1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận hiện tượng đô la hoá ở việt nam – tình trạng và giải pháp khắc phục

12 156 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 70 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ưu thế vượt trội như vậy dần dần đồng Đô la được sử dụng song hành với đồng nội tệ của các quốc gia đến một mức nào đó thì được gọi là bị tình trạng Đô la hoá nền kinh tế.. Vậy, nếu

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian gần đây vấn đề Đô la hoá ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Đặc điểm của các nước này là đang thực hiện nền kinh tế chuyển đổi, tỷ lệ lạm phát khá cao, giá trị đồng nội tệ có xu hướng giảm mạnh, đại bộ phận dân

cư và các tổ chức kinh tế, xã hội đều ưa dùng ngoại tệ cho các nhu cầu tiêu dùng, thanh toán, dự trữ Những đặc điểm trên thường là nguồn gốc của hiệntượng Đô la hoá

Ở nước ta hiện tượng Đô la hoá đã xuất hiện từ cuối thập kỷ 80 và đặc biệt gia tăng trong những năm gần đây Bên cạnh những tác động tích cực, hiện tượng Đô la hoá cũng có những đặc điểm tiêu cực đến tình hình kinh tế

xã hội Việt Nam Nó ảnh hưởng một cách trực tiếp đến tính độc lập của việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng

Như vậy việc nhận thức đúng đắn về hiện tượng Đô la hoá có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền kinh tế đang trở mình của nước ta Hiện nay, đã có khá nhiều bài viết bàn luận về vấn đề này dưới các góc độ phân tích khác nhau Với mục đích là trang bị cho mình một hiểu biét sâu hơn, cũng như cung cấp cho người đọc một sự nhìn nhận đánh giá khách quan về hiện tượng

Đô la hoá, và được sự tận tình giúp đỡ của các thầy cô giáo bộ môn, em đã

chọn đề tài: “Hiện tượng Đô la hoá ở Việt Nam – Tình trạng và giải pháp

khắc phục”.

Trang 2

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ LA HOÁ

1 Khái niệm Đô la hoá.

Từ trước tới nay, hầu hết các quốc gia đều cho lưu hành đồng tiền riêng của nước mình Những đồng tiền này thực hiện đầy đủ các chức năng tiền tệ, trừ chức năng tiền tệ quốc tế mà không phải đồng tiền nào cũng làm được Do những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội nhất định mà Đô la Mỹ đã trở thành một đồng tiền mạnh nhất trên thế giới, nó chiếm tới hơn 80% khối lượng giao dịch trên các thị trường ngoại hối Với ưu thế vượt trội như vậy dần dần đồng

Đô la được sử dụng song hành với đồng nội tệ của các quốc gia đến một mức nào đó thì được gọi là bị tình trạng Đô la hoá nền kinh tế

Vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thì Đô la hoá của tiền tệ nhằm nói đến hiện tượng các ngoại tệ được sử dụng rộng rãi song song với đồng nội tệ để thực hiện một hoặc nhiều các chức năng của tiền tệ như một đơn vị hoạch toán, một phương tiện thanh toán (thay thế tiền) hoặc để giữ giá trị (thay thế tài sản) Nếu hiểu theo nghĩa rộng, Đô la hoá là tình trạng khi phần lớn các nước giao dịch tài chính được thực hiện thông qua đồng ngoại tệ, bên cạnh đồng nội tệ

2 Nguồn gốc của Đô la hoá

Như chúng ta đã biết hiện tượng Đô la hoá thường gặp khi một nền kinh

tế có tỷ lệ lạm phát cao, sức mua của đồng nội tệ giảm sút thì người dân phải tìm các công cụ dữ trữ giá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín Đối với hệ thống Ngân hàng, các Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể

sử dụng khối lượng Đô la Mỹ huy động được để:

- Cấp tín dụng trong nước bằng USD

- Bán USD lấy nội tệ;

- Gửi USD tại các Ngân hàng nước ngoài;

Khi tỷ lệ USD trong tổng nguồn vốn (bên nợ) của các Ngân hàng tăng lên thì thông thường bên sử dụng vốn (bên có) của các Ngân hàng tỷ lệ USD

Trang 3

cũng tăng lên, do đó cũng có thể nhận thấy hiện tượng Đô La hoá tương ứng xảy ra ở bên tài sản có của hệ thống ngân hàng

Vậy nguồn gốc cơ bản của hiện tượng Đô la hoá là tâm lý nắm giữ ngoại

tệ nhằm phòng ngừa các rủi ro do sức mua của đồng nội tệ tăng xuống và khả năng tạo tiền của hệ thống Ngân hàng chủ yếu là ngoại tệ

3 Phân loại Đô la hoá.

Về cơ bản, Đô la hoá gồm ba loại chính là: Đô la hoá không chính thức,

Đô la hoá bán chính thứ và đô la hoá chính thức

- Đô la hoá không chính thức: là trường hợp ngoại tệ được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế mặc dù không được quốc gia này chính thức thừa nhận

Đô la hoá không chính thức có thể gồm các loại sau:

- Các trái phiếu ngoại tệ các tài sản phi tiềntệ ở nước ngoài;

- Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài;

- Tiền gửi ngoại tệ tại các Ngân hàng trong nước;

- Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi

Đô la hoá không chính thức được chia thành 3 giai đoạn:

Các nhà kinh tế thường gọi giai đoạn của Đô la hoá không chính thức là giai đoạn ‘Thay thế tài sản”

Giai đoạn thứ hai của Đô la hoá không chính thức được các nhà kinh tế gọi là giai đoạn “thay thế tiền tệ”

Trong giai đoạn cuối cùng của Đô la hoá không chính thức, giá cả của hàng hoá được tính bằng nội tệ nhưng mọi người đều liên tưởng đến ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái

Đô la hoá không chính thức rất phổ biến ở các nước đang phát triển

- Đô la hoá bán chính thức: Khoảng 12 nước trên thế giới được IMF xếp

là các nước “Đô la hoá bán chính thức” đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp và thậm chỉ có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi Ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương

Trang 4

- Đô la hoá chính thức: Hay còn được gọi là Đô la hoá hoàn toàn, xuất hiện khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành

Theo IMF, hiện nay có khoảng 14 nước được xếp là các nước Đô la hoá chính thức

Theo nghiên cứu của Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ, hiện nay, người nước ngoài nắm giữ khoảng 55 đến 70% số Đô la Mỹ lưu hành Còn theo ước tính của Bundesbank, người nước ngoài giữ khoảng 40% tổng số DM được lưu hành

4 Hình thức biểu hiện của hiện tượng Đô la hoá.

Một là, Đô la hoá nằm ngoài Ngân hàng, được dân chúng cất trữ và thanh toán các giao dịch trong xã hội

Hai là, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ, Đô la Mỹ so với khối tiền mở rộng (M2) so với tổng tiền gửi trong hệ thống Ngân hàng, so với tổng phương tiện thanh toán Theo các chuyên gia của IMF, nếu tỷ lệ này ở mức từ 30% trở lên bị coi

là Đô la hoá, còn nếu vượt qua 50%, thì được gọi la nền kinh tế bị Đô la hoá cao

Ba là, tỷ lệ cho vay bằng ngoại tệ, bằng USD so với tổng số khoản vay, tổng dư nợ, khi mà đạt tới con số có ý nghĩa, xảy ra ở nhiều nước thuộc Châu

Mỹ la tinh Cũng theo thông tin đã được công bố, thì tỷ lệ này của Việt Nam hiện nay là khoảng 20%, không thể không coi là không có ý nghĩa

5 Các tác động của Đô la hoá

5.1 Tác đông tích cực

- Việc sử dụng đồng Đô la sẽ cung cấp cho các tác nhân kinh tế một công cụ tự bảo vệ chống lạm phát và phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính thức

- Hạ thấp chi phí giao dịch: Đô la hoá chính thức cũng loại bỏ những giao dịch với các nước khác

- Hạ thấp lạm phát hiện tại và rủi ro lạm phát trong tương lai thấp hơn Bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, các nước Đô la hoá chính thức bảo đảm duy

Trang 5

trì tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp ở các nước phát hành đồng ngoại tệ

- Mức độ mở cửa lớn hơn và minh bạch hơn

5.2 Tác động tiêu cực

- Xét về góc độ tài chính

+ Đô la hoá làm yếu kém hoạt động và hiệu quả chính sách tài chính: Nó

hạ thấp doanh thu từ phát hành tiền và làm trầm trọng hơn tác động lạm phát

từ việc tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua hệ thống ngân hàng

+ Cần chi phí lớn trong việc thu hồi nội tệ và đưa ngoại tệ vào lưu thông: Các nước áp dụng Đô la hoá chính thức cần phải có lượng ngoại tệ đủ để thay thế số nội tệ đang lưu thông Nghiên cứu của Stanley Fisher năm 1982 cho thấy chi phí trung bình đối với các nước tiến hành Đô la hoá chính thức vào những năm 70 tương đương 4 –5 GDP

- Xét về góc độ tiền tệ

+ Đô la hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ Đô la hoá không chính thức có thể khiến cho cầu về nội tệ không ổn định

Trong trường hợp Đô la hoá chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền lúc này sẽ được quyết định ở Mỹ, trong khi một nước đang phát triển và một nước công nghiệp phát triển như Mỹ không có những chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau

+ Đô la hoá cũng làm giảm tính hiệu quả của chính sách tỷ giá

+ Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi NHTW và chức năng của nó là người đi vay cuối cùng của các ngân hàng

Trên đây chúng ta đã tìm hiểu những lý luận chung về hiện tượng Đô la hoá Vậy hiện tượng này đang xảy ra ở Việt Nam ở mức độ nào? Nó có những tác động gì đối với nền kinh tế Việt Nam và những giải pháp cần thiết nào để đẩy lùi hiện tượng Đô la hoá?

II TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HOÁ Ở VIỆT NAM NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC.

Trang 6

1 Tình trạng Đô la hoá ở Việt Nam.

1.1 Tình trạng Đô la hoá trong xã hội.

Đây là khối lượng ngoại tệ được dân chúng nắm giữ và dùng thanh toán trong các giao dịch hàng ngày Số liệu thống kê của NHNN cho hay, lượng kiều hối chuyển về nước các năm gần đây như sau:

Bảng 1:

Đơn vị tính: Triệu USD

1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000

35 136,6 140,98 249,47 284,96 468,99 400 950 1200 1757

Dựa vào bảng 1 ta thấy ngày càng có nhiều ngoại tệ mà cụ thề là USD được chuyển về nước Tình trạng này sẽ làm tăng thêm mức độ Đô la hoá trong xã hội

Hiện nay cả nước có 62 Ngân hàng và 43 tổ chức kinh tế làm dịch vụ kiều hối

1.2 Tình trạng Đô la hoá tiền gửi.

Đô la hoá có thể được hiểu là hiện tượng dân cư của một nước giữ nhiều ngoại tệ trong lưu thông cũng như gửi tại các NHTM trong nước Đô la hoá diễn ra tại mỗi nước tại mỗi nước rất khác nhau và được đánh giá qua các chỉ tiêu như tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán, tỷ trọng cho vay bằng ngoại tệ so với tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế, hoặc tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ so với tổng tiền gửi của hệ thống Ngân hàng

1.3 Tình trạng Đô la hoá cho vay.

Bảng 3: Cơ cấu cho vay ngoại tệ trong tổng dư nợ của hệ thống

Ngân hàng.

Đơn vị (%)

Trang 7

2 VND 61,4 61,3 63,4 68,8 74,8 77,4 81,4

Nhìn vào bảng 3 thấy rằng cho vay ngoại tệ của hệ thống Ngân hàng đến năm 2000 chỉ chiếm chưa đầy 20% tổng dư nợ đối với nền kinh tế của hệ thống Ngân hàng

2 Nguyên nhân của hiện tượng Đô la hoá ở Việt Nam.

+ Nguyên nhân sâu xa của tình trạng Đô la hoá là do tính ổn định của đồng tiền chưa cao, năng lực kinh tế của Việt Nam chưa phát triển, đây cũng

là nguyên nhân chung của các nước tình trạng Đô la hoá

+ Nguyên nhân trực tiếp: Biến động tiền gửi trong những năm 1999,

2000 chịu ảnh hưởng của các tác động bên ngoài như sự mở rộng xu hướng toàn cầu hoá từ những năm 1990; sự tăng trưởng cao và ổn định nền kinh tế

Mỹ đã làm cho đồng Đô la Mỹ ngày càng có sức mạnh và có tính hấp dẫn hơn

so với các đồng tiền khác

Tình trạng Đô la hoá ở Việt Nam hiện nay còn do Đô la Mỹ được sử dụng khá tự do Từ năm 1997 đến năm 1999, khi xuất khẩu không có khả năng tăng trưởng, cán cân thương mại thâm hụt nặng thì Việt Nam lại thu hút được lượng ngoại tệ vào nhiều qua đường chuyền tiền cá nhân và kiều hối mà không phải mất chi phí

Vậy chúng ta phải tìm biện pháp để sử dụng được lượng ngoại tệ này một cách có hiệu quả

3 Tác động của tình trạng Đô la hoá đến nền kinh tế, đến việc hoạch định chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam.

3.1 Những tác động tích cực.

NHTM sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối ngoại, tạo công cụ hội nhập thị trường trong nước với thị trường quốc tế

Trang 8

Sẽ có khả năng mở rộng cho vay đối với nền kinh tế chính bằng ngoại tệ.

3.2 Những tác động tiêu cực.

- Dự trữ ngoại tệ của Nhà nước khó tăng trưởng do trốn thoát vốn Ở Việt Nam Đô la hoá làm cho VND bị lấn át về chức năng làm phương tiện thanh toán và dự trữ Thêm vào đó ngoại tệ được thanh toán rộng rãi đồng bản

tệ khó đóng được vai trò làm đồng tiền chuyển đổi

- Đô la hoá gây trở ngại cho NHTW về việc kiểm soát, điều tiết nguồn vốn khả dụng cho nền kinh tế

- Đô la hoá làm giảm tác dụng của chính sách tỷ giá khuyến khích xuất khẩu

- Đô la hoá còn diễn biến, chủ trương đi đến thả nổi tỷ giá có sự quản lý của Nhà nước khó thực hiện

4 Những kiến nghị và giải pháp nhằm kiềm chế và đẩy lùi hiện tượng Đô la hoá.

Qua những thực trạng đã nói ở trên, chúng ta cần phải có những biện pháp đúng đắn để ngăn chặn tình trạng này

Quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước

“Xoá bỏ Đô la hoá trong nền kinh tế – xã hội nước ta phải được thực hiện từng bước từng khâu thích hợp với từng giai đoạn đổi mới, phát triển của đất nước, phải bằng nhiều giải pháp vừa kinh tế vừa hành chính kết hợp với giáo dục pháp luật, điều chỉnh tâm lý xã hội trong lộ trình thực thi nhiều cơ chế kinh tế nghiệp vụ Ngân hàng cụ thể nối tiếp nhau, để nâng vị thế của đồng tiền Việt Nam trong các chức năng thuộc tính của tiền tệ”

Chúng ta không thể xoá bỏ sạch trơn, phủ định tất cả Nhà nước phải giữ vai trò chủ động để điều chỉnh hiện tượng Đô la hoá; nhất định phải có các giải pháp hành chính- kinh tế – giáo dục mạnh mẽ, đồng bộ để triệt tiêu các mặt tiêu cực của Đô la hoá

* Các giải pháp.

Trang 9

Cần chấm dứt tình trạng “Đa sở hữu” các nguồn thu ngoại tệ của đất nước đối với mọi tổ chức, pháp nhân là “người cư trú”

Thứ hai, cơ chế điều hành tỷ giá cần linh hoạt hơn, chứa nhiều yếu tố thị trường hơn Cụ thề là:

+ Mở rộng biên độ giao dịch trên thị trường ngoại hối để vừa đảm bảo sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước, vừa phù hợp với cung cầu trên thị trường

mà không gây tâm lý chờ đợi về việc giảm giá đồng Việt Nam

+ Thay cho việc chỉ gắn với Đô la Mỹ như trước đây, tỷ giá của đồng Việt Nam cần phải dựa trên cơ sở một rổ ngoại tệ (USD, EURO, JPY) và một

số đồng tiền của các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Singapo Thứ ba, cần sử dụng các công cụ tiền tệ một cách hiệu quả để tác động đến điều kiện thị trường nhằm làm cho đồng Việt Nam hấp dẫn hơn Đô la Mỹ

NHNN đã có sự can thiệp là tăng tỷ lệ giự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 5% lên 8% cho kỳ dự trữ tháng 11/2000

Thứ tư, không ngừng đổi mới hoạt động của hệ thống NHTM theo hướng ngày càng hiện tại, sử dụng đa dạng hoá các công cụ phòng ngừa rủi ro trên thị trường tài chính và thị trường ngoại hối như các hình thức giao dịch

kỳ hạn, hoán đổi, quyền lựa chọn

Trang 10

KẾT LUẬN

Đô la hoá tưởng chừng là một yếu tố đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam chúng ta Nó như là một hiệu ứng của kinh tế thị trường, là kết quả

“tốt đẹp” do “bàn tay vô hình” của nền kinh tế thị trường tạo nên Nhưng đối với các nhà hoạch định chính sách đâylà một vấn đề nổi cộm đang cần được nghiên cứu sâu sắc

Hiện nay, có rất nhiều những bài báo đề cập đến vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau Trên cơ sở tiếp cận, kế thừa một cách có chọn lọc các nguồn tài liệu rất phong phú và được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy,

cô giáo trong bộ môn Lý thuyết tài chính tiền tệ, tiểu luận đã cung cấp cho người đọc những vấn đề về lý luận chung về hiện tượng Đô la hoá Cũng như hiểu được thực tiễn về hiện tượng này đang diễn ra như thế nào ở nước ta Tuy nhiên trong quá trình hoàn thành tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót về mặt hình thức cũng như sự chưa chặt chẽ trong nội dung trình bày Do đó, em rất mong được sự nhận xét đánh giá của các thầy, cô giáo để bài tiểu luận hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Báo cáo thường niên NHNN Việt Nam năm 1994 và 1999

2 Giáo trình lý thuyết Tài chính tiền tệ

3 Tạp chí Ngân hàng

4 Thị trường Tài chính tiền tệ

Trang 12

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

1

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ LA HOÁ 2

1 Khái niệm Đô la hoá 2

2 Nguồn gốc của Đô la hoá 2

3 Phân loại Đô la hoá 3

4 Hình thức biểu hiện của hiện tượng Đô la hoá 4

5 Các tác động của Đô la hoá 4

II TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HOÁ Ở VIỆT NAM, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 5

1 Tình trạng Đô la hoá ở Việt Nam 5

2 Nguyên nhân của hiện tượng Đô la hoá ở Việt Nam 7

3 Tác động của tình trạng Đô la hoá đến nền kinh tế, đến việc hoạch định chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam 7

4 Những kiến nghị và giải pháp nhằm kiềm chế và đẩy lùi hiện tượng Đô la hoá 8

KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Ngày đăng: 01/11/2018, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w