Khái niệm Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 không có điều khoản giải thích từ ngữ mà chỉ liệt kê những hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, tuy nhiên có thể đư
Trang 1A MỞ ĐẦU
Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Cùng với thời gian, vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt ngày càng được coi trọng Các quốc gia đã xem loại thuế này như một công cụ cần thiết nhằm tạo lập và tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Ở Việt Nam, thuế tiêu thụ đặc biệt được đưa vào áp dụng từ năm 1990 sau đó trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung để phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội, đất nước, đã giúp chúng ta nhận thấy nhiều ưu điểm và hạn chế trong việc ban hành
pháp luật và sự áp dụng các quy định vào thực tiễn cuộc sống Với đề tài “Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến pháp lý nhằm khắc phục”
chúng em xin phép được trình bày thực tiễn áp dụng luật thuế tiêu thụ đặc biệt cùng với đó là đề xuất nhằm khắc phục và hoàn thiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt
B NỘI DUNG
I Khái quát chung về thuế tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt
1 Khái niệm
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 không có điều khoản giải thích từ ngữ mà
chỉ liệt kê những hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, tuy nhiên có thể đưa ra một khái niệm ngắn gọn về thuế tiêu thụ đặc biệt như sau:
“thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa và dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh, nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước”.
2 Đặc điểm
+/ Thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp Việc quy định các hàng hóa, dịch vụ nào thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt còn tùy thuộc vào chính sách điều tiết của từng quốc gia, hoạt động sản xuất tiêu dùng của từng nước; thu nhập quốc dân; phong tục và tập quán tiêu dùng của một số loại hàng hóa, dịch vụ trong từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội cụ thể Nhìn chung, các quốc gia thường đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào một số mặt hàng được coi là cao cấp và không thiết yếu, Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng như: thuốc hút, rượu, bia, xăng dầu
+/ Thuế suất tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác Thuế suất tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ, tùy theo quan điểm của các
Trang 2nhà làm luật ở mỗi quốc gia Ở Mỹ, Nhật, một số nước Châu Âu, biểu thuế suất
tiêu thụ đặc biệt là thuế suất cố định Mức thuế tuyệt đối là mức thuế được quy
định bằng số tiền tính trên một đơn vị hàng hóa chịu thuế Còn tại Việt Nam, áp dụng biểu thuế suất tỉ lệ cho thuế tiêu dùng đặc biệt Ví dụ như : thuốc lá điếu, xì
gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá có thuế suất là 65% (Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008)
+/ Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa chịu thuế một cách gián tiếp thông qua giá cả Người sản xuất và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là người nộp thuế cho nhà nước, từ đó thấy đây
là một loại thuế gián thu
+/ Thuế tiêu thụ đặc biệt thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản xuất
và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ này
+/ Thuế tiêu thụ đặc biệt được đánh giá một lần vào khâu sản xuất kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ Đây là loại thuế tiêu dùng một giai đoạn nên không gây sự trùng lặp qua các khâu của quá trình luân chuyển hàng hóa
Khi hàng hoá và dịch vụ này chuyển qua khâu lưu thông thì không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Cơ sở được khấu trừ số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp đối với nguyên liệu đã nộp thuế tiêu thụ đặc biệt nếu có chứng từ hợp pháp
Vì vậy, việc quản lý thuế tiêu thụ đặc biệt đòi hỏi phải kiểm tra, giám sát chặt
chẽ, đảm bảo hạn chế đến mức tối đa sự thất thu thuế tiêu thụ đặc biệt tại khâu sản xuất, cung ứng dịch vụ hoặc nhập khẩu
3 Nội dung pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt.
3.1 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt
Một là, nhóm chủ thể quyền lực là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực thu thuế, xem xét và quyết định miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt Bộ tài chính, Tổng cục thuế và các cơ quan thu là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực thu thuế, xem xét và quyết định miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt
Bộ tài chính và tổng cục thuế chủ yếu tiến hành xem xét và quyết định các trường hợp miễn hoặc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho đối tượng nộp thuế khi có hồ
sơ miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt của đối tượng nộp thuế do cơ quan gửi lên
Cơ quan thu bao gồm: cơ quan thuế, hải quan, cơ quan tài chính Các cơ quan
có thẩm quyền hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thu nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và
áp dụng các chế tài khi cần thiết
Hai là, nhóm chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt Điều 4 luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 quy định chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Trang 3là các tổ chức cá nhân có sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Đối với tổ chức cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ
sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
3.2 Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt.
Điều 5 Luật thuế TTĐB quy định: “Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và thuế suất Số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp bằng giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt nhân với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt” Căn cứ tính thuế được hướng dẫn chi tiết tại Chương II của nghị định số 26/2009
và chương II của thông tư số 64/2009/TT-BTC của bộ Tài chính Trong đó quy
định chi tiết các xác định đối với giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt (tại Điều 4 Nghị định số 26/2009 và Điều 5 Thông tư số 64/2009/TT-BTC) và Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt (Điều 5 Nghị định số 26/2009 và Điều 6 Thông tư số
64/2009/TT-BTC)
3.3 Quản lý thu, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.
3.3.1 Quản lý, giám sát việc khai thuế, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
a Khai thuế
Việc khai thuế được pháp luật quy định có phân biệt giữa chủ thể nộp thuế theo phương pháp người nộp thuế tự tính thuế với chủ thể nộp thuế theo phương pháp khoán
- Khai thuế trong trường hợp người nộp thuế tự tính thuế
Chủ thể nộp thuế tiêu thụ đặc biệt có nghĩa vụ khai thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp hồ sơ khai thuế theo tháng Hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa dịch vụ sản xuất trong nước gồm: tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt, bảng kê hóa đơn bán hàng, dịch vụ chịu thuế và bảng kê thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ (nếu có) Đối vơi hàng hóa nhập khẩu là hồ sơ hải quan Hồ sơ trên phải được nộp đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp của người nộp thuế
- Khai thuế trong trường hợp người nộp thuế theo phương pháp khoán
Các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh không có đăng kí kinh doanh hoặc không thực hiện đăng kí kinh doanh hoặc không thực hiện chế độ hóa đơn chứng
từ, hoặc những chủ thể rơi vào trường hợp luật định phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt theo phương pháp khoán, sẽ nộp hồ sơ khai thuế khoán một lần trong 1 năm, chậm
Trang 4nhất vào ngày 31 tháng 12 của năm trước Hồ sơ đươc nộp cho chi cục thuế địa phương nơi diễn ra hoạt động sản xuất, kinh doanh chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
b Nộp thuế
Người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách nhà nước Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nếu người nộp thuế tự tính thuế, Nếu cơ quan thuế tính thuế hoặc ấn định số thuế phải nộp thì thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan thuế Người nộp thuế có thê được gia hạn nếu gặp phải khó khăn khách quan, để được gia hạn người nộp thuế cần lập hồ sơ gia hạn nộp thuế và gửi đến cơ quan quan lý thuế trực tiếp và phải có quyết định gia hạn của cơ quan này
3.3.2 Quản lý hóa đơn, chứng từ trong quá trình thu, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
a Vai trò của quản lý hóa đơn, chứng từ
Công tác quản lý hóa đơn chứng có những ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả quản
lý thu thuế tiêu thụ đặc biệt:
- Thứ nhất, quản lý tốt hóa đơn, chứng từ sẽ tạo cơ sở để xác định chính xác giá bán hàng hóa dịch vụ, một trong những yếu tố cần thiết để xác định giá tính thuế
và từ đó có căn cứ để tính số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp
- Thứ 2, tạo điều kiện để xác định chính xác số lượng, trọng lượng hàng hóa đã tiêu thụ, từ đó cho phép xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp
- Thứ 3, tạo điều kiện thực hiện tốt việc khấu trừ thuế
- Thứ 4, cho phép cơ quan thuế kịp thời phát hiện những đối tượng nộp thuế không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ để
có biện pháp xử lý tránh thất thu cho ngân sách nhà nước
- Thứ 5, giúp cho việc xác định tính không chịu thuế của hàng hóa, từ đó loại trừ nghĩa vụ nộp thuế của cơ sở sản xuất hàng hóa đó
b Nội dung quản lý hóa đơn, chứng từ
Các cơ sở sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phải tuân thủ nghiêm túc chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ khi mua, bán hàng hóa, kinh doanh dịch vụ và vận chuyển hàng hóa
3.3.3 Hoàn thuế, khầu trừ thuế, và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt
a Hoàn thuế
Hoàn thuế là việc trả lại cho người nộp thuế 1 phần hoặc toàn bộ số thuế mà người nộp thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước Để được hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt, người nộp thuế phải nộp hồ sơ hoàn thuế tại cơ quan quản lý thuế trực tiếp hoặc cơ quan hải quan có thẩm quyền hoàn thuế
Trang 5b Khấu trừ thuế
Việc khấu trừ thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ được thực hiện trong trường hợp người nộp thuế sản xuất hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bằng chính nguyên liệu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và chỉ khi người nộp thuế có chứng từ hợp pháp
Số thuế TTĐB phải nộp – số thuế TTĐB phải nộp của hàng chịu thuế TTĐB xuất kho tiêu thụ trong kì = số thuế TTĐB đã nộp ở khâu nguyên liệu mua vào tương ứng với số hàng xuất kho tiêu thụ trong kì
c Giảm thuế
Khi người nộp thuế sản xuất hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn
do thiên tai, tai nạn bất ngờ, mức giảm thuế được xác định trên cơ sở tổn thất thực
tế do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra nhưng không quá 30% số thuế phải nộp của năm xảy ra thiên tai và không vượt quá giá trị tài sản bị thiệt hại sau khi được bồi thường
II Thực tiễn áp dụng luật thuế tiêu thụ đặc biệt
1 Về đối tượng chịu thuế
1.1 Một số mặt hàng mới được bổ sung
Luật Thuế TTĐB có phạm vi điều chỉnh rộng, ngoài các mặt hàng truyền thống (đồ uống có cồn như rượu, bia; thuốc lá; xăng và các chế phẩm dùng để pha chế xăng, điều hoà nhiệt độ, ôtô du lịch dưới 24 chỗ ngồi, một số mặt hàng mới được
bổ sung vào đối tượng chịu thuế, đáng lưu ý là:
- Xe mô tô có dung tích xi lanh trên 125 phân khối (cm3), với đặc thù là đại bộ phận thuộc loại xe tay ga, xe đua, thường có giá trị lớn, chủ yếu được sử dụng và lưu thông ở các thành phố lớn, người sử dụng phần đông là bộ phận dân cư có thu nhập cao Việc đưa loại xe môtô có dung tích xi - lanh trên 125 cm3 vào diện chịu thuế TTĐB không ảnh hưởng đến các đối tượng sử dụng xe máy phổ thông là bà con nông dân, người lao động có thu nhập trung bình trở xuống mà vẫn bảo đảm được yêu cầu định hướng tiêu dùng, khuyến khích sử dụng năng lượng có hiệu quả, tiết kiệm nhiên liệu và góp phần giảm ô nhiễm môi trường
- Tàu bay và du thuyền (trừ loại được sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch) là những mặt hàng cao cấp phục vụ cho các đối tượng có thu nhập rất cao Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thiên hướng tiêu dùng xã hội, một bộ phận dân cư có thu nhập cao có khả năng sở hữu tàu bay, du thuyền để phục vụ nhu cầu tiêu dùng riêng Vì vậy, Luật Thuế TTĐB đã bổ sung vào diện chịu thuế TTĐB các đối tượng này nhằm thực hiện chính sách điều tiết thu nhập
Trang 6- Bổ sung mặt hàng ôtô dưới 24 chỗ ngồi vừa chở người vừa chở hàng vào đối tượng chịu thuế TTĐB Các Luật Thuế TTĐB ban hành trước đây đều quy định áp thuế đối với ô tô chở người dưới 24 chỗ ngồi Trên thực tế, có loại xe dưới 24 chỗ ngồi có tính chất lưỡng dụng: vừa chở người, vừa chở hàng nhưng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân (như xe VAN, xe pick-up có từ hai hàng ghế ngồi trở lên) Để phù hợp mục tiêu của thuế TTĐB và bảo đảm tính bao quát của Luật nên loại xe này được bổ sung vào đối tượng chịu thuế TTĐB, tuy nhiên, có tính đến tính chất lưỡng dụng của loại xe này nên áp dụng thuế suất thấp hơn loại xe chỉ chở người
- Bổ sung vào diện áp thuế TTĐB đối với những mặt hàng là “các chế phẩm khác từ cây thuốc lá” để bao quát hết các sản phẩm thuốc lá Nội dung này nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống là trên thị trường hiện nay, ngoài thuốc lá điếu, xì gà còn có các chế phẩm khác từ cây thuốc lá nhưng không hút mà dùng để nhai, ngửi
- Đổi mới quy định về kinh doanh đặt cược: Trên góc độ quản lý xã hội thì hoạt động cá cược, một số loại hình “vui chơi có thưởng” mang nặng tính “ăn thua” không cần khuyến khích Do đó, trong khuôn khổ Luật Thuế, các văn bản hướng dẫn đã quy định hoạt động kinh doanh đặt cược “bao gồm: đặt cược thể thao, giải trí và các hình thức đặt cược khác theo quy định của pháp luật” để có thể mở rộng diện điều chỉnh trong trường hợp cần thiết
1.2 Về đối tượng không thuộc diện chịu thuế
Với mục tiêu điều tiết và định hướng sản xuất, tiêu dùng, Luật Thuế TTĐB
2008 quy định cụ thể diện điều chỉnh, có bổ sung thêm một số mặt hàng phải nộp thuế TTĐB Tuy nhiên, thực tiễn cuộc sống cho thấy mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB cũng có thể được sử dụng cho các mục đích không hẳn là tiêu dùng cá nhân
Do đó, trong điều kiện của nước ta, Luật Thuế TTĐB số 27/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn có quy định cụ thể những đối tượng không thuộc diện chịu thuế TTĐB như sau:
- Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, dịch vụ du lịch (loại không dùng cho tiêu dùng cá nhân) Quy định này nhằm không gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh vận tải, du lịch
- Thực tế có một số chủng loại xe ôtô dưới 24 chỗ ngồi được sử dụng cho mục đích chuyên dùng như: xe cứu thương, xe chở phạm nhân, xe tang lễ; xe ôtô thiết
kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên (xe buýt nội thành và liên tỉnh, xe buýt vận chuyển khách trong sân bay, nhà ga) Để phù hợp
Trang 7với mục tiêu của thuế TTĐB đối với mặt hàng ôtô, thực hiện điều tiết đúng đối tượng nên đã bổ sung các loại ôtô chuyên dụng vào diện không chịu thuế
- Theo qui định của pháp luật hiện hành, thì quan hệ trao đổi hàng hoá giữa thị trường nội địa và khu phi thuế quan được coi như quan hệ xuất nhập khẩu, hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hoá từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác không phải chịu các loại thuế gián thu như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế GTGT
Để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật thuế, Luật Thuế TTĐB đã bổ sung các loại hàng hoá đưa vào các khu phi thuế quan vào đối tượng không chịu thuế TTĐB Riêng ôtô chở người dưới 24 chỗ ngồi được nhập khẩu vào các khu phi thuế quan nhưng thực tế do chúng chủ yếu được sử dụng trong nội địa Việt Nam nên vẫn thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB để tránh gian lận thương mại và phù hợp với thực tiễn
2 Về thuế suất thuế TTĐB
2.1 Đối với mặt hàng ôtô du lịch
Trong nhiều năm, Luật Thuế TTĐB quy định mức thuế suất áp dụng đối với ôtô chở người được phân biệt theo tiêu chí số chỗ ngồi Theo đó, ôtô từ 5 chỗ ngồi trở xuống áp thuế suất 50%; ôtô từ 6 đến 15 chỗ áp thuế suất 30%; ôtô từ 16 đến dưới 24 chỗ áp thuế suất 15% Quy định như vậy trong thực tế thực hiện đã bộc lộ hạn chế, bất cập Đối với loại xe từ 6 đến 9 chỗ ngồi được sử dụng chủ yếu làm phương tiện đi lại cho cá nhân, song chỉ chịu mức thuế suất bằng 60% so với mức thuế suất áp dụng cho xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tại nhiều nước, bên cạnh việc sử dụng tiêu chí số chỗ ngồi, họ còn kết hợp với một
số tiêu chí khác để định ra mức thuế TTĐB như dung tích xi lanh (hoặc công suất động cơ), kích thước xe liên quan đến diện tích chiếm chỗ, Trong lần sửa đổi này
đã có sự lựa chọn kết hợp nhiều tiêu chí phân loại để sắp xếp, cơ cấu lại thuế suất giữa các nhóm xe, có tính đến diện tích chiếm chỗ ảnh hưởng đến giao thông, nguồn năng lượng sử dụng
Đối với chủng loại xe từ 6 đến 9 chỗ ngồi sẽ được xếp vào cùng nhóm với các chủng loại xe 5 chỗ ngồi trở xuống để áp dụng một mức thuế suất phân biệt theo dung tích xi lanh với nguyên tắc: dung tích xi lanh lớn hơn sẽ phải chịu mức thuế suất cao hơn; Đối với loại xe có dung tích từ 2.000 cc trở xuống áp dụng mức thuế suất là 45%, dung tích trên 2.000 cc đến 3.000 cc mức thuế suất áp dụng là 50%, dung tích trên 3.000 cc sẽ áp mức thuế 60% là mức thuế suất cao nhất
Các mức thuế suất mới được áp dụng sẽ không gây ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả kinh doanh của các nhà sản xuất, lắp ráp trong nước: Với cơ cấu hiện tại,
Trang 8các chủng loại xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống phần lớn có dung tích xi lanh dưới 2000
cc nên sẽ có lợi hơn (thuế suất giảm từ 50% xuống còn 45%); Trong khi đó, xe sản xuất trong nước loại dung tích xi lanh trên 3.000 cc (chịu mức thuế suất tăng từ 50% lên 60%) chiếm tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 3% số lượng xe sản xuất và tiêu thụ thuộc diện chịu thuế TTĐB) Đối với loại xe từ 6 đến 9 chỗ ngồi sẽ chịu tác động của việc điều chỉnh cách tính thuế do mức thuế suất được điều chỉnh tăng từ 30% lên 45%, 50% và 60% tuỳ theo dung tích xi lanh Tuy nhiên, trong từng doanh nghiệp sản xuất xe ôtô hiện nay đều có sản xuất cả loại xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống
và xe từ 6 đến 9 chỗ, do đó về cơ bản sẽ không ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh Mặt khác, loại xe từ 6 đến dưới 9 chỗ có dung tích trên 3.000cc với mức tăng thuế cao nhất (từ 30% lên 60%), hiện trong nước sản xuất không đáng kể, chỉ chiếm khoảng 0,8% tổng số xe sản xuất trong nước thuộc diện chịu thuế TTĐB
2.2 Đối với đồ uống có cồn
Thuế suất đối với mặt hàng này được các nước đối tác dành sự quan tâm đặc biệt
Đối với mặt hàng rượu, Việt Nam cam kết trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập WTO (tức là từ năm 2010), tất cả các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ
20 độ cồn trở lên sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối tính theo lít rượu cồn nguyên chất hoặc một mức thuế phần trăm Luật Thuế TTĐB trước đây quy định thuế suất đối với mặt hàng rượu được phân biệt theo nồng độ cồn, trong đó rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu thuốc áp thuế suất 20%; rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ cồn áp thuế suất 30%; rượu từ 40 độ cồn trở lên áp thuế suất 65% Hiện nay, rượu sản xuất trong nước chủ yếu là các loại rượu có nồng độ cồn dưới 40 độ, trong đó rượu có nồng độ cồn từ 20 độ đến dưới 40 độ chiếm tỷ trọng lớn về sản lượng (95%) và số thu thuế TTĐB là 93,7% Rượu từ 40 độ trở lên chiếm tỷ trọng nhỏ về sản lượng (5%) và số thu thuế TTĐB (6,3%) Để thực hiện đúng cam kết WTO, Luật Thuế TTĐB mới có quy định mức thuế suất đối với mặt hàng rượu từ 20 độ trở xuống là 25% thay cho mức thuế suất 20% Các loại rượu có nồng độ cồn từ 20 độ trở lên trong 3 năm đầu được áp dụng mức thuế suất là 45%, từ năm 2013 trở đi sẽ áp dụng mức thuế suất là 50%
Đối với mặt hàng bia, theo cam kết thì trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải quy định một mức thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng chung đối với các loại bia, không phân biệt hình thức đóng gói bao bì Luật trước đây quy định bia chai, bia lon áp thuế suất 75%; bia hơi, bia tươi áp thuế suất
là 40% (năm 2006-2007 là 30%) Luật Thuế TTĐB sửa đổi quy định mức thuế suất
Trang 9áp dụng, đối với mặt hàng bia là 50% nhưng có lộ trình áp dụng vì đây là cam kết bắt buộc khi Việt Nam gia nhập WTO nhưng chúng ta cũng phải tính đến quyền lợi
và thực trạng của sản xuất kinh doanh trong nước Việc áp dụng thuế suất đối với mặt hàng bia hơi theo hướng tăng từ mức 40% lên 50% là có lộ trình đã được xác định trước và công bố công khai nhiều năm qua Mức 50% sẽ được áp dụng từ năm
2013 Trong 3 năm đầu kể từ khi Luật số 27/2008 có hiệu lực, mức thuế suất áp dụng chung với tất cả các chủng loại bia, không phân biệt bao bì sẽ là 45% (với bia hơi có tăng 5% so với trước) Mức tăng này sẽ không ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp bia hơi và với lộ trình 3 năm cũng sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất bia hơi có thời gian sắp xếp lại sản xuất, thay đổi cơ cấu mặt hàng (bia hơi, bia chai, bia lon) để ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh
Đối với các dịch vụ khác, Luật Thuế TTĐB sửa đổi giữ nguyên mức thuế suất đối với kinh doanh dịch vụ mát xa, karaoke là 30% Riêng đối với kinh doanh vũ trường được sử dụng bởi phần lớn người có thu nhập khá, vì vậy Luật thuế mới đã điều chỉnh tăng mức thuế suất từ 30% lên 40% Đối với dịch vụ casino, trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh đặt cược: trước đây áp mức thuế suất là 25% Đây là loại hình dịch vụ Nhà nước không khuyến khích kinh doanh và tiêu dùng Do đó, Luật Thuế TTĐB sửa đổi đã điều chỉnh tăng thuế suất lên mức 30% Đối với kinh doanh golf, là loại hình dịch vụ cao cấp, thu hút những người có thu nhập cao trong
xã hội, do đó Luật sửa đổi đã điều chỉnh mức thuế suất lên 20% (thay cho mức thuế 10%)
3 Về vấn đề miễn giảm thuế :
Theo quy định hiện hành của chính sách thuế TTĐB thì với các cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ (có công suất dưới 10 triệu lít/năm) đang hoạt động nếu nộp đủ thuế TTĐB mà bị lỗ, thì được xét giảm thuế TTĐB tương ứng với số lỗ trong năm xét giảm thuế Quy định này trong chừng mực nào đó không khuyến khích các cơ
sở sản xuất nói trên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất Bên cạnh đó, luật còn quy định: cơ sở lắp ráp sản xuất ô tô trong nước được giảm đến 95% thuế TTĐB phải nộp Điều này có nghĩa là nếu ô tô nhập khẩu thì phải chịu mức thuế suất TTĐB từ 30% - 100%, còn nếu là ô tô sản xuất trong nước thì được giảm đến 95% thuế TTĐB phải nộp, tức là chỉ nộp thuế TTĐB với mức thuế suất tương ứng từ 1,5% đến 5% mà thôi Quy định phân biệt này nhằm bảo hộ cho ngành lắp ráp ô tô còn khá non trẻ ở nước ta trong thời gian qua Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang mở cửa hội nhập sâu rộng, đang thực hiện
Trang 10các cam kết theo chương trình CEPT, hiệp định thương mại Việt Mỹ…., quy định
đó không còn phù hợp nữa vì đã vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
4 Về giá tính thuế :
Theo quy định của Luật thuế TTĐB thì giá tính thuế TTĐB là giá do cơ sở sản xuất bán ra tại nơi sản xuất chưa có thuế TTĐB, tức là giá bán có tính cả chi phí bao bì, vỏ hộp trong đó, thế nhưng trong thực tế thì lại áp dụng không thống nhất, không đúng theo qui định của Luật thuế TTĐB, có loại hàng hóa áp dụng trên cơ
sở giá bán có bao bì, có trường hợp áp dụng giá bán không có bao bì nên không đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các hàng hóa cùng loại với nhau Ví dụ, đối với mặt hàng bia, giá tính thuế đối với bia các loại (trừ bia hộp) thì giá tính thuế TTĐB có tính cả chi phí bao bì trong đó, nhưng đối với bia hộp sản xuất trong nước lại được cho loại trừ chi phí bao bì vỏ hộp là 3.000đ/lít ra khỏi giá bán để làm căn cứ tính thuế thuế TTĐB Mặt khác, do quy định hiện hành không khống chế về mức giá tính thuế đối với hàng hóa chịu thuế TTĐB nên một
số cơ sở sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB đã lách thuế bằng cách thành lập các cơ sở kinh doanh thương mại hạch toán độc lập với cơ sở sản xuất để
từ đó hạ giá bán của cơ sở sản xuất bán cho cơ sở kinh doanh nhằm làm giảm số thuế TTĐB phải nộp vào ngân sách nhà nước
III Hướng hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm thực thi tốt pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt
Từ những vấn đề đặt ra trên đây, để thuế TTĐB phù hợp với quá trình hoàn thiện hệ thống chính sách thuế hiện nay của nước ta trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, theo chúng tôi trong thời gian tới chính sách thuế TTĐB cần được nghiên cứu sửa đổi bổ sung một số điểm sau :
Thứ nhất, nên mở rộng đối tượng chịu thuế TTĐB đối với các loại hàng hóa,
dịch vụ sau : các thiết bị điện, điện tử gia dụng cao cấp; điện thoại di động và dịch
vụ kinh doanh nó; vật dụng cao cấp làm bằng pha lê, thảm len; mỹ phẩm cao cấp,
… không phân biệt đó là hàng hóa sản xuất trong nước hay hàng hóa nhập khẩu Bởi đây là những loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp mà thành phần sử dụng đa số là tầng lớp giàu có Việc mở rộng diện chịu thuế TTĐB với những loại hàng hóa dịch
vụ này sẽ góp phần điều tiết thu nhập, định hướng tiêu dùng, mở rộng thêm được nguồn thu, Ngoài ra, do dự thảo sửa đổi luật thuế GTGT mới có điều chỉnh giảm thuế suất đối với hoạt động xổ số kiến thiết, nên cần bổ sung hoạt động này vào diện chịu thuế TTĐB nhằm khai thác tối đa số thu từ hoạt động này Qua việc mở