Muốn hiểu ngôn ngữ viết, tối thiểu ta phải biết đánh vần, đọc chữ. Tương tự như vậy, muốn xem và hiểu một bản nhạc, ta cũng phải hiểu được các ký hiệu âm nhạc, và biết xướng âm. Có thể nói Nhạc pháp (gồm nhạc lý và xướng âm) là cửa ngõ dẫn vào âm nhạc.
Trang 1SÁCH NHẠC DÀNH CHO NGƯỜI HẦU VIỆC
LÝ THUYẾT
ÂM NHẠC
NHẠC LÝ CĂN BẢN
DÀNH CHO NGƯỜI ĐÁNH ĐÀN DÀNH CHO NGƯỜI HÁT
DÀNH CHO NGƯỜI HƯỚNG DẪN
CẨM NANG DÀNH CHO NGƯỜI PHỤC VỤ
Trang 22
MỤC LỤC
NHẠC LÝ CĂN BẢN
Trang 3-21
I KÝ HIỆU ÂM NHẠC Trang 4-13
II TIẾT TẤU Trang 13-17 III TIẾT NHỊP Trang 18-19
IV CUNG VÀ QUÃNG Trang 20-21
DÀNH CHO NGƯỜI ĐÀN
Trang 22-trang 37
V PHƯƠNG PHÁP NHẬN BIẾT HỢP ÂM Trang 23-29
VI MỘT SỐ CÁC HỢP ÂM CĂN BẢN VÀ NÂNG CAO Trang 31-32 VII CÁC CÁCH BỎ TIẾT ĐIỆU VÀ TỐC ĐỘ NHẠC Trang 33-34 VIII CÁCH TÌM HỢP ÂM CHO MỘT BẢN NHẠC Trang 34-37
X KIẾN THỨC TỔNG QUÁT Trang 47
XI KỸ THUẬT TẬP HÁT VÀ HUẤN LUYỆN HỢP CA Trang 47-48
XI MỘT VÀI KỸ THUẬT ĐÁNH NHỊP CĂN BẢN Trang 49 XII LỜI KẾT Trang 49
Trang 3âm nhạc dựa trên lời ca, nên ý tưởng và tình cảm cụ thể và rõ ràng Còn khí nhạc là
âm nhạc dựa trên âm thanh thuần tuý của các nhạc cụ, nên trừu tượng, nó gợi ý, gây cảm giác hơn là nói lên một tình cảm nào rõ rệt Cần phải học hỏi nhiều hơn mới lĩnh hội được
3 Nghệ thuật là kết quả của hoạt động của con người biết dùng các phương tiện âm thanh một cách khéo léo, tài tình, để thông đạt tình ý của mình Do đó, âm nhạc chủ yếu làm cho tai nghe Muốn thưởng thức âm nhạc, phải nghe thực thụ chứ xem bằng mắt thì chưa đủ
4 Âm thanh dùng trong âm nhạc thường có bốn đặc tính sau :
Cao độ là độ cao thấp của âm thanh (được phân thành 7 nốt cơ bản Đồ, Re, Mi, Fa, Sol, La, Si)
Cường độ là độ mạnh nhẹ của âm thanh
Trường độ là độ dài ngắn của âm thanh (ký hiệu bằng các hình nốt)
Âm sắc là các sắc thái khác nhau của âm thanh đục trong, sáng tối … (ví dụ như khúc đó, nốt đó cần đánh chậm buồn hay là nhanh vui tươi) Thiếu một trong các đặc tính trên thì chỉ là tiếng động Hiện nay người ta dùng nhiều tiếng động khác nhau trong âm nhạc, nhằm tăng cường mức độ diễn cảm cũng như tính tiết tấu của âm nhạc Đó là các nhạc cụ thuộc bộ gõ như trống con, trống cái, phách, maracas, triangle, cymbal …
5 Ký hiệu âm nhạc là toàn bộ các dấu hiệu cũng như chữ viết được dùng để ghi lại
âm thanh với các đặc tính của chúng Môn ký âm là ghi âm thanh lại bằng các ký hiệu âm nhạc trên giấy mực
Trang 4Khuông nhạc là hệ thống gồm 5 dòng kẻ và 4 khe nằm song song và cách đều
nhau theo phương nằm ngang Trên khuông nhạc đó, ta có 11 vị trí khác nhau, ghi
được 11 bậc cơ bản
Thứ tự của các dòng và khe được tính từ dưới lên trên
Khuông nhạc giúp ta nhận ra cao độ của âm thanh ghi lên đó Tuy nhiên phải kết
hợp với khoá nhạc ở đầu khuông nhạc Khoá nhạc khác nhau thì tên nốt nhạc sẽ
khác nhau Cụ thể sẽ được trình bày phần 4 ( trang 3 và trang 4 )
Đối với những nốt nhạc cao hơn hoặc thấp hơn không thể ghi lên khuông nhạc
chính thì người ta thêm vào những dòng kẻ phụ và khe phụ để ghi các nốt nhạc đó
Để ghi lại độ cao thấp của âm thanh người ta dùng 7 âm, thứ tự từ thấp đến cao là:
Đô - Rê - Mi - Fa -Sol - La – Si
Viết tắt : Đô (C); Rê (D); Mi (E); Fa (F); Sol (G); La (A); Si (B) hay là H
Có 7 âm cơ bản được sắp xếp trên khuông nhạc như sau:
Trang 5C HÌNH NỐT NHẠC
Để phân biệt độ ngân dài ngắn của âm thanh người ta dùng một số hình nốt nhạc:
Có 7 loại hình nốt nhạc sau: Các giá trị của nốt nhạc:
tương ứng ta có các giá trị của dấu lặng :
D KHÓA NHẠC
Khoá nhạc là một hình vẽ nằm ở đầu mỗi khuông nhạc Khoá nhạc giúp ta nhận
ra tên các âm (tên nốt nhạc) trên khuông nhạc
Có nhiều loại khoá nhạc nhưng thường dùng nhất là khoá Sol, khoá Fa và khóa Đô Những ca khúc thanh nhạc (bài hát) thường chỉ dùng khoá Sol
1) Khoá Sol dòng 2 : Nốt Sol bắt đầu từ dòng thứ 2, từ đó người ta tính các nốt
khác
- Dành cho bè nữ và các đàn âm khu cao như violon, Flute, Oboe
Ví dụ người ta tính lên
Trang 66
2) Khoá Fa dòng 4 : dành cho các giọng nam và các dàn thuộc âm khu trầm như
Violoncello (cello), Contrabasso, Fagotto, Trombone
Nốt nhạc ở dòng 4 là nốt Fa Từ nốt Fa ta tính được các nốt khác trên khuông 3) Khoá Đô dòng 3 : dùng cho đàn viola
Nốt nhạc nằm trên dòng 3 là nốt Đô Từ nốt đô ta tính các nốt khác
trên khuông
E CÁCH GHI NỐT NHẠC TRÊN KHUÔNG
Để việc ghi chép nhạc được đẹp, thống nhất, người ta qui định cách ghi chép các hình nốt nhạc như sau:
1) Cách ghi đuôi nốt không có dấu móc:
-Nốt nhạc quay lên, đuôi nốt viết bên phải
-Nốt nhạc quay xuống, đuôi nốt viết bên trái
2) Cách ghi đuôi nốt có dấu móc:
Các nốt nhạc có dấu móc cách ghi hướng đuôi cũng như trên nhưng hướng của dấu móc bao giờ cũng ở phía bên phải:
3) Cách ghi nhạc ở bài hát một bè:
-Những nốt nhạc từ vị trí La trở xuống đuôi nốt viết quay lên
-Nốt nhạc viết ở dòng 3 (nốt Si) viết tuỳ ý
-Những nốt nhạc từ vị trí La trở xuống đuôi nốt viết quay lên
4) Cách ghi nhạc ở bài hát hai bè (tham khảo)
-Tất cả các nốt ở bè trên đuôi nốt viết quay lên
-Tất cả các nốt ở bè dưới đuôi nốt viết quay xuống
5) Gạch ngang trường độ:
Các dấu móc đi liền nhau có thể được thay bằng các dấu gạch nối gọi là gạch ngang trường độ
Trang 7F KÝ HIỆU ÂM NHẠC LIÊN QUAN ĐẾN CƯỜNG ĐỘ
1) Các chữ dùng để ghi cường độ thường dùng là
2) Các chữ hoặc ký hiệu dùng để báo hiệu thay đổi cường độ :
Crescendo (Cresc.) : Mạnh dần lên
Decrescendo (decresc.) : Nhẹ dần lại
Diminuendo (dim.) : Bớt lại
Morendo (mor.) : Lịm dần (thường dùng cuối đoạn, cuối bài)
Smorzando (Smor.) : Tắt dần
Subito forte (Sf.) : Mạnh đột ngột
Sforzando (Sfz.) : Nhấn buông, nhấn mạnh rồi nhẹ ngay (fp)
Marcato (>) : Mạnh mà rời
Staccato (dấu chấm trên dấu nhạc) : Nhẹ mà rời
Sostenuto (gạch ngang trên dấu nhạc) : Cẩn trọng, nâng niu (pfp)
Sotto voce : Hát nửa tiếng, êm nhẹ
- Trong loại nhịp 3 phách: phách 1 mạnh, phách 2 vừa, phách 3 nhẹ;
- Trong loại nhịp 4 phách: phách 1 mạnh, phách 2 vừa, phách 3 mạnh vừa, phách 4 nhẹ
Trang 88
3.2.Cường độ diễn cảm: là cường độ do tiết tấu hoặc do ý nghĩa lời ca gợi ý
Chính loại cường độ nầy mới tạo "hồn" cho âm nhạc Cần học phân tích tiết tấu thì
mới biết phân phối cường độ sao cho phù hợp với từng dấu nhạc, từng nét, từng vế,
từng câu, từng đoạn, từng bài nhạc
4 Khi tác giả ghi các ký hiệu về cường độ, thì đó cũng chỉ mới là hướng dẫn sơ
khởi cho từng chỗ, từng đầu câu mà thôi, chứ không thể ghi chi tiết cường độ của tất
cả mọi dấu nhạc trong câu trong bài được Dù ghi hay không ghi ký hiệu cường độ,
chúng ta cũng phải dựa trên tiết tấu của từng câu, từng đoạn và dựa trên ý nghĩa lời
ca để phân phối cường độ cho xứng hợp, vì cường độ là yếu tố chủ chốt làm cho bài
nhạc có hồn, có sinh khí Người ca hát có hồn, có tâm tình là người biết dùng cường
độ đúng lúc, đúng nơi
G DẤU HOÁ
Dấu hoá là kí hiệu cho biết sẽ làm thay đổi cao độ của nốt nhạc lên cao hoặc
xuống thấp hơn với khoảng cách là 1/2 cung so với vị trí nó đang đứng Có 3 loại
dấu hoá thường dùng:
Trang 91) Ảnh hưởng của dấu hóa
Tuỳ theo vị trí, dấu hoá có tác dụng và tên gọi như sau:
1.1) Dấu hóa theo khóa
Dấu hoá theo khoá viết ở đầu mỗi khuông nhạc Dấu hoá này ảnh hưởng đến tất cả nốt nhạc nào mang tên dấu hoá đó
Tất cả các nốt Fa trong bài nhạc đều phải nâng cao lên 1/2 cung do ảnh hưởng của dấu hóa pha thăng ở đầu khoá
Tất cả các nốt Si trong bài nhạc đều phải hạ thấp xuống 1/2 cung do ảnh hưởng của dấu hoá Si giáng ở đầu khoá
*Lưu ý: Chỉ có 2 loại dấu hoá là dấu thăng và dấu giáng được sử dụng làm dấu hoá theo khoá
Ở một số nước như Đức, Nga … khi dùng chữ cái La-tinh A, B, C … người
ta thêm vần is thay dấu thăng : Cis : Đô# ; Eis : Mi# ; Ais : La# ; Cisis : Đôx … và thêm vần es thay dấu giáng : Ces : Đôb ; Ceses :Đôbb ;Des :Rêb ; Ees —>Es : Mib; Aes —> As : Lab
1.2) Dấu hóa bất thường
- Dấu hoá bất thường không có vị trí cố định, thỉnh thoảng xuất hiện trong bản nhạc nên gọi là dấu hoá bất thường
- Dấu hoá bất thường đặt ngay trước nốt nhạc và chỉ ảnh hưởng trong một ô nhịp
Chú ý : Tất cả 5 loại dấu hoá: thăng, thăng kép, giáng, giáng kép, dấu bình đều được dùng làm dấu hoá bất thường
2) Dấu nhắc lại
Khi có thêm yêu cầu phải diễn lại một phần hoặc toàn bài nhạc, người ta dùng thêm dấu hồi tấu Dấu hồi tấu được ghi 2 lần
Trang 1010
3) Khung thay đổi
Khi sử dụng dấu nhắc lại, ở lần 2, nếu có sự thay đổi ở những ô nhịp cuối
cùng người ta dùng khung thay đổi
Lần 1: Trình diễn bình thường
Lần 2: Đến những ô nhịp trong vùng ảnh hưởng của khung thay đổi 1 ta phải bỏ
qua không trình diễn, mà trình diễn qua những ô nhịp trong vùng ảnh hưởng của khung thay đổi 2 trở về sau
4) Dấu hồi tấu
Khi có thêm yêu cầu phải diễn lại một phần hoặc toàn bài nhạc, người ta dùng thêm dấu hồi tấu Dấu hồi tấu được ghi 2 lần
5) Dấu CODA
Khi trình bày lần thứ hai, nếu có yêu cầu phải bỏ bớt phần nào đó người ta dùng dấu Cô-đa Dấu cô-đa cũng được ghi 2 lần
6) Cách xử lý khi gặp các ký hiệu phía trên
6.1) Kí hiệu dấu nhắc lại không có khung thay đổi
Thứ tự trình diễn như sau:1-2-3-4-5-6-3-4-5-6-7-8
Trang 116.2) Kí hiệu dấu nhắc lại có khung thay đổi
Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8
6.3) Kí hiệu dấu hồi tấu không có dấu cô-đa
Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8-1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8
6.4) Kí hiệu dấu hồi tấu có dấu cô-đa
Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8-1-2-3-7-8
6.5) Vạch xiên chỉ trường độ
Lặp lại một âm hình giai điệu nào đó trong cùng một ô nhịp, thay vì viết ra
cả thì chỉ cần viết 1 lần rồi ghi các vạch xiên chỉ trường độ
6.6) Gạch chỉ trường độ
Một âm thanh hoặc một hợp âm cần nhắc lại thì ghi tổng số trường độ và thêm các gạch chỉ trường độ phải lặp lại :
Trang 1212
6.7) Lặp lại luân phiên nhiều lần âm thanh hoặc hợp âm
6.8) Lặp lại nguyên 1 hoặc 2 ô nhịp :
Lưu ý : Người ta có thể thay dấu hồi tống bằng chữ DC (Da Capo nghĩa là trở lại từ đầu Da Capo al fine = Trở lại từ đầu cho đến chỗ TẬN của bài)
7 ) Dấu nối, dấu luyến, dấu chấm dôi và dấu chấm ngân
Dấu nối, dấu chấm dôi, dấu chấm ngân là những kí hiệu bổ sung để tăng thêm độ dài của âm thanh
7.1 Dấu nối thường được sử dụng khi tăng thêm độ dài của nốt nhạc cùng tên nhau 7.2 Dấu luyến là kí hiệu dùng để nối cao độ của các nốt nhạc khác tên nhau Hay
nói cách khác, muốn thể hiện một tiếng hát ở hai nốt nhạc khác nhau người ta dùng dấu luyến
7.3 Dấu chấm dôi : là ký hiệu đi sau dấu nhạc, hoặc dấu lặng, có giá trị bằng nửa
trường độ ký hiệu đi trước ( ví dụ nốt đi trước là nốt đen thì nó bằng ½ của nốt đen, nốt đi trước là nốt trắng thì nó bằng ½ nốt trắng là bằng 1 nốt đen ) nó.mà tổng độ
dài của các nốt nhạc trong ô nhịp không vượt quá số phách quy định trong ô nhịp được ghi ở số chỉ nhịp Dấu chấm dôi là một chấm nhỏ nằm ở bên phải nốt nhạc và
có giá trị tăng thêm 1/2 độ dài của chính nốt đó
7 4.Dấu lặng: Là ký hiệu cho biết phải ngưng không diễn tả âm thanh trong một
khoảng thời gian Hình thái các dấu và giá trị thời gian xin xem trong phần 3 trang 3
Trang 137.5 Dấu chấm ngân hay còn gọi là dấu lưu (Dấu miễn nhịp) : là nửa vòng cung
nhỏ có một chấm ở giữa U đặt trên hoặc dưới ký diệu âm nhạc nào thì cho nó được kéo dài bao lâu tuỳ ý., người hát hoặc người đàn có thể xử lí tự do
8) Các nhóm dấu bất thường:
Liên ba : Là 3 dấu nhạc có trường độ bằng nhau, nhưng khi diễn tấu thì trường
độ của chúng bằng trường độ 2 dấu nhạc cùng hình dạng
Liên năm, liên sáu, liên bảy : Là diễn tấu 5, 6 hoặc 7 dấu thay vì chỉ phải diễn tấu 4
Trang 1414
II TIẾT TẤU
1 Khái niệm : Âm nhạc thuộc loại nghệ thuật chuyển động trong thời gian, có
âm thanh trước, âm thanh sau nối tiếp nhau từ đầu bài cho đến cuối bài Các âm thanh chuyển động từ đầu bài cho đến cuối bài, không phải một cách lộn xộn như trong một đám đông vô trật tự, mà có một sự sắp xếp thành từng nhóm nhỏ, nhóm
lớn khác nhau Tiết tấu chính là sự sắp xếp các âm thanh ngắn dài khác nhau, thành từng nhóm nhỏ, nhóm lớn theo tình ý của người soạn nhạc
2 Như vậy, tiết tấu là yếu tố xử lý trường độ của âm thanh để tạo nên trật tự, ý
nghĩa, sự hài hoà và sự sống cho bản nhạc Trong thanh nhạc (có lời ca), thì tiết tấu phải dựa trên ý nghĩa lời ca Trong khí nhạc (không có lời ca) thì tiết tấu dựa trên
tình ý của người soạn nhạc, được thể hiện qua các ý nhạc chủ đạo (hoặc nhạc đề) và
sự khai triển các chủ đề đó theo nguyên tắc “biến đổi trong thuần nhất”
3 Bất cứ một chuyển động nào, dù ngắn hay dài, đều bao gồm hai thời điểm :
đó là lúc khởi đầu và lúc kết thúc Lúc khởi đầu là yếu tố động, đòi hỏi năng động,
sức mạnh, cường độ ; lúc kết thúc là yếu tố tĩnh, đòi hỏi sự nghỉ ngơi, êm nhẹ, buông lỏng Tiết tấu liên kết, pha trộn các yếu tố này với nhau sao cho khéo léo, hợp với ý nghĩa lời ca hoặc hợp với tình ý của chủ đề bản nhạc
4 Trong âm nhạc, lúc khởi đầu người ta gọi là nét vươn lên hay là bước tiến
(arsis), khi kết thúc thì gọi là chỗ nghỉ ngơi hay là bước lui (thesis) Bước tiến được
phác hoạ bằng cách nâng tay lên, bước lui bằng cách hạ tay xuống
Như vậy tiết tấu nhỏ nhất gồm một bước tiến và một bước lui
5 Trong bản nhạc, các bước tiến, bước lui không nhất thiết có trường độ bằng nhau
6 Khi tiết tấu gồm những bước tiến bước lui đều nhau từ đầu đến cuối, người ta
có thể chia thành những phần trường độ đều nhau (gọi là ô nhịp đều nhau) và ta gọi
đó là tiết tấu đều đặn hay tiết tấu chia đều Trường độ âm thanh trong ô nhịp được
xác định bằng một phân số chỉ loại nhịp ghi ở đâu bài (Ví dụ : 2/4 mỗi ô nhịp có 2 phách, mỗi phách tương đường một dấu đen)
7 Loại tiết tấu đều đặn còn được chia ra hai loại khác : đó là tiết tấu bình thường
và tiết tấu bất thường
a) Tiết tấu bình thường là tiết tấu gồm các bước hoặc các phách có trường độ đều
nhau
b) Tiết tấu bất thường là tiết tấu trong đó các bước hoặc phách ngắn dài, sớm
muộn khác nhau (gọi là đảo phách) hoặc tiết tấu trong đó thiếu hụt các phần đầu bước hoặc đầu nhịp (nghịch phách) Trong thực tế, nghịch phách là một loại đảo phách mà trong đó phần phách bất thường thay vì ngân dài thì được thay thế bằng dấu lặng
Trang 15A Đảo phách (Syncope):
Đảo phách là một dạng phân chia thứ tự ngoại lệ giữa các phách mạnh yếu Khi đảo phách, note nhạc ở phách yếu ngân dài, chiếm cả phách mạnh kế đó Khi đảo phách, note mạnh mất sự quan trọng khi bắt đầu phách, bị chìm dưới sự ngân dài của phách phía trước Lúc này, các note trong ô nhịp không còn dựa vào trật tự mạnh yếu, ví dụ:
Phách yếu ở ô nhịp 1 nối dài qua nửa phách mạnh ở ô nhịp 2
Phách yếu ở ô nhịp 3 nối dài qua phách mạnh ở ô nhịp 4
Mục đích của đảo phách là làm cho đoạn nhạc có vẻ khập khễnh, ngập ngừng Đảo phải còn giúp cho đoạn nhạc bớt đơn điệu, buồn tẻ
Tùy theo giá trị trường độ của các note nối nhau trong đảo phách mà người ta phân loại như sau:
a) Đảo phách cân:
Khi note đứng trước và note đứng sau trong đảo phách có cùng trường độ Ví dụ trong một đoạn nhạc của hình sau, chúng ta có đảo phách cân Đảo phách cân được tạo ra từ cuối ô nhịp trước với note đen đầu ô nhịp sau
b) Đảo phách lệch:
Khi note đứng trước có trường độ lớn hơn note đứng sau Ví dụ đoạn nhạc dưới, note trắng ở ô nhịp 2 nối với note móc trong liên ba của ô nhịp 3
Hoặc ở đoạn nhạc dưới, note trắng ở ô nhịp trước nối với note đen của ô nhịp sau:
c) Đảo phách thọt(đảo phách gẫy):
Khi note đứng trước có trường độ nhỏ hơn note đứng sau Ví dụ, trong đoạn nhạc dưới thì note móc ở phách 2 nối với note đen ở phách 3:
Trang 1616
B Nghịch phách :
Nghịch phách còn gọi là nhịp chỏi được thể hiện bằng cách im lặng hoàn toàn nơi phách mạnh, âm phát ra nơi phách yếu Nghịch phách tạo ra một sự kích động, hụt hẫng, làm cho đoạn nhạc nhộn nhịp, vui hơn
Trang 17b) Nghịch phách không đều:
Khi giá trị của 2 chi phách của phách 1 (mạnh) không bằng nhau
Ví dụ 1 : Hình note dài hơn dấu lặng
Trong đoạn nhạc trên, các ô nhịp 1-3-5 đều có dấu lặng đơn và dấu móc đơn ở phách 1, đó là nghịch phách đều (2 chi của phách 1 bằng nhau)
Đến ô nhịp thứ 7 , dấu lặng đơn của phách đầu, kế tiếp là note đen Vậy đó là nghịch phách có hình note dài hơn dấu lặng, được gọi là nghịch phách không đều
Ví dụ 2: dấu lặng dài hơn hình note
Trong trích đoạn nhạc phía dưới, ô nhịp 9 có dấu lặng đen và dấu lặng đơn (phách 1 kéo dài đến chi đầu của phách 2 là dấu lặng), chi cuối của phách 2 là note móc đơn Vậy đó là nghịch phách có dấu lặng dài hơn hình note, được gọi là nghịch phách không đều
8 Tóm lại, tiết tấu là linh hồn đem lại sức sống cho giai điệu
“Ai cũng cảm nghiệm được tiết tấu : rất nhiều người không biết hoà âm, một số người không biết giai điệu, nhưng không ai là không biết tiết tấu” Chính tiết tấu xử
lý trường độ âm thanh, tạo nên những bước tiến bước lui gợi ý cường độ cho âm thanh, làm cho các âm thanh nối kết với nhau có ý nghĩa Do đó diễn tấu một bản
nhạc có hồn hay không là do ta có biết diễn tấu cường độ do tiết tấu gợi ý cho ta hay không Ngược lại, nếu ta cứ phách đầu mạnh, phách sau nhẹ như người ta thường dạy, thì việc diễn tấu sẽ trở nên máy móc, thiếu tâm tình, tức là thiếu cái hồn của âm nhạc
Trang 1818
III TIẾT NHỊP
Khi nghe một bản nhạc hay một bài hát, ta thường thấy cách một khoảng thời gian đều nhau nào đó có một tiếng đệm mạnh (hay một tiếng trống đệm theo) Khoảng thời gian đều nhau giữa tiếng mạnh trước với tiếng mạnh sau gọi là nhịp
Để phân biệt nhịp nọ với nhịp kia người ta dùng một vạch thẳng đứng trên khuông nhạc gọi là vạch nhịp
- Khoảng cách giữa 2 vạch nhịp gọi là ô nhịp hoặc nhịp trường canh
- Khi kết thúc 1 đoạn nhạc hay thay đổi khoá nhạc, thay đổi nhịp, người ta dùng 2 vạch nhịp, gọi là vạch kép
- Chấm dứt bài nhạc người ta dùng vạch kết thúc bao gồm 1 vạch bình thường và 1 vạch đậm hơn ở phía ngoài
Ở bất cứ bản nhạc nào, đầu bài luôn là số chỉ về trường độ và phách nhip trong bản nhạc
Số chỉ nhịp ghi đầu bản nhạc, sau khoá nhạc và chỉ ghi một lần ở khuông nhạc đầu tiên (trừ trường hợp có sự thay đổi nhịp)
Số chỉ nhịp trông giống như một phân số ( ví dụ 2/4, 3/4, 4/4, 6/8 )
- Số bên trên là Tử, bên số dưới là Mẫu
- Số ở trên biểu thị số phách có trong mỗi ô nhịp
- Số ở dưới biểu thị độ dài của mỗi phách là bao nhiêu (tương ứng với hình nốt nào)
Chú ý: Số chỉ nhịp chỉ được thể hiện như phân số thôi chứ nó ko viết như phân số Khi viết ta ko có viết dấu gạch ở giữa tử và mẫu Khi đọc chúng ta đọc liền số A và
số B
Trang 19Lấy 1 ví dụ về số chỉ nhịp sau đây:
Chúng ta đọc nhịp này là nhịp hai bốn
Nhìn vào số chỉ nhịp này ta có thể thấy:
Tử nó là số 2 Điều này chứng tỏ trong 1 ô nhịp nó có 2 phách
Mẫu là số 4 Tức là trường độ của mỗi phách sẽ bằng 1/4 nốt tròn (tức là bằng 4 nốt đen)
Nếu giải thích đúng nghĩa theo nhịp thì chúng ta có thể định nghĩa nhịp 2/4 như sau:
Nhịp 2/4 là nhịp mà trong đó mỗi ô nhịp có 2 phách, mỗi phách bằng 1 nốt đen Phách thứ nhất mạnh, phách thứ 2 nhẹ
- Trong mỗi nhịp (ô nhịp hay nhịp trường canh) lại chia ra nhiều quãng thời gian đều nhau nhỏ hơn gọi là phách
- Mỗi nhịp đều có phách mạnh, phách nhẹ Phách mạnh bao giờ cũng nằm ở đầu ô nhịp
- Nhờ có phách mạnh, phách nhẹ ta mới phân biệt được các loại nhịp khác nhau
- Số lượng phách trong mỗi ô nhịp tuỳ thuộc vào số chỉ nhịp
Ví dụ : nhịp 3/4 => trong mỗi ô nhịp có 3 phách, 4/4 => trong mỗi ô nhịp có 4
phách, 7/8 => trong mỗi ô nhịp có 7 phách
Phách có thể chia ra làm nhiều phần nhỏ hơn một nốt nhạc hoặc có thể có nhiều phách trong một hình nốt nhạc
Ví dụ : Các bạn lấy tay đập xuống bàn 1 cái rồi dở lên (hoặc dùng bàn chân đạp
xuống đất rồi dở lên cũng được) 1 lần đập xuống rồi dở lên như vậy tôi gọi là 1 phách Như vậy nếu gõ 2 phách thì sẽ có 2 lần đập xuống rồi dở lên, 3 phách thì 3 lần đập xuống dở lên Nửa phách thì chỉ 1 động tác hoặc đập xuống hoặc dở lên thôi
Chú ý trường độ của một phách không cố định chính xác theo thời gian, mà tùy người chơi muốn nhanh hay chậm thôi Có 4 loại mẫu số hay dùng: 2 , 4 , 8 ,12
2: giá trị trường độ 1 phách = 1 nốt Trắng
4: giá trị trường độ 1 phách = 1 nốt Đen
8: giá trị trường độ 1 phách = 1 nốt Đơn
12 : giá trị trường độ 1 phách = 1 nốt móc kép
Ví dụ : 9/8 => mẫu số = 8 => giá trị trường độ 1 phách = 1 nốt đơn
Lưu ý có 2 ngoại lệ quan trọng là : người ta thường thay thế 2 loại nhịp là: 2/2 bằng chữ ¢ và 4/4 bằng chữ C
Vậy ví dụ khi gặp nhịp 6/8 : thì kết luận là : Mỗi ô nhịp có 6 phách, mỗi phách
có giá trị trường độ bằng 1 nốt móc đơn
Tiết điệu (nhịp điệu hoặc điệu nhạc) : là một công thức tiết tấu dựa trên một
loại tiếp nhịp nhất định nào đó, thường được dùng để đệm bằng nhạc khí, thí dụ nhịp điệu Marche, Fox, Valse, Boston, Rumba, Chachacha, Boléro, Tango, Slow, Twist, Surf
Trang 20Do ảnh hưởng của dấu hoá nên có 2 loại nửa cung như sau:
a) Nửa cung Diatonic (nửa cung dị):
Là tên gọi nửa cung của 2 nốt nhạc khác tên nhau Nửa cung Diatonic được tạo ra giữa 2 bậc liền kề nhau của hàng âm
Ví dụ:
b) Nửa cung Crômatic (nửa cung đồng):
Là tên gọi nửa cung của 2 nốt nhạc cùng tên nhau Nửa cung Crômatic được tạo ra trong một bậc cơ bản với sự nâng cao hoặc hạ thấp chính nó
Ví dụ :
2.Quãng : ( phần này chúng ta chỉ cần biết khái niệm đơn giản của nó mà thôi )
a) Quãng là sự liên kết giữa hai hoặc nhiều âm thanh phát ra cùng một lúc (hay phát
ra lần lượt) Nốt thấp nhất của quãng gọi là nốt nền, nốt cao của quãng gọi là nốt đỉnh Tên quãng được gọi bằng số Từ dấu nhạc đầu tiên đến dấu nhạc cuối có bao nhiêu bậc cơ bản thì là quãng bấy nhiêu
Ví dụ : Đô-Mi : Có 3 bậc là đô, rê, mi, nên gọi là quãng 3
b) Quãng 2 gồm 1 nguyên cung được gọi là q.2 Trưởng (Đô-Rê, Rê-Mi …)
Quãng 3 gồm 2 nguyên cung được gọi là q.3 Trưởng (đô-mi, fa-la, sol-xi, rê-fa# …) Quãng 4 gồm 2 nguyên cung và 1/2 cung được gọi là q.4 đúng (Đô-La, Rê-Sol …) Quãng 5 gồm 3 nguyên cung và 1/2 cung được gọi là q.5 đúng (Đô-Sol, Rê-La, …) Quãng 6 gồm 4 nguyên cung và 1/2 cung được gọi là q.6 Trưởng (Đồ-Lá, Fa-Rế …) Quãng 7 gồm 5 nguyên cung và 2 nửa cung được gọi là q.7 Trưởng (Đô-Sí, …) Quãng 8 gồm 5 nguyên cung và 2 nửa cung được gọi là q.8 đúng (Đồ-Đố, Rề-Rế )
Trang 21Từ quãng trưởng, quãng đúng, nếu tăng hay giảm 1/2 cung ở note đầu và note cuối của quãng ta lại có thêm các quãng thứ, quãng tăng, quãng giảm, quãng bội tăng, quãng bội giảm
Nhận biết các quãng theo ví dụ sau :
- Quãng 3 trưởng (2 nguyên cung): Đồ-Mi
- Quãng 3 thứ : Đồ-Mib, hoặc Re-Fa (giảm đi 1/2 cung còn 1 cung rưỡi)
- Quãng 3 giảm: Quãng 3 thứ mà có note cuối giảm đi 1/2 cung hoặc có note đầu tăng 1/2 cung, khoảng cách 2 note còn lại 1 cung thì gọi là Quãng 3 giảm Vd: F#-
Ab, D#-F,
- Quãng 3 tăng: Quãng 3 trưởng mà có note cuối tăng 1/2 cung hoặc note đầu giảm 1/2 cung, khoảng cách 2note là 2 cung rưỡi được gọi là Quãng 3 tăng Vd: C-E#, Fb-A,
Tương tự ta có quãng giảm mà lại bị giảm thêm 1 lần nữa được gọi là quãng bội giảm; quãng tăng mà lại được tăng thêm 1/2 cung nữa thì được gọi là quãng bội tăng
Các quãng đúng thì chỉ có giảm, tăng chứ không có trưởng, thứ:
c ) Ngoài ra người ta còn gọi và phân loại như sau :
Quãng giai điệu : Hai âm thanh vang lên kế nhau, còn quãng hoà điệu là hai âm
thanh vang lên cùng một lúc
Quãng đơn : là quãng 8 trở xuống, còn quãng kép là quãng ngoài quãng 8 (số lớn
hơn quãng 8) Tính chất của quãng kép cũng giống như tính chất của quãng đơn tương ứng Muốn biết quãng đơn tương ứng, ta lấy quãng kép trừ đi 7
Quãng lên : Khi dấu đầu thấp hơn dấu cuối
Quãng xuống : Khi đấu đầu cao hơn dấu cuối
Quãng thường : Là một quãng có sẵn, nếu ta lấy dấu thấp nâng lên một quãng 8
hoặc lấy dấu cao hạ xuống một quãng 8, ta sẽ có quãng đảo của nó
Tóm lại, quãng là 1 trong những đơn vị cơ bản nhất khi nói về cao độ trong nhạc
lý Nắm vững các lý thuyết về quãng sẽ giúp mình hiểu rõ hơn cấu tạo của các loại hợp âm, để rồi tiến tới sử dụng nó 1 cách hiệu quả
Kết : Đây là những phần nhạc lý cần thiết dành cho những người muốn tôn vinh ca ngợi Chúa cách hiệu quả Để nhớ được phần nhạc lý thì chỉ có cách là thực hành nó nhiều lần, khi hát hay đàn một bài hát cần để ý để biết bản nhạc đó có gì phần nào không biết thì đọc tham khảo như vậy mới nhớ lâu và không quên được
HẾT PHẦN NHẠC LÝ CĂN BẢN
Trang 2222
DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÀN
Đánh đàn cho ca đoàn tôn vinh Chúa cũng chính là thờ phượng Chúa, tương
tự như là hát xướng vậy Trong thời cựu ước người ta dùng đàn cầm, đàn sắt để mà
nói tiên tri hay ngợi khen Chúa I Sử ký 25:3 có chép : Về con trai của Giê-đu-thun
có Ghê-đa-lia, Xê-ri, Ê-sai, Ha-sa-bia, Ma-ti-thia, và Si-mê-i, là sáu người đều ở
dưới quyền cai quản của cha chúng, là Giê-đu-thun, dùng đàn cầm mà nói tiên tri, cảm tạ và ngợi khen Đức Giê-hô-va
Ngày nay phần xử lý các nhạc cụ đóng vai trò rất quan trọng trong việc hát tôn vinh Chúa, đánh đàn tốt sẽ làm cho người hát và người dẫn hát không phân tâm khi tôn vinh Chúa Chính vì vậy mà người chơi đàn trong hội thánh cũng cần phải tập luyện thường xuyên để kỹ năng mỗi ngày một tốt hơn
Học đàn cần được hướng dẫn trên đàn cách trực tiếp, bài viết này chỉ nói cách tập đàn đơn giản nhất còn lại chủ yếu là tự tập luyện lấy là chính
Nói về đàn thì có 2 cách để mà học đàn:
A )Học cách bài bản, thứ tự, trường lớp
Tốt nhất là học đàn theo trường lớp như vậy sẽ có được một nền tảng tốt, rất cần thiết cho Hội Thánh Chúa Nếu có cơ hội thì nên học một cách bài bản, học lẫn nhau và học những người giỏi hơn Học theo cách này cần đầu tư nhiều về thời gian
và công sức
B) Học nhanh
Học nhanh bao giờ cũng sẽ không tốt bằng học thứ tự, đàn là sự tập luyện nên dù học nhanh hay chậm thì cũng cần phải tập luyện Bằng cách bỏ những cái
khó, để học sau học những cái cần trước sau đó sẽ tập lại những cái khó đó là cách
học của phương pháp này
Cách này dùng cho những người chưa đủ điều kiện học nhạc từ trước, hoặc những nơi cần người đánh đàn thờ phượng Chúa mà chưa có thì chúng ta có thể học theo cách này Học cái cần trước sau đó học đến cái khó sau
Để học được cần phải biết những điều căn bản sau :
1 Nhạc lý : Dù nhanh hay chậm cũng cần phải biết nhạc lý căn bản
2 Nhận biết hợp âm
Đàn organ vốn sẵn tiết điệu nên ta chỉ cần biết hợp âm để đánh, chọn những
bài hát đã biết hát và có thể hát chính xác thì ta dùng đàn organ với những hợp âm
ta tìm được dùng để đánh hát.Việc này làm cho người muốn học đàn có thể đánh được ngay, tự đánh tự hát dần dần sau khi quen hợp âm Khi thành thuộc hợp âm rồi thì sẽ vừa đánh hợp âm vừa đánh nốt theo như mình hát Tiếp đến sẽ đánh nốt theo bản nhạc quen thuộc, khi vững vàng sẽ tự đánh những bản nhạc mới
Trang 23V PHƯƠNG PHÁP ĐỂ NHẬN BIẾT HỢP ÂM
1 Hợp âm trưởng ( ký hiệu M; Maj )
Lấy nốt đầu tiên của hợp âm cần tìm, đếm tiếp 3 phím đàn chọn 4, từ nốt thứ 4 đếm tiếp 2 chọn 3
Ví dụ : Tìm hợp âm C
Chọn Đô bỏ 3 phím liên tiếp ( gồm Đô thăng, Rê, Rê thăng ) lấy Mi bỏ 2 phím liên tiếp ( gồm fa, fa thăng ) lấy Sol ta được : Đô-Mi-Sol
Vậy hợp âm C gồm có 3 nốt Đô-Mi-Sol ( ký hiệu bằng số là 1-3-5 )
Tương tự như vậy ta tìm được các hợp âm khác như D, E, F, G, A, B
2 Hợp âm thứ ( ký hiệu ….m; min; - )
Để tìm hợp âm thứ nào đó ta cần tìm hợp âm trưởng trước, sau đó từ nốt giữa
của hợp âm trưởng ( số 3 ) ta giáng nữa cung chọn nốt nốt giáng đó ( nốt dưới của nốt giữa ) thì sẽ ra hợp âm thứ
Ví dụ : Tìm hợp âm Cm
Với cách chọn như phần 1 ta tìm được hợp âm trưởng C gồm Đô-Mi-Sol, từ
nốt Mi ( nốt giữa hay là số 3 ) ta chọn nốt giáng nữa cung kế cạnh được nốt Mi giáng Ta được Đô – Mi giáng - Sol
Vậy hợp âm Cm sẽ là Đô - Mi giáng - Sol
Tương tự như vậy ta tìm được các hợp âm thứ như : Dm, Em, Fm, Gm, Am, Bm
3 Hợp âm 7 ( đọc là át âm bậc 7 ký hiệu ….7 )
Để tìm hợp âm 7 ta tìm hợp âm trưởng trước sau đó từ nốt cuối cùng của hợp
âm trưởng ( nốt số 5 ) ta bỏ hai nốt kế cận chọn thêm nốt thứ 3 sẽ ra hợp âm 7
Ví dụ : Tìm hợp âm C7
Ta tìm hợp âm C trưởng trước như cách 1 sẽ được Đô – Mi –Sol, từ nốt Sol ta
bỏ hai nốt liên tiếp ( Sol thăng, La ) chọn nốt kế tiếp La thăng ta được : Đô – Mi- Sol – La thăng
Vậy hợp âm C7 gồm có 4 nốt : Đô – Mi – Sol – La thăng
Tương tự như vậy ta có thể tìm các hợp âm : D7, E7, F7, G7, A7, B7
Cách tìm hợp âm thứ 7 cũng như vậy, do nốt cuối cùng của hợp âm thứ không thay đổi so với hợp âm trưởng của nó nên ta chỉ cần tìm tương tự như hợp
âm trưởng 7 là được
Ví dụ : Tìm hợp âm Cm7
Ta tìm hợp âm C trưởng ( cách 1 ) được Đô – Mi – Sol, tìm Cm (cách 2 ) được Đô – Mi giáng – Sol, từ nốt cuối Sol theo cách 3 tìm được La thăng Ta được
Đô – Mi giáng – Sol – La thăng
Vậy hợp âm Cm7 gồm 4 nốt Đô – Mi giáng – Sol – La thăng
Trang 2424
4 Hợp âm thăng và giáng
A ) Đối với hợp âm thăng thì ta thăng tất cả các nốt lên nữa cung và chọn nốt đó
Ví dụ : Tìm hợp âm C#
Theo cách 1 ta tìm trước hợp âm C trưởng, được Đô – Mi – Sol, để tìm hợp
âm C# ta chỉ cần thăng tất cả các nốt Đô – Mi – Sol nữa cung và chọn chính nốt đó
sẽ được Đô thăng – Mi thăng ( tương đương nốt Fa ) – Sol thăng
Vậy hợp âm Đô thăng gồm : Đô thăng – Fa – Sol Thăng
B) Cách thăng này có thể áp dụng cho mọi trường hợp
Vậy hợp âm C#m7 gồm : Đô thăng – Mi– Sol thăng – Si
C) Đối với hợp âm giáng :
Ta làm theo cách tương tự như với hợp âm thăng
Ví dụ tìm hợp âm Cb
Theo cách 1 ta tìm hợp âm C trưởng sẽ gồm : Đô – Mi – Sol, để tìm hợp âm
Cb ta chỉ cần giáng tất cả các nốt Đô – Mi – Sol nữa cung và chọn chính nốt đó sẽ được Si ( Đô giáng sẽ là Si ) – Mi giáng – Sol giáng
Vậy hợp âm Cb gồm : Si – Mi giáng – Sol giáng
Chú ý : Có trường hợp đặc biệt ở đây
- Mi giáng cũng chính là Rê thăng
- Sol giáng cũng là Fa thăng
- Theo như cách tìm thứ 1 khi tìm hợp âm B thì những nốt tìm được tương đương với Cb, hợp âm B gồm Si – Rê thăng ( mi giáng ) – Fa thăng ( sol giáng ) Do vậy sẽ có những hợp âm tên gọi khác nhau nhưng nốt vẫn giống nhau
- Chính vì lý do đó trong từng trường hợp khác nhau chúng ta sẽ phải quyết định gọi tên các hợp âm như thế nào đó là tùy vào dấu của bản nhạc Nếu bản
nhạc là giáng thì ta phải gọi đó là nốt giáng
D ) Cách giáng này áp dụng cho mọi trường hợp Giống như thăng phía trên
Lưu ý : Thăng và giáng này ta có thể áp dụng trong các hợp âm, khi tìm một hợp âm ta có thể tìm theo thứ tự từng chữ và số trên hợp âm Sau đó xét đến dấu thăng hay giáng mà giáng xuống hay thăng lên Phần này có thể áp dụng cho các hợp âm ở phía sau bài này
Ví dụ : Tìm hợp âm Abm7 thì đầu tiên ta tìm hợp âm A sau đó tìm hợp âm Am, tiếp tục Am7 sau cùng giáng tất cả xuống sẽ ra Abm7