ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---LÊ VĂN DUY THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI NGUYỄN TIẾN CHI LƯƠNG SƠN – THÁI NGU
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-LÊ VĂN DUY
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI NGUYỄN TIẾN CHI
LƯƠNG SƠN – THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2013 – 2017
Thái nguyên – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-LÊ VĂN DUY
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI NGUYỄN TIẾN CHI
LƯƠNG SƠN – THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Lớp: K45 – CNTY - N04
Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Hà Thị Hảo
Thái nguyên - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau những năm tháng học lý thuyết trên ghế nhà trường thì không thểthiếu những lần đi thực tế để củng cố thêm kiến thức đã được học Để khôngngừng tích luỹ thêm kinh nghiệm thì không thể không kể đến những năm thángthực tập tại các cơ sở thực tập mà khoa và nhà trường tổ chức liên kết
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy
cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ
em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến côgiáo ThS Hà Thị Hảo, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gianthực tập, giúp em hoàn thànhkhóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty, các cán bộ kỹ thuật,công nhân viên tại trại lợn Nguyễn Tiến Chi – Lương Sơn – Thái Nguyênđãtạo mọi điều kiện thuận lợi, dành nhiều thời gian, công sức để hướng dẫn, chỉbảo, giúp đỡ cũng như động viên và đóng góp những ý kiến quý báu cho emthực hiện và hoàn thành khóa luận này
Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả bạn bè,người thân những người đã luôn bên em, giúp đỡ, động viên và khuyến khích
em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Lê Văn Duy
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng trại của trại lợn 40
Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng vắc xin của trại 41
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn – Thái Nguyên qua 3 năm 2015 - 2017 46
Bảng 4.2 Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 47
Bảng 4.3: Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn - Thái Nguyên 49
Bảng 4.4: Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 50
Bảng 4.5 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại
51 Bảng 4.6: Kết quả tiêm vacxin, thuốc phòng bệnh cho lợn tại trại 52
Bảng 4.7: Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn tại trại 53
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn tại trại 55
Bảng 4.9: Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con 56
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện
6 2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản 6
2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
10 2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 15
2.2.4 Những hiểu biết về những bệnh gặp tại cơ sở 19
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
29 2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 29
2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài
31 Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 34 3.1 Đối tượng 34
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
34 3.3 Nội dung thực hiện
34 3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 34
Trang 7v3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 34
Trang 83.4.2 Các phương pháp thực hiện 34
3.4.2.5 Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại 42
3.4.3 Công thức tính và phương pháp xử lý số liệu 45
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn – Thái Nguyên qua 3 năm từ 2015 – 2017 46
4.2 Kết quả thực hiện qui trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản
47 4.2.1 Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập
47 4.2.2 Kết quả thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn tại trại 48
4.2.3 Kết quả về nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con tại cơ sở 50
4.2.4 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn tại cơ sở 51
4.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn tại trại Nguyễn Tiến Chi -Lương Sơn – Thái Nguyên 53
4.3.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn tại trại Nguyễn Tiến Chi Lương - Sơn – Thái Nguyên 53
4.3.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn tại trại Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn – Thái Nguyên 55
4.4 Kết quả thực hiện các thao tác khác tại trại lợn Nguyễn Tiến Chi – Lương Sơn – Thái Nguyên 56
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 9Trên thực tế ngành chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn như quy mônhỏ lẻ, khâu chọn giống còn nhiều bất cập…Ngoài ra sự diễn biến phức tạpcủa nhiều loại dịch bệnh cùng với sự ảnh hưởng trầm trọng của ô nhiễm môitrường trong chăn nuôi đã làm cho cả ngành chăn nuôi lợn lao đao Để chănnuôi lợn phát triển ổn định, có chiều sâu, chúng ta cần rà soát và quy hoạch lạiđất đai, cần hình thành các khu chăn nuôi riêng biệt, mang tính công nghiệp.
Do đó, chăn nuôi trang trại tập trung hiện nay được xem là con đường tất yếu
để phát triển bền vững, chỉ có như vậy mới có đủ điều kiện đáp ứng các yêucầu về an toàn dịch bệnh, an toàn cho môi trường và đảm bảo sản phẩm lànguồn thực phẩm sạch cho con người
Muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao thì chúng ta cần đẩy mạnh cácbiện pháp kỹ thuật như giống, thức ăn, biện pháp kỹ thuật chăm sóc Đặc biệtchú trọng tới công tác giống, giống tốt thì vật nuôi mới tăng trọng nhanh, khảnăng tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao Bởi vậy cầnphát triển chăn nuôi các giống lợn ngoại có năng suất và chất lượng thịt cao
Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển
Trang 10đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên một trong nhữngnguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái đang nuôi ở các trangtrại là bệnh còn xảy ra rất nhiều do khả năng thích nghi của những giống lợnnái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh ở cơ quan sinh dục:
đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, mất sữa…Các bệnh này do nhiều yếu tố nhưđiều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn nước uống không đảmbảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên Chính vì vậy mà việc chăm sóc nuôidưỡng và tìm hiểu về bệnh của cơ quan sinh dục của đàn lợn nái là việc rấtcần thiết
Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn
nái tốt hơn, chúng em tiến hành thực hiện chuyên đề: “ Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại Nguyễn Tiến Chi – Lương Sơn – Thái Nguyên”.
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn –Thái Nguyên
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn vàcách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phươngpháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trạitrại Nguyễn Tiến Chi Lương Sơn – Thái Nguyên
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụngđược quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn Nguyễn Tiến Chi nằm tại phường Lương Sơn, thành phố SôngCông, tỉnh Thái Nguyên Trại hoạt động từ giữa năm 2001 Là trại lợn tư nhân
do ông Nguyễn Tiến Chi làm chủ trại Đến năm 2014 bắt đầu thành lập Công
ty TNHH Phát triển Nông nghiệp Đăng Nguyên, do ông Nguyễn Tiến Đănglàm giám đốc
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
- Thành phố Sông Công thuộc tỉnh Thái Nguyên, ở vùng Đông Bắc, chịuảnh hưởng của khí hậu cận nhiệt đới ẩm Do đó trại lợn trại Nguyễn Tiến ChiLương Sơn – Thái Nguyên cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng
- Nhiệt độ trung bình năm là 250C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 là28,60C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 15,20C
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 2000 -2500 mm/ năm.Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt.Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, tổng lượng mưa cả năm gần nhưtập trung vào mùa mưa, chiếm 80% - 90% tổng lượng mưa cả năm Mùa khôthì lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 10% - 20% tổng lượng mưa cả năm
- Chế độ gió mùa: Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm sauthường chịu ảnh hưởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi tháng từ 3 – 4 đợt Mùa
hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam, Đông Nam Tốc độ gió trungbình năm là 3 – 3,4 m/s (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn thành phốSông Công)
Trang 122.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trang trại được tổ chức như sau:
- 01 Chủ trại làgiám đốc công ty
- 01 Quản lý trại là điều hành chính các hoạt động của trại
- 01 Kỹ thuật trại người hướng dẫn làm các quy trình kĩ thuật về thú y
- 01 Kế toán xác định, ghi chép, tổng hợp và báo cáo các thông tin kinh
tế cho quản lý trại
- 03 Công nhân trực tiếp thực hiện các công việc dưới sự hướng dẫncủa cán bộ kỹ thuật và quản lý trại
- 01 Bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như: tổchuồng đực, tổ chuồng bầu, tổ chuồng đẻ, tổ chuồng hậu bị, tổ chuồng caisữa Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quyđịnh của trại
2.1.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại
- Trang trại có tổng diện tích 2 ha, toàn bộ được quy hoạch hợp lý thànhkhu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh,cây ăn quả, ao hồ
- Khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho quy mô 150nái, nhập nái hậu bị của Công ty Greenfeed, nhập đực của trại giống Bành Tỷ
Về chăn nuôi gà chủ yếu là nuôi gà ri, mục đích cung cấp thực phẩm cho nhucầu của trại
-Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khuđiều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân Khusản xuất gồm: 01 chuồng đẻ, 01 chuồng bầu, 03 chuồng thịt và 01 chuồng caisữa Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc,phòng tinh, phòng sát trùng
Trang 13- Hệ thống chuồng bầu và chuồng đẻ được xây dựng khép kín, chuồngcai sữa và 3 chuồng thịt là chuồng hở Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát,cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió Riêng chuồng đẻ thì cuối chuồng còn
có hệ thống xử lý mùi và trong chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt độ Tất cảcác máng ăn ở các dãy chuồng đều là máng đổ bằng tay, không có hệ thống
tự động
- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho công tác kiểm tra
và pha chế tinh như: kính hiển vi, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụkhác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đềuđược đổ bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêmngặt Mọi công nhân trong trại cho đến khách đều phải thay quần áo, đeokhẩu trang, ủng chuyên dụng và phải đi qua hệ thống sát trùng
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệthống thoát nước ngầm
- Xung quanh trang trại còn có đất để trồng rau xanh, cây ăn quả, đàonhững hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
Trang 142.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện
2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản.
2.2.1.1.Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợncon có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi conChính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17] thức ăn dùng cho lợn nái đẻphải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợnnái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó,hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạngsức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối vớinhững lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức
ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sứckhỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằngcách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải
Trang 15căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độdinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh(0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ
có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăncháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách độtngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cầnchế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăncho lợn nái
- Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếpđến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và
cs, (2004)[17] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu
vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện cáctrường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -15ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ôchuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầuchuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêuđộc nên để trống chuồng từ 3 -5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1tuần, cần vệ snh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phânbám dính trên người, dùng khăn thấm nước muối lau sạch bầu vú và âm hộ.Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếpxúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sach sẽ cholợn nái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợnquen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs,(2004)[17] ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa
Trang 16lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt,
mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ănsớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 -10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m
Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 – 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
- Quá trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17] thức ăn cho lợn nái nuôi conphải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợnnái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗnhợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủprotein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩnquy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 – 1,0 %,phospho 0,7 %
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng vàảnh hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ,chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡngcho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17] trong quá trình nuôi con,lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
Trang 17+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg)hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do.
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn
+ Số bữa ăn trên ngày : 3 bữa (sáng, trưa và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kgthức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh(nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 – 30%
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
- Quy trình chăm sóc
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17] vận động tắm nắng là điềukiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữacủa lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 -7 ngày, trong điều kiện chănnuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thờigian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên.Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong cáccũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinhdưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảmbảo luôn khô ráo, sach sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinhchuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs,
Trang 18(2004)[17] chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớmcho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 – 200C, độ ẩm 70 – 75%.
2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
Đặc điểm về sinh trưởng của lợn con
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ giasúc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh conkhỏe mạnh
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17] so với khối lượng sơ sinh thìkhối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đềuqua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm vàhàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảmsinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng củalợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợncon sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 14gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tíchlũy được 0,3
0,4gam protein/1kg khối lượng cơ thể, theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17]
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượngnghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợncon chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn đểtạo ra 1kg mỡ
Trang 19 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa.
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu,thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh,các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa cònnhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạdày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổităng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngàytuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức
ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất
Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặcbiệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tốtác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn concũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCltrong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên.Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu củalợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein màchỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin vàglobulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dàykhông còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm cótác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoànthiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung
Trang 20thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự dosớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với contrưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).
Hoàng Toàn Thắng và cs, (2005)[24] cho rằng: Lợn con dưới 1 thángtuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanhchóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric
Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khảnăng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt menpepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới
có khả năng tiêu hóa protein
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợntrước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị cóenzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn cácloại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữadịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóanhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sungsớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn consinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn cólợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnhđường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ởlợn con mới sinh
Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt của lợn con
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại nãocủa lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và nănglực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)
Trang 21Theo Từ Quang Hiển và cs, (2001)[9] ở lợn con, khả năng sinh trưởng
và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đósản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần
cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăncho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầycòm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm đểkhắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn saucai sữa
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoànchỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưacân bằng
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhauthai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sốnghoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết
Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dựtrữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diệntích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợncon dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét cònthấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăngtỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùađông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phươngthức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiệnthuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá
Trang 22 Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất
lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,
do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá
và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rốiloạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai
đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượngkháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Chonên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vàolượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17] trong sữa đầu của lợn mẹ hàmlượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữachiếm 18 - 19%, trong đó lượng γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 -35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọngđối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng γ - globulinbằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử γ - globulingiảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non củalợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng menantitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tếbào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu,hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bàovách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu γ - globulin kém hơn, hàm lượng γ
- globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạtkhoảng
24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng
Trang 2365mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt.Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng
tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đềkháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.3.1 Phòng bệnh
Như ta đa biêt „„Phong b ệnh hơn chưa b ệnh‟‟‚ nên khâu phong b ệnhđược đặt lên hang đâu , nêu phong bệnh tôt thi co thê han chê ho ặc ngăn chặnđược bệnh xay ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh cac yêu tô môi trương , mâm b ệnh, vât chủ Do vây, việcphong
bệnh cung như trị, bệnh phai kêt hơp nhiêu biên phap khac nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh va chăm soc nuôi dương tôt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng, (2005)[18] bệnh xuất hiện trong một đànlợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặckhông truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đãđược đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đànlợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền cáctác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993)[21], vi khuân E.coli gây bệnh ơ l ợn la
vi khuân tôn t ại trong môi trương , đương tiêu hoá của vât chủ Khi môi trương qua ô nhi ễm do vê sinh chuông tr ại kem, nươc uông thưc ăn bi nhi ễm
vi khuẩn, điêu ki ện ngoại cảnh thay đổi, lợn giam sưc đê khang dê bi cam
nhiễm E.coli, bệnh se nô ra vi v ậy ma khâu vê sinh , chăm sóc có môt ý ngh
ĩa to lơn trong phong b ệnh Trong chăn nuôi việc đam ba o đung quy trinh
ky thuật la điêu rât cân thiêt , chăm soc nuôi dương tôt se t ạo ra nhưng gia suc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tôt va ngược lại Ô chuông lợnnai phải được vê sinh tiêu đ ộc trươc khi vao đe Nhiêt đô trong chuông phai đam
bảo 27 – 300C đối với lợn sơ sinh va 28 – 300C vơi lợn cai sưa Chuông phai
Trang 24luôn khô rao , không thâm ươt Việc giư gin chuông tr ại sạch sẽ kín, ấm ápvào mùa đông va đâu xuân Nên dung các thi ết bị sưởi điện hoặc đèn hồngngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phântrắng mang lai hiêu qua cao trong chăn nuôi.
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[17] từ 3 – 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhưCrezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợnnái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung
quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để
khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ítnhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản.Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền
nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi
chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịchsát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từmái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thảirắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nướcrửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cầnphun sát trùng 1-2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưavào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc xin :
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệuquả nhất
Trang 25Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012)[8] vắc xin là một chế phẩm sinhhọc mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễmnào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyềnnhư ARN, AND…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhânvật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệmới – vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnhcho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đápứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gâybệnh của mầm bệnh tương ướng.
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnhngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
2.2.3.2.Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012)[8] nguyên tắc để điều trị bệnh là :+ Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng,dùng thuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạnchế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thìkhông nên chữa
Trang 26Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012)[8] các biện pháp chữa bệnh truyềnnhiễm là :
+ Hộ lý : cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện
vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hôhấp, phân , nước tiểu phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thờiđối phó.Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh : chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnhbằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, cótác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độctố)
+ Dùng hóa dược :phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau.Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh.Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây :
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽchữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
Trang 27- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xácđịnh Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng.
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian đểphát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tácdụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.4 Những hiểu biết về những bệnh gặp tại cơ sở
2.2.4.1 Những bệnh thường gặp trên đàn lợn nái.
Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợnnái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắcbệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻnhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêmmạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gâyviêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phóthương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005) [28]
* Nguyên nhân bênh viêm tư cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002)[7], viêm tử cung là một quá trìnhbệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷcác tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở giasúc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo các tác giả Nguyên Xuân Binh, (2000)[2], Phạm Sỹ Lăng và cs,(2002)[10], bênh viêm tư cung ơ lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
Trang 28phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn náigây viêm.
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âmđạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêmmạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đếnviêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện đểxâm nhập vào gây viêm
Theo Đoan Thị Kim Dung và cs, (2002)[6] nguyên nhân gây viêm tư
cung la do vi khuân tu câ u vang (Staphylococcus aureus), Liên câu dung huyêt (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli….
Theo Lê Văn Năm va cs , (1999)[15] cho răng có rất nhiều nguyên nhân
tư ngoai canh gây bênh như : Do thưc ăn ng hèo dinh dưỡng , do can thiêp đơ
đe băng dung cu hay thuôc san khoa sai ky thuât dân đên Muxin cua châtnhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa , kêt hơp vơi viêc chăm socnuôi dương bât hơp ly va thiêu vân đôn g đa lam châm qua trinh thu teo sinh
lý của dạ con (trong điêu kiên cai sưa binh thương da con trơ vê khôi lương kích thước ban đầu khoảng 3 tuân sau đe ) Đây la điêu kiên tôt đê vi khuân xâm nhâp vao tư cung gây bênh Biên chưng nhiêm trung do vi khuân xâm
Trang 29nhâp vao da con gây lên trong thơi gian đông đưc (vì lúc đó tử cung mở ) và
do thu tinh nhân tao sai ky thuât
Bênh con xay ra do thiêu sot vê dinh dương va quan ly : Khâu phânthiêu hay th ừa protein , trong thơi ky mang thai co anh hương đên viêm tư cung Lơn nai sư dung qua nhiêu tinh bôt gây đe kho , viêm tư cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng anh hương đên viêm tư cung
* Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệttới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màuđen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41-420C trong vài ngày đầu âm môn sưngtấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ
+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịchnhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quảhoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang thai làm chết thai
* Hâu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quansinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đềuảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, pháttriển của lợn con
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002)[7], Trần Thị Dân, (2004)[5], khilợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Trang 30Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ởbuồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi
đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử
cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thaichết lưu
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân
tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳnsữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bịtiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dụctrở lại
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể
Trang 31vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone.
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự
phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trởlại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung saukhi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻsau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trongcác nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôisống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồng trứng
* Chân đoan lâm sang bênh viêm tư cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểuhiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mởnên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài mlcho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dungdịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màumáu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấptính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượngchảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi cónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kếttinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủchảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì
có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ
Trang 32nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán chochính xác.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểuhậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú
- Theo Trần Minh Châu, (1996)[3] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi
không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi
khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhânchính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái,không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cholượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không búhết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm
+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu vềtuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú mộthàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợncon bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (TrươngLăng, 2000) [11]
+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻbẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu
vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
Trang 33* Triệu chứng
Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 5 giờ cho đến 5
-7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng, (2006)[25], viêm vúthường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú
có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứngđau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dàitrong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vúxuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹđòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê HồngMận, 2002) [14] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa cónhững cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng,xanh lợn cợn, đôi khi có máu
* Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
- Theo Nguyễn Đức Lưu và cs, (2004)[12], bệnh viêm tử cung và viêm
vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
- Theo Nguyễn Xuân Bình, (2000)[2] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi
đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thểthường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảmảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinhdưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồichức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa cónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh vàtrọng lượng cai sữa thấp
Trang 34Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết.
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
Bệnh sót nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết,can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại.Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy đượcnhau ra
* Nguyên nhân: Trịnh Đình Thâu và cs, (2010)[22]: Sau khi đẻ tử cung
co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật khôngđược vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và
P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiềuthai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh
truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu
tạo của nhau
- Triệu chứng: Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:+ Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khimắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhaucòn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau rangoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ
Theo Đỗ Quốc Tuấn, (2005)[28]: Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bịsót nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước,sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ
Trang 35cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm
số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
- Điều trị: Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không đểquá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnhtay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tửcung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nướcmuối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và
cs, 2010)[26]
2.2.4.2 Những bệnh thường gặp trên đàn lợn con.
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con
+ Nguyên nhân:Vệ sinh rốn khi cắt rốn không tốt cũng có thể làm cho lợn con bị viêm rốn, tạo điều kiện cho các vi khuẩn cơ hội như E.Coli, Salmolella, Clostridium, Staphylococcus, xâm nhập, dẫn đến tiêu chảy cho
lợn con Vệ sinh chuồng trại, đặc biệt là nước uống và thức ăn không tốt Cóthể thức ăn bị nấm, mốc, đặc biệt là những ngày nồm ầm ướt; làm cho lợncon bị tiêu chảy do ngộ độc độc tốc nấm mốc
+ Triệu chứng: Phân lỏng màu vàng hay màu trắng đục dính ở hậumôn, hậu môn ướt đỏ, lợn sút cân nhanh chóng, mắt lờ đờ, dáng đi siêu vẹo,chán ăn
+ Điều trị:
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con có thể điều trị bằng nhiều loại thuốc Tạitrang trại điều trị bằng thuốc sau:
Amoxcolistin: 1 ml/10kgTT Tiêm bắp
Atropin: 1mll/10kgTT Tiêm bắp hoặc cho uống
Tiêm trong 2 – 3 ngày, giữ chuồng khô, thoáng, ấm Cho lợn con uốngnước điện giải, chích xoang bụng nước muối sinh lý
Trang 36 Hội chứng hô hấp ở lợn con.
+ Nguyên nhân: Là một bệnh truyền nhiễm đa nguyên nhân mà trước đây chúng ta quen gọi là bệnh suyễn hoặc viêm phổi địa phương
Mycoplasma là tác nhân chính kết hợp với hệ vi khuẩn gây bệnh cộng phát như: Pasteurella multocida, Bordetell, Chlamidi, Streptococcus,
Staphylococcus và một số siêu vi khuẩn khác Mycoplasma thường cư trú tại
amidal hoặc xâm nhập từ ngoài vào cơ thể dưới tác động trực tiếp của các yếu
tố stress có hại và sức đề kháng của cơ thể yếu, chúng tăng cường độc lựcchui vào phế quản và phế nang, ký sinh và sinh sản ở đó gây bệnh
Lợn mẹ bị bệnh có thể truyền cho con trong thời gian mang thai
+ Triệu chứng: Ở lợn con bệnh có thể xảy ra ngay sau khi sinh Lợngầy còm lông xù, thở thể bụng có khi ngồi thở, bụng hóp lại Lợn bị bệnhkhông tranh bú với các con khác được nên ngày càng gầy yếu hơn, dễ mắc kếphát bệnh viêm khớp Nếu không điều trị kịp thời tỷ lệ chết rất cao
+ Điều trị: Hội chứng hô hấp trên lợn có thể sử dụng nhiều loại thuốckhác nhau để điều trị, ở trong trại thường sử dụng phác đồ sau để điều trị:
Ceftiofur: 2ml/con Tiêm bắp ngày/lần
Gluco-k-c-namin: 2ml/con Tiêm bắp ngày/lần
Nếu lợn có hiện tượng ho nhiều, thở gấp thì tiêm Bromhexine: 2ml/con.Điều trị trong 3 - 5 ngày
Viêm khớp
+ Nguyên nhân: Bệnh viêm khớp do nhiễm trùng khớp và các mô bao
quanh bởi vi khuẩn (Streptococcus suis, E Coli, Staphylococcus…) và
Mycoplasma Streptococcus suis là vi khuẩn gram +, Streptococcus suis gây
viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con 1 – 6 tuần tuổi, bệnh được phân loại như một phần của hội chứng
“yếu khớp” kết hợp với viêm rốn