Các dữ liệu ban đầu : Các số liệu và thông tin về TP.HCM từ cổng điện tử của UBND; các số liệu và thông tin về Dự án Vệ sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực Nhiêu Lộc –Thị Nghè NL-TN củ
Trang 1Khoa: Công nghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường
PHIẾU GIAO ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN/ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
(Phiếu này được dán ở trang đầu tiên của quyển báo cáo ĐA/KLTN)
1 Họ và tên sinh viên được giao đề tài: Mạch Thiên Kim
MSSV: 1311090303
Lớp: 13DMT02
Ngành : Kỹ thuật môi trường
Chuyên ngành : Quản lý môi trường
Tên đề tài : Phân tích hiệu quả chống ngập của Dự án vệ sinh môi trường TP.HCM
thuộc lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè
2 Các dữ liệu ban đầu : Các số liệu và thông tin về TP.HCM từ cổng điện tử của UBND;
các số liệu và thông tin về Dự án Vệ sinh môi trường TP.HCM thuộc lưu vực Nhiêu Lộc –Thị Nghè (NL-TN) của Công ty Tư vấn CDM (Hoa Kỳ); các số liệu và thông tin về tình hình ngập, úng từ trang Web của Trung tâm Điều hành chống ngập; Quy hoạch chống ngập khu vực TP.HCM của Bộ NN&PTNT (2008, Quy hoạch 1547), Quy hoạch thoát nước TP.HCM đến năm 2020 (JICA, 2001), các số liệu và thông tin lên quan tới đề tài trên mạng internet, v.v
3 Các yêu cầu chủ yếu :
(i) Nhận thức được hiệu ứng ngập nước đô thị, nguyên nhân và tác nhân gây hiệu ứng môi trường ngập nước ở TP.HCM và lưu vực NL-TN, bài học kinh nghiệm chống ngập
ở Việt Nam và trên Thế giới
(ii) Nắm được cơ sở lý luận các giải pháp kiểm soát NNĐT
(iii) Cập nhật và phân tích diễn biến hiện trạng ngập, úng ở ở TP.HCM và lưu vực
NL-TN Đặc biệt là hạ tầng cơ sở thoát nước trong Dự án VSMT lưu vực NL-NL-TN
(iv) Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chống ngập và đề xuất điều chỉnh quy hoạch chống ngập trên cơ sở kết hợp kinh nghiệm chống ngập từ các nước khác trên Thế giới
4 Kết quả tối thiểu phải có:
i) Phân tích quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, tiến trình đô thị hoá và NNĐT ở TP.HCM
và lưu vực NL-TN Nghiên cứu tổng quan NNĐT và kinh nghiệm kiểm soát ngập ở Việt Nam và trên Thế giới
Trang 2ii) Phân tích nguyên nhân và tác nhân gây hiệu ứng môi trường chống ngập ở TP.HCM
và lưu vực NL-TN
iii) Phân tích diễn biến và cập nhật hiện trạng ngập, úng và các giải pháp chống ngập đang triển khai ở TP.HCM và lưu vực NL-TN theo các giai đoạn: Trước, trong và sau khi thực hiện dự án VSMT lưu vực NL-TN
iv) Phân tích những tồn tại và bất cập và đánh giá hiệu quả đầu tư chống ngập ở TP.HCM và lưu vực NL-TN Trong đó phân tích chi tiết về hiệu quả các kết cấu công trình của Dự án VSMT lưu vực NL-TN
v) Đề xuất bổ sung các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chống ngập và điều chỉnh quy hoạch chống ngập hiện nay cho TP.HCM thích ứng với BĐKH và NBD trong tương lai
Ngày giao đề tài: 16/04/2017
Ngày nộp báo cáo: 16/07/2017
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : TS Trịnh Hoàng Ngạn
Sinh viên thực hiện : Mạch Thiên Kim MSSV: 1311090303 Lớp: 13DMT02
TP Hồ Chí Minh, 2017
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN IV
LỜI CẢM ƠN V
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI
DANH MỤC BẢNG BIỂU VIII
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ IX
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC –THỊ NGHÈ 6
1.1KHÁI QUÁT VỀ TP.HCM 6
1.1.1 Vị trí địa lý 6
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển TP.HCM 18
1.1.4 Quá trình đô thị hoá, tiềm năng và thách thức ngập nước đô thị của TP.HCM 22
1.2TÓM TẮT DỰ ÁN VSMT THUỘC LƯU VỰC NL-TN 23
1.2.1 Lưu vực kênh NL-TN 23
1.2.2 Các hạng mục thoát nước trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè 24
1.2.3 Dự án Vệ Sinh Môi Trường TPHCM, lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè 27
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHỐNG NGẬP ĐÔ THỊ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 37
2.1TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHỐNG NGẬP ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI 37
2.1.1 Diễn biến ngập nước đô thị trên Thế giới 37
2.1.2 Nguyên nhân gây ngập các thành phố lớn trên thế giới 40
Trang 52.1.3 Nghiên cứu quản lý rủi ro ngập nước đô thị trên Thế giới 41
2.1.4 Kinh nghiệm kiểm soát ngập nước đô thị trên Thế giới: 42
2.2TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ CỦA VIỆT NAM 44
2.2.1 Diễn biến ngập nước đô thị ở Việt Nam 45
2.2.2 Nguyên nhân gây ngập các thành phố lớn ở Việt Nam 47
2.2.3 Giải pháp chống ngập cho các thành phố lớn ở Việt Nam 48
2.3.CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG NGẬP ĐÔ THỊ 49
2.3.1 Một số khái niệm về ngập nước đô thị 49
2.3.2 Các phương pháp tính toán 52
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHỐNG NGẬP CỦA DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TP.HCM THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC-THỊ NGHÈ 61
3.1DIỄN BIẾN NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ TP.HCM VÀ LƯU VỰC NL-TN 61
3.2DIỄN BIẾN NGẬP CÁC GIAI ĐOẠN TRƯỚC, TRONG VÀ SAU KHI THỰC HIỆN DỰ ÁN 61
3.3PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN GÂY NGẬP NƯỚC Ở TP.HCM VÀ LƯU VỰC NL-TN 78
3.3.1 Nguyên nhân gây ngập nước ở TP.HCM 78
3.3.2 Nguyên nhân gây ngập nước ở lưu vực NL-TN 80
3.4HIỆN TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG TIÊU, THOÁT NƯỚC LƯU VỰC NL-TN SAU KHI THỰC HIỆN DỰ ÁN 83
3.4.1 Các giải pháp công nghệ: 83
3.4.2 Giải pháp công nghệ xây dựng cống kiểm soát triều Thị Nghè 84
3.5.PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CHỐNG NGẬP DỰ ÁN VSMT LƯU VỰC NL-TN 88
3.5.1 Hiệu quả kiểm soát triều 88
3.5.2 Hiệu quả tiêu, thoát nước mưa, 89
3.5.3 Hiệu quả về môi trường và chất lượng nước 94
3.5.4 Hiệu quả về cảnh quan đô thị 96
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT BỔ SUNG CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỐNG NGẬP CHO TP.HCM VÀ LƯU VỰC NHIÊU LỘC –THỊ NGHÈ 100
4.1CƠ SỞ KHOA HỌC 100
Trang 64.2ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CHỐNG NGẬP: 103
4.2.1 Đánh giá chung về hiệu quả chông ngập của TP.HCM 103
4.2.2 Nhận xét về hiệu quả chống ngập của Cống ngăn triều Thị Nghè và kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè 104
4.2.3 Nhận xét về hiệu quả chống ngập khi xây dựng 6 cống ngăn triều của Quy hoạch 1547 104
4.2.4 Những tồn tại của giải pháp chống ngập đã và đang thực hiện 104
4.3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ GIẢM NHẸ RỦI RO NGẬP NƯỚC ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG 114
4.3.1 Đề xuất giải pháp phi công trình 114
4.3.2 Đề xuất giải pháp công trình 122
4.5CÁC GIẢI PHÁP KHÁC 128
4.5.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu về nước và môi trường nước 128
4.5.2 Xây dựng cốt nền cho phát triển đô thị 129
4.5.3 Quan trắc lún nền 129
4.5.4 Học tập kinh nghiệm chống ngập ở trong và ngoài nước 130
4.5.5 Xây dựng bản đồ cảnh báo lũ, lụt cho TP.HCM 130
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 132
I.KẾTLUẬN 132
1.1 Những thành công của đề tài: 132
1.2 Những hạn chế của đề tài: 133
II.KIẾNNGHỊ 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 135
TIẾNGVIỆT 135
TIẾNHANH 137
1
Trang 7QUYẾT ĐỊNH 1547/QĐ-TTG 9
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung nghiên cứu, kết quả trong đồ án này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Các thông tin, nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung đồ án của mình
Trường đại học HUTECH không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền
do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
TP Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 06 năm 2017
Trang 9LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 4 năm được học tập và rèn luyện ở trường đại học Công Nghệ Thành phố
Hồ Chí Minh, tôi đã học được rất nhiều điều không chỉ là kiến thức mà còn là những kỹ năng, những trải nghiệm thú vị Việc thực hiện đồ án tốt nghiệp là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự hoàn thành con đường học vấn mà bản thân mình đã đề ra Nó không chỉ giúp sinh viên rà soát lại nền kiến thức được học mà còn cung cấp cho chúng ta cách nhìn nhận sự việc ở nhiều khía cạnh khác nhau, thực tế hơn và khách quan hơn Sự tiếp xúc, quan sát môi trường làm việc thực tế còn giúp ta có dịp học hỏi và rèn luyện thêm cho mình những kỹ năng, trải nghiệm cần thiết Được thưc hiện đồ án tốt nghiệp tại trường đại học Công Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn tận tâm của các thầy cô
là điều may mắn, là sự vinh dự cho bản thân tôi
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp với đề tài “Phân tích hiệu quả chống ngập của dự án
vệ sinh môi trường TP.HCM lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè” tôi xin chân thành gửi lời
án tốt nghiệp của mình đạt được kết quả tốt hơn
Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới mọi người
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 6 năm 2017
Trang 10Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
GIS Geographical Information System - Hệ thống thông tin địa lý
HD Hệ cao độ Hà Tiên - Hansi Datum
HN-72 Hệ cao độ Hòn Dấu (Hải Phòng)
Mekong Delta Plan 2013 – Kế hoạch ĐBSCL 2013
Miền Đông Nam bộ
MRC Mekong River Commission - Uỷ hội sông Mekong
MSL Mực nước biển trung bình
MNTCN Mực nước đỉnh triều cao nhất
Trang 11NL-TN
QCVN
TBNN
Nhiêu Lộc - Thị Nghè Quy chuẩn Việt Nam Trung bình nhiều năm TGLX Tứ giác Long Xuyên
UNICEF United Nations Children’s Fund - Quỹ trẻ em Liên hợp quốc
USD United State Dollar (đô la Mỹ)
Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam
Viện QHTLMN Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam
Trang 12
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tổng hợp số liệu khí tượng trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Hòa - TPHCM 9
Bảng 1.2 Thông số kỹ thuật các kênh, rạch vùng trung tâm TP 11
Bảng 1.3 Mực nước sông thấp nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn 13
Bảng 1.4 Mực nước cao nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn 13
Bảng1.5 Lượng mưa lớn nhất theo thời đoạn trạm Tân Sơn Nhất 17
Bảng 1.6 Thống kê số trận mưa có cường độ trên 100mm trong vòng 3 giờ 18
Bảng 1.7 Diễn biến dân số của TP.HCM 18
Bảng 1.8 Hiện trạng sử dụng đất tại TPHCM 20
Bảng 1.9 Mật độ cống trên lưu vực NL - TN 27
Bảng 2 1 Nhóm đất theo phân loại thuỷ văn 56
Bảng 2 2 Quan hệ giữa độ ẩm nhóm đất và lượng tổn thất dòng chảy 58
Bảng 3 1 Tình hình ngập, úng trên địa bàn TP.HCM năm 2009, thời kỳ các dự án chống ngập đang thi công 68
Bảng 3 2 So sánh các điểm ngập của năm 2011 so với cùng kỳ các năm 2008,2009, 2010 70
Bảng 3 3 Phân bố địa hình lưu vực NL-TN 81
Bảng 3 4 Tổng hợp chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu của phương án kiến nghị chọn 85
Bảng 3 5 Đỉnh trìều tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn 88
Bảng 3 6 Các kịch bản NBD theo các thời kỳ 89
Bảng 3 7 Thông số kỹ thuật hệ thống kênh thoát nước lưu vực NL-TN sau khi thực hiện dự án so sánh trước khi thực hiện dự án 89
Bảng 3 8 Thống kê xu thế mưa trận theo chu kỳ thời gian 92
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Vị trí TP.HCM trong bản đồ Việt Nam 6
Hình 1.2 Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh 6
Hình 1.3 Sự tạo thành chu kỳ thủy triều 16
Hình 1.4 Bản đồ quy hoạch xây dựng TP.HCM năm 2025 22
Hình 1.5 Khu đô thị vệ tinh của TP.HCM 22
Hình 1.6 Sơ đồ mặt bằng tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè 24
Hình 1.7 Lưu vực kênh NL-TN (màu hồng) nằm trong vùng trung tâm thành phố 25
Hình 1.8 Cống ngăn triều Thị Nghè và trạm bơm chống ngập (ảnh bên phải) và mặt bằng cống, nhìn từ trên cao và nhìn từ phía sông Sài Gòn (ảnh bên trái) 29
Hình 1.9 Sơ đồ tổng thể dòng chảy kết hợp nước mưa và nước thải 32
Hình 1.10 Mặt cắt dọc đường ồng vượt sông 34
Hình 2 1 Cảnh ngập, lụt đô thị ở Ấn Độ 37
Hình 2 2 Cảnh ngập, lụt ở Hà Lan trong trận lũ 1953 38
Hình 2 3 Cảnh ngập, lụt trong thành phố New Orleans, Loisiana, Hoa Kỳ 38
Hình 2 4 Dưới chân tháp Effene là biển nước mênh mông 39
Hình 2 5 Quỹ đạo của bão hoạt động trên biển Đông 44
Hình 2 6 Đường Nguyễn Chí Thanh bị ngập sâu 45
Hình 2 7 Nước ngập trên đường phố Đà Nẵng 45
Hình 2 8 Ngập lụt ở Huế năm 1999 46
Hình 2 9 Hình ảnh đường phố trung tâm thành phố bị ngập do triều cường 46
Hình 2 10 Ngập, lụt tại trung tâm thành phố Long Xuyên do trận lũ lịch sử xảy ra trên sông Mekong năm 2000 47
Hình 2 11 Triết lý của Hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững - SUDS 50
Hình 2 12 Đồ thị mô tả các biến số có tổn thất dòng chảy trong phương pháp SCS 55
Hình 3 1 Bản đồ phạm vi ngập, lụt của TP.HCM vào năm 2000 64
Hình 3 2 Cảnh ngập lụt tại TP.HCM ngày 26/11/2007 67
Trang 14Hình 3 3 Vị trí các điểm ngập do mưa ở TPHCM 76
Hình 3 4 Cảnh ngập ngã tư Hàng Xanh, quận Bình Thạnh 76
Hình 3 5 Cảnh ngập trên đường Nguyễn Xí, quận Bình Thạnh 77
Hình 3 6 Nguyên nhân và bản chất của thực trạng ngập, úng ở TP,HCM 80
Hình 3 7 Cống ngăn triều Thị Nghè 84
Hình 3 8 Sơ đồ mặt bằng kênh NL-TN 84
Hình 3 9 Biểu đồ thống kê các trận mưa có vũ lượng lớn theo thời đoạn 180 phút hàng năm tại trạm Tân Sơn Nhất trong giai đoạn 50 năm từ 1952 đến 2004 92
Hình 3 10 Bản đồ thể hiện diện tích bê-tông hóa bề mặt và nhiệt độ tối đa bề mặt 94
Hình 3 11 Cảnh quan 2 bờ kênh Nhiêu Lộc -Thị Nghè 97
Hình 3 12 Cảnh quan kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè hiện nay buổi chiều tà và khi sáng sớm (2017) 98
Hình 4 1 Các yếu tố tác động do BĐKH và NBD tới ngập, úng của TP.HCM 102
Hình 4 2 Người dân ở khu Thanh Đa - Bình Quới (Bình Thạnh) đã quen thuộc với cảnh ngập do triều cường xảy ra trong năm 105
Hình 4 3 Hình ảnh tiêu biểu cho tình trạng ngập triều trong các con hẻm và đường phố ở vùng trũng ở TP.HCM 106
Hình 4 4 Nền hà thấp hơn mặt đường 107
Hình 4 5 Cảnh sân bay Tân Sơn Nhất ngập nước tối 26-8 108
Hình 4 6 Bản đồ địa hình huyện Cần Giờ 109
Hình 4 7 Quy trình quản lý và giảm nhẹ thiên tai lũ, lụt 119
Hình 4 8 Một bãi đậu xe trên đường lắp gạch ca rô để tăng khả năng thấm nước 123
Hình 4 9 Một giải pháp thu trữ nước mưa trên mái 124
Hình 4 10 Thu trữ nước mưa cũng là giải pháp phòng chống ngập, lụt đô thị hiệu quả 125 Hình 4 11 Hầm thu trữ nước mưa dưới các công viên 125
Hình 4 12 Tự nhiên hóa kè sông 127
Trang 15LỜI MỞ ĐẦU 1/ Đặt vấn đề:
Tình trạng ngập úng tại các đô thị được xem là một trong những hiện tượng mang tính quy luật trong quá trình phát triển đô thị tại Việt Nam Trong những thập kỷ gần đây,
đã có không ít thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần do ngập úng gây ra cho con người trên khắp thế giới Mật độ dân số tăng cao, quá trính đô thị hóa xảy ra ngày càng nhanh, diện tích đất bị bê tông hóa theo thời gian là những nguyên nhân khiến cho tình trạng ngập úng cục bộ diễn ra ngày càng phức tạp và khó kiểm soát Điều này làm ảnh hường không ít đến sản xuất, sinh hoạt của người dân cũng như tác động không nhỏ đến môi trường và sức
khỏe con người, các loài sinh vật
Cùng với sự biến đổi khí hậu, hiện trạng ngập úng cục bộ tại nước ta đã và đang là vấn đề nổi bật cần được quan tâm, nhất là ở các thành phố lớn Để chủ động đối phó với tình trạng ngập úng trên địa bàn, TP.HCM đã có những đầu tư không nhỏ về công sức và tiền bạc Việc chi hơn 24.300 tỷ đồng cho dự án vệ sinh môi trường 2 giai đoạn đã thể hiện phần nào sự quan tâm chú trọng của nhà nước trong việc giải quyết vấn đề này Cảnh quan
đô thị đã có thêm diện mạo mới nhưng người dân địa phương ở một số nơi vẫn còn sống trong tâm trạng lo lắng đường xá vẫn bị ngập nước do tình trạng ngập úng đã diễn biến phức tạp hơn
Hiện nay dự án vệ sinh môi trường TP.HCM giai đoạn 1 vừa hoàn thành cụ thể là việc lắp tuyến cống bao nằm dọc kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, đào đường lắp đặt tuyến cống thoát nước, xây dựng trạm bơm nước, nạo vét bùn và đóng cừ bê tông kè hai bên bờ kênh Đây là 1 dự án có quy mô lớn, được thực hiện trong thời gian dài Bên cạnh hiệu quả
mà dự án mang lại, thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang phải đối mặt với những bất cập xảy
ra sau đó Chẳng hạn như tuy tổng số điểm ngập đã giảm nhưng những điểm còn lại đều ngập ở mức độ nghiêm trọng hơn Điều đó đã gây nên không ít tò mò cho các nhà khoa học trong và ngoài nước về nguyên nhân của sự việc này Chúng ta vẫn thấy được kênh Nhiêu Lộc- Thị Nghè hôm nay rất đẹp với cảnh quan trong lành và mát mẻ nhưng không
ai khẳng định rằng khu vực xung quanh dòng kênh này đã hết ngập hoàn toàn Việc thực
hiện đồ án tốt nghiệp với đề tài: Phân tích hiệu quả chống ngập của dự án vệ sinh môi
Trang 16trường TP.HCM lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè” nhằm cung cấp 1 cách nhìn cụ thể hơn
về những mặt đã làm được và những hạn chế còn tồn đọng trong cách thức thực hiện dự án nhằm khắc phục tình trạng ngập úng này
2 Tính cấp thiết của đề tài:
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở hạ lưu lưu vực sông Đồng Nai giáp với biển Đông, nơi có địa hình thấp, khá bằng phẳng với gần 75% diện tích có cao độ dưới 2m, chịu tác động trực tiếp của dòng chảy lũ từ thượng lưu thông qua các sông Đồng Nai, Sài Gòn cũng như những tác động trực tiếp từ triều biển Đông nên thường xuyên xảy ra tình trạng ngập úng
Những năm gần đây khu vực TP.HCM có những sự thay đổi về điều kiện thời tiết: triều cường tại nhiều điểm liên tục lập đỉnh mới, mùa mưa kéo dài và diễn biến bất thường hơn càng làm gia tăng áp lực đối với hệ thống thoát nước cũ kỹ, diện tích ngập úng ngày càng mở rộng ở nhiều quận nội thành
Tình hình ngập úng từ trận mưa lớn những năm gần đây cho thấy người dân đô thị
đã quen trong cảnh đi lại, đẩy xe trong biển nước bẩn mênh mông Những khu vực chênh lệch độ cao, nước mưa đổ về vùng trũng chảy xiết, bảng hiệu, xe máy và các thiết bị rời rạc bị cuốn trôi, người dân xung quanh ùa ra đường để chặn và kéo xe lên lề tạo nên một khung cảnh hỗn độn như một cuộc vật lộn giữa người và dòng nước Mặt khác, việc tiếp xúc với nước bẩn thường xuyên sẽ gây ra các bệnh viêm nhiễm về da, ảnh hưởng sức khỏe
và chất lượng cuộc sống người dân Mỗi khi mưa lớn, nước mưa cuốn trôi tất cả bụi và vi khuẩn từ nơi này đến nơi khác, tạo cơ hội cho các mầm bệnh lây lan gây nên dịch bệnh đe dọa an sinh của cả thành phố
Đại diện Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc gia, Bộ Xây dựnglà ông Ngô Trung Hải đánh giá “Với những đô thị không chịu ảnh hưởng của thủy triều thì giải quyết ngập úng tương đối dễ Chẳng hạn như ở Hà Nội, sẽ không quá khó khăn để giải quyết vấn đề ngập úng bởi thành phố nằm xa biển, xuôi hẳn về khu vực phía Nam nên lượng nước mưa sẽ đổ ra sông Hồng Nếu thành phố hoàn thiện tất cả các giải pháp thoát nước đô thị thì sẽ khắc phục được ngập úng Tuy nhiên, với những đô thị phải chịu ảnh
Trang 17Theo báo cáo của UBND TP Hồ Chí Minh, từ năm 2005 đến nay, thành phố đã chi khoảng 24.300 tỷ đồng để thực hiện các dự án chống ngập như nạo vét kênh rạch, xây dựng
hệ thống thoát nước Trong đó, vốn ngân sách khoảng 9.000 tỷ đồng, còn lại là nguồn vốn ODA Nhưng nhận định của một số người dân ở đây thì dự án này chưa thực sự đạt hiệu quả Thực tế cấp thiết, Tp.HCM cần có những nghiên cứu, báo cáo đánh giá tình trang ngập úng đô thị, xác định nguyên nhân gây ngập, phân vùng ngập, ý kiến đóng góp nâng cao khả năng thoát nước đô thị để làm cơ sở đề xuất các giải pháp chống ngập hiệu quả hơn cho tương lai
Để có thể từng bước thực hiện mục tiêu chống ngập cụ thể, ta cần có cái nhìn khách quan, hơn về những sự thay đổi mà dự án về sinh môi trường giai đoạn 1 mang lại Vì vậy
việc thực hiện đề tài “Phân tích hiệu quả chống ngập của dự án vệ sinh môi trường TP.HCM lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè” là hợp lý, rất cần thiết và đúng thời điểm Kết
quả nghiên cứu hy vọng sẽ đáp ứng yêu cầu bức xúc cần giải quyết phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội (KT-XH) bền vững gắn với việc bảo vệ môi trường, sinh thái
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Bảo vệ sức khỏe và tài sản của cư dân trong vùng ngập úng và góp phần điều chỉnh chiến lược quản lý, giảm nhẹ rủi ro thiệt hại do ngập úng gây ra, đảm bảo phát triển KTXH bền vững cho Tp.HCM
Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường cũng như bảo về sự sống của chính mình nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững toàn diện
3.2 Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở phân tính tóm tắt tình trạng ngập úng trước khi thực hiện dự án VSMT lưu vực NL-TN Tìm hiểu các giải pháp chống ngập đã và đang thực hiện bằng vốn ODA và vốn trong nước
Phân tích hiệu quả chống ngập sau khi hoàn thành dự án VSMT lưu vực NL-TN
Đánh giá những mặt tồn tại của dự án VSMT lưu vực NL-TN Đề xuất bổ sung giải pháp giảm thiểu rủi ro ngập, úng lưu vực NL-TN
Trang 184 Phương pháp nghiên cứu:
Thu thập số liệu thông tin cần thiết liên quan tới đề tài tài từ các nguồn tư liệu chính thức, trên internet, báo chí v.v
Phân tích thống kê và phân tích tổng hợp các khu vực hay xảy ra ngập úng của thành phố…
So sánh lý thuyết và thực tiễn
So sánh quá khứ và hiện tại
So sánh giữa mục tiêu và kết quả
Điều tra, phỏng vấn kiểm chứng thực tế người dân sống dọc hai bờ kênh NL-TN
Thừa kế có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trước đây
Tham vấn, trao đổi với giáo viên hướng dẫn và các chuyên gia khác
5 Phạm vi, giới hạn và đối tượng nghiên cứu
5.1 Phạm vi nghiên cứu:
Vùng nghiên cứu là diện tích Tp.HCM và vùng lân cận Trong đó tập trung phân tích hiện trạng ngập nước khu vực các quận nội thành
5.2 Giới hạn của đề tài:
Tìm hiểu tình hình diễn biến ngập nước của các quận nội thành nằm trong khu vực NL-TN trước và sau khi thực hiện các dự án vệ sinh môi trường, đánh giá hiệu quả chống ngập của dự án này Từ đó đề xuất bổ sung giải pháp giảm thiểu rủi ro ngập, úng lưu vực NL-TN
5.3 Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống sông, kênh, rạch của thành phố Hồ Chí Minh và vùng dự án NL-TN Các
vị trí ngập nước trong vùng nội thành, hệ thống tiêu thoát nước và các giải pháp công trình chống ngập đã và đang thực hiện theo các dự án đầu tư bằng vốn trong và ngoài nước Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 19Trên cơ sở phân tích diễn biến, tìm hiểu nguyên nhân của hiệu ứng ngập, úng đô thị những năm trước và sau khi thực hiện dự án Từ đó, nhìn nhận sự thay đổi của tình hình ngập nước ở vùng NL-TN Căn cứ vào đó, đề xuất những giải pháp được tính toán trên cơ
sở lý thuyết khoa học, thực tiễn Rõ ràng, khi lắp đặt tuyến cống thoát nước hai bên bờ kênh thì khả năng thoát nước sẽ được nâng cao Mặt khác cống ngăn triều cũng đã được xây dựng để điều tiết lượng nước của kênh Nguyên nhân khu vực NL-TN vẫn còn ngập cục bộ là vấn đề đã và đang được người dân và nhà nước quan tâm Phương pháp nghiên cứu, so sánh giữa mục tiêu và kết quả dựa trên số liệu, thông tin đáng tin cậy có ý nghĩa khoa học cao
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Vấn đề ngập nước đô thị không chỉ xảy ra ở TP.HCM mà còn ở các thành phố khác của Việt Nam nên “phân tích hiệu quả chống ngập của dự án vệ sinh môi trường” là đề tài mang tính thực tế cao Là căn cứ vững chắc cho các nghiên cứu giải pháp chống ngập của trường HUTECH, rút ra những kinh nghiệm xương máu để góp phần xây dựng hoàn thiện hơn những dự án vệ sinh môi trường sau này Rút ngắn đoạn đường hoàn thành mục tiêu chống ngập cho cả thành phố đến mức ngắn nhất
7 Cấu trúc báo cáo
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, báo cáo chính có 4 chương: chương 1 khái quát về Tp.HCM, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, phương hướng phát triển và tóm tắt dự án VSMT thuộc lưu vực NL-TN Chương 2 trình bày tổng quan nghiên cứu chống ngập đô thị và các phương pháp giảm ngập, lụt Chương 3 phân tích hiện trạng ngập và các giải pháp chống ngập đã thực hiện vùng dự án lưu vực NL-TN, Xác định những tồn tại của dự án VSMT lưu vực NL-TN về giải pháp chống ngập Chương 4 đề xuất bổ sung các giải pháp nâng cao hiệu quả chống ngập cho lưu vực NL-TN Ngoài báo cáo chính, kèm theo các phụ lục hỗ trợ và tài liệu tham khảo
Trang 20CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC –THỊ NGHÈ
1.1 Khái quát về TP.HCM
1.1.1 Vị trí địa lý
TP.HCM nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10010’ – 11010’ vĩ độ Bắc và 106022’ –
106045’ kinh độ Đông Điểm cực Bắc là xã Phú Mỹ (huyện Cần Giờ), điểm cực Tây ở xã Thái Mỹ (huyện Củ Chi) và điểm cực Đông thuộc xã Tân An (huyện Cần Giờ) Chiều dài của Thành phố theo hướng Tây Bắc - Đông Nam là 150 km, theo chiều Tây - Đông là 75
km và có 12 km chiều dài bờ biển Trung tâm Thành phố cách bờ biển Đông khoảng 59
km theo đường chim bay và cách Thủ đô Hà Nội 1730 km theo đường bộ về phía Nam Thành phố có ranh giới với các địa phương như sau: phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
(Nguồn http://www.congdantretphcm.com/)
Hình 1.2 Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh Hình 1.1 Vị trí TP.HCM trong bản đồ
Trang 21Theo số liệu công bố trên trang Web, cổng điện tử của Uỷ ban nhân dân (UBND), tổng diện tích tự nhiên của TP.HCM là 2.095 km2, chiếm 6,36% diện tích cả nước, với 24 đơn vị hành chính Trong đó có 19 quận nội thành chiếm diện tích 442,13 km2 (bao gồm
12 quận mang tên số từ 1 đến 12 và 7 quận mang tên chữ gồm Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Bình Tân, Tân Phú và Thủ Đức) và 5 huyện ngoại thành rộng 1.652,88km2 (Bình Chánh, Nhà Bè, Củ Chi, Cần Giờ và Hóc Môn) Hình 1.1 Mô tả bản
đồ khu vực TP.HCM
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1 Địa hình và địa mạo
TP.HCM có địa hình đa dạng, là khu vực chuyển tiếp giữa vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ nên điều kiện tự nhiên đan xen giữa các thềm, bậc và dạng địa hình đồi dốc thấp ở phía Tây Bắc, Đông Bắc thành phố và địa hình thấp bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông rạch ở phía Nam, theo cao độ địa hình có thể phân thành ba vùng như sau:
(a) Vùng 1: Có cao trình mặt đất dưới 2,0 m MSL: đây là vùng đồng bằng thấp, trũng, bị
chua phèn ở phía Tây – Tây Nam thành phố, các vùng ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và phần lớn diện tích huyện Nhà Bè, Cần Giờ Do địa hình thấp, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông rạch nên vùng này thường xuyên bị ngập nước và chịu tác động mạnh của chế độ thủy triều trong khu vực
(b) Vùng 2: Có cao độ mặt đất từ 2,0 – 5,0 m MSL: là khu vực chuyển tiếp giữa Vùng 1
và Vùng 3, vùng này bao gồm khu vực nội thành, các vùng tập trung dân cư ở các huyện Hóc Môn, Bình Chánh, Củ Chi và ở các cồn gò rải rác của Vùng 1 Hoạt động sản xuất chủ yếu là trồng rau màu, cây ăn trái và cây công nghiệp
(c) Vùng 3: Có cao độ mặt đất rừ 5,0 – 25,0 m MSL: tập trung ở các huyện Củ Chi, bắc
Thủ Đức, các quận 9 và 12 là vùng tập trung dân cư Bảng 1.1 thống kê địa hình theo diện tích và cao độ theo hệ VN.2000 (cao độ mặt chuẩn gốc tại trạm thuỷ văn Hòn Dấu, huyện Kiến An, Thành phố Hải Phòng, nơi chịu ảnh hưởng chế độ nhật triều biển Đông)
d) Nhận xét: Nếu xem vùng đất thấp hơn cao độ +2,0m MSL thì có đến 60 - 70% diện tích
của Thành phố có thể bị ảnh hưởng ngập nức do chế độ bthuỷ triều
1.1.2.2 Địa chất và thổ nhưỡng:
Trang 22Số liệu được thu thập từ kết quả nghiên cứu, khảo sát địa chất và thổ nhưỡng được thực hiện từ trước tới nay kết hợp kết quả khảo sát bổ sung của các chuyên gia Nhật (JICA) trong giai đoạn 1998-2000, cho thấy cấu tạo địa chất của khu vực nghiên cứu gồm lớp trầm tích Holocene có độ dày từ 2,5m đến 35m, nằm trên lớp trầm tích Pleistocene với chiều dày không thể xác định được do chiều sâu hố khoan lớn nhất chỉ là 50m Chiều dày lớp trầm tích Holocene là khoảng 10 m, chạy dọc theo tuyến cống bao ở các quận 1, 4 và 5, nhưng ở quận 8 có chiều dày lớn hơn 20m Lớp trầm tích Holocene là sét hữu cơ dẻo thấp hoặc cao, rất mềm, sét cát (hạt mịn dính) và lớp sét mịn hoặc lớp cát sét rời, rất rời Lớp
đất trầm tích này có khả năng chịu lực thấp
Theo bản đồ đất TP.HCM do Phân Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam (Sub-NIAPP) lập cho thấy đặc trưng thổ nhưỡng hình thành 17 loại đất, tập hợp trong
6 nhóm chính sau đây:
Nhóm đất phù sa và phù sa trên nền phèn: Với tổng diện tích 12.573 ha, chiếm 6% diện
tích tự nhiên Loại đất này phân bố ven sông Đồng Nai, Sài Gòn, phía Bắc huyện Nhà Bè, Nam Bình Chánh Đất phù sa thích hợp cho cây lúa nước (vùng thấp), rau màu (vùng cao)
Nhóm đất xám : Với diện tích 45.696 ha (21,8%), phần lớn diện tích phân bố ở các vùng
cao Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, Thủ Đức và các quận nội thành Loại đất này thích hợp cho rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Đất đỏ vàng : Có diện tích không lớn 436 ha (2,1%) phân bố ở Thủ Đức, Củ Chi Loại đất
này thích hợp cho màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Nhóm đất phèn : Có tổng diện tích lớn nhất 108.474 ha, chiếm 51% diện tích tự nhiên,
phân bố ở huyện Cần Giờ, Nam Bình Chánh, vùng trũng nông trường Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai, quận 2, quận 9 Đa phần là rừng ngập mặn, một số nằm sâu trong đất liền có đủ nước ngọt đã được cải tạo để trồng lúa, mía, nhà vườn
Đất mặn : Với diện tích 2,1% diện tích tự nhiên, phân bố ở Nam Bình Chánh, được sử
dụng trồng lúa ở những nơi có nước tưới
Nhóm đất cát : Với diện tích 1.312 ha, chiếm 0,6% diện tích tự nhiên, phân bố ở huyện
Cần Giờ
Trang 231.1.2.3 Đặc điểm khí tượng
TP.HCM nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, đặc trưng cơ bản có một bức xạ dồi dào, một nền nhiệt độ tương đối ổn định trong năm và sự phân hóa mưa gió theo mùa khá rõ rệt Đây là vùng khí hậu ôn hòa, dao động nhiệt độ giữa các thời điểm trong năm, trong ngày không cao, độ ẩm không quá cao như ở vùng Đồng bằng sông Hồng hoặc ĐBSCL Bảng 1.1 dưới đây tóm tắt các thông số cơ bản về đặc điểm khí tượng
Bảng 1.1 Tổng hợp số liệu khí tượng trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Hòa - TPHCM
(Nguồn: Sở tài nguyên môi trường Tp.HCM)
1.1.2.4 Tài nguyên nước
a) Tài nguyên nước ngầm
Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú Nhưng về phía nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường
bị nhiễm phèn, nhiễm mặn Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–
200 m (tầng trầm tích Miocen) Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng
Trang 24nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước
bổ sung quan trọng
b) Tài nguyên nước mặt
(i) Mạng lưới sông:
Nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, TP.HCM có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng Sông Ðồng Nai Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km² Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính
của thành phố Sông Đồng Nai đổ ra biển bằng 2 cửa chính: cửa Soài Rạp và cửa Lòng
Tàu, với hình dạng và kích thước rất khác nhau: (i) Cửa Soài Rạp đổ ra vịnh Soài Rạp, nông và rộng (được hình thành chủ yếu theo quy luật động lực biển) ; (ii) Cửa Lòng Tàu
đổ ra vịnh Ghềnh Rái, lòng sâu vách đứng (được hình thành chủ yếu theo quy luật kiến tạo) Hình dạng và kích thước của sông ảnh hưởng đến tiêu, thoát nước và khả nằng truyền triều vào nội địa Đoạn sông Đồng Nai chảy qua Tp.HCM với chiều dài 87 km, có rất nhiều cửa tháo nước từ các quận 9, 7, Nhà Bè và huyện Cần Giờ
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố
Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng Sông Sài Gòn chảy qua 10 quận và vùng trung tâm Thành phố: 2 huyện Củ Chi (cửa vào phía Bắc) và Hóc Môn, 8 quận gồm quận 12, Gò Vấp, Bình Thạnh, Thủ Đức, 2, 9, 1, 4 Ảnh hưởng của sông Sài Gòn đối với tình trạng úng, ngập, tiêu, thoát nước là trực tiếp và mạnh mẽ nhất
Sông Vàm Cỏ có diện tích lưu vực 6155 km2, với chiều dài 283 km, khởi nguồn trong lãnh địa Cămpuchia, chảy qua địa phận tỉnh Long An rồi đổ ra cửa Soài Rạp, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các cửa thoát nước lớn phía Nam và Tây- Nam của Thành phố qua sông Vàm Cỏ Đông và sông Cần Giuộc
Sông Nhà Bè có nhiều sông, rạch nội bộ vùng triều, ngắn, không có nguồn ở phía
Trang 25Lộ, sông Kênh Hàng Sông Nhà Bè có mạng lưới thuỷ lực dày đặc như sông Cần Giuộc, sông Chợ Đệm, rạch Cây Khô, Bà Phó, Ông Lớn và rất nhiều rạch và kênh nhỏ khác Trên thượng nguồn hệ thống sông Đồng Nai –Sài Gòn đã xây dựng hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng (sông Sài Gòn), các hồ thuỷ điện, như: Trị An (sông Đồng Nai), Thác Mơ, Cần Đơn, Phước Hoà (trên sông Bé) và nhiều hồ chứa khác v.v Những hồ chứa này có tác dụng điều tiết dòng chảy, làm tăng sự an toàn cho vùng hạ lưu của hai sông Tuy nhiên sự điều tiết dòng chảy của các hồ phụ thuộc vào công năng của chúng và sự quản lý của con ngừơi Các hồ chứa trên đây hầu như không có dung tích chuyên dụng phòng lũ (như hồ thuỷ điện Hoà Bình, trên sông Đà) mà chỉ có dung tích chứa lũ thiết kế nhằm múc đích bảo vệ an toàn cho công trình Do đó việc xả lũ trong mùa mưa có ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy sau
hạ lưu sau đập, đặc biệt là khu vực Tp.HCM
(ii) Hệ thống kênh, rạch vùng trung tâm TP.HCM
Trong vùng nội thành có 5 hệ thống kênh, rạch chính, với các thông số kỹ thuật được ghi trong Bảng 1.2 dưới đây :
Bảng 1.2 Thông số kỹ thuật các kênh, rạch vùng trung tâm TP
4 R.Cầu Bông, Cầu Sơn – R.Lăng 5.500 420 15 2 – 3
5 T.Luơng – B.Cát – R.Nước Lên 32.900 14.900 45 2 – 6
Ngoài hệ thống kênh, rạch trên đây còn có các kênh đào, như: Suối Cái - Xuân Trường thuộc quận Thủ Đức và kênh An Hạ, kênh Xáng tại huyện Bình Chánh nối với sông Vàm
Cỏ Đông và nhiều kênh rạch khác
Trang 261.1.2.5 Chế độ thủy văn và mưa
TP.HCM nằm trên vùng cửa các con sông lớn: Lòng Tàu, Soài Rạp là các cửa thoát nước của cả hệ thống sông Đồng Nai, Sài Gòn nên một mặt chịu áp lực của nguồn nước từ thượng lưu đổ xuống trong mùa mưa lũ, mặt khác là áp lực của thuỷ triều biển Đông từ dưới lên quanh năm Ngoài ra tác dộng chế độ thuỷ văn sông Vàm Cỏ Đông vào hệ thống kênh rạch phía Tây Nam Thành phố
Hầu hết các sông, rạch TP.HCM đều chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều, với biên độ khoảng từ 3 - 4m thuộc loại lớn nhất của cả nước và trong khu vực Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều thâm nhập sâu vào nội địa qua hệ thống kênh rạch, hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành Mực nước triều bình quân cao nhất
Chế độ thuỷ văn đặc biệt trong lưu vực là những trận lũ lớn đã xảy ra trên hệ thống sông bao quanh Thành phố vào các năm 1952, 1996, 2000, trùng hợp với những đợt triều cường xuất hiện các năm 2006, 2007 và nhất là chuỗi năm liên tục từ 2009 đến 2014 đã gây nên tình trạng ngập nước đô thị nghiêm trọng
a) Đặc điểm thuỷ văn sông Sài Gòn và kênh NL-TN
Hầu hết các sông, rạch trong Thành phố đều chịu ảnh hưởng dao động của chế độ bán nhật triều không đều biển Đông Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều xâm nhập sâu vào các kênh, rạch trong Thành phố nên thường gây ra tình trạng ngập úng cục bộ ở khu vực nội thành
Chế độ thủy văn của sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng rõ rệt của thủy triều lên đến tận
Trang 27sông Đồng Nai 60km Lưu lượng thủy triều của sông Sài Gòn ở vàm kênh NL-TN (15km thượng nguồn của hợp lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai), vào khoảng ± 3.000m3/s Ở Phú Cường (45km thượng nguồn vàm kênh NL-TN), lưu lượng thủy triều khoảng
±1.500m3/s Lưu lượng thủy triều của kênh NL-TN ở vàm kênh vào khoảng ±75m3/s
Ở lưu vực thấp của hệ thống sông Đồng Nai, dòng chảy thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thủy triều từ cửa sông và các dòng chảy từ thượng nguồn, được điều tiết bởi các công trình thủy lợi và thuỷ điện
Theo kết quả quan trắc tại trạm Phú An năm 2009 cho thấy: Mức nước triều bình
quân cao nhất tại sông Sài Gòn là 1,385m MSL Bảng 1.3 mô tả trị số mực nước tháng cao nhất là tháng 1 (1,54m MSL) và tháng 11 (1,56m MSL) Trong khi Bảng 1.4 trình bày mực
nước tháng thấp nhất là tháng 6 (- 2,27m MSL) và tháng 7 (-2,21m MSL) Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ, độ mặn 0,4‰ có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến Lái Thiêu; có năm đến tận Thủ Dầu Một và trên sông Đồng Nai đến Long Đại Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn, nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều
Bảng 1.3 Mực nước sông thấp nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn
(Nguồn: Niên giám thống kê 2009 thành phố Hồ Chí Minh)
Bảng 1.4 Mực nước cao nhất các tháng trong năm của sông Sài Gòn
Trang 28(Nguồn: Niên giám thống kê 2009 thành phố Hồ Chí Minh – trạm Phú An)
Các dòng chảy vào sông Sài Gòn:
Dòng chảy sông Thị Tính ước tính vào khoảng 5,0 m3/s Lưu lượng của lưu vực NL-TN ước tính khoảng 1,16m3/s
Dòng chảy ra khỏi sông Sài Gòn:
Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT, các khu công nghiệp và dân cư trong TP.HCM, Biên Hòa và Thủ Dầu Một đang sử dụng lượng nước khoảng 13,5m3/s từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, đặc biệt là các nhà máy nước Bến Than, Bình An, Thiên Tân,
và Nhà máy Quốc lộ No.1 đang sử dụng 21,0m3/s Lượng nước lấy từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai dùng cho thủy nông ước tính khoảng 20m3/s
Dòng chảy trong kênh NL-TN:
Chế độ thủy văn lưu vực NL-TN chịu ảnh hưởng từ sông Sài Gòn, theo chế độ bán nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong thấng đều có 2 lần triều lên 2 lần triều xuống nhưng
có một số ngày chỉ có 1 lần triều lên hoặc 1 lần triều xuống Sự chênh lệch mực nước giữa triều cường và triều kém dao động trong khoảng 2,5 – 4m
Do kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè có đáy sông nông, nhỏ và hẹp cùng với ảnh hưởng của chất thải gây cản trở dòng kênh Ngoài ra do độ cao địa hình thay đổi nhanh nên ảnh hưởng của thủy triều không mạnh mẽ dẫn đến nước bị lắng đọng gây ô nhiễm lòng kênh
Trang 29Các loại nguồn nước từ mưa, từ nước thải, từ thủy triều hình thành nguồn nước kênh NL-TN Nguồn nước kênh gắn liền với các điều kiện cụ thể của lưu vực, phụ thuộc chặt chẽ vào thời điểm xuất hiện của từng quá trình Mỗi loại sẽ có những tính chất, những đặc trưng riêng về độ lớn và cường suất biến đổi hàm lượng vật chất gây mức độ độc và nó sẽ quyết định nên tính chất cơ bản về nguồn nước của kênh NL-TN
Vào mùa mưa, nhờ lượng nước mưa lớn, kênh bớt ô nhiễm hơn do nước thải được pha loãng và đưa ngay ra sông Sài Gòn Kênh bị thu hẹp và bồi lấp nên khi mưa lớn, lượng nước mưa không thoát ngay ra sông mà kéo dài trong nhiều giờ, nhờ đó lưu lượng dòng kênh vẫn lớn hơn mùa khô giảm bớt ô nhiễm Tuy nhiên, bùn lắng đọng trên kênh vẫn phân hủy tạo mùi hôi Kết quả đo đạc lưu lượng trên kênh cho thấy:
Lưu lượng mùa khô: tỉ lệ với biên độ triều (thay đổi theo ngày, tháng và vị trí mặt cắt đo đạc) Càng xa cửa rạch mực nước đỉnh triều và biên độ mực nước càng giảm Do đó, nước từ cầu Kiệu đến vàm kênh tiêu thoát nước dễ dàng hơn đoạn bên trên thượng nguồn
Lưu lượng mùa mưa: khu vực phía Bắc của lưu vực, mạng lưới thoát nước còn thưa thớt, phần lớn nước thấm giúp điều hòa một phần lưu lượng Lượng nước mưa rất lớn so với nước thải (gấp hơn 20 lần) tạo dòng chảy mạnh trong kênh Tuy nhiên, dòng chảy này không đủ sức cuốn theo toàn bộ lượng cặn lắng đọng trên kênh, vẫn có sự phân hủy chất hữu cơ ngay trên kênh gây ô nhiễm với mức độ nhẹ hơn mùa khô
b) Chế độ thủy triều
Hệ thống sông, kênh, rạch ở TP.HCM theo chế độ bán nhật triều, có 2 đỉnh triều (một cao một thấp) và 2 chân triều (một cao một thấp) Khác biệt giữa mực nước triều cường và mực nước triều ròng thay đổi trong khoảng 2,7 - 3,3 m ở gần Tp HCM và 2,5 - 4,0 m tại các cửa sông Do cao trình thấp (dưới 2,5 m), hầu hết các sông, rạch đều bị ảnh hưởng của thủy triều Một chu kỳ thủy triều đầy đủ kéo dài trung bình 12 - 15 ngày, gồm
5 - 7 ngày triều cường và 3 - 5 ngày triều ròng Thời gian triều lên thường vào khoảng 15
- 20 giờ, trong khi đó thời gian triều xuống chỉ vào khoảng 4 - 8 giờ Có ba chu kỳ thủy triều mỗi năm:
Chu kỳ triều cao tháng 9 đến tháng 12
Chu kỳ triều trung bình tháng 1 đến tháng 3
Trang 30Chu kỳ triều thấp tháng 4 đến tháng 8
Hình 1.3 Sự tạo thành chu kỳ thủy triều
Hình 1.3 mô tả sự hình thành chu kỳ thuỷ triều Trong khoảng nửa tháng có 3 - 5 ngày triều lên, xuống mạnh (lên rất cao, xuống rất thấp) gọi là kỳ nước cường; sau đó độ lớn triều giảm dần, kéo dài chừng 4-5 ngày, tiếp đó là 3-5 ngày triều lên xuống rất yếu gọi là kỳ nước kém Kế đó, độ lớn triều tăng dần trong vòng 4-5 ngày và bước vào kỳ nước cường tiếp theo Các kỳ con nước lặp lại một cách tuần hoàn nhưng khác nhau về cường độ Kỳ triều cường xảy ra vào tuần trăng rằm và đầu tháng âm lịch, khi mặt trăng, mặt trời và trái đất nằm trên một đường thẳng Tuần triều kém có độ lớn triều cực tiểu xảy ra vào thời kỳ trăng non và trăng già Trong trường hợp này, mặt trăng và mặt trời tạo với trái đất thành một góc vuông mà đỉnh là trái đất [12]
Trên sông Sài Gòn, ảnh hưởng của thủy triều kéo dài lên đến đập Dầu Tiếng tốc độ của triều lên rất nhanh, bình trung 20 – 25km/giờ Tại cầu Thị Nghè 1, gần vàm sông Sài Gòn, đỉnh triều cao nhất 1,3m MSL, thường xảy ra trong tháng 12 đến tháng 1, mực nước thấp nhất khoảng – 15m MSL xảy ra vào tháng 7 và 8
Trong hệ thống kênh, rạch nội đồng, mức độ ảnh hưởng của thủy triều phụ thuộc vào địa hình lòng kênh, rạch (độ sâu, chiều rộng, quá trình truyền triều) đối với cửa sông
Ở đây cần lưu ý là tốc độ chảy ra phần lớn đều lớn hơn tốc độ chảy vào, chỉ có một vài nơi tốc độ chảy ra bằng tốc độ chảy vào Khi đó ở một số kênh, rạch thì khối lượng nước bẩn chưa chảy ra khỏi cửa kênh thì đã bị nước đẩy trở vào làm cho tình hình ô nhiễm càng trầm trọng thêm (vì tính chất bán nhật triều- hai lần nước lớn và hai lần nước ròng) Thời gian quá ngắn chỉ 6 giờ nên lượng nước không kịp chảy ra ngoài sông chính và trên kênh rạch
Trang 31còn tồn tại vùng giáp nước Chính vì vậy nơi đây thường bị ô nhiễm rất nặng Ảnh hưởng của thủy triều lên khá xa trên 2 sông: sông Đồng Nai lên đến Trị An cách biển 150km; sông Sài Gòn lên đến Dầu Tiếng cách biển 180km Cùng với thủy triều là sự xâm nhập mặn, vào mùa mưa ảnh hưởng của thủy triều đối với độ mặn trên sông thấp nhưng về mùa khô, do lưu lượng sông giảm nhiều, ảnh hưởng rất lớn
c) Chế độ mưa
Số liệu mưa được thu thập từ 7 trạm đặt trong và xung quanh phạm vi nghiên cứu
Đó là các trạm Tân Sơn Nhất, Hóc Môn, Lê Minh Xuân, Bình Chánh, Nhà Bè, Hà Tiên và Long Sơn Trong số này, trạm Tân Sơn Nhất có thiết bị đo mưa tự ghi duy nhất, là trạm có
số liệu lượng mưa thời đoạn ngắn
Bảng1.5 Lượng mưa lớn nhất theo thời đoạn trạm Tân Sơn Nhất
Thời đoạn mưa (phút) Lượng mưa lớn nhất (mm)
Nguồn: Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam, Bộ NN&PTNT
Đặc điểm mưa ở TP.HCM nói riêng và các trạm nằm trong vùng hạ lưu nói chung
có tính chất mưa trận cách quãng, thường không có những trận mưa lớn kéo dài liên tục
nhiều ngày Đây là điều kiện thuận lợi cho công tác chống ngập đô thị
Các cơn mưa mang tính chất cực đoan gây ngập thường tập trung trong thời kỳ từ tháng VI đến tháng X, đôi khi tháng XI Lượng mưa lớn nhất (mm) theo thời đoạn mưa ở trạm Tân Sơn Nhất (thống kê theo chuỗi số liệu vũ lượng (1953 – 2002) được mô tả trong Bảng 1.6
Trang 32Bảng 1.6 Thống kê số trận mưa có cường độ trên 100mm trong vòng 3 giờ
100 mm trong thời đoạn 180 phút
1.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển TP.HCM
1.1.3.1 Hiện trạng
a) Dân số
Theo thống kê chính thức, dân số Sài Gòn năm 1975 là 3.498.120 người Tính đến năm 2012, dân số toàn thành phố đạt gần 7.750.900 người (chiếm khoảng 8,4% dân số cả nước), với diện tích 2095,6 km2, mật độ dân số đạt 3699 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 6.433.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.317.700 người Dân
số nam đạt 3.585.000 người, trong khi đó nữ đạt 3.936.100 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân
số phân theo địa phương tăng 7,4 ‰ Trong các thập niên gần đây, TP.HCM luôn có tỷ số giới tính thấp nhất Việt Nam, luồng nhập cư từ các tỉnh khác vào Thành phố luôn có số nữ nhiều hơn số nam Năm 2015, Thành phố có 8.224.000 triệu người, đứng đầu về dân số cả nước Nếu tính cả số cư dân tạm trú, luân chuyển thì ước tính có khoảng hơn 10 triệu người đang sinh sống, học tập và làm việc trong TP Bảng 1.6 mô tả diễn biên dân số của Thành
phố những năm gần đây
Bảng 1.7 Diễn biến dân số của TP.HCM
Trang 33Lịch sử phát triển dân số của Thành phố Hồ Chí Minh
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều Trong khi một số quận như 4, 5,10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành Cần
Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km²
b) Hiện trạng sử dụng đất
Diện tích của toàn Tp HCM là 2.093,7 km2, vùng nội thành có diện tích là 440,0
km2 chiếm 21,02%, vùng ngoại thành có diện tích 1.653,7 km2 chiếm 78,98% Hiện trạng
sử dụng đất được trình bày trong Bảng 1.7
Ở nội thành hầu hết tất cả các khu vực đã được xây dựng thành các khu dân cư ngoại trừ một số vùng ven của quận Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, 6 và 8 Vẫn còn tồn tại một
số vùng đất nông nghiệp ở các khu vực giáp ranh giữa nội thành và ngoại thành Vùng đất nông nghiệp này cũng sẽ được phát triển trong tương lai gần Có hai khu thương mại và dịch vụ chính, quận 1 và giữa quận 5 và 6 Phường Bến Nghé hướng về sông Sài Gòn ở quận 1 là khu thương mại lớn nhất và cũng là khu du lịch của TP HCM Chợ Bình Tây khu vực Chợ lớn cũng là khu thương mại
Có xu hướng lập khu công nghiệp dọc theo kênh Lý do chính là khai thác giao thông thủy làm phương tiện chính để vận chuyển hàng hóa Dọc theo kênh Tàu Hũ-Bến Nghé trong quận 8, 5, 4 và quận 1 hiện có khu công nghiệp chính Một khu công nghiệp lớn khác dọc theo các kênh Tân Hóa-Ông Buông-Lò Gốm trong quận 6 và Tân Bình Các
Trang 34khu công nghiệp khác chủ yếu nằm dọc theo các kênh ở quân Bình Thạnh, và khu vực dọc đường Cách Mạng Tháng Tám tới đường Âu Cơ ngang qua phía Bắc và phía Nam quận Tân Bình Không đủ không gian mở cho dân cư vì nội thành chỉ có rất ít công viên và khu cây xanh
Ở ngoại thành, hiện nay đất được sử dụng cho mục đích chủ yếu là nông nghiệp Những khu vực dân cư ở ngoại thành nằm rải rác so với nội thành ngoại trừ dân cư xung quanh các trung tâm quận Có ba khu công nghiệp chủ yếu Khu thứ nhất trên tỉnh lộ 15 nối với phía nam ngang qua quận 7 và Nhà Bè Đây là khu Chế xuất Tân Thuận nằm ở phường Tân Thuận, quận 7 Khu thứ hai nằm dọc xa lộ Hà Nội qua quận 2, 9, và quận Thủ Đức Khu thứ ba dọc theo quốc lộ 1 từ Bình Chánh tới quận 12 và Thủ Đức
thủy sản chỉ chiếm 1,2%
Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 35Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007 Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần
3 tỷ USD Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm
2011, thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 20/63 tỉnh thành
TP.HCM là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, hàng năm đóng góp 21,3 % GDP
và 29,38% nguồn thu ngân sách cả nước (số liệu năm 2011) Trong đó sản xuất công nghiệp chiếm gần 30% giả trị sản xuất công nghiệp toàn quốc
Không những đi đầu trong phát triển công nghiệp, dịch vụ, tài chính, truyền thông,
du lịch và thể thao, TP.HCM còn là đầu mối giao thông quan trọng nhất Việt Nam và Đông Nam Á, với đầy đủ các loại hình giao thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không, sắp tới sẽ phát triển cả tàu điện ngầm và đường sắt trên không v.v Đây cũng
là nơi hội tụ, giao lưu văn hoá truyền thống trong và ngoài nước Rõ ràng TP.HCM đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển KTXH, giao lưu văn hoá và du lịch
của Việt Nam và Thế giới
1.1.3.2 Quy hoạch xây dựng đô thị:
Tp HCM đã lập quy hoạch phát triển đô thị về hướng biển Đông cho giai đoạn 2025 trong Quy hoạch Phát triển Tổng thể Quy hoạch tổng thể này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 01 năm 2010 Chiến lược phát triển chung của TP.HCM gắn liền với các thành phố và 07 tỉnh xung quanh đã được xác định trong Quy hoạch tổng thể điều chỉnh Chiến lược này tạo ra cơ hội cho việc phát triển đồng bộ, giảm áp lực lên trung tâm thành phố và tạo nền tảng để hình thành các trung tâm theo các lĩnh vực khác nhau (theo các lĩnh vực giáo dục, y tế, công nghệ cao, văn hóa, giải trí hay thể thao) Để kết nối với các tỉnh xung quanh, TP HCM sẽ phát triển theo 05 hướng, như mô tả trong Hình 1.4 dưới đây (nguồn: Viện Quy hoạch TP HCM, trình bày trong hội thảo tổ chức vào tháng 06 năm 2010)
Quy hoạch tổng thể đến năm 2025 tổng hợp các lĩnh vực phát triển khác nhau của
TP HCM như quy hoạch công nghiệp, giải trí và du lịch, giao thông, vận tải, cấp nước, năng lượng và một số quy hoạch, chương trình và dự án khác về phát triển đô thị và chống
Trang 36ngập, lụt Tuy chưa phải là một danh mục hoàn chỉnh nhưng danh mục này cho thấy quy
mô của các quy hoạch (tổng thể) có liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu
Phương hướng điều chỉnh quy hoạch tổng mặt bằng (đã được Thủ tướng phê duyệt theo quyết định số 24/QĐ – TTg ngày 6-1-2010) và nhu cầu sử dụng đất (Bảng 1.3) cho thấy thảm mặt đệm có khả năng thấm nước ở TP.HCM đang ngày càng bị thu hẹp và bị phân chia thành các khu trũng cục bộ bởi các loại công trình như các khu nhà ở, các công trình giao thông và các công trình công cộng khác trong quá trình đô thị hóa
(Nguồn: Viện Quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh, 2010)
1.1.4 Quá trình đô thị hoá, tiềm năng và thách thức ngập nước đô thị của TP.HCM
Phân tích diễn biến tiến trình đô thị hoá cho thấy trong những năm qua, Tp.HCM
đã phát triển rất nhanh chóng và tốc độ phát triển sẽ mạnh mẽ hơn nữa tương lai Tuy nhiên phát triển kinh tế luôn phải đối mặt với những thách thức về môi trường và xã hội Nhu cầu phát triển và sức ép dân số thúc đã đẩy tiến trình đô thị hóa quá nhanh dẫn đến rất nhiều diện tích các vùng trũng, thấp bãi sông, rạch, ao, hồ bị san lấp, lấn chiếm, kéo theo các khu chứa, trữ nước mưa, nước triều bị thu hẹp, hệ thống tiêu thoát nước quá tải v.v Mặt khác,
Hình 1.4 Bản đồ quy hoạch xây dựng TP.HCM
năm 2025
Hình 1.5 Khu đô thị vệ tinh của TP.HCM
Trang 37những bãi đất trống, thảm cỏ, vườn cây v.v làm cho khả năng thẩm thấu, hút nước tự nhiên giảm đáng kể Hệ quả là tình trạng ngập nước đô thị ngày càng gia tăng, nước tụ lại ở những vùng trũng gây ngập, úng, dòng chảy mặt tăng lên, ảnh hưởng đến các khu dân cư trong nội và ngoại vi thành phố
Tiến trình đô thị hoá quá nóng khiến cho Thành phố phải đối diện với những rủi ro
do nước tạo ra (nước mưa, nước mặt, nước ngầm, nước biển và nước thải) Hậu quả của tiến trình đô thị hoá dẫn đến rất nhiều diện tích vùng trũng, thấp, bãi sông, kênh, rạch, ao,
hồ bị san lấp, lấn chiếm, nhiều diện tích nông nghiệp được chuyển đổi thành đất phi nông nghiệp để hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị mới và hạ tầng cơ sở Như vậy sự khởi đầu của tiến trình đô thị hoả cũng là mở đầu cho những khó khăn và thánh thức ngập nước đô thị ở TP.HCM
và phát triển của đô thị Sài Gòn - TP.HCM, kênh NL – TN luôn đóng vai trò quan trọng hình thành nên bộ mặt cảnh quan của TP.HCM
Với diện tích 3.324 ha, lưu vực kênh NL – TN (một nhánh của sông Sài Gòn) nằm trong khu trung tâm TP.HCM, chảy qua địa bàn 7 quận: Tân Bình, Phú Nhuận, Gò Vấp, quận 1, quận 3, quận 10, và quận Bình Thạnh Kênh NL – TN có chiều dài đoạn chính khoảng 8,7 km, chảy uốn khúc trong nội thành TP.HCM, bắt đầu từ quận Tân Bình chảy qua quận Phú Nhuận (bờ Trường Sa), quận 3 (bờ Hoàng Sa và một phần bờ Trường Sa), quận 1 (bờ Hoàng Sa), quận Bình Thạnh (bờ Trường Sa) và kết thúc ở sông Sài Gòn (cửa vàm kênh NL – TN, gần xưởng đóng tàu Ba Son) Hình 1.6 là sơ đồ mặt bằng tuyến kênh
và Hình 1.7 mô tả vị trí lưu vực kênh NL – TN
Lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè nằm trên địa bàn của 7 quận nên chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động kinh tế và đời sống của dân cư trong khu vực này Trong đó
Trang 38Quận 1 là trung tâm của Thành phố, là nơi tập trung các hoạt động kinh tế, văn hóa, du lịch, thương mại, giáo dục là chủ yếu Đây là nơi có cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh trên địa
Hình 1.6 Sơ đồ mặt bằng tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè
bàn thành phố Ven kênh chủ yếu là các hộ dân sinh sống và kinh doanh theo mô hình cá thể nhỏ lẻ, không có doanh nghiệp lớn
200 - 500người/ha (Nguồn: Viện Quy hoạch xây dựng và thiết kế Đô thị)
1.2.2 Các hạng mục thoát nước trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè
Trang 39Hình 1.7 Lưu vực kênh NL-TN (màu hồng) nằm trong vùng trung tâm thành phố
Vùng đô thị trung tâm Tp HCM có hệ thống cống chung để thu gom nước mưa và nước thải sinh hoạt Hệ thống thoát nước bao gồm mạng lưới cống ngầm và mương hở để thu gom và thải bỏ ra kênh, rạch và cuối cùng chảy vào sông Sài Gòn, Đồng Nai và Vàm
TN (33km2) cùng với hệ thống thoát nước hiện hữu
Mạng lưới thoát nước chính (cấp 1, 2, và 3) của Thành phố gồm 92 km kênh, rạch
và 530 km cống ngầm, được phân loại thành 4 cấp như sau:
Cấp 1: Các kênh, rạch hở tự nhiên tiếp nhận nước thải sinh hoạt và nước mưa Kênh
cấp 1 chia làm 2 loại: cấp 1a và 1b loại kênh cấp 1a là các kênh rạch hở thoát nước tự nhiện sẽ chỉ cải tạo nhỏ Loại kênh cấp 1b sẽ được cải tạo thành cống cấp 2
Cấp 2: các tuyến cống ngầm và kênh dùng để thu nước từ các tuyến cấp 3 Cống
cấp 2 tương đối lớn, đa số được cải tạo thành cống hộp, đường kính hoặc bề rộng cống 1m
SS
SN-1
NL-TN
SE TH-LG
SW-2
TH-BN-D-T
SN-2 TL-BC
Trang 40Cấp 3: các tuyến cống ngầm trên các trục đường phố thu nước từ các tuyến cấp 4
Nhìn chung, cống cấp 3 thường có đường kính 600-800 mm hoặc cống vòm 400800 mm,
TN gồm khoảng 130 km cống ngầm do Công ty Thoát nước Đô thị quản lý và khoảng 150
km cống ngầm do các Công ty Công ích thuộc các quận duy tu và kênh NL – TN là cũng
là tuyến chính thoát nước và thu gom nước thải chưa xử lý của khoảng 1,25 triệu dân sống trong lưu vực Nước thải từ kênh cấp 2, trực tiếp vào NL-TN hoặc vào các kênh nhánh của
NL – TN bao gồm:
Rạch cống Bà Xếp được cải tạo thành cống hộp 2,5x2m
Rạch Bùng Binh được cải tạo thành cống hộp 2(2,5x2m),
Rạch Miễu và rạch Ông Tiêu chuyển thành cống
Rạch Miếu nổi: 1-6m, dài 640m
Rạch Bùi Hữu Nghĩa rộng 2 – 8m, dài 620m vài trò chính của kênh này là thoát nước cho lưu vực nhỏ n ằm giữa 2 tuyến Đinh Tiên Hoàng và Bùi Hữu Nghĩa
Rạch cầu Bông rộng 10 – 16m dài 1480m nối liền với rạch Cầu Sơn
Rạch cầu Sơn (rộng 8 – 10m) dài 960m
Rạch Phan Văn Hân (rộng 1 – 12m, dài 1.020m) thoát nước cho tuyến đường Xô Viết Nghệ Tĩnh và Điện Biên Phủ Tuy nhiên, hiện nay do phát triển đô thị 2 đầu rạch được cải bằng cống kín
Rạch Văn Thánh (rộng 12 – 24m, dài 1.465m) là khu vực vùng trũng thấp, rạch chức năng điều hòa lưu lượng nước
Bao phủ lưu vực là mạng lưới cống ngầm không đồng nhất Ở khu vực trung tâm thành phố, mật độ cống tương đối nhiều, nhưng trong những khu vực biên của lưu vực thì
ít hơn Do mật độ không đồng nhất, phần lớn dân cư sống phía Bắc lưu vực chịu ảnh hưởng