Đã có rất nhiều nghiên cứu của các nhà Nhật ngữ về thời trong tiếng Nhật, hơn nữa, cũng có những nghiên cứu đối chiếu giữa thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện thời gian trong các ngô
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
Vũ Thúy Nga
THỜI TRONG TIẾNG NHẬT
VÀ CÁC BIỂU HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ng n ngữ so sánh đối chiếu
Mã số: 9 22 20 24
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT
NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Chung Toàn
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời được coi là một phạm trù ngữ pháp trong nhiều ngôn ngữ và là
mảng đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng trên
thế giới Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc hiểu và sử dụng đúng thời sẽ
giúp cho việc lý giải và xử lý các tài liệu, văn bản đảm bảo tính logic chặt chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ
Trong tiếng Nhật, thời được khẳng định là một phạm trù ngữ pháp cơ
bản và quan trọng Đã có rất nhiều nghiên cứu của các nhà Nhật ngữ về
thời trong tiếng Nhật, hơn nữa, cũng có những nghiên cứu đối chiếu giữa thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ khác
như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Hàn v.v Tuy nhiên, tại Việt Nam, các
kết quả nghiên cứu về thời trong tiếng Nhật hầu như chưa được biết đến,
đặc biệt, có thể thấy, đến thời điểm hiện tại, ở Nhật Bản cũng như tại Việt
Nam, vẫn chưa có một nghiên cứu đối chiếu nào liên quan đến thời giữa
tiếng Nhật và tiếng Việt được thực hiện
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, một loại hình ngôn ngữ
không sử dụng thời như một ngữ pháp bắt buộc Do đó, với người Việt, việc hiểu và sử dụng tốt thời trong tiếng Nhật - một loại hình ngôn ngữ
chắp dính hoàn toàn khác biệt là một khó khăn không hề nhỏ Để giúp
người Việt có thể hiểu và vận dụng đúng thời tiếng Nhật hay giúp người
Nhật nắm bắt được các biểu đạt thời gian trong ngôn ngữ không bị ngữ
pháp hóa về thời như tiếng Việt đòi hỏi cần có những nghiên cứu về mặt
lý luận và đối chiếu của các nhà nghiên cứu, giảng dạy ở cả hai ngôn ngữ tiếng Nhật và tiếng Việt
Với những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đối chiếu “Thời trong tiếng Nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt” làm đề
tài nghiên cứu của luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Nắm rõ cơ chế hoạt động của thời trong tiếng Nhật từ góc độ lí
luận với tư cách là một phạm trù ngữ pháp thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính khác biệt với tiếng Việt
- Xác định lại những đặc thù khác biệt của tiếng Nhật khi biểu đạt
thời trong so sánh với cách biểu đạt thời gian của người Việt
- Cung cấp thêm nguồn tư liệu thực chứng về hoạt động của phạm
trù thời trong tiếng Nhật thông qua việc xem xét các biểu hiện
hoạt động của phạm trù này trong khối ngữ liệu thực tế để phục
Trang 4vụ cho công tác nghiên cứu về thời nói chung và tại Việt Nam nói
riêng
- Đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy thời
cho sinh viên Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống lại những vấn đề liên quan đến thời trong ngôn ngữ học nói chung và thời trong tiếng Nhật nói riêng với tư cách là một
phạm trù ngữ pháp
- Phân tích các biểu hiện thời trong tiếng Nhật về mặt hình thái và
ngữ nghĩa
- Phân tích, đối chiếu thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện tương
đương trong tiếng Việt và cách chuyển dịch ý nghĩa thời gian từ tiếng Việt sang tiếng Nhật
- Phân tích lỗi sử dụng thời trong tiếng Nhật của sinh viên Việt
Nam, giúp ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là thời trong tiếng Nhật
được xem xét từ bình diện đối chiếu ngôn ngữ học
- Ngoài ra, luận án cũng xem xét đến những biểu đạt trong tiếng
Việt tạo ra những nội dung tương đương với thời trong tiếng Nhật
hay các biểu đạt từ vựng tiếng Việt có thể được diễn đạt tương
ứng sang tiếng Nhật từ góc độ thời
Phạm vi nghiên cứu
Do dung lượng luận án có hạn, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát
hoạt động của thời trong tiếng Nhật từ bình diện kết học và nghĩa học
trong nguồn cứ liệu là các văn bản viết Việc khảo sát nguồn ngữ liệu
là khẩu ngữ của người Nhật, một nội dung liên quan đến hoạt động ngữ dụng sẽ được dành riêng trong một nghiên cứu khác
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp miêu tả; phương pháp phân tích ngữ pháp; phương pháp đối chiếu
- Một số thủ pháp như phân tích định lượng, phân tích định tính, thống kê
5 Ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu dùng để khảo cứu và khảo sát cho luận án là:
Trang 5- Các công trình nghiên cứu về Nhật ngữ học và Việt ngữ học liên
quan đến thời
- Nguồn ngữ liệu tiếng Nhật: là những ấn phẩm văn hoá đáng tin cậy, có văn phong chuẩn mực, một số tiểu thuyết, truyện ngắn của các nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn tại Nhật Bản đã được dịch sang tiếng Việt nên sẽ thuận tiện cho việc đối chiếu ngôn ngữ như: Akutagawa Ryunosuke, Miyazawa Kenji, Murakami Ryu
- Nguồn ngữ liệu tiếng Việt: chúng tôi lựa chọn một số truyện ngắn của các tác giả có tên tuổi trong làng Văn học Việt Nam đã được các dịch giả Nhật Bản dịch sang tiếng Nhật như: Thạch Lam, Võ
Thị Hảo
6 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thông qua cơ sở lý luận về thời gian trong ngôn ngữ với trọng tâm là
thời, luận án góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận tổng quan liên quan đến thời
Bằng phương pháp đối chiếu, luận án đã khẳng định, thời là phạm trù
ngữ pháp trong tiếng Nhật, có chức năng định vị sự tình trong thời gian thông qua các biểu hiện hình thái ở vị từ (không chỉ ở động từ mà bao gồm cả tính từ và cấu trúc ngữ pháp chứa danh từ) và có sự khác biệt rất
rõ rệt với các biểu đạt thời gian trong tiếng Việt
Có thể thấy rõ, thời trong tiếng Nhật giữ vai trò quan trọng giúp cho
người tiếp nhận thông tin nắm được rõ ràng thời điểm xảy ra hành động,
sự việc thuộc về khung thời gian nào kể cả trong những phát ngôn không
có các yếu tố từ vựng hay các phó từ chỉ mức độ Trong khi đó, các phó
từ ngữ pháp chỉ thời gian (P) “đã”, “sẽ”, “đang” trong tiếng Việt có ý nghĩa tương đương thời trong tiếng Nhật cũng được huy động sử dụng với
tỉ lệ đáng kể nhưng không phải là sự đối ứng một - một mang tính bắt buộc cho mọi trường hợp Điều này là do cách tri nhận thời gian và biểu đạt của người Việt không cùng chung một bình diện là thuần tuý phạm trù
ngữ pháp như tiếng Nhật mà thuộc một bình diện khác, đó là phạm trù “từ vựng - ngữ pháp” như nghiên cứu của luận án đã chỉ ra
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận
Luận án tổng quan các quan điểm, khái niệm về thời trong các ngôn ngữ, qua đó bổ sung thêm những nhận định về khái niệm thời trong tiếng Nhật vào khái niệm thời trong tư liệu ngôn ngữ học phổ quát liên quan đến thời tại Việt Nam
Trang 6 Hệ thống các cách biểu đạt thời trong tiếng Nhật, qua đó rút ra những đặc thù trong phương thức biểu hiện thời của tiếng Nhật từ góc độ ngôn
ngữ học đối chiếu
Thông qua đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Nhật - Việt, làm rõ những
nét tương đồng và khác biệt trong cách biểu hiện thời giữa hai loại hình
ngôn ngữ khác biệt là ngôn ngữ chắp dính và ngôn ngữ đơn lập, tìm ra những điểm khác biệt mang tính đặc trưng liên quan đến biểu đạt thời gian trong ngôn ngữ của hai dân tộc Việt Nam - Nhật Bản
hơn về biểu đạt thời trong tiếng Nhật cũng như ý thức hơn các biểu hiện
thời gian tương đương giữa tiếng Việt và tiếng Nhật trong quá trình dạy
và học tiếng Nhật
Đề xuất phương pháp giảng dạy thời trong tiếng Nhật trên cơ sở của
kết quả nghiên cứu đối chiếu, nêu bật tính đặc thù ngôn ngữ biểu đạt tư
duy có liên quan đến thời gian mà thời mang lại, hướng tới biên soạn các bài giảng tiếng Nhật có chú trọng tới các biểu hiện thời
8 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 150 trang chính văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận phục vụ
nghiên cứu;
Chương 2: Phân tích các biểu hiện của thời tiếng Nhật từ góc độ hình thái
và ngữ nghĩa;
Chương 3: Phân tích biểu đạt của thời tiếng Nhật qua đối chiếu với các
biểu đạt thời gian tương ứng trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt
và Việt - Nhật;
Chương 4: Khảo sát cách nắm bắt và sử dụng thời trong tiếng Nhật của
sinh viên Việt Nam, đề xuất lưu ý trong dạy và học có liên quan đến thời
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thời trên thế giới nói chung
Phạm trù thời là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
trên thế giới Theo quan điểm của các nhà ngữ pháp truyền thống, “Thời”
dịch từ tiếng Latinh “Tempus” là một phạm trù liên quan tới các mối quan
hệ thời gian được diễn hiện bằng các đối lập ngữ pháp có hệ thống của
động từ Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hy Lạp và
tiếng Latinh đã thừa nhận ba đối lập: quá khứ, hiện tại và tương lai
Guillaume (1929) đã phân biệt Thời thành Thời bao hàm và Thời hiện
lộ Ông cho rằng Thời bao hàm là thể (aspect), Thời hiện lộ là thời của sự
tình (tens) được thực hiện bằng các yếu tố hình thái đơn thuần như việc sử
dụng một hệ thống biến tố nên trong những ngôn ngữ biến hình như tiếng
Anh và tiếng Pháp thời thường che lấp thể
Khi nghiên cứu cơ chế ngữ nghĩa của biểu đạt thời, Reichenbach H
(1947) đã chỉ ra các tham tố chỉ xuất thời gian bao gồm: thời điểm nói S
(point of speech); thời điểm chiếu vật R (point of reference); thời điểm
của sự kiện E (event frame); hướng (đi trước, trùng hợp, đi sau); khoảng
cách (xa, gần)
W.Frawley (1992) nêu cách biểu hiện ý nghĩa thời trong ngôn ngữ là
cách biểu hiện trực chỉ: “Thời thực hiện việc định vị một sự tình so với
một điểm qui chiếu được coi là cố định trong thời gian rồi nêu rõ mối
quan hệ giữa sự tình và cái trung tâm điểm thời gian đó bằng cách chỉ ra một
cái hướng và một khoảng cách nào đó”
Nửa sau thế kỷ 20, xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về thời,
thể của các học giả tên tuổi trên thế giới như Benveniste E (1966),
Comrie B (1978, 1985), Lyons J (1996), Panfilov V.S (2002) v.v…
Cùng với sự phát triển của ngành ngữ pháp học và các kết quả nghiên cứu
mới được bổ sung trong nghiên cứu về thời, mối quan hệ giữa thời gian
và biểu đạt thời gian ngày càng được nhìn nhận một cách khách quan hơn
Nhiều kết quả nghiên cứu về thời trong các ngôn ngữ như tiếng Nhật,
tiếng Việt, tiếng Trung cũng đã và đang được công bố, tạo ra những cách
nhìn nhận mới, cung cấp thêm những cứ liệu thực chứng mới để các
nghiên cứu về thời trong ngôn ngữ học và phổ quát ngôn ngữ được trở
nên linh hoạt, toàn diện và sâu sắc hơn
Trang 81.1.2 Tình hình nghiên cứu thời tại Nhật Bản
Ở Nhật Bản, những nghiên cứu về thời, thể đã được quan tâm từ thời
kỳ trung thếnhưng những nghiên cứu sớm nhất về thời trong tiếng Nhật
hiện đại phải kể tới là của Yuzawa (1929) Tác giả đã chỉ ra dạng chia của động từ “テ イ/ルte i/ru” hay “テ アル te a/ru” là hình thái của thời,
thể trong tiếng Nhật thời kỳ trung đại khác nhiều so với hình thái biểu hiện thời, thể trong tiếng Nhật hiện đại
Trong tiếng Nhật hiện đại, có thể kể tới một số nhà nghiên cứu lớn gắn với các công trình để lại nhiều dấu ấn quan trọng như: Kindaichi Haruhiko (1950, 1955), Suzuki Shigerushin (1965, 1979), Teramura Hideo (1984), Takahashi Taro (1986), Kato Yasuhiko & Fukuchi Tsutomu (1989), Masuoka Takashi & Takubo Yukinori (1992), Kudo Mayumi (1995), Nitta Yoshio (2007), Suzuki Tai (2013), Iori Isao & Kiyomi (2016) v.v
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật đã đưa ra nhiều khái niệm về
thời trong tiếng Nhật Nghiên cứu của Teramura (1984), Kato & Fukuchi
(1989), Masuoka & Takubo (1992), Nitta (2007) v.v… đều nhất trí cho
rằng thời trong tiếng Nhật không chỉ biểu hiện phạm trù ngữ pháp của
động từ như trong ngôn ngữ Ấn - Âu mà biểu hiện ở cả vị ngữ là tính từ
và danh từ
Các học giả đã phân tích các cách sử dụng dạng “ta” biểu hiện thời Quá khứ và dạng “ru” biểu hiện thời Phi quá khứ dựa trên 3 yếu tố: tính chất của vị ngữ; tính kết nối trong câu; tâm lý của người nói
Tại Nhật Bản, ngoài những nghiên cứu về mặt lý luận của các nhà Nhật ngữ đã nêu trên, cũng có rất nhiều các nghiên cứu đối chiếu giữa
thời trong tiếng Nhật với thời trong các ngôn ngữ khác như: đối chiếu thời trong tiếng Nhật với thời trong tiếng Hàn (Inoue Yu & Ikukoshi Naoki, 1997), thời trong tiếng Nhật với biểu hiện thời gian trong tiếng
Trung (Inoue Yu & Ikukoshi Naoki & Kimura Hideki, 2002); đối chiếu
thời trong tiếng Nhật với thời trong tiếng Anh của Nishiyama Atsuko
(2009) và một số công trình nghiên cứu khác
1.1.3 Tình hình nghiên cứu thời tại Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề liên quan đến phạm trù thời, thể được bắt đầu xuất hiện trong cuốn Từ điển Alexand de Rhodes năm 1651 Mặc dù vấn
đề này được đặt ra muộn hơn so với Châu Âu nhưng cũng đã gây khá nhiều tranh luận và từ đó dẫn đến hai xu hướng nghiên cứu đối lập nhau
Liên quan đến thời, có thể kể tới:
Trang 91) Khuynh hướng phủ nhận có thời trong tiếng Việt với các nhà
nghiên cứu tiêu biểu như: Johnes R.B và Huỳnh Sanh Thông (1960), Hoàng Tuệ (1988), Cao Xuân Hạo (1998), Diệp Quang Ban (2005) v.v…
2) Khuynh hướng khẳng định có sự tồn tại của thời trong tiếng Việt
như: Trương Vĩnh Ký (1883), Nguyễn Minh Thuyết (1995), Đinh Văn Đức (2001), Trần Kim Phượng (2004) v.v…
Bên cạnh những khuynh hướng phủ nhận hoặc khẳng định có thời nêu trên, Trần Thị Chung Toàn (2016) trong nghiên cứu về thời trong tiếng Việt cho rằng: “thời trong tiếng Việt là một phạm trù mang các đặc trưng từ vựng - ngữ pháp Ở đó, các yếu tố từ vựng nằm trong thế phân bố bổ túc với các yếu tố ngữ pháp tạo thành những cấu trúc ngữ pháp nhất định được tái hiện trong lời nói “theo nguyên tắc ngầm định và tiết kiệm” trong cách tri nhận thời gian theo tư duy của người Việt”
Liên quan đến nghiên cứu đối chiếu thời trong các ngôn ngữ trên thế
giới với các biểu hiện thời gian trong tiếng Việt, đã có một số công trình
nghiên cứu như: đối chiếu với thời trong tiếng Pháp của Phạm Quang Trường (2008), đối chiếu với thời trong tiếng Hàn của Nghiêm Thị Thu Hương (2014), đối chiếu với thời trong tiếng Anh của Lương Bá Phương
(2016) v.v…
Cho đến nay, hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu
về thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện thời gian trong tiếng Việt Để
giúp người học tiếng Nhật hiểu và vận dụng đúng các biểu đạt thời gian
trong ngôn ngữ có thời là tiếng Nhật sang ngôn ngữ không ngữ pháp hóa
về thời như tiếng Việt và ngược lại, là vấn đề đòi hỏi cần có thêm nhiều
nghiên cứu về mặt lý luận và đối chiếu của các nhà nghiên cứu, giảng dạy
ở cả hai ngôn ngữ tiếng Nhật và tiếng Việt Luận án là công trình đầu tiên
nỗ lực để giải quyết vấn đề này
1.2 Cơ sở lý luận phục vụ nghiên cứu của luận án
1.2.1 Biểu hiện thời gian và phạm trù Thời
Cách nhìn thời gian và thể hiện thời gian trong các ngôn ngữ khác nhau
Lyons J (1977) chỉ ra rằng, thời gian khách quan là thời gian siêu ngôn ngữ (metalingiustic tense), thời gian ngữ pháp hóa là thời gian ngôn ngữ (language‟s tense) Có ngôn ngữ ngữ pháp hóa thời gian bằng hệ
thống phạm trù thời, thể, tình thái như tiếng Anh, tiếng Nhật v.v… nhưng
có ngôn ngữ lại chủ yếu sử dụng phương tiện từ vựng (qua hệ thống các
từ chỉ thời gian như: hôm nay, sáng mai, lúc ấy, bây giờ, sớm, muộn v.v )
kết hợp với các yếu tố ngữ pháp, hay bổ sung thêm ngữ cảnh, suy luận logic, phương thức đảo trật tự từ… để thể hiện thời gian như: tiếng Việt, tiếng Trung v.v…
Trang 10Trong sự phát triển của ngành nghiên cứu ngôn ngữ học, đặc biệt là ngữ pháp học, cùng với các kết quả nghiên cứu mới được bổ sung trên cứ liệu của nhiều ngôn ngữ khác loại hình với các thứ tiếng Ấn - Âu, mối quan hệ giữa thời gian và biểu đạt thời gian ngày càng được nhìn nhận
một cách khách quan và đầy đủ hơn, các kết quả nghiên cứu về thời ngày
một được bổ sung để tạo ra được những bức tranh chi tiết và xác thực hơn
Luận án sẽ nghiên cứu, phân tích thời dựa trên quan điểm về thời gian trong ngôn ngữ và cách nhìn nhận về thời như vậy
1.2.2 Phạm trù thời nói chung và quan điểm làm việc của luận án
Theo ngôn ngữ học đại cương (2008), “Thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói” Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, các bình diện nghiên cứu về thời ngày
càng được bổ sung chi tiết và đầy đủ hơn Việc tìm ra các cách biểu đạt khác nhau, mối liên quan về biểu đạt giữa từ vựng và ngữ pháp hay mối
quan hệ giữa thời trong ngôn ngữ và thời gian trong tư duy v.v ngày
càng được chú ý
Gần đây, khái niệm “phạm trù” ngày càng được dần mở rộng hơn Đinh Văn Đức (2001), Nguyễn Thiện Giáp (2008, 2011) và một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ khác, khi bàn đến vấn đề từ loại và phân loại từ trong tiếng Việt đã đề xuất khái niệm “Phạm trù từ vựng - ngữ pháp” Trần Thị Chung Toàn (2016), trong nghiên cứu về biểu đạt thời gian trong tiếng Việt cũng chỉ ra yếu tố từ vựng thời gian (T) và phó từ bổ
sung ý nghĩa về thời gian (P) như: “đã, sẽ, đang” đều cùng có thể biểu hiện các ý nghĩa tương đương với biểu đạt thời trong các ngôn ngữ ngữ pháp hóa thời và cho rằng trong tiếng Việt, “thời là một phạm trù từ vựng
- ngữ pháp”
Theo tác giả, các biểu đạt thời gian của người Việt được thực hiện theo 5 cách thức cơ bản sau:
1) Xác lập khung thời gian qua từ vựng (T) làm từ chứng
2) Vắng (P) thuộc khung thời gian do (T) chỉ xuất
3) Cơ chế ngầm tự động khôi phục (P) để xác lập (T) hoặc ngược lại 4) (T) và (P) cùng xuất hiện để tạo nghĩa tình thái nhấn mạnh cho phát ngôn 5) Ngầm định và quy ước lược bỏ (P/ T) theo nguyên lí tiết kiệm
Trong đó, (T) là các từ vựng có chức năng chỉ xuất thời gian cụ thể và trong ngữ cảnh khi lần đầu tiên xuất hiện, đồng thời cũng chịu trách nhiệm xác lập khung thời gian cho sự tình; (P) là yếu tố mang tính ngữ pháp biểu đạt trạng thái về thời gian của sự tình
5 cách thức cơ bản này đã tạo cho tiếng Việt có nhiều cấu trúc biểu hiện thời gian, tuy nhiên, chỉ có một cấu trúc có mặt đầy đủ cả (T) và (P) và,
Trang 11cấu trúc này lại không mấy được ưa thích sử dụng trong các phát ngôn của người Việt bởi cách biểu đạt không tự nhiên, gò bó Phần lớn các cấu trúc
khác chỉ có mặt một trong hai yếu tố (T) hoặc (P) theo nguyên tắc “ngầm định” hay “tiết kiệm”
Luận án không lấy vấn đề thời trong tiếng Việt làm mục đích nghiên
cứu nên tạm thời chấp nhận kết quả nghiên cứu này để giúp cho việc phân
tích, và đặc biệt, đối chiếu hoạt động của thời trong tiếng Nhật với biểu
hiện thời gian tương đương trong tiếng Việt
1.2.3 Phạm trù thời trong mối quan hệ với thể và tình thái
Thời, thể có những đặc trưng cơ bản là phản ánh trực tiếp thuộc tính
của hoàn cảnh, sự vật như: thời điểm diễn ra hành động; hành động có tính kéo dài hay không kéo dài, có bị hạn định hay không có hạn định bởi
thời gian hay một thuộc tính nào đó v.v… Do vậy, thời, thể biểu hiện tình thái khách quan và có mối liên hệ gắn kết với nhau khi cùng liên quan
đến vấn đề biểu hiện thời gian trong từng ngôn ngữ
Tình thái là phạm trù phổ quát cho mọi ngôn ngữ Trong ngôn ngữ
học, người ta phân biệt cấu trúc nghĩa của phát ngôn thành hai phần cơ bản là: dictum (biểu hiện nội dung sự tình, gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ) và modus (tình thái) gắn với cách thức biểu đạt sự tình của người nói
Ngoài ra, xét về tính tiết kiệm, một trong những đặc thù cơ bản của mọi ngôn ngữ, có những yếu tố có thể đồng thời giữ rất nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau nhưng tùy từng ngữ cảnh mà ý nghĩa ngữ pháp biểu
hiện như thời hoặc thể sẽ có tỉ trọng nặng nhẹ khác nhau Chẳng hạn như trong tiếng Nhật, hình thái “ru” hoặc “ta” có thể đồng thời biểu hiện cả ba
ý nghĩa thời, thể, tình thái song có lúc, có thể một ý nghĩa ngữ pháp nào
đó được sử dụng tách biệt hay được nhấn mạnh hơn, hoặc thiên về ý
nghĩa thời hoặc thể, hoặc chỉ đơn thuần là chỉ thời hay thể… nhưng nhìn chung hình thái bao hàm cả ba ý nghĩa thời, thể, tình thái này thường xuất hiện ở vị trí kết thúc câu Trong đó, tình thái luôn là ý nghĩa bắt buộc cho
mọi phát ngôn
1.2.4 Những vấn đề đối chiếu và dịch thuật liên quan đến đề tài nghiên cứu
Luận án sử dụng nguồn ngữ liệu dịch Nhật - Việt và Việt - Nhật để
giúp xác nhận những nội dung về thời trong tiếng Nhật trên cơ sở chỉ xem
xét hoạt động của chúng trong nội bộ của các văn bản gốc, tìm ra những cách biểu hiện hoạt động của phạm trù này từ góc nhìn của người Việt và
có so sánh với tiếng Việt
Liên quan đến việc xem xét các kết quả dịch, lấy mẫu cho các phát
ngôn, cũng như xem xét việc nắm bắt và sử dụng thời tiếng Nhật của sinh
Trang 12viên Việt Nam, luận án sử dụng các kết quả dịch thuật theo nguyên tắc
“tương đương dịch thuật” của Werner Koller (1992)
1.3 Thời trong tiếng Nhật
1.3.1 Sự đối lập lưỡng phân và phạm vi biểu hiện thời trong tiếng Nhật
Trong tiếng Nhật, các nhà ngữ pháp cho rằng nhận thức về sự đối lập liên quan đến thời gian, hay nói đúng hơn, “khung” xác định thời gian của
người Nhật qua biểu hiện của thời được đặt trong thế lưỡng phân: Quá
khứ/ Phi quá khứ (trong phi quá khứ bao gồm: Hiện tại, Tương lai và Siêu thời), chứ không phải là trong thế tam phân: “quá khứ/ hiện tại/ tương lai” như cách hiểu trong nhiều ngôn ngữ khác Nitta (2007) đã đưa ra một khái
niệm ngắn gọn nhưng bao hàm được cả những nội dung rộng hơn về thời trong tiếng Nhật đó là: “Thời là phạm trù ngữ pháp của vị ngữ đặt sự việc
mà câu biểu hiện trên trục thời gian” Theo Nitta, trong thành phần vị ngữ không chỉ có động từ mà còn có cả tính từ và cấu trúc vị ngữ chứa danh từ Điều này hiện đã trở thành quan điểm chung thống nhất giữa các nhà
Nhật ngữ học Như vậy, có thể nói, thời trong tiếng Nhật có phạm vi hoạt động và diện biểu hiện rộng hơn so với phạm vi thời trong các ngôn ngữ
Ấn - Âu như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp v.v… vốn chỉ coi thời là
phạm trù ngữ pháp riêng của động từ
1.3.2 Thời tuyệt đối và thời tương đối
1.3.2.1 Thời tuyệt đối
Thời tuyệt đối là thời lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui chiếu,
những sự việc xảy ra sau hay đồng thời với thời điểm phát ngôn thuộc vào phân khúc “hiện tại hoặc tương lai”, những sự việc xảy ra trước thời điểm phát ngôn thuộc vào phân khúc “quá khứ”
Thời tuyệt đối bộc lộ rõ rệt nhất trong vị ngữ của câu đơn, hoặc trong
các mệnh đề đẳng lập của câu phức có các thành phần kết nối theo quan
hệ đẳng lập, hoặc là vị ngữ của mệnh đề đứng cuối trong câu phức có các
quan hệ phụ thuộc Dạng “ru” về cơ bản miêu tả trạng thái, sự việc, hành động, động tác của những sự tình ở thời phi quá khứ chỉ hiện tại và tương lai nhưng cũng có những trường hợp chúng biểu hiện Siêu thời như miêu
tả những đặc trưng, tính chất mang tính vĩnh cửu; những qui tắc, chân lý mang tính phổ biến hay những ghi chép nhật kí, thuyết minh, giải thích
v.v… Dạng “ta” miêu tả trạng thái, sự việc, động tác của sự tình ở thời
quá khứ
1.3.2.2 Thời tương đối
Thời tương đối là thời không lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui
chiếu mà lấy thời điểm xảy ra của một sự tình nào đó hay chỉ đơn giản là
tâm trạng của người nói làm mốc qui chiếu Thời tương đối thể hiện rõ
Trang 13nhất ở trong mệnh đề phụ của các câu phức hay phức hay vị ngữ đứng cuối của các phát ngôn trong thể loại văn phong biểu đạt tư duy hình
tượng, biểu cảm như tiểu thuyết, truyện kể, v.v Lúc này, dạng “ru” thời
tương đối biểu hiện những sự tình đã xảy ra từ rất lâu trong quá khứ nhưng ở thời điểm hiện tại chúng vẫn còn mang tính lịch sử hay những phán đoán của người nói về sự việc trong quá khứ, trạng thái được biểu
thị trong mệnh đề phụ của câu v.v ; ở dạng “ta” biểu hiện những phát
hiện; hồi tưởng; giả định; yêu cầu cấp bách; những phê phán, đánh giá, tâm trạng của người nói đối với những sự việc đã xảy ra trong quá khứ; thái độ thừa nhận bản chất, chân lý sự việc, lí do mà người nghe đưa đến hay những sự việc đã được quyết định v.v…
1.3.2.3 Hiện tượng Siêu thời hoặc giải phóng khỏi thời
Trong tiếng Nhật, ngoài thời tuyệt đối và thời tương đối, một số nhà nghiên cứu còn đưa ra khái niệm “Hiện tượng giải phóng khỏi thời”,
trong đó có thể phân thành hai trường hợp
Trường hợp thứ nhất là hiện tượng “Siêu thời”, chỉ những sự vật, sự việc thuộc về chân lí, hiện tượng khách quan…
Trường hợp thứ hai thường gặp trong các loại vị ngữ tính từ nằm trong mệnh đề phụ của những câu có hai mệnh đề trở lên, lúc này, người tham thoại thường chú trọng vào mệnh đề chính của phát ngôn mà bỏ qua
yêu cầu “khắt khe” về thời như với các phát ngôn có vị ngữ là động từ 1.3.2.4 Mối quan hệ giữa thời, thể, tình thái trong tiếng Nhật
Trong những ngôn ngữ có phạm trù ngữ pháp thời, thời - thể - tình thái tuy mức độ thể hiện ít nhiều khác nhau nhưng luôn có mối quan hệ
gắn kết với nhau cả trên bề mặt hình thái của từ Mối quan hệ mật thiết này cũng được thể hiện rõ trong tiếng Nhật
Kindaichi (1955) cho rằng, thể của động từ tiếng Nhật hiện đại là sự
đối lập về mặt hình thức ở “dạng vận động” và “dạng trạng thái” chứ
không phải là sự đối lập giữa “suru” và “shite i/ru” Tuy nhiên, Okuda
(1977) lại thống nhất về mặt hình thái và ý nghĩa của dạng này và cho
rằng, “suru” là “thể hoàn thành”, biểu hiện một hành động, động tác được xem như một chỉnh thể hoàn chỉnh không chia cắt, còn “shite i/ru” là “thể
chưa hoàn thành”, miêu tả động tác, hành động diễn ra liên tục được chia thành các nhát cắt trong các giai đoạn phát triển của sự tình Tương ứng
“thể hoàn thành” và “thể chưa hoàn thành”, có sự đối lập của thời quá khứ
và thời phi quá khứ Teramura (1984) cho rằng “shita” được hiểu như là một khối, điểm thể hiện tính thời, còn “shite i/ta” được hiểu theo bề rộng,
kéo dài thể hiện tính thể