đặc điểm chung về tự do hóa thương mại quốc tế 31

2.4 Môi trường hội nhập và liên kết kinh tế quốc tế 32

2.4.1 Môi trường hộp nhập và liên kết kinh tế khu vực 32

Trang 3

CHƯƠNG III CÁC LĨNH VỰC KINH DOANH QUỐC TẾ 46 3.1 Thương mại và mậu dịch quốc tế 46

3.1.2 Tình hình phát triển ngoại thươngcủa Việt Nam 47

3.2 Các nguồn vốn đầu tư quốc tế 53

3.2.2 Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam 55

3.3 Các lĩnh vực kinh doanh quốc tế khác 62

3.4 Thanh toán trong kinh doanh quốc tế 65

3.4.1 Phương tiện thanh toán trọng kinh doanh quốc tế 65 3.4.2 Các phương thức thanh toán trong kinh doanh quốc tế 70 3.4.3 Điều kiện thanh toán trong kinh doanh quốc tế 74 3.4.4 Điều kiện đảm bảo thanh toán trong kinh doanh quốc tế 76

CHƯƠNG IV QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ 78 4.1 Quản trị chiến lược trong kinh doanh quốc tế 78

4.1.3 Vai trò của xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh quốc tế 81 4.1.4 Quá trình xây dựng và quản trị chiến lược kinh doanh quốc tế 82

4.2 Đàm phán và giao dịch trong kinh doanh quốc tế 91

4.2.1 Một số vấn đề cơ bản về đàm phán trong kinh doanh quốc tế 91 4.2.2 Tổ chức quá trình đàm phán trong kinh doanh quốc tế 96

4.3 Hợp đồng trong kinh doanh quốc tế 100

4.3.1 Chuẩn bị ký kết hợp đồng trong kinh doanh quốc tế 100

4.4 Quản trị nhân lực trong kinh doanh quốc tế 117

4.4.1 Đặc thù và chính sách quản trị nhân lực trong kinh doanh quốc tế 117 4.4.2 Nội dung cơ bản của QTNNL trong kinh doanh quốc tế 121

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng của các nền kinh tế trên thế giới đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng kinh tế của các quốc gia Do vậy, nền kinh tế các nước ngày càng phụ thuộc vào lẫn nhau về thị trường vốn, thị trường nguyên nhiên vật liệu, thị trường tiêu thụ,…và để nâng cao hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp cũng phải vương ra thị trường thế giới với sự cạnh tranh gay gắt Chính vì vậy, mục tiêu chính của học phần kinh doanh quốc tế là hướng tới cung cấp cho người học hệ thống các kiến thức liên quan đến bản chất và vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế, các lý thuyết về kinh doanh quốc tế, cũng như các kiến thức về môi trường và các yếu tố tác động đến đến kinh doanh quốc

tế Ngoài ra, còn tập trung vào hệ thống hóa các kiến thức liên quan đến các lĩnh vực kinh doanh quốc tế quốc tế và quản trị kinh doanh quốc tế

Giáo trình gồm có 4 chương chính Trong đó, nội dung của chương I chủ yếu khái quát về khái niệm, đặc trưng và vai trò của hoạt động kinh doanh quốc

tế Ngoài ra, còn hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến kinh doanh quốc tế

Trong chương II, nội dung chính đề cập đến việc tìm hiểu về môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế Trong đó, ngoài việc đề cập đến môi trường và các yếu tố trong nước (môi trường và các yếu tố về mặt tự nhiên, mô hình và chính sách phát triển kinh tế, nguồn vốn đầu tư trong nước, nguồn nhân lực và thị trường tiêu thụ, sự phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng), còn nhấn mạnh đến môi trường và các yếu tố bên ngoài (sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế giữa các nước, toàn cầu hóa và tự do thương mại kinh tế quốc tế, hội nhập và liên kết kinh tế quốc tế, sự phát triển của khoa học và công nghệ)

Nội dung chính của chương III tập trung vào nghiên cứu các lĩnh vực kinh doanh quốc tế, như thương mại và mậu dịch quốc tế về hàng hóa, nguồn vốn đầu

tư quốc tế, kinh doanh các dịch vụ quốc tế, chuyển giao công nghệ và giấy phép, nhượng quyền thương hiệu và quản lý,…Ngoài ra, còn đế cập đến các vấn đề về thanh toán trong kinh doanh quốc tế

Nội dung chính của chương IV tập trung vào đề cập đến các vấn đề chính

về tổ chức và quản trị hoạt động kinh doanh quốc tế (quản trị chiến lược toàn cầu trong kinh doanh quốc tế, quản trị marketing quốc tế, quản trị tài chính quốc tế , quản trị nhân lực quốc tế,…)

* *

*

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ

1.1 Kinh doanh quốc tế và các đặc trưng cơ bản

1.1.1 Khái niệm về kinh doanh quốc tế

Kinh doanh quốc tế (International Business) xuất hiện rất sớm cùng với quá trình giao lưu trao đổi, mua bán hàng hóa giữa hai hay nhiều quốc gia Nền kinh

tế của các quốc gia không thể phát triển mạnh nếu bỏ qua các vấn đề giao dịch thương mại quốc tế, đầu tư và tài trợ quốc tế

Trong những năm gần đây, khối lượng mậu dịch thương mai quốc tế đã gia tăng đáng kể giữa các khu vực, các quốc gia và các tập đoàn kinh doanh lớn Trong số đó phải kể đến các liên kết, như: Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Liên minh Châu Âu (EU), khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mĩ (NAFTA), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC),… và đặc biệt là các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia Với các lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ quản lí, kinh nghiệm và khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài,…các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia đã và đang nâng cao vị thế và tăng thị phần của mình trong khu vực và trên thế giới

Kinh doanh quốc tế là tổng thể các hoạt động giao dịch, kinh doanh được tạo ra và thực hiện giữa các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức giữa các quốc gia nhằm thỏa mãn các mục tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức đó Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức ( gọi chung là doanh nghiệp) thuộc hai hay nhiều quốc gia và trong môi trường kinh doanh rộng lớn, đa dạng và phức tạp Muốn kinh doanh ở môi trường nước ngoài một cách hiệu quả, trước hết doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, đánh giá môi trường kinh doanh nơi mà doanh nghiệp muốn thâm nhập hoạt động, tiếp đến là môi trường kinh doanh trong nước, tiềm lực và khả năng kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó quyết định áp dụng các hình thức kinh doanh cho phù hợp với môi trường và quốc gia đã lựa chọn

1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của kinh doanh quốc tế

Kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh với sự tham gia của các doanh nghiệp hay cá nhân từ hai quốc gia trở lên và có một số đặc điểm sau:

- Kinh doanh quốc tế luôn hướng tới các môi trường mới, xa lạ và rộng lớn Các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường này thường gặp phải rủi ro lớn hơn Các rủi ro này thường gặp là những rủi ro quốc gia và rủi ro kinh doanh

Trang 6

- Kinh doanh quốc tế diễn ra trên các thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt, với các đối thủ cạnh tranh có nhiều kinh nghiệm Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

- Kinh doanh quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định được chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thị trường và từng đối tác Các hoạt động chức năng của doanh nghiệp phải được thay đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh

- Kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có uy tín để nâng cao vị thế và thị phần của mình trên thị trường quốc tế Kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận ngày càng lớn Điều này khó có thể đạt được đối với những doanh nghiệp chỉ thực hiện kinh doanh trong nước

Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ, của xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh doanh quốc tế và các hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng phong phú, đa dạng, đang trở thành một trong những nội dung cực kì quan trọng trong các quan hệ kinh tế quốc tế Tuy nhiên, trên góc độ một doanh nghiệp kinh doanh

mà xét, để đạt được bất kì mục tiêu nào đề ra, doanh nghiệp cần phải tính toán, lựa chọn các hình thức kinh doanh quốc tế cho phù hợp

Kinh doanh quốc tế gồm nhiều hình thức khác nhau Từ hoạt động mậu dịch hàng hóa (xuất và nhập khẩu hàng hóa) cho đến các loại hình liên doanh, đầu

tư bằng nguồn vốn nước ngoài, hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng quản lí và chuyển giao bí quyết công nghiệp, … Sự lựa chọn các hình thức kinh doanh quốc

tế phụ thuộc vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp, môi trường và thị trường

mà doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sẽ hoạt động, vào điều kiện, tiềm năng và khả năng, thực lực của chính doanh nghiệp Trong đó, các điều kiện của môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ ảnh hưởng đến việc lựa chọn các hình thức kinh doanh, mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động chức năng của doanh nghiệp như chức năng sản xuất, Marketing, tài chính, kế toán Ngược lại, sự hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế cũng có những tác động nhất định đối với môi trường nhằm phản ứng hoặc hòa nhập với những thay đổi của môi trường

Khi tiến hành kinh doanh quốc tế các doanh nghiệp phải lựa chọn các hình thức kinh doanh phù hợp với môi trường kinh doanh Theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế, doanh nghiệp có thể thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường thế giới theo

2 cách Thứ nhất là doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường mục

Trang 7

tiêu Thứ hai là, doanh nghiệp chuyển giao nguồn lực như công nghệ như vốn, kĩ năng, bí quyết kĩ thuật ra nước ngoài, nơi mà có thể bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng hoặc khai thác nguồn lực của quốc gia sở tại (đặc biệt là nhân công) để sản xuất ra sản phẩm bán tại địa phương đó

1.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế

Kinh doanh quốc tế là hoạt động rất quan trọng và càng cần thiết trong điều kiện mới của quan hệ hợp tác quốc tế Nó các tác động quan trọng đến sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế của quốc gia nói chung và sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước nói riêng

1.2.1 Vai trò đối với nền kinh tế của quốc gia

Nếu một nước nào đó không là thành viên của thị trường toàn cầu thì chắc chắn nền kinh tế của chính quốc gia đó sẽ gặp nhiều khó khăn và đời sống của dân cư khó có thể được nâng cao Do vậy, sự tham gia tích cực vào hoạt động kinh doanh quốc tế sẽ có những tác động quan trọng vào sự phát triển và tăng trưởng về mọi mặt về kinh tế xã hội của một quốc gia, như :

Thứ nhất Kinh doanh quốc tế giúp cho các quốc gia tham gia sâu rộng vào

quá trình liên kết kinh tế, phân công lao động xã hội, hội nhập vào thị trường toàn cầu Thị trường thế giới có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển các quốc gia Hoạt động kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các nước tham gia chủ động và tích cực vào sự phân công lao động quốc tế và sự trao đổi mậu dịch quốc

tế làm cho nền kinh tế quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các yếu tố đầu ra cho nền kinh tế quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế

Thứ hai Tham gia vào thị trường thế giới còn giúp cho các nước khai thác

triệt để lợi thế của mình, đạt quy mô tối ưu cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, thúc đẩy việc khai thác các nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn đầu

tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế

Thứ ba Mở rộng các hoạt động kinh doanh quốc tế, tăng cường hợp tác

kinh tế, khoa học và chuyển giao công nghệ sẽ giúp cho các nước có nền kinh tế kém phát triển có cơ hội chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tạo cơ hội cho việc phân phối các nguồn lực trong nước và thu hút các nguồn lực bên ngoài vào việc phát triển các lĩnh vực, các ngành của

Trang 8

nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển đất nước như vốn, nhân lực có trình độ cao, công nghệ hiện đại, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường khu vực và thị trường thế giới

Thứ tư Thông qua hoạt động kinh doanh quốc tế, phân công lao động quốc

tế giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài được đẩy mạnh, đảm bảo đầu vào đầu ra cho các doanh nghiệp trong nước một cách ổn định và phù hợp với tốc

độ phát triển kinh tế đất nước, tạo điều kiện cho việc hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh, đủ sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới và khu vực

Ngoài ra, sự tham gia mạnh mẽ vào hoạt động kinh doanh quốc tế sẽ giúp cho các quốc gia phát triển kinh tế theo hướng bền vững và nâng cao điều kiện sống cho nhân dân trong nước

1.2.2 Vai trò đối với sự phát triển của doanh nghiệp

Mở rộng tiêu thụ hàng hóa, tìm kiếm các nguồn lực ở nước ngoài, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh là những động cơ chính thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ vào các hoạt động kinh doanh quốc tế Đặc biệt là:

Thứ nhất Doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa

Số lượng và giá trị hàng hóa (doanh số) thực hiện phụ thuộc vào số lượng khách hàng quan tâm đến sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp và khả năng thanh toán của khách hàng cho những sản phẩm và dịch vụ đó Do số lượng khách hàng, sức mua và khả năng thanh toán trên thị trường thế giới lớn hơn thị trường ở từng quốc gia cho nên khi tham gia vào một hoạt động kinh doanh quốc tế sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng nhanh doanh số mua vào (hoặc bán ra) đối với các sản phẩm và dịch vụ mà mình cần (hoặc sản phẩm và dịch vụ mà mình cung cấp) trên thị trường thế giới Việc mở rộng khối lượng sản phẩm và dịch vụ cung ứng

sẽ tạo cho doanh nghiệp khả năng thu được khối lượng lợi nhuận cao hơn Vì vậy, việc mở rộng cung ứng đã trở thành dộng cơ chủ yếu đối với mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh với nước ngoài

Thứ hai Các doanh nghiệp có cơ hội tìm kiếm các nguồn lực ở nước

ngoài Đối với mỗi quốc gia, các nguồn lực (nguồn vốn đầu tư, nguồn tài nguyên,

nguồn nhân lực,…) sẵn có không phải là vô hạn mà chỉ có giới hạn (thậm chí hiếm và khan hiếm) Do vậy, thông qua việc tìm kiếm, mở rộng thị trường ở nước ngoài, các doanh nghiệp có điều kiện vươn tới và sử dụng các nguồn lực mới Các nguồn lực ở nước ngoài khác như: nhân công dồi dào và giá rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn và rất đa dạng, nguyên nhiên liệu phong phú, là những nguồn lực mà

Trang 9

các doanh nghiệp hướng tới nhằm giảm chi phí, nâng cao khả năng tiêu thụ, do đó góp phần gia tăng lợi nhuận Để giảm bớt chi phí, gia tăng lợi nhuận, ngày nay các doanh nghiệp vươn mạnh ra nước ngoài để có thể khai thác được các nguồn lực mới và tận dụng triệt để những ưu đãi của nước ngoài

Thứ ba Doanh nghiệp có cơ hội đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh

Các nhà kinh doanh thường tìm mọi cách để tránh những biến động bất lợi trong hoạt động kinh doanh Họ đã nhận thấy rằng thị trường nước ngoài và việc mua bán hàng hóa ở đó như là một biện pháp quan trọng giúp các nhà kinh doanh tránh được những đột biến xấu trong kinh doanh

Việc thực hiện đa dạng hóa nguồn lực của doanh nghiệp, thị trường, hình thức kinh doanh, lĩnh vực hoạt động và sản phẩm kinh doanh cho phép các doanh nghiệp khắc phục và hạn chế những rủi ro trong kinh doanh, khắc phục việc khan hiếm nguồn lực ở một quốc gia, tạo điều kiện và cơ hội cho doanh nghiệp khai thác có hiệu quả các lợi thế của mỗi quốc gia trong điều kiện kinh doanh quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận

1.3 Các lý thuyết về kinh doanh quốc tế

1.3.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối

Adam Smith (1723-1790) trong công trình nghiên cứu “Nguyên nhân sự

giàu có của các dân tộc” (Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of

Nations) cho rằng sự phát triển (sự giàu có) của một quốc gia phải dựa trên cơ sở

sử dụng các lợi thế tuyệt đối (Absolute Advantage) của mình trong quan hệ thương mại với các nước khác Theo ông, nếu một quốc gia có lợi thế về một phương diện nào đó, họ sẽ tập trung vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và trao đổi trên thị trường để lấy các sản phẩm mà họ không có lợi thế

Ví dụ khi xem xét về thực tế sản xuất hóa chất và gạo tại Nhật Bản và ở Việt Nam, có thể thấy rằng điều kiện sản xuất ở hai nơi khác nhau và dẫn đến chi phí sản xuất cũng khác nhau

Sản phẩm Tại Nhật Bản Tại Việt Nam

Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về sản xuất hóa chất, còn Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về sản xuất gạo Để hai bên đều có lợi, thì Nhật Bản tập trung vào sản xuất hóa chất, còn Việt Nam thì tập trung vào sản xuất gạo và Nhật Bản sẽ bán cho Việt Nam hóa chất và mua gạo từ Việt Nam và ngược lại

Trang 10

1.3.2 Lý thuyết về lợi thế tương đối

David Ricardo (1772-1823) trong công trình nghiên cứu nổi tiếng nhất

“Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa” (Principles of Political

Economy and Taxation) đã đưa ra lý thuyết về lợi thế so sánh (Comparative Advantage)

Khác với quan điểm về lợi thế tuyệt đối của A Smith, D Ricardo cho rằng nếu một quốc gia không lợi thế tuyệt đối nào cả thì vẫn có thể phát triển được dựa trên các lợi thế so sánh Ông cho rằng để phát triển kinh tế, các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất một hay nhiều sản phẩm mà có chi phí thấp hơn (lợi thế so sánh) và sau đó trao đổi với nhau Ví dụ, như xem xét về việc khai thác quặng sắt

và sản xuất thép ở Nhật Bản và ở Việt Nam Từ bảng so sánh có thể nhận thấy rằng Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về khai thác quặng sắt và sản xuất thép thành phẩm so với Việt Nam (chi phí nhân công về khai thác quặng sắt và về sản xuất thép ở Việt Nam đều cao hơn so với ở Nhật Bản)

Sản phẩm Tại Nhật Bản Tại Việt Nam

Tuy nhiên nếu phân tích kỹ về chi phí quy đổi tương đương giữa hai nơi, chúng ta có kết quả như sau:

Sản phẩm Tại Nhật Bản Tại Việt Nam

Tại thị trường Nhật Bản giá quặng sắt (qui đổi tương đối ra thép) đắt hơn thép Còn tại tại thị trường Việt Nam thì giá thép (qui đổi tương đối ra quặng) đắt hơn quặng Từ đó có thể cho rằng Nhật Bản có lợi thế (so sánh) về sản xuất thép

và Việt Nam có lợi thế (so sánh) về khai thác quặng sắt

Và để hai bên đều có lợi, thì Việt Nam sẽ chuyên sâu vào khai thác quặng sắt, còn Nhật Bản sẽ chuyên sâu vào sản xuất thép Sau đó hai bên trao đổi cho nhau về sản phẩm: Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản quặng sắt và nhập sản phẩm thép từ Nhật Bản, còn Nhật Bản thì ngược lại Đây chính là lợi thế so sánh

mà từng quốc gia cần xem xét và khai thác triệt để nhằm mục đích tham gia vào thị trường thế giới một cách hiệu quả

Trang 11

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trong lý thuyết về lợi thế tương đối (lợi thế

so sánh) mà D Ricardo đề cập đến không tính đến chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí sản xuất cố định không thay đổi theo qui mô, chỉ có 2 nước sản xuất 2 loại sản phẩm trên, những hàng hóa trao đổi giống nhau, các nhân tố sản xuất chuyển dịch hoàn hảo, không có thuế quan và rào cản thương mại và thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người mua biết nơi nào có hàng rẻ nhất trên thị trường

1.3.3 Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú hích từ bên ngoài”

Nhà kinh tế học Paul Anthony Samuelson (1915 - 2009) đưa ra thuyết “Cái vòng luẩn quẩn” và “Cú huých từ bên ngoài” trong công trình nghiên cứu “Kinh

tế học” vào năm 1948 Theo thuyết này, để tăng trưởng kinh tế cần đảm bảo bốn nhân tố: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản, kỹ thuật Ở các nước đang phát triển, 4 nhân tố trên đều khan hiếm, việc kết hợp chúng gặp trở ngại lớn Nhiều nước khó khăn lại càng thêm khó khăn trong “cái vòng luẩn quẩn” của

sự nghèo khổ Để tăng trưởng và phát triển phải có “cú huých từ bên ngoài” nhằm phá “cái vòng luẩn quẩn” ở nhiều điểm

1.3.4 Lý thuyết về cạnh tranh quốc tế

Michael Eugene Porter (sinh ngày 23 tháng 5 năm 1947 - giáo sư Đại học

Harvard, Hoa Kỳ) trong công trình nghiên cứu nổi tiếng "Lợi thế cạnh tranh quốc

gia" (Competitive Advantage of Nations, 1990) cho rằng các yếu tố quyết định

đến phát triển và cạnh tranh trong thương mại toàn cầu của một quốc gia là điều kiện sản xuất, điều kiện cầu, các ngành hỗ trợ, chiến lược và cơ cấu sản phẩm Ngoài ra còn có các yếu tố khác, như yếu tố đột biến (ngẫu nhiên) và tác động của chính phủ Tất cả các yếu tố này không tách rời nhau, mà liên kết với nhau tạo nên một khối thống nhất

1) Yếu tố sản xuất bao gồm yếu tố sản xuất cơ bản và yếu tố phát triển

Trong đó yếu tố sản xuất cơ bản gồm tài nguyên thiên nhiên, lao động không có tay nghề Những yếu tố sản xuất cơ bản mang tính kế thừa, không có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, chủ yếu được sử dụng vào trong các ngành sản xuất truyền thống ít sử dụng công nghệ hiện đại

Còn yếu tố phát triển gồm cơ sở hạ tầng, lao động có tay nghề, công nghệ, vốn, trình độ quản lý,…Những yếu tố này không mang tính kế thừa, song có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh

tế Do vậy, để đưa nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, thì cần tập trung vào phát triển các yếu tố này

Trang 12

2) Yếu tố cầu Các yếu tố về cầu được thể hiện qua cơ cấu sản phẩm và

quy mô thị trường (bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường bên ngoài) Với các tiêu chí như đòi hỏi ngày càng tăng của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, điều kiện bán hàng, chế độ hậu mãi, khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới và quy mô sản xuất ở bên ngoài

Điều kiện cầu luôn thay đổi theo chu kỳ sống của sản phẩm qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn I Khi sản xuất mới bắt đầu, do cần đầu tư về công nghệ và vào

quảng cáo, nên giá sản phẩm còn đắt, đồng thời người tiêu dùng còn chưa biết nhiều đến sản phẩm, nên lượng cầu thấp

- Giai đoạn II Khi công nghệ hoàn thiện, chi phí sản xuất giảm và người

tiêu dùng biết nhiều về sản phẩm (cầu tăng) thì sản xuất mở rộng (kể cả sản xuất ở bên ngoài)

- Giai đoạn III Khi sản phẩm đã có chi phí giảm tối đa và trở nên thông

dụng, sản xuất mang tính đại trà với số lượng lớn và giá rẻ (sức cầu cao nhất cả ở thị trường trong và ngoài nước)

- Giai đoạn IV Sau khi sức cầu đã đạt cực đại (giai đoạn III), sức cầu giảm

do sản phẩm không được người tiêu dùng ưa chuộng nữa, thì lúc đó sản xuất giảm (suy thoái, sản phẩm chết) Muốn duy trì sản xuất và bán được sản phẩm, thì cần phải đầu tư thay đổi sản phẩm hoặc các chức năng sản phẩm đáp ứng các đòi hỏi gia tăng của người tiêu dùng

3) Các ngành hỗ trợ gồm các cơ sở sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch

vụ thuộc cùng một lĩnh vực hay thuộc các lĩnh vực khác và nằm trong nước hoặc bên ngoài Chúng cung cấp cho doanh nghiệp nguyên liệu thô, bán thành phẩm hoặc linh kiện và hỗ trợ về công nghệ, thông tin, quảng cáo,…Một quốc gia hay một vùng có hệ thống các hỗ trợ phát triển mạnh, thì quá trình sản xuất và kinh doanh các sản phẩm chính sẽ có điều kiện phát triển nhanh, chi phí giảm và khả năng cạnh tranh cao

4) Chiến lƣợc, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành

Doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả cao và có khả năng cạnh tranh ổn định, nếu có chiến lược rõ ràng về cơ cấu sản phẩm và cơ cấu giá Trong đó về cơ cấu sản phẩm cần phải xác định nhóm sản phẩm chủ lực, nhóm sản phẩm với thị trường mục tiêu, nhóm sản phẩm với các tính năng khác nhau, nhóm sản phẩm với công nghệ, nguyên liệu khác nhau Còn về cơ cấu giá cần đa dạng và linh hoạt, cần thay đổi theo thị trường và theo mùa, có các chính sách giảm giá thành

Trang 13

sản phẩm (bằng việc sử dụng nhân công với chi phí thấp, nguyên liệu dồi dào, gần nơi khai thác hoặc đưa cơ sở sản xuất đến gần nơi tiêu thụ,…) Ngoài ra, cần có các chính sách khuyến mãi thường xuyên khi mức cầu trên thị trường giảm

5) Điều kiện đột biến (ngẫu nhiên) Điều kiện đột biến là những điều kiện

về kinh tế xã hội (hoặc những điều kiện về tự nhiên) thay đổi đột ngột, mà nhà sản xuất (kinh doanh) không dự báo được

Các điều kiện đột biến có thể như: sự ra đời của các vật liệu mới (chi phí giảm, tính năng và hiệu quả cao, song lại nhẹ hay giảm diện tích sử dụng), sự thay đổi kỹ thuật công nghệ (nhất là công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo), giá một số mặt hàng cơ bản trên thị trường trong nước và trên thế giới thay đổi, sự tăng hay giảm tỷ giá các loại tiền tệ (nhất là các loại ngoại tệ mạnh), sự biến động

về chính trị, những hiện tượng thiên tai bất thường,…

6) Tác động của chính phủ thể hiện qua các chính sách và qui định Như

chính sách trợ giá (cho nhà sản xuất, cho người tiêu dùng, cho nhà nhập khẩu), qua chính sách tài chính (cho vay ưu đãi hay tăng lãi suất cho vay), chính sách thuế (ưu đãi hay không ưu đãi về thuế), chính sách đầu tư (thông thoáng hay không thông thoáng), các chính sách về sản phẩm (tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn về môi trường, chính sách chống bán phá giá,…) và các chính sách đối ngoại của Nhà nước

* *

*

Trang 14

CHƯƠNG II MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH DOANH QUỐC TẾ

2.1 Môi trường và các yếu tố trong nước

2.1.1 Môi trường và các yếu tố về mặt tự nhiên

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực tự nhiên quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia Bao gồm:

vị trí địa lý, hệ thống tài nguyên thiên nhiên (địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật và tài nguyên khoáng sản)

Vị trí địa lý có ảnh hưởng đến sự hình thành các điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai, nguồn nước, tài nguyên sinh vật và tài nguyên khoáng sản,…) và có tác động đến sự hình thành cơ cấu nền kinh tế của một quốc gia1

Ngoài ra, vị trí địa lý còn ảnh hưởng đến khả năng hội nhập kinh tế thế giới

và khu vực của một quốc gia Nếu một quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi, thì quốc gia đó có điều kiện xây dựng các mối quan hệ song phương và đa phương với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong đó, có điều kiện để tăng cường và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Thứ hai là có điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ và kỹ thuật Thứ ba là có điều kiện học hỏi kinh nghiệm về phát triển kinh tế và quản lý kinh tế của các nước trong khu vực

Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ các yếu tố tự nhiên mà con người có thể

sử dụng được vào mục đích sống của mình Tài nguyên thiên nhiên được phân loại theo đặc điểm hình thành và theo khả năng sử dụng

Theo đặc điểm hình thành, tài nguyên thiên nhiên gồm có tài nguyên khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật và tài nguyên khoáng sản Còn theo khả năng sử dụng, thì tài nguyên thiên nhiên gồm có tài nguyên vô hạn (năng lượng mặt trời, năng lượng sức gió, thủy triều và năng lượng địa nhiệt)

và tài nguyên hữu hạn

Trong nhóm tài nguyên hữu hạn lại phân thành hai nhóm: tài nguyên hữu hạn có thể phục hồi (tài nguyên khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên nước và tài nguyên sinh vật) và nhóm tài nguyên hữu hạn không thể phục hồi (khoáng sản)

1

Singapore có vị trí nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế, nên cơ cấu kinh tế của quốc gia này là phát triển các ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu và tái xuất khẩu

Trang 15

Tài nguyên nhiên thiên là cơ sở để phát triển các ngành kinh tế mang tính thế mạnh của từng quốc gia và là lợi thế tham gia vào thị trường thế giới Một quốc gia có hệ thống tài nguyên đất đai màu mỡ và có điều kiện khí hậu thuận lợi, thì có thế mạnh phát triển các lĩnh vực kinh tế nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) Nếu có hệ thống tài nguyên khoáng sản đa dạng và có trữ lượng lớn thì có thế mạnh phát triển các ngành công nghiệp

2.1.2 Mô hình và chính sách phát triển kinh tế

a) Các vấn đề chung

Đối với quá trình phát triển, các nước đang phát triển đã áp dụng nhiều mô hình phát triển kinh tế khác nhau Song có các mô hình phát triển kinh tế chủ yếu

là mô hình kinh tế đóng và mô hình kinh tế mở

Sau khi giành được độc lập, hầu hết các nước đang phát triển đều thực hiện chính sách mô hình kinh tế đóng với những đặc điểm, như phát triển kinh tế theo hướng tự lực cánh sinh, hạn chế xuất khẩu (chỉ xuất khẩu những hàng hóa sau khi

đã thỏa mãn các nhu cầu trong nước), bảo hộ sản xuất trong nước bằng các chính sách quan thuế và phi quan thuế khắt khe, không khuyến khích đầu tư nước ngoài (chủ yếu là đi vay vốn)

Mặc dù, ban đầu mô hình phát triển kinh tế đóng đã đem lại những lợi ích

cơ bản cho các nước phát triển, như kinh tế phát triển ổn định, nền kinh tế ít phụ thuộc vào bên ngoài và phần nào đó ít chịu sự chi phối về mặt chính trị của các nước lớn Tuy nhiên, áp dụng mô hình phát triển kinh tế này, các nước đã gặp phải những bất lợi, như : tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, hàng hóa sản xuất trong nước đắt đỏ và chất lượng không cao, các lợi thế cạnh tranh không được sử dụng hợp lý,…

Chính vì vậy, từ những thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX nhiều nước đang phát triển đã từ bỏ chính sách phát triển theo mô hình kinh tế đóng và chuyển sang phát triển theo mô hình kinh tế mở Đầu tiên là một số nước và vùng lãnh thổ ở khu vực châu Á (Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Singapore)

Mô hình mà các nước này áp dụng thường được gọi là mô hình phát triển

mở cửa kinh tế, hay còn gọi là mô hình phát triển kinh tế hướng ngoại Đặc điểm chính của mô hình này là mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa dựa trên các lợi thế sẵn có, mở cửa thu hút vốn và kỹ thuật từ nước ngoài, thực hiện các chính sách tự do thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế

Mô hình phát triển kinh tế mà các nền công nghiệp hóa mới ở châu Á

(NICs hay NIEs) áp dụng dựa trên mô hình “đàn sếu bay” của Akamatsu K (The

Trang 16

"flying geese" model)2 Akamatsu hình dung rằng khi ngành công nghiệp này của Nhật Bản đang ở pha gia tăng xuất khẩu thì các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore nhập khẩu sản phẩm công nghiệp đó Cùng với thời gian, xuất khẩu của ngành này ở Nhật đạt tới đỉnh cao và bắt đầu giảm xuất khẩu cũng là lúc các nước kia đẩy mạnh tự sản xuất thay thế nhập khẩu Khi các nước kia đẩy mạnh xuất khẩu thì cũng là lúc ngành công nghiệp này ở Nhật không còn lợi thế cạnh tranh và bắt đầu kết thúc xuất khẩu Nhưng Nhật Bản lại có ngành công nghiệp khác thay thế làm ngành xuất khẩu chủ đạo Cứ như vậy từ ngành này sang ngành khác (dệt tới đóng tàu và ô tô khách, tới hàng điện tử và ô tô cao cấp),

từ Nhật Bản sang các nước NICs rồi sang các nước khác Áp dụng mô hình này, các nước đang phát triển sẽ giảm bớt những chi phí ban đầu cho việc nghiên cứu

và gia tăng sử dụng hợp lý các lợi thế của mình

Một số nước còn gọi mô hình phát triển kinh tế này là mô hình “xuất khẩu

từng bước” Trong đó bước đầu tiên là sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng sử

dụng nhiều lao động phổ thông (dệt, may, giày dép, đồ chơi,…), sau đó với nguồn thu xuất khẩu này sẽ đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám và sản xuất xuất khẩu

b) Mô hình và chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam

Hiện nay nước ta đang phát triển kinh tế xã hội theo hướng Đổi mới Tiến trình diễn ra công cuộc Đổi mới được manh nha từ năm 1979 và được quyết định sau Đại hội Đảng lần VI (1986) Công cuộc Đổi mới nhằm đưa nước ta phát triển theo hướng dân chủ hóa đời sống kinh tế xã hội, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường giao lưu và hợp tác với các nước Đồng thời thực hiện các chính sách, như : xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ cấu kinh tế năng động và sử dụng cơ chế thị trường theo định hướng XHCN

Thực hiện công cuộc Đổi mới chính là chính sách phát triển kinh tế theo hướng mở cửa (mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa dựa trên các lợi thế sẵn có, mở cửa thu hút vốn và kỹ thuật từ nước ngoài, thực hiện các chính sách tự do thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế) Trong đó, Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách phát triển kinh tế mang tính hội nhập, như :

Thứ 1 Chính sách mở cửa là mở rộng quan hệ với nhiều nước, gỡ bỏ các

rào cản trong việc đi lại, mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại, tăng cường

2

Do Akamatsu Kaname (nhà kinh tế học người Nhật đưa ra vào năm 1930 và phổ biến rộng rãi vào năm

1960 Sau đó được các nhà kinh tế khác của Nhật (Kojima Kiyoshi và Okita Saburo) phổ biến rộng rãi

Trang 17

thu hút đầu tư của nước ngoài,… Và từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, như năm 1977 Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc, ngày 28.7.1995 gia nhập ASEAN, ngày 15.11.1998 gia nhập APEC, từ 1.1.2006 chính thức thực hiện các cam kết của khu vực mậu dịch tự do ASEAN, ngày 7.11.2006 gia nhập WTO, từ 1.1.2016 cam kết thực hiện các nguyên tắc hình thành Cộng đồng kinh tế chung ASEAN (AEC)

Thứ 2 Thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, với 6

thành phần kinh tế là thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Điều này sẽ góp phần vào tăng cường thu hút các nguồn vốn (trong nước và ngoài nước), xây dựng cơ cấu kinh tế năng động (sử dụng các lợi thế của từng vùng), nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong mối quan

hệ với môi trường kinh doanh quốc tế

Thứ 3 Thực hiện đường lối phát triển theo hướng công nghiệp hóa và hiện

đại hóa Trong đó quan trọng nhất là đẩy mạnh phát triển công nghiệp và các ngành dịch vụ Nhằm từng bước đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Với các mục tiêu cụ thể là đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động: giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 50% và tăng mạnh tỷ trọng giá trị các ngành công nghiệp và dịch vụ

Thứ 4 Hoàn thiện về hệ thống luật pháp Đây là những điều kiện pháp lý

quan trọng để phát triển kinh tế xã hội nói chung và khả năng hội nhập với thế giới của nền kinh tế nói riêng Trong đó, đáng chú ý là là đã xây dựng và hoàn thiện các bộ luật có liên quan đến kinh doanh quốc tế, như Luật đầu tư, Luật thương mại, Luật môi trường, Luật du lịch, Luật tài nguyên, Luật hải quan,…

2.1.3 Nguồn vốn đầu tư trong nước

Nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm các nguồn vốn Nhà nước (đầu tư công) của Chính phủ và của các chính quyền địa phương và nguồn vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân trong nước Theo kinh nghiệm phát triển ở nhiều nước (nhất là tại các nước đang phát triển) thì đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước và điều kiện quan trọng cho các ngành kinh tế tham gia vào thị trường bên ngoài Trong lịch sử phát triển các nước và trênphương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ

Trang 18

bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia

a) Nguồn vốn nhà nước

Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước

Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước Đây chính là nguồn chi của ngân

sách Nhà nước (NSNN) cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn

Nguồn vốn đầu tư từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mội thành phần kinh tế theo định hướng chung của

kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Với vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định điều điều tiết vĩ mô, vốn từ NSNN đã được nhận thức và vận dụng khác nhau tuỳ thuộc quan niệm của mỗi quốc gia Trong thực tế điều hành chính sách tài khoá, Nhà nước có thể quyết định tăng, giảm thuế, quy mô thu chi ngân sách nhắm tác động vào nền kinh tế Tất cả những điều đó thể hiện vai trò quan trọng của NSNN với tư cách là công cụ tài chính vĩ mô sắc bén nhất hữu hiệu nhất, là công cụ bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái,…

Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, bao gồm: vốn điều lệ của

Quỹ hỗ trợ phát triển, vốn ngân sách nhà nước cấp hàng năm, vốn thu hồi nợ hàng năm, vốn từ phát hành Trái phiếu Chính phủ, vốn vay nợ và viện trợ nước ngoài của Chính phủ dùng để cho vay lại, vốn do Quỹ hỗ trợ phát triển huy động,…

Mục đích của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là hỗ trợ các dự án đầu tưphát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chươngtrình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư Chínhphủ thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư pháttriển của Nhà nước

Trang 19

Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được sử dụng để đáp ứng cho các nhu cầu: cho vay đầu tư, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng đầu tư, trả nợ vốn vay Trong đó:

- Cho vay đầu tư là hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế được ký bằng văn bản về vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước giữa Quỹ hỗ trợ phát triển hoặc tổ chức tín dụngđược uỷ thác với chủ đầu tư

- Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư là việc Nhà nước thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển hỗtrợ một phần lãi suất cho chủ đầu tư vay vốn của các tổ chức tín dụng để đầu tư dự án sau khi dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng Hợp đồng hỗ trợ lãi suất là hợp đồng kinh tế được ký bằng văn bản về hỗ trợ lãi suất sau đầu tư giữa Quỹ hỗ trợ phát triển với chủ đầu tư vay vốn của các tổ chức tín dụng để đầu tư

dự án

- Bảo lãnh tín dụng đầu tư là cam kết của Quỹ hỗ trợ phát triển với tổ chức tín dụng cho vay vốn về việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn của bên đi vay Trong trường hợp bên đi vay không trả được nợ hoặc trả không đủ nợ khi đến hạn, Quỹ

hỗ trợ phát triển sẽ chịu trách nhiệm trả nợ thay cho bên đi vay Hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng kinh tế được ký bằng văn bản về bảo lãnh tín dụngđầu tư giữa Quỹ hỗ trợ phát triển với bên được bảo lãnh

Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước Đối với một số nước (như ở

Việt Nam) các doanh nghiệp Nhà nước3 vẫn giữ vai trò quan trọng, thì nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế và các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn

Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước là các nguồn vốn do doanh nghiệp tự tích lũy, vốn đi vay (từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vay từ Quỹ hỗ trợ phát triển quốc gia), vốn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, vốn có được

từ bán bớt cổ phần trong các doanh nghiệp khác Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế Nhà nước ở Việt Nam với

sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội ở nước ta

3

Ở Việt Nam qui định: doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều

lệ (Theo khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014) Khác với qui định trong Luật doanh nghiệp 2005: Nhà nước chỉ cần nắm giữ 50% vốn điều lệ của một doanh nghiệp thì sẽ được coi là một doanh

Trang 20

b) Nguồn vốn từ khu vực tƣ nhân

Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần vốn có được từ các tổ chức kinh tế ngoài Nhà nước (tự tích lũy, vốn đi vay, vốn

có được từ quá trình cổ phần hóa,…) Ở Việt Nam, theo đánh giá sơ bộ thì khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà cần được huy động triệt để Nguồn vốn tiết kiệm của dân cư phụ thuộc rất lớn vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình (đây là một lượng vốn lớn) Nhờ có lượng vốn này mà đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn trong các doanh nghiệp,

nó cũng giải quyết được một phần lớn công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi trong khu vực nông thôn từ đó thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay

do tích lũy truyền thống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt … nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Quy mô của các nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp), tập quán tiêu dùng của dân cư và chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội Trong đó quan trọng nhất là khả năng phát triển thị trường vốn (cốt lõi là thị trường chứng khoán)

Như vậy vốn đầu tư trong nước là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục và phát triển kinh tế theo hướng bền vững

Ở Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, khả năng tích lũy thấp thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nước ngoài để bổ sung có ý nghĩa rất quan trọng Do yêu cầu phát triển kinh tế, các nguồn đầu tư ở nước ta ngày càng tăng (từ 151,2 ngàn tỷ đồng vào năm 2000 lên 1.667,4 ngàn tỷ đồng vào năm 2017, tăng gấp hơn 11 lần) Tuy nhiên, cơ cấu nguồn vốn đầu tư có

sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng nguồn vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước (từ 59,1 xuống còn 35,7%, giảm 23,4%), tăng tỷ trọng nguồn vốn đầu tư từ khu vực Ngoài nhà nước (từ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, hộ cá thể và hộ dân cư: tăng từ 22,9 lên đến 40,5%, tăng 17,6%) và tăng tỷ trọng nguồn vốn đầu tư

từ khu vực có vốn ĐTNN (từ 18,0 lên đến 23,8%, tăng 5,8%)

Tỷ trọng nguồn vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước (đầu tư công, bao gồm nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn tín

Trang 21

dụng đầu tư theo kế hoạch của Nhà nước) có suy hướng ngày càng giảm Nguyên nhân chính là do chủ trương cắt giảm đầu tư công của Chính phủ, giảm gánh nặng đầu tư từ ngân sách Nhà nước, giảm nợ công, tăng cường thu hút nguồn vốn từ các khu vực khác cho đầu tư phát triển

Bảng 1 Qui mô và cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển ở Việt Nam

(tính theo giá hiện hành)

Năm (ngàn tỷ đồng) Tổng số

Cơ cấu (%) Nhà nước Nhà nước Ngoài Vốn đầu tư nước ngoài

Nguồn Niên giám thống kê Việt Nam 2005, 2010, 2015, 2017

2.1.4 Nguồn nhân lực và thị trường tiêu thụ

Dân cư và nguồn lao động đóng vai trò là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế trong nước, tham gia vào sự pân công lao động trên thế giới và gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trước hết, đó là lao động

là lực lượng sản xuất quan trọng tạo ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cho xã hội Đánh giá vai trò của nguồn lực xã hội này, dựa trên các tiêu chí về qui mô và

cơ cấu dân cư lao động, chất lượng nguồn lao động và giá nhân công,…Một quốc gia nếu chỉ có nguồn lao động dồi dào, song chất lượng nguồn lao động không cao thì chủ yếu phát triển các ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động (dệt, may, sản xuất giày dép,…) Ngược lại, một quốc gia khác có nguồn lao động với trình độ tay nghề và kỹ thuật cao thì phát triển các ngành kinh tế chủ yếu sử dụng chất xám (điện tử, viễn thông,…)

Thứ hai là thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mà xã hội tạo ra, cũng như tham gia vào tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ bên ngoài (nhập khẩu) Hành vi tiêu dùng, khả năng tiêu dùng và sự thay đổi về cầu của thị trường trong nước sẽ góp phần gia tăng khả năng hội nhập của nền kinh tế vào hoạt động kinh doanh quốc tế

Trang 22

2.1.5 Sự phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Sự phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật là nền tẳng cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế trong nước, cũng như khả năng tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế của một quốc gia

Trong hệ thống cơ sở hạ tầng, thì đáng chú ý là sự phát triển hệ thống cơ sở

hạ tầng giao thông vận tải, hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống tài chính,…

Hệ thống giao thông vận tải góp phần vào làm gia tăng giá trị của các ngành sản xuất và dịch vụ, như tham gia vào việc cung ứng vật tư, nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ Đồng thời góp phần vào việc phục vụ nhu cầu chuyên chở hàng hóa và việc đi lại của nhân dân giữa các vùng Nhờ có giao thông vận tải phát triển, nên các mối liên hệ kinh tế xã hội trong nước ngày càng phát triển, tăng cường sức mạnh quốc phòng và tạo nên các mối giao lưu kinh tế trong nước với các nước trên thế giới Trong đó, đáng chú ý

là sự phát triển đa dạng các loại hình giao thông vận tải quốc tế (đường sắt, đường

ô tô, đường thủy, đường biển, hàng không) sẽ góp phần vào phát huy các lợi thế trong nước và tăng cường tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế (chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu, phát triển du lịch)

Hệ thống công nghệ thông tin phát triển sẽ góp phần vào việc đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh trong nước và hoạt động kinh doanh với thị trường bên ngoài Trong bối cảnh hiện nay, khi mà hầu hết các hoạt động kinh doanh với thị trường bên ngoài dựa chủ yếu vào hệ thống thông tin trực tuyến (qua mạng Internet), như tìm hiểu thị trường và giá cả các mặt hàng trên thế giới, đàm phán trao đổi với các đối tác nước ngoài, thanh quyết toán xuất nhập khẩu hàng hóa bằng giao dịch điện tử,…thì vai trò của sự phát triển hệ thống công nghệ thông tin trong nước mang tính quyết định quan trọng

Sự phát triển hệ thống tài chính trong nước (ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán,…) là yếu tố quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước và tạo đà thu hút các nguồn vốn bên ngoài Trong đó đáng chú ý là sự phát triển thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán này thường được thực hiện chủ yếu tại sở giao dịch chứng khoán, một phần ở các công ty môi giới (công ty chứng khoán) Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp (người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành) và thị trường thứ cấp (nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành

ở thị trường sơ cấp) Hàng hóa giao dịch trên thị trường chứng khoán bao gồm:

Trang 23

các cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn trong nước và nước ngoài

Sự phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật (nhất là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến) sẽ làm thay đổi các xu hướng trong kinh doanh quốc tế của quốc gia Trong điều kiện khi hệ thống này kém phát triển, thì cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng thô và sơ chế với giá trị thấp và cơ cấu hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng chế biến và chế tạo (như máy móc, trang thiết bị,…) với giá trị cao sẽ kéo theo cán cân thanh toán của quốc gia sẽ âm (nhập siêu) và là gánh nặng cho nền kinh tế (nợ công và nợ nước ngoài gia tăng)

Ngược lại, khi hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật (nhất là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến) phát triển và sự xuất hiện các cơ sở công nghiệp chế biến với những trang thiết bị và công nghệ hiện đại, đồng thời lại phân bố có tính tập trung thành các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất, các khu công nghệ kỹ thuật cao, các đặc khu kinh tế,… sẽ làm thay đổi các xu hướng kinh doanh quốc tế của các quốc gia Như, thay vì xuất khẩu hàng thô và sơ chế, thì tập trung vào sản xuất chế biến từ nguyên liệu trong nước để tạo ra các sản phẩm hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu phục vụ cho nhu cầu trong nước

Đồng thời, việc đẩy mạnh sản xuất trong nước với chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao kết hợp với công nghệ tiên tiến sẽ góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa và tạo tiền đề nâng cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu để chiếm lĩnh thị trường thế giới

2.2 Sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế giữa các nước

Sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế của các nước trên thế giới là điều kiện hình thành các mối quan hệ trong kinh doanh quốc tế, như trao đổi hàng hóa, chuyển giao công nghệ, dòng lưu chuyển nguồn vốn, các chính sách ưu đãi về thuế quan, các chính sách về tài trợ vốn và cho vay vốn vay ưu đãi,…

2.2.1 Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển kinh tế

Để đánh giá, cũng như so sánh qui mô và mức độ phát triển kinh tế của các nước, người ta dựa trên các tiêu chí về Tổng sản phẩm trong nước (GDP), tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng thu nhập quốc gia, thu nhập bình quân đầu người và tiêu chí liên quan đến cơ cấu kinh tế theo ngành

1 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là giá trị gia tăng thêm của hàng hóa

và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian nhất định Được tính trên phạm vị lãnh thổ của một nước (không phân biệt giá trị sản xuất và

Trang 24

dịch vụ do người trong nước hay nước ngoài làm ra), trong một thời gian nhất

định (thường là trong một năm) Tiêu chí này có ý nghĩa quan trọng trong việc

phân tích cơ cấu kinh tế theo ngành, trình độ phát triển và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, mức sống của dân cư và để so sánh với các nước khác về qui mô của

nền kinh tế, mức sống của người dân và điều kiện phát triển,…

Có nhiều các tính tổng sản phẩm trong nước Thứ nhất là phương pháp sản

xuất, Tổng sản phẩm trong nước được tính là tổng giá trị tăng thêm của tất cả các

ngành kinh tế cộng với thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Thứ hai là phương

pháp thu nhập, Tổng sản phẩm trong nước được tính là tổng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc hoặc là tổng của 4 yếu tố: thu nhập của người lao động (tiền hay hiện vật), thuế

sản xuất, khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất, thặng dư sản xuất Thứ ba

là phương pháp sử dụng, Tổng sản phẩm trong nước được tính bằng tổng của 3 yếu tố: tích lũy tài sản (cố định, lưu động, quý hiếm), tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và Nhà nước và chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) gồm Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tính theo giá nội tệ và Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tính theo giá ngoại tệ Trong đó Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tính theo giá nội tệ, gồm Tổng sản phẩm trong nước tính theo giá thực tế (được tính dựa vào giá trị hiện hành từ các yếu tố kinh tế) và Tổng sản phẩm trong nước tính theo giá so sánh (được qui đổi

về giá một thời gian nào đó) Còn tổng sản phẩm trong nước (GDP) tính theo giá ngoại tệ được tính theo phương pháp tỷ giá hối đoái thực tế (GDP at Curennt Exchange Rate) là GDP thực tế theo giá nội tệ qui đổi ra ngoại tệ theo tỷ giá hiện hành và phương pháp sức mua tương đương (GDP at Purchasing Power Parity) là giá trị GDP thực tế theo giá nội tệ chia cho tỷ giá theo sức mua tương đương

Trên thế giới, việc tính Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá chuyển đổi và theo giá sức mua theo giá đồng USD của Hoa Kỳ cũng có khác biệt khá lớn giữa các nước có nền kinh tế phát triển khác nhau Những nước đang phát triển có tổng GDP theo giá sức mua cao hơn nhiều lần so với GDP tính theo giá chuyển đổi (nguyên nhân chủ yếu là do giá đồng nội tệ của các nước này thấp hơn giá đồng USD của Hoa Kỳ), ngược lại thì tại các phát triển tỷ lệ này không cao lắm

Ví dụ, như ở Trung Quốc thì tổng GDP theo giá sức mua cao hơn 1,9 lần so với GDP theo giá chuyển đổi, còn ở Việt Nam thì tỷ lệ này là 2,9 lần; còn ở Nhật Bản chỉ là 1,1 lần và ở Hàn Quốc chỉ là 1,3 lần Do vậy, nếu xếp hạng các nước có qui

mô GDP lớn nhất theo 2 cách tính trên, thì xếp hạng các nước cũng khác nhau

Trang 25

Bảng 2 Những quốc gia có GDP lớn nhất (2017) Stt Quốc gia

GDP tính theo giá chuyển đổi

(tỷ USD)

Stt Quốc gia

GDP tính theo giá sức mua

(tỷ USD)

Nguồn The World Factbook 2017

2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Đây là tiêu chí có ý nghĩa quan trọng trong

việc so sánh và đánh giá mức độ phát triển giữa các quốc gia trong các thời kỳ và giữa các giai đoạn phát triển của một quốc gia Tốc độ tăng trưởng kinh tế có các đặc điểm như: được tính bằng tốc độ tăng trưởng giá trị GDP (theo giá so sánh), thường không ổn định (phụ thuộc vào sự biến động về chính trị, kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát, thiên tai, dịch bệnh,…)

3 Tổng thu nhập quốc gia (GNI) được tính theo công thức GNI = GDP +

(X – Y) Trong đó, X là nguồn thu từ nước ngoài, Y là phần trả cho nhà đầu tư nước ngoài Các nước có nhiều vốn đầu tư ra nước ngoài thường có Tổng giá trị GNI lớn hơn giá trị GDP và ngược lại các nước nhận nhiều vốn đầu tư của nước ngoài có Tổng giá trị GDP lớn hơn GNI

4 GDP và GNI bình quân đầu người Để so sánh mức sống của dân cư ở

các nước, người ta sử dụng chỉ số GDP bình quân đầu người hoặc chỉ số GNI bình quân đầu người và thông dụng nhất là chỉ số GDP bình quân đầu người trong một năm Chỉ số này phản ánh trình độ phát triển của các quốc gia, chất lượng cuộc sống

Trang 26

Có hai loại là GDP bình quân đầu người theo giá chuyển đổi và GDP bình quân đầu người theo giá sức mua GDP bình quân đầu người có sự khác nhau giữa các nhóm nước Các nước phát triển có thu nhập bình quân đầu người theo giá chuyển đổi cao hơn theo giá sức mua, còn ở các nước đang phát triển thì thu nhập bình quân đầu người theo giá sức mua cao hơn theo giá chuyển đổi

Nếu dựa trên cách tính Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá sức mua, thì rất nhiều nước nhỏ trên thế giới (những nước có diện tích và dân số không lớn)

có thu nhập bình quân đầu người tính theo giá sức mua rất cao (ví dụ như Liechtenstein, Quatar, Monaco, Macao, Luxemboug, Singapore,…)

Trong khi đó, rất nhiều nước ở khu vực châu Phi và ở khu vực châu Á (do khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế, thiên tai, dịch bệnh và cũng do chính sách phát triển kinh tế không phù hợp,…), nên có thu nhập bình quân đầu người theo giá sức mua cũng rất thấp: dưới 2000 USD (xem chi tiết bảng 2) Những quốc gia này, nếu tính thu nhập bình quân đầu người theo giá chuyển đổi thì còn thấp nửa Ví dụ như ở Bắc Triều Tiên, thì thu nhập bình quân đầu người theo giá chuyển đổi chỉ vào khoảng 1.100 USD (theo số liệu năm 2017) hay như ở Nam Sudan, thì thu nhập bình quân đầu người theo giá chuyển đổi chỉ vào khoảng 223 USD (theo số liệu năm 2017)

Bảng 3 Những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người (TNBQ/người) lớn

nhất và nhỏ nhất trên thế giới (tính theo giá sức mua), 2017

Những quốc gia có TNBD/người

lớn nhất

Những quốc gia có TNBD/người

nhỏ nhất Stt Quốc gia TNBQ/người

(USD)

Nguồn The World Factbook 2017

Trang 27

5 Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế được tính dựa trên việc đóng

góp vào Tổng giá trị sản phẩm trong nước (GDP) của cả nước của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (thường gộp chung là nhóm ngành nông – lâm - thủy sản), công nghiệp, xây dựng (thường gộp chung là công nghiệp – xây dựng) và các ngành dịch vụ Ở các nước phát triển, thì giá trị nhóm ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọg cao trong Tổng giá trị GDP, còn ở các nước đang phát triển thì giá trị nhóm ngành nông – lâm – thủy sản lại chiếm tỷ trọng cao trong Tổng giá trị GDP

2.2.2 Sự phân chia các nước theo mức độ phát triển kinh tế

Sự phân chia các nhóm nước theo mức độ phát triển kinh tế thường dựa vào các tiêu chí cơ bản là qui mô Tổng giá trị GDP, thu nhập bình quân đầu người trong năm (GDP/người/năm) và chỉ số về cơ cấu kinh tế phân theo ngành

Mục đích của sự phân chia này là để đánh giá mức độ phát triển các nhóm nước, tạo sự liên kết phát triển, thực hiện các chính sách hỗ trợ (chỉ có các nước nghèo mới được nhận hỗ trợ ODA và hỗ trợ thuế quan ưu đãi toàn cầu,…)

Dựa vào tiêu chí trên, các nước trên thế giới chia làm ba nhóm có mức độ phát triển kinh tế khác nhau, gồm nhóm các nước phát triển, nhóm các nước có nền kinh tế chuyển đổi và nhóm các nước đang phát triển

1 Các nước phát triển tập hợp trong Tổ chức các nước phát triển (OECD -

Organization for Economic Cooperation and Development) gồm 30 quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thế giới

Những nước này có đặc điểm sau: GDP bình quân đầu người thoe giá

chuyển đổi cao (trung bình là trên 30.000 USD/người trong năm), cơ cấu kinh tế

có tỷ trọng nông nghiệp thấp (chiếm dưới 2% GDP)4, tỷ trọng công nghiệp chiếm thấp hơn 30%5 và tỷ trọng dịch vụ cao (thường chiếm trên 70% GDP)6 Trong nhóm các nước này, thì quan trọng nhất là nhóm G7 gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Italia và Canada

6

Tỷ trọng giá trị các ngành dịch vụ ở các nước phát triển ngày ngày cao là do hiện nay tại các nước phát triển đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ quan trọng, như : tài chính, ngân hàng, thương mai,… Đặc

Trang 28

Nguồn The World factbook 2017

1 Nhóm các nước có nền kinh tế chuyển đổi Đây chủ yếu là các nước

XHCN cũ ở Đông Âu đang chuyển đổi mô hình phát triển chính trị kinh tế xã hội

từ nền kinh tế tập trung có kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chính sách tư nhân hóa nền kinh tế và thay đổi thể chế chính trị

Đặc điểm chung về kinh tế của các nước này là có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn các nước ở nhóm G7 (dưới 20.000USD/người/năm), tỷ trọng giá trị nông nghiệp trong tổng giá trị GDP cũng cao hơn, tỷ trọng giá trị ngành công nghiệp còn cao (gần 40%) và tỷ trọng giá trị ngành dịch vụ chỉ trên dưới 60% tổng giá trị GDP

Bảng 5 Số liệu về một số nước có nền kinh tế chuyển đổi (2017)

Quốc gia Tổng GDP (tỷ USD) GDP/người

(USD)

Cơ cấu kinh tế (%)

Nông nghiệp nghiệp Công Dịch vụ

Nguồn The World factbook 2017

3 Các nước đang phát triển Đây là nhóm các nước phân bố chủ yếu ở

châu Á, châu Phi và châu Mỹ Hầu hết các nước này trước đây là thuộc địa và sau khi giành được độc lập (chủ yếu là sau chiến tranh thế giới lần thứ II) đã áp dụng các mô hình phát triển kinh tế theo hướng tự chủ Tuy nhiên mức độ phát triển kinh tế có khác nhau và đến nay chia làm ba nhóm: nhóm các nền kinh tế (các nước) công nghiệp hóa, nhóm các nước có mức độ phát triển kinh tế trung bình và nhóm các nước phát triển chậm

Trang 29

Nhóm các nền kinh tế công nghiệp hóa mới (NIEs: Newly Industrializing

Economies; trước đây gọi là NICs: Newly Industrializing Countries), đã thực hiện quá trình công nghiệp hóa từ những năm 70 – 80 của thế kỷ XX theo mô hình kinh tế mở (hướng ngoại) Đến nay hầu hết các nước này đều có mức độ phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật tương đối cao (trong một số lĩnh vực đã gần đạt trình độ so với các nước phát triển) Trong đó, ở châu Á có Hàn Quốc, Singapore

và hai vùng lãnh thổ Hồng Không, Đài Loan (thường được gọi là “bốn con rồng”

châu Á) và ở châu Mỹ có Mexico, Argentina và Brazil

Bảng 6 Số liệu về các nền kinh tế công nghiệp hóa mới (2017)

Quốc gia Tổng GDP (tỷ USD) GDP/người

(USD)

Cơ cấu kinh tế (%)

Nông nghiệp

Công nghiệp

Nguồn The World factbook 2017

Nhóm các nước đang phát triển có mức độ phát triển trung bình Nhiều

nước trong nhóm này có qui mô Tổng sản phẩm trong nước (GDP) lớn, có mức

độ phát triển kinh tế nhanh, có một số ngành kinh tế và trình độ phát triển khoa học kỹ thuật phát triển tương đối cao, nền kinh tế đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa Song, do qui mô dân số đông nên thu nhập bình quân đầu người còn thấp Trong đó có một số nước tiêu biểu: Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Indonesia, Pakistan, Việt Nam,…

Bảng 7 Số liệu về các nước đang phát triển có mức độ

phát triển trung bình (2017) Quốc gia Tổng GDP (tỷ USD) GDP/người

(USD)

Cơ cấu kinh tế (%)

Nông nghiệp

Công nghiệp Dịch vụ

Trang 30

Nguồn The World factbook 2017

Nhóm các nước chậm phát triển gồm có 42 nước nghèo nhất thế giới, phân

bố chủ yếu ở khu vực châu Phi, châu Á và châu Đại Dương Hầu hết các nước này đều có qui mô Tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhỏ, thu nhập bình quân đầu người thấp (dưới 1000 USD) và cơ cấu kinh tế chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp

Công nghiệp Dịch vụ

Nguồn The World factbook 2017

Như vậy, có thể thấy rằng tổng thể kinh tế thế giới ngày nay có sự phân hóa tương đối rõ rệt Các nước có nền kinh tế phát triển mặc dù chỉ có khoảng 30 trên tổng số 237 quốc gia trên thế giới, song chiếm tới trên 2/3 giá trị GDP toàn cầu và phân bố chủ yếu ở châu Âu, Bắc Mỹ và một số nước châu Á Còn lại phần lớn các nước chậm và đang phát triển chiếm số lượng đông thì chỉ tạo ra khoảng 1/3 GDP của thế giới và với nền kinh tế chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp

2.3 Môi trường toàn cầu hóa và tự do thương mại kinh tế quốc tế

2.3.1 Môi trường toàn cầu hóa kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại là yếu tố đặc biệt quan trọng tác động đến phát triển kinh tế và tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế ở nhiều quốc gia (đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển)

Toàn cầu hóa (Globalization) là một quá trình trong đó thị trường và sản phẩm ở các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau nhờ sự trao đổi về hàng hóa, dịch vụ, tài chính và công nghệ Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế phát triển mạnh và diễn ra nhanh vào những năm cuối thế kỷ XX (đặc biệt là sau khi chiến

Trang 31

tranh lạnh kết thúc) Quá trình này có những tác động sâu sắc đến phát triển nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế ở các nước nói riêng

Toàn cầu hóa góp phần vào thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia, giúp các quốc gia hạ chi phí sản xuất và sử dụng hiệu quả các lợi thế của mình (do tham gia vào sự phân công lao động quốc tế với những lợi thế so sánh của mình), đồng thời giúp các nước (đặc biệt là các nước đang phát triển) cải thiện được điều kiện về cơ sở vật chất, môi trường,…

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những tác động tiêu cực, như làm cho nền kinh tế của một nước phụ thuộc nhiều vào bên ngoài (về nguồn vốn đầu tư, về nguyên nhiên vật liệu, biến động kinh tế, chính trị,…), gây ra sự cạnh tranh gay gắt về sản xuất và xuất khẩu hàng hóa giữa các nước và do vay vốn nhiều (song

sử dụng kém hiệu quả) sẽ dẫn đến nợ nước ngoài gia tăng,…

Toàn cầu hóa có những đặc điểm chính, như các nước tăng cường mở rộng các mối quan hệ với các nước về mọi mặt (chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa,…), các nước tăng cường trao đổi hàng hóa và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu và tăng cường hợp tác về đầu tư, lao động,…

2.3.2 Môi trường tự do hóa thương mại kinh tế quốc tế

2.3.2.1 Đặc điểm chung về tự do hóa thương mại quốc tế

Tự do hóa thương mại quốc tế là quá trình giảm bớt và dần dần tiến tới xóa

bỏ các trở ngại trong việc buôn bán và đầu tư giữa các nước Với các đặc điểm: Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương, mở cửa hoàn toàn thị trường trong nước để cho hàng hóa và vốn được tư do lưu thông, qui luật cạnh tranh điều tiết sự hoạt động của sản xuất, xuất nhập khẩu và đầu tư

Ưu điểm của môi trường tự do hóa thương mại toàn cầu là thúc đẩy sự tự

do lưu thông hàng hóa giữa các nước, hàng hóa trên thị trường nội địa sẽ phong phú và rẻ (do giảm thuế nhập khẩu, người tiêu dùng trong nước được hưởng lợi) Môi trường cạnh tranh sẽ tạo điều kiện kích thích sản xuất trong nước, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và giúp cho sản xuất trong nước vươn ra thị trường bên ngoài, tiếp nhận kỹ thuật và công nghệ tiên tiến

Nhược điểm của môi trường tự do hóa thương mại toàn cầu: cạnh tranh gay gắt có thể làm cho hoạt động sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn và phát

triển không ổn định, thị trường trong nước bị “xâm lăng” bởi hàng ngoại (hàng

nhập sẽ rẻ do được giảm thuế nhập khẩu) và hậu quả là các doanh nghiệp trong nước dễ bị phá sản hoặc bị thâu tóm bởi các công ty nước ngoài (bị mua lại hay sát nhập bởi các công ty nước ngoài)

Trang 32

2.3.2.2 Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Hiện nay, đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và điều tiết môi trường tự do hóa thương mại toàn cầu là Tổ chức Thương mại Thế giới

Tiền thân của WTO là GATT (General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch) Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch được 23 nước (chủ yếu là các nước phát triển) ký kết vào năm 1947 nhằm điều hoà chính sách thuế quan giữa các nước ký kết và giải quyết các vấn đề buôn bán thông qua các vòng đàm phán (tổng cộng có 8 vòng)

WTO chính thức được thành lập vào ngày 1/1/1995 thay thế GATT và đến nay (2017) có tất cả 164 thành viên chính thức7

Các nguyên tắc hoạt động của WTO là không phân biệt đối xử (không được đối xử với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài cũng như những người kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ đó kém hơn mức độ đãi ngộ dành cho các đối tượng tương tự trong nước), chính sách tối huệ quốc (buôn bán thông thường), các ưu đãi thương mại của một thành viên dành cho một thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trong WTO Đẩy mạnh tự do mậu dịch hơn nữa (thông qua đàm phán), đảm bảo tính dự đoán thông qua liên kết và minh bạch (các quy định và quy chế thương mại phải được công bố công khai và thực hiện một cách

ổn định)

Ngoài ra, còn tăng cường chính sách ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển, như dành những thuận lợi và ưu đãi hơn cho các thành viên là các quốc gia đang pháp triển trong khuôn khổ các chỉ định của WTO và thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho thương mại giữa các nước thành viên

2.4 Môi trường hội nhập và liên kết kinh tế quốc tế

2.4.1 Môi trường hộp nhập và liên kết kinh tế khu vực

và thị trường vốn, tăng cường khả năng cạnh tranh

Sự liên kết kinh tế khu vực có các hình thức liên kết kinh tế khu vực sau:

7

Việt Nam trở thành thành viên chính thức từ 11 tháng 1 năm 2007

Trang 33

1 Khu vực mậu dịch tự do Với mục tiêu giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế

quan và các biện pháp hạn chế số lượng (hàng rào phi quan thuế) đối với các sản phẩm trao đổi; tiến tới hình thành một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch

vụ, song các nước trong khối vẫn giữ được độc lập tự chủ về buôn bán với các nước khác

2 Đồng minh thuế quan Các nước thỏa thuận một số điều khoản giống như

khu vực mậu dịch tự do, song thêm một số điều khoản khác như các nước tham gia vào khối liên kết bị mất quyền tự chủ trong quan hệ buôn bán, áp dụng biểu thuế quan chung và xây dựng chính sách ngoại thương chung trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khối

3 Thị trường chung Các nước thoả thuận xóa bỏ những trở ngại trong

buôn bán như thuế quan, hạn ngạch xuất nhập khẩu, những trở ngại cho việc di chuyển vốn và sức lao động giữa các nước hội viên (công dân các nước có thể tự

do tìm kiếm việc làm tại các nước khác) và xây dựng chính sách ngoại thương chung đối với các nước

4 Đồng minh kinh tế Các nước thực hiện việc xây dựng chính sách phát

triển kinh tế chung, xóa bỏ chính sách kinh tế riêng của mỗi nước và định hướng

cơ cấu kinh tế của từng nước

5 Đồng minh tiền tệ Tiến tới lập một quốc gia kinh tế chung như xây dựng

chính sách kinh tế và chính sách đối ngoại chung, xây dựng hệ thống tiền tệ chung (đồng tiền chung, ngân hàng và quĩ tiền tệ chung),…

2.4.1.2 Các tổ chức liên kết kinh tế khu vực quan trọng

a) Liên kết kinh tế khu vực Đông Nam Á

Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8.8.1967 tại Bangkok (Thái Lan), với 5 thành viên sáng lập là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Sau đó kết nạp thêm các thành viên khác:

o Ngày 8.01.1984: kết nạp thêm Vương quốc Brunei Darussalam

o Ngày 28.7.1995: kết nạp thêm CHXHCN Việt Nam

o Ngày 23.7.1997: kết nạp thêm CHDCND Lào và LBCH Mianma

o Ngày 30.4.1999: kết nạp thêm Vương quốc Campuchia

Mục tiêu hoạt động của tổ chức ASEAN:

1 Thúc đẩy sự ổn định và hòa bình trong khu vực

2 Đẩy mạnh sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và khoa học – kỹ thuật

Trang 34

3 Giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo chuyển giao công nghệ và khoa học – kỹ thuật

4 Hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải

5 Tăng cường nghiên cứu và điều tra về khu vực Đông Nam Á

6 Thúc đẩy sự tăng trường kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực

7 Duy trì và tăng cường hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế

Cơ cấu tổ chức của ASEAN, gồm có 4 bộ phận quan trọng:

1 Cơ quan hoạch định chính sách Cơ quan cao nhất là Hội nghị thượng

đỉnh ASEAN họp 3 năm một lần, địa điểm thay phiên nhau theo vần chữ cái tên các nước thành viên Hội nghị ra những quyết định quan trọng mang tầm vĩ mô về hoạt động của tổ chức Hội nghị Bộ trưởng bộ Ngoại giao (AMM) họp hàng năm, địa điểm thay phiên nhau theo vần chữ cái tên các nước thành viên Hội nghị họp nhằm đề ra các giải pháp cụ thể cho việc thực hiện các nghị quyết của Hội nghị thượng đỉnh Hội nghị Bộ trưởng bộ Kinh tế họp hàng năm, trong Hội nghị có Hội đồng AFTA để theo dõi việc thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)

2 Các uỷ ban ASEAN Có Ủy ban thường trực ASEAN, gồm Chủ tịch là

Bộ trưởng bộ Ngoại giao của nước đăng cai hội nghị AMM, Tổng thư ký ASEAN

và tổng Vụ trưởng các ban thư ký ASEAN của các nước Ủy ban này họp 2 tháng một lần, nhằm giải quyết các vấn đề giữa hai cuộc họp thượng đỉnh Các ủy ban hợp tác chuyên ngành: có 6 ủy ban phi kinh tế về các lĩnh vực như khoa học – công nghệ, văn hóa – thông tin, môi trường, phát triển xã hội, kiểm soát ma túy, công chức – lao động Bên dưới có các tiểu ban

3 Ban thư ký, gồm có ban thư ký quốc tế và ban thư ký quốc gia

4 Cơ chế hợp tác nước ngoài của ASEAN, gồm có Hội nghị sau Hội nghị

Bộ trưởng bộ Ngoại giao với các thành phần là Ngoại trưởng các nước ASEAN

và 7 bên đối thoại của ASEAN (Mỹ, Nhật, Canada, EU, New Zealand, Úc và Hàn Quốc) Các cuộc họp ASEAN với các bên đối thoại (gồm 7 nước thành viên trên với Chương trình phát triển của Liên hợp quốc – UNDP) Ủy ban ASEAN ở các nước, gồm có 11 ủy ban ở tại 11 nước là Đức, Bỉ, Úc, Thụy Sĩ, Anh, Canada, Pháp, Hàn quốc, Mỹ, New Zealand, Nhật

Chương trình hợp tác kinh tế - thương mại ASEAN, có 5 chương trình chính:

Trang 35

1 Xây dựng ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do (AFTA: Aseans

Free Trade Area) bằng việc thực hiện kế hoạch thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) Nội dung chủ yếu của chương trình này là cắt giảm thuế quan chung từ mức trung bình từ 40% xuống đến mức dưới 5%, theo cấp độ:

Thứ nhất Cắt giảm cấp tốc, đối với các sản phẩm có mức thuế bằng hay

dưới 20%, theo hai bước Bước 1: các sản phẩm có mức thuế dưới 20%, sẽ cắt giảm xuống dưới 5% trong vòng 7 năm (từ 1.1993 đến 1.2000) Bước 2: các sản phẩm có mức thuế bằng 20%, sẽ cắt giảm xuống dưới 5% trong vòng 10 năm (1.1993 đến 1.1.2003)

Thứ hai Chương trình cắt giảm bình thường áp dụng đối với các sản phẩm

có mức thuế trên 20%, sẽ cắt giảm theo hai bước Bước 1: cắt giảm xuống mức 20% trong vòng 5-8 năm Bước 2: cắt giảm xuống dưới 5% trong vòng 7 năm tiếp theo

Trong khuôn khổ này, các mặt hàng sau đây vĩnh viễn không bao giờ thực hiện theo CEPT: thực, động vật sống; đồ uống có cồn; vũ khí, chất độc hại,…

2 Chương trình hợp tác hàng hóa, bao gồm việc thành lập ngân hàng dữ

liệu chung về ASEAN (ADBC: Aseans Data Bank on Commodities) và xây dựng

Dự án nghiên cứu thị trường hàng hóa của ASEAN (ACMS: Aseans Commodities Markets Studies)

3 Tổ chức hội chợ ASEAN, thực hiện hàng năm với sự tham gia của các

nước trong và ngoài khu vực

4 Chương trình tham khảo ý kiến tư nhân, do phòng Thương mại

ASEAN thực hiện

5 Phối hợp lập trường trong các vấn đề kinh tế – thương mại quốc tế có

liên quan đến ASEAN

Sự ra đời Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC):

Ngày 22.11.2015, tại Kuala Lumpur (thủ đô của Malaysia) các nhà lãnh đạo ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) đã ký kết tuyên bố về thành lập (AEC: ASEAN Economic Community) vào ngày 31.12.2015 Cộng đồng kinh tế ASEAN ra đời với 4 mục tiêu cụ thể:

Thứ 1 Thống nhất về thị trường và cơ sở sản xuất Ở mục tiêu này, các

nước ASEAN chú trọng tự do hóa ba lĩnh vực lớn là: tự do hoá thương mại hàng hoá, tự do hoá thương mại dịch vụ, tự do hoá đầu tư, tài chính và lao động Theo

đó, trong thời gian tới, để tự do hóa thương mại hàng hóa, các thành viên ASEAN

sẽ tham gia lộ trình cắt giảm thuế trong CEPT-ATIGA, cải cách hải quan và các

Trang 36

biện pháp tạo thuận lợi thương mại khác Hướng tới tự do hóa thương mại dịch

vụ, các nước ASEAN sẽ tiến hành đàm phán 11 gói cam kết cho đến hết năm

2015 Các lĩnh vực dịch vụ được ASEAN ưu tiên tự do hoá gồm: ASEAN điện tử (e-ASEAN), y tế, logistics, hàng không và du lịch Cho đến nay, các nước ASEAN đã đạt được 8 gói cam kết về dịch vụ, 5 gói cam kết dịch vụ tài chính và

7 gói dịch vụ vận tải đường hàng không

Trong lĩnh vực tự do hóa đầu tư, tài chính và lao động, ASEAN chú trọng thúc đẩy đầu tư nội khối thông qua Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) với mục tiêu là tạo ra một cơ chế đầu tư tự do, mở cửa trong ASEAN được thực hiện thông qua từng bước tự do hóa đầu tư, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư của các nước thành viên và các khoản đầu tư của họ, cải thiện tính minh bạch và khả năng

dự đoán của các quy tắc, quy định và thủ tục đầu tư; xúc tiến, hợp tác tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và thống nhất Đối với hội nhập tài chính tiền tệ, các nước trong khu vực chú trọng bốn lĩnh vực: phát triển thị trường vốn, tự do hóa dịch vụ tài chính, tự do hóa tài khoản vốn và hợp tác tiềntệ ASEAN

Để tạo điều kiện cho lao động lành nghề di chuyển trong khu vực, từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư và thương mại, các nước ASEAN đã ký kết các thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs - Mutual Recognition Agreement), theo đó cho phép chứng chỉ của lao động lành nghề được cấp bởi các cơ quan chức năng tương ứng tại một quốc gia sẽ được thừa nhận bởi các nước thành viên khác trong khu vực Đến nay, ASEAN đã ký kết 7 MRAs đối với lao động trong các lĩnh vực sau: dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, dịch vụ kiến trúc,… và đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ du lịch (MRA-TP: (ASEAN MRA on Tourism Professionals)

Khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức đi vào hoạt động, Việt Nam sẽ phải tham gia thực hiện Thỏa thuận về nghề du lịch ASEAN (MRA-TP) Thỏa thuận về nghề du lịch ASEAN (MRA-TP) được xem là nền tảng để tăng cường chuyển dịch lao động trong ngành du lịch giữa các nước ASEAN, cân bằng cung cầu đối với các nghề du lịch Điều này có nghĩa là những người lao động của Việt Nam có thể sang làm việc tại các nước ASEAN và ngược lại, người lao động trong khối ASEAN có thể sang làm việc tại Việt Nam

Hiện nay, ngành du lịch ASEAN đã xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề chung cho 6 nghiệp vụ lễ tân, buồng, bếp, dịch vụ ăn uống, đại lý du lịch và điều hành tour với tổng số 32 chức danh nghề nghiệp

Trang 37

Thứ 2 Xây dựng một khu vực kinh tế cạnh tranh Để đạt mục tiêu này,

AEC sẽ hướng vào 4 hoạt động chính gồm: chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và phát triển cơ sở hạ tầng

Thứ 3 Xây dựng một khu vực phát triển đồng đều Để đạt mục tiêu này,

AEC sẽ xây dựng một chiến lược để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thiết lập một khung chương trình chung cho các doanh nhân ASEAN và đưa ra sáng kiến Hội nhập ASEAN (AIA) IAI giúp các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt nam nâng cao năng lực thông qua việc cung cấp nguồn lực kỹ thuật và tài chính cho một loạt các dự án phát triển để hỗ trợ khu vực hội nhập như phát triển cơ sở

hạ tầng, nguồn nhân lực và công nghệ thông tin

Thứ 4 Tăng cường hội nhâp vào nền kinh tế toàn cầu Để thực hiện mục

tiêu này, ASEAN nhất trí việc giữ vững vai trò "trung tâm" của toàn khối trong

quan hệ đối ngoại, thúc đẩy đàm phán các FTA và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện, tham gia mạnh mẽ hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Hiện nay, các nước ASEAN có tổng diện tích vào khoảng 4,4 triệu km2(chiếm 3,0% diện tích thế giới), với dân số trên 643 triệu người (chiếm 8,7% dân

số thế giới) Năm 2017, các nước trong khu vực tạo ra được hơn 2,6 ngàn tỷ USD giá trị hàng hóa và dịch vụ (chiếm 3,3% GDP thế giới, theo giá chuyển đổi), xuất khẩu hơn 1,2 ngàn tỷ USD (chiếm 7,2% tổng giá trị xuất khẩu của toàn thế giới)

và nhập khẩu trên 1,1 ngàn tỷ USD (chiếm 6,9% giá trị nhập khẩu toàn thế giới)

Tuy nhiên, mức độ phát triển kinh tế của các nước ASEAN cũng khác nhau Trong đó, Singapore là quốc gia có mức độ phát triển cao nhất (với thu nhập bình quân đầu người gần 51 ngàn USD) và nằm trong nhóm các nền kinh tế phát triển nhất châu Á Các nước Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan có mức độ phát triển kinh tế ở mức trung bình (thuộc nhóm các nước NICs làn sóng thứ hai) Trong khi đó các nước còn lại có mức độ phát triển kinh tế còn chậm

b) Liên kết kinh tế ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Hiện nay, trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã hình thành sự liên kết với sự ra đời của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á –TBD (APEC) Đây là khối liên kết kinh tế xuyên lục địa và lớn nhất hiện nay trên thế giới Ý tưởng về hình thành APEC được đề cập trong diễn văn của Thủ tướng Australia Bob Hawke tại Seoul, (Hàn Quốc) vào ngày 31 tháng Giêng năm 1989

Mười tháng sau đó, 12 nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương đã nhóm họp tại Canberra (Australia) để hình thành tổ chức APEC Các thành viên sáng lập

Trang 38

gồm: Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Ca-na-đa, In-đô-nê-xia, Nhật Bản, Hàn Quốc, xia, Niu Di-lân, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po, Thái Lan và Hoa Kỳ

Ma-lai-Đến năm 1991, Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan gia nhập APEC Năm 1993 có thêm Mê-hi-cô và Pa-poa Niu Ghi-nê tham gia Chi-lê gia nhập APEC năm 1994 Đến năm 1998, Pê-ru, Nga và Việt Nam gia nhập và đến nay APEC có 21 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên chính thức

Từ năm 1989 đến năm 1992, APEC tổ chức các cuộc đối thoại không chính thức ở cấp các quan chức cao cấp và cấp Bộ trưởng Năm 1993, theo sáng kiến của Nguyên Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton, APEC đã thống nhất tổ chức Hội nghị đầu tiên của các Nhà lãnh đạo kinh tế hàng năm nhằm xác lập các tầm nhìn

và định hướng chiến lược cho hợp tác khu vực Người đứng đầu chính phủ của tất

cả thành viên APEC gặp nhau mỗi năm một lần trong một kỳ họp thượng đỉnh

được gọi là "Hội nghị Lãnh đạo APEC", được tổ chức lần lượt tại mỗi nền kinh tế

thành viên APEC8

Hiện nay, các nước APEC có tổng diện tích khoảng 62,9 triệu km2 (chiếm 42,2,0% diện tích thế giới), với dân số 2,8 tỷ người (chiếm 38,7% dân số thế giới) Năm 2017, các nước APEC tạo ra gần 47,5 ngàn tỷ USD giá trị hàng hóa và dịch vụ (chiếm 59,8% GDP thế giới, theo giá chuyển đổi), xuất khẩu hơn 8,6 ngàn

tỷ USD (chiếm gần 50,0% tổng giá trị xuất khẩu của toàn thế giới) và nhập khẩu trên 8,5 ngàn tỷ USD (chiếm 50,6% giá trị nhập khẩu toàn thế giới)

Mục tiêu hoạt động của APEC là tự do hóa thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế và kỹ thuật, giúp các nước kém phát triển trong kinh tế và giành cho nhau chế độ buôn bán thông thường (trước kia gọi là chế độ buôn bán tối huệ quốc)

c) Liên minh châu Âu (EU)

Hiện nay, EU là tổ chức có mức độ liên kết kinh tế ở mức cao nhất (liên minh tiền tệ) và bao gồm có 28 quốc gia ở châu Âu9 Quá trình hình thành Liên kết này bắt đầu từ ngày 9.5.1950, khi Ngoại trưởng Pháp Robert Schuman nêu ý tưởng thành lập một khối liên kết thống nhất châu Âu về hàng hóa

Ngày 18.4.1951, các nước Bỉ, Đức, Pháp, Ý, Hà Lan và Luxembourg ký Hiệp định chung về thành lập Cộng đồng than và sắt Ngày 25.3.1957: sáu nước trên ký Hiệp định Roma về thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) Ngày 13.3.1979: hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) và đồng tiền chung châu Âu (ECU) ra

Trang 39

đời Bắt đầu từ năm nay, bầu cử Nghị viện châu Âu (EP) Năm 1985: Ký hiệp định về tự do đi lại giữa 5 quốc gia: Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan và Lucxembourg Ngày 1.7.1987: Ký hiệp định thành lập Không gian kinh tế châu Âu (EES) giữa

12 quốc gia EEC và 7 quốc gia khu vực mậu dịch tự do châu Au (EFTA) Ngày 7.2.1992: Ký hiệp ước Liên hiệp Châu Âu (Hiệp ước Maastricht) nhằm mục đích sớm thành lập Liên minh châu Âu

Đến ngày 1.1.1994, Liên minh châu Âu (EU) chính thức ra đời và từ ngày 1.1.2001, bắt đầu sử dụng đồng tiền chung EURO Hiện nay, có 19 trong tổng số

28 nước trong khối đã sử dụng chung đồng Euro: Áo, Bỉ, Hà Lan, Phần Lan, Pháp, Đức, Ireland, Ý, Luxembourg, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Slovenia, Síp, Malta, Slovakia, Estonia, Latvia và Litva

Quá trình gia nhập EU của các thành viên như sau:

 Ngày 9.5.1950: Bỉ, Đức, Italia, Luxembourg, Pháp và Hà Lan (đây được coi là các nước sáng lập)

 Năm 1973: Đan Mạch, Ailen và Anh gia nhập

 1981: Hy lạp gia nhập và 1986: Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

 1995: Áo, Phần Lan và Thụy Điển

 Ngày 1.5.2004 kết nạp thêm các nước Đông Âu: CH Séc, Hungary, Balan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta và CH Síp

 Ngày 1.1.2007 kết nạp thêm Romania và Bungaria

 Ngày 1.7.2013 kết nạp thêm Croatia

Hiện nay, các nước EU có tổng diện tích gần 4,5 triệu km2 (chiếm khoảng 3% diện tích thế giới), với dân số gần 516 triệu người (chiếm khoảng 7% dân số thế giới) Năm 2017, các nước trong khu vực tạo ra được hơn 17,1 ngàn tỷ USD giá trị hàng hóa và dịch vụ (chiếm 21,5% GDP thế giới, theo giá chuyển đổi), xuất khẩu được hơn 5,6 ngàn tỷ USD (chiếm 32,5% tổng giá trị xuất khẩu của toàn thế giới) và nhập khẩu hơn 5,3 ngàn tỷ USD (chiếm gần 31,6% giá trị nhập khẩu toàn thế giới) Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể về mức độ phát triển và mức sống của các nước trong Liên minh Châu Âu Đặc biệt là sự khác biệt giữa nhóm các nước Tây Âu và Đông Âu Nếu như hầu hết các nước Tây Âu có mức thu nhập bình quân đầu người trên 30 ngàn USD, thì nhóm các nước Đông Âu (mới gia nhập) có mức thu nhập bình quân đầu người chỉ trên dưới 15 ngàn USD Đặc biệt, trong đó có một số nước có mức nợ công và nợ nước ngoài vượt hơn 100% GDP và gần như rơi vào tình trạng phá sản

Trang 40

2.4.2 Sự hình thành các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia

Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (từ các chữ Multinational corporation) hoặc MNE (từ các chữ Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa; một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất:

- Công ty đa quốc gia "theo chiều ngang" sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds)

- Công ty đa quốc gia "theo chiều dọc" có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas)

- Công ty đa quốc gia "nhiều chiều" có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft)

Công ty xuyên quốc gia (TNC – Transnational Coporation) là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn, có cơ cấu tổ chức gồm công ty mẹ và hệ thống công ty chi nhánh ở nước ngoài, theo nguyên tắc công ty mẹ sẽ kiểm soát tài sản của các công ty chi nhánh thông qua góp vốn cổ phần

Từ đó ta có thể phân biệt giữa MNC và TNC theo một số tiêu chí sau:

Cơ cấu tổ

chức

Công ty mẹ đặt tại nước khác

Gồm công ty mẹ và các công ty con nằm ở các nước khác trong đó công ty

mẹ được đặt tại nước sở tại Hình thức sở

hữu tài sản

Có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với nhau Do các quốc gia tự túc và toàn quyền

Tuy nhiên nhiên nhìn nhận dưới giác độ tổ chức sản xuất, công ty đa quốc gia được định nghĩa là chủ thể của quá trìnhnh sản xuất mang tính quốc tế, khi quá trình này có thể diễn ra ở một nước, nhưng lại do một công ty có trụ sở ở nước khác kiểm soát Theo cách hiểu đó, công ty đa quốc gia được hợp nhất với khái niệm công ty xuyên quốc gia Chính vì thế mà người ta thường gộp 2 khái niệm về TNC và MNC là một

Ngày đăng: 02/11/2018, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Angelo A. (2015). International Business Management. Publisher: Ivo Pezzuto Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business Management
Tác giả: Angelo A
Năm: 2015
2) Đỗ Đức Bình (2007). Kinh doanh quốc tế. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
3) Hoàng Thị Chỉnh (2010). Kinh tế quốc tế, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế quốc tế
Tác giả: Hoàng Thị Chỉnh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2010
4) Bùi Lê Hà (2010). Quản trị kinh doanh quốc tế. NXB LĐXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kinh doanh quốc tế
Tác giả: Bùi Lê Hà
Nhà XB: NXB LĐXH
Năm: 2010
5) Hà Nam Khánh Giao (2012). Quản trị kinh doanh quốc tế. NXB Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kinh doanh quốc tế
Tác giả: Hà Nam Khánh Giao
Nhà XB: NXB Tp.HCM
Năm: 2012
6) Joshi Rakesh Mohan (2010). International Business. Publisher: Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business
Tác giả: Joshi Rakesh Mohan
Năm: 2010
7) Justin P. (2012). International Business. Publisher: Prentice Hall of Indi 8) Hà Văn Nội (2010). Quản trị kinh doanh quốc tế. NXB Bưu điện Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business". Publisher: Prentice Hall of Indi 8) Hà Văn Nội (2010). "Quản trị kinh doanh quốc tế
Tác giả: Justin P. (2012). International Business. Publisher: Prentice Hall of Indi 8) Hà Văn Nội
Nhà XB: NXB Bưu điện
Năm: 2010
9) Hill, C.W.L. (2015). International Business: Competing in the global marketplace. McGraw-Hill/Irwin, 10 th ed Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business: Competing in the global marketplace
Tác giả: Hill, C.W.L
Năm: 2015
10) Hill, C.W. (2015). Kinh doanh quốc tế hiện đại. NXB Kinh tế Tp.HCM, 11) Bùi Xuân Phong (2013). Quản trị kinh doanh quốc tế. NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh quốc tế hiện đại. "NXB Kinh tế Tp.HCM, 11) Bùi Xuân Phong (2013). "Quản trị kinh doanh quốc tế
Tác giả: Hill, C.W. (2015). Kinh doanh quốc tế hiện đại. NXB Kinh tế Tp.HCM, 11) Bùi Xuân Phong
Nhà XB: NXB Kinh tế Tp.HCM
Năm: 2013
12) Riad, A. and Jason, G. (2006). International business: Theory and Practice. 2nd ed., M.E. Sharpe Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: International business: Theory and Practice
Tác giả: Riad, A. and Jason, G
Năm: 2006
13) Đoàn Thị Hồng Vân (2010). Đàm phán trong kinh doanh quốc tế. NXB LĐXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàm phán trong kinh doanh quốc tế
Tác giả: Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: NXB LĐXH
Năm: 2010
14) Phạm Thị Hồng Yến (2012). Kinh doanh quốc tế. NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh quốc tế
Tác giả: Phạm Thị Hồng Yến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2012
15) Tổng cục Thống kê Việt Nam. Niên giám thống kê Việt Nam qua các năm. 16) Các trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Việt Nam qua các năm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w