Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. 2. Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác. 3. Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành. 4. Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. 5. Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường. 6. Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường. 7. Sức khỏe môi trường là trạng thái của những yếu tố vật chất tạo thành môi trường có tác động đến sức khỏe và bệnh tật của con người. 8. Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. 9. Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. 10. Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. 11. Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm. 12. Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. 13. Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác. 14. Công nghiệp môi trường là một ngành kinh tế cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ và sản phẩm phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường. 15. Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải. 16. Phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác. 17. Sức chịu tải của môi trường là giới hạn chịu đựng của môi trường đối với các nhân tố tác động để môi trường có thể tự phục hồi. 18. Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm. 19. Hồ sơ môi trường là tập hợp các tài liệu về môi trường, tổ chức và hoạt động bảo vệ môi trường của cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ theo quy định của pháp luật. 20. Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường. 21. Quy hoạch bảo vệ môi trường là việc phân vùng môi trường để bảo tồn, phát triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội nhằm bảo đảm phát triển bền vững. 22. Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển để đưa ra giải pháp giảm thiểu tác động bất lợi đến môi trường, làm nền tảng và được tích hợp trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững. 23. Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó. 24. Hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường bao gồm hệ thống thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải và quan trắc môi trường. 25. Khí nhà kính là các khí trong khí quyển gây ra sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. 26. Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu. 27. Tín chỉ cácbon là sự chứng nhận hoặc giấy phép có thể giao dịch thương mại liên quan đến giảm phát thải khí nhà kính. 28. An ninh môi trường là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia. 29. Thông tin môi trường là số liệu, dữ liệu về môi trường dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự.
Trang 1Chương 1: Tổng quan về luật môi trường
I Tổng quan về Luật môi trường và bảo vệ môi trường
1 Khái niệm môi trường (Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014)
- Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự
tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” (Khoản 1 Điều 3)
→ Đây là khái niệm môi trường theo nghĩa hẹp: chỉ bao gồm yếu tố vật chất1, yếu tố vật chất này có thể là yếu tố vật chất tự nhiên (như đất nước, không khí, bức xạ mặt trời…) hoặc yếu
tố vật chất nhân tạo (như công trình bảo vệ môi trường…) do con người tạo ra
→ Yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo:
o cũng là những yếu tố bao bọc xung quanh con người và sinh vật (Con người ở đây cũng đồng thời là yếu tố cấu thành môi trường của chính mình - xuất phát từ tính thống nhất của con người và môi trường);
o phải có tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (con người
và sinh vật ở đây chính là chủ thể của LMT) Đây cũng là điểm khác nhau giữa LMT
2005 và LMT 2014: LMT 2014 đã bỏ chữ “bao quanh con người” vì con người không chỉ
là chủ thể của môi trường mà còn chính là yếu tố cấu thành môi trường của chính mình
- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác (K2 Điều 3)
→ TPMT là những yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người vì:
Con người và môi trường là 1 thể thống nhất2
Con người chỉ tồn tại trong điều kiện môi trường phù hợp thôi: Con người chỉ sống được trên Trái đất chứ không sống được trên Mặt trăng vì môi trường giữa 2 cái khách nhau; môi trường xung quanh thay đổi thì cơ thể con người cũng thay đổi để
1 không bao gồm yếu tố tinh thần
2 Là thể thống nhất vì con người chính là sản phẩm của môi trường (toàn bộ sản phẩm, năng lượng nuôi dưỡng cơ thể đều lấy từ môi trường)
Trong tuyên bố Stockholm có nói “con người vừa là sinh vật, vừa là kẻ nhào nặn môi trường của mình” là vậy
đó, vì con người chính là sản phẩm của môi trường mà.
VD: sống trong môi trường, ăn sinh sống từ thức ăn trong môi trường
Trang 2thích ứng, khi sự thay đổi của thành phần môi trường xung quanh vượt quá ngưỡng thích ứng của con người thì con người cũng sẽ bị diệt3
→ Do đó, bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ sự tồn tại của con người
2 Hiện trạng môi trường thế giới và Việt Nam: Do tác động của nhiều yếu tố, chủ yếu do
con người mà môi trường trên thế giới cũng như ở VN đang có sự thay đổi theo chiều hướng xấu, đe doạ đến sự tồn tại của con người, biểu hiện ở chỗ:
- Tình trạng suy kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên: TNTN là những yếu tố do tự nhiên
tạo ra mà con người có thể khai thác, sử dụng Căn cứ vào khả năng cung ứng của TNTN
để đáp ứng các nhu cầu của con người thì TNTN được chia làm 3 loại:
(1) TN vô tận (vĩnh viễn): Phải triệt để khai thác càng nhiều càng tốt vì đây là nguồn năng lượng không thể cạn kiệt trong quá trình khai thác, sử dụng (VD: Năng lượng
mặt trời, thuỷ triều, gió)
(2) TN có thể phục hồi: Là loại tài nguyên có thể tái tạo để bù đắp lại lượng tài nguyên
mà con người đã khai thác Khả năng phục hồi của loại tài nguyên này là có giới hạn Nếu con người khai thác nó trong giới hạn của sự phục hồi thì nó sẽ được duy trì 1 cách bền vững, nhưng nếu khai thác quá mức thì nó vẫn có thể đứng trước nguy cơ của sự tuyệt chủng (VD: tài nguyên sinh vật như thuỷ sản, rừng, nước, đất…)
VD: Diện tích rừng nhiệt đới hiện nay chỉ còn khoảng 3 tỷ ha, giảm 50% so với đầu
thế kỉ 20, nguyên nhân là do con người khai thác vượt quá khả năng phục hồi; Khai thác thuỷ sản đang trong thời kì sinh sản hoặc chưa đạt kích thước nhất định thì cũng
sẽ dẫn đến tình trạng suy kiệt tài nguyên thuỷ sản; Khả năng phục hồi của đất có thể
bị suy kiệt nếu trồng trọt với mật độ quá lớn (1 năm 4, 5 vụ) không để vi sinh vật trong đất tạo ra chất dinh dưỡng (thông qua chu trình nito, cacbon…), sử dụng nhiều phân hoá học cũng dẫn đến tình trạng mặn hoá, khoáng hoá, sa mạc hoá đất
(3) TN không thể phục hồi: Đây là loại tài nguyên không thể tái tạo hoặc có khả năng tái
tạo nhưng chu kì tái tạo của nó rất dài (tính bằng kì địa chất) Nếu khai thác mà không kết hợp tìm ra nguồn vật chất mới để thay thế thì sẽ bị cạn kiệt
VD: TN khoáng sản, dầu lửa, khí đốt…
3 Nói thêm: Con người là sản phẩm của môi trường, con người chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên phù hợp, giữa con người và môi trường là thể thống nhất Để đảm bảo được sự tồn tại và phát triển của con người thì phải duy trì được sự thống nhất giữa môi trường và con người, có 2 cách: biến đổi cho phù hợp với môi trường, giữa cho MT được ổn định (không phá vỡ sự thống nhất và có thay đổi thì cũng nằm trong giới hạn).
Trang 3- Ô nhiễm môi trường4, suy thoái môi trường5 ở VN và TG ngày càng trầm trọng6: dân số ngày càng tăng, kinh tế ngày càng phát triển; lượng tài nguyên khai thác, lượng chất thải ngày càng nhiều Điều này sẽ dẫn đến việc MT bị ô nhiễm, suy thoái
VD: Suy giảm tầng ozone; Số lượng người dân sống ở những thành phố lớn mắc các
bệnh về đường hô hấp lớn hơn so với vùng nông thôn (ô nhiễm kk gây ra); Làng ung thư xuất hiện ngày càng nhiều cũng do sự ô nhiễm môi trường gây ra (VD: nhà máy xả thải kim loại nặng ra nguồn nước sinh hoạt của người dân)
- Sự cố môi trường ngày càng gia tăng về cường độ và tần suất: Sự cố MT là những tai biến, rủi ro xảy ra do hoạt động của con người (như rò rỉ chất phóng xạ, nổ lò phản ứng hạt nhân, tràn dầu…) hoặc là những biến đổi thất thường của tự nhiên (như bão,
lũ lụt, động đất, sóng thần…) gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường nghiêm trọng
VD: Bão ở biển Đông ngày càng mạnh và thường xuyên hơn (hơn 200km/h)
3 Các biện pháp bảo vệ môi trường và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường 7
- Biện pháp chính trị: Đây là biện pháp BVMT thông qua các hoạt động chính trị (của chính khách8, tổ chức chính trị; ở VN còn có tổ chức CT-xã hội, tổ chức CT-XH-nghề nghiệp, đặc biệt là ĐCS VN…)9
→ Đây không phải biện pháp tác động trực tiếp đến MT nhưng là bp tác động đến đường lối, chính sách BVMT, tác động đến nhận thức về MT của các QG, tổ chức, cá nhân Biện pháp này luôn được coi là biện pháp nền tảng, mang tính khởi đầu cho những hoạt động BVMT
4 Khi thành phần MT xuất hiện 1 hoặc vài chất gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép, cụ thể là quy chuẩn MT
5 Ở mức độ nghiêm trọng hơn ô nhiễm MT Suy thoái môi trường có thể là do ô nhiễm MT kéo dài hoặc có thể do con người khai thác quá mức dẫn đến suy kiệt đất, nước…
6 Điều 3 luật BVMT 2014
7 BVMT (Điều 3) là những biện pháp giữ cho môi trường được trong lành, sạch đẹp, ngăn chặn, khắc phục xấu tác động của con người và thiên nhiên gây ra cho MT, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
8 Chính khách, Chính trị gia hay Nhà chính trị, là một người tham gia trong việc gây ảnh hưởng tới chính sách công và ra quyết định Trong đó bao gồm những người giữ những vị trí ra quyết định trong chính phủ và những người tìm kiếm những vị trí đó
9 VD
Trang 4VD: (chính khách) Để hạn chế người dân Ấn Độ sử dụng xe cơ giới nhằm BVMT thì bà
thủ tướng Indira Gandh đi bộ từ nhà đến nơi làm việc → Đây là hành động mang tính tượng trưng để tác động đến nhận thức BVMT của người dân
VD: (chính khách) Hoàng gia Anh đã chuyển từ sử dụng xăng, dầu diesel sang sử dụng
khí đốt
VD: (Tổ chức chính trị) Vai trò của LHQ trong vấn đề BVMT là rất quan trọng, thông
qua hoạt động của Liên Hợp Quốc và, trong đó không thể không nói đến 2 hội nghị thượng đỉnh: Hội nghị Stockholm năm 1972 về môi trường con người và Hội nghị Rio de janeiro năm 1992 về MT và phát triển → 2 hội nghị này đã cho ra đời nhiều văn kiện như Tuyên bố Stockholm về môi trường con người, Tuyên bố Rio về MT và phát triển,
Chương trình nghị sự 21 (Nghị trình tiến vào thế kỉ thứ 21)… Cho đến nay Tuyên bố Rio vẫn được coi là cương lĩnh hành động của con người trong lĩnh vực MT, mặc dù những tuyên bố này không phải là những văn kiện chỉ mang tính rằng buộc về mặt đạo lý và chính trị (không ràng buộc về mặt pháp lý, không bắt buộc phải làm) nhưng các nước vẫn coi nó là văn kiện quan trọng để làm theo
VD: (ĐCS VN) ĐCS là chủ thể đưa ra đường lối, chủ trương về BVMT Trên cơ sở đó,
Nhà nước sẽ thể chế hoá thành chính sách, quy định pháp luật để BVMT; (Đảng xanh ở Pháp…) tôn chỉ của Đảng này chỉ hướng tới việc BVMT
- Biện pháp tuyên truyền, giáo dục: Chủ yếu tác động vào nhận thức của các tổ chức, cá nhân (Nhận thức rất quan trọng, vì muốn có những hành động BVMT thì chúng ta phải
có ý thức về MT, muốn vậy phải nhận thức được tầm quan trọng, QNV của con người trong vấn đề BVMT)
VD: Luật BVMT 2014 quy định phải lồng ghép nội dung giáo dục về MT vào chương
trình đào tạo ở cấp phổ thông (lồng vào môn giáo dục công dân, văn học…)
VD: Tuyên truyền, vận động thông qua băng rôn, truyền hình, trong trường học (buổi nói
chuyện, chuyên đề, hội thảo …)
- Biện pháp kinh tế: đánh vào tiền
VD: Làm sao để người dân chuyển từ sử dụng xăng 95 sang xái xăng E510? → Nhà nước
sẽ đánh thuế BVMT vào xăng 95 cao hơn (VD: thuế suất của xăng 95 là 3.000 đồng/lít, còn xăng E5 là 2.000 đồng/lít), dẫn đến xăng E5 sẽ rẻ hơn Khi đó, các doanh nghiệp
10 Xăng 95 là xăng hoá thạch, xăng E5 có pha thêm 5% là cồn sinh học (làm cho lượng khí thải thải vào MT thấp đi nhiều, không có khí CO2)
Trang 5(như những hãng taxi) và cá nhân sẽ chuyển xăng E5 để 1 ngày tiết kiệm được cả tỷ đồng, họ làm vậy không phải vì họ yêu MT mà là vì lợi ích kinh tế
VD: Mỹ đã cấm nhập cá ngừ từ Mexico nếu như ngư dân Mexico không có biện pháp
bảo vệ loài cá heo (Cá ngừ thường bơi dưới dàn cá heo để ăn chất thải từ cá heo); Mỹ cấm nhập khẩu tôm từ Thái Lan và Ấn Độ nếu ngư dân của 2 QG này không áp dụng bảo
vệ rùa (ý Mỹ kiu là phải dùng lưới mà chỉ có tôm mắc vào chứ rùa không bị)
→ Nếu không áp dụng biện pháp bảo vệ theo Mỹ thì coi như mất nguồn lợi kinh tế từ Mỹ
VD: Người Mỹ áp dụng hệ thống “Kí quỹ có hoàn trả”: uống nước hết mà nộp lại chai
nước thì được tiền
- Biện pháp công nghệ: Tìm ra những năng lượng mới, vật liệu mới để thay thế → giảm
bớt áp lực trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không gây ô nhiễm cho môi trường hoặc phát sinh thấp nhất chất thải ra MT
VD: Dùng năng lượng mặt trời thay cho than đá, dầu lửa để sản xuất điện sẽ không còn
chất CO2 thải ra từ hoạt động này nữa; Dùng xăng E5 thay vì sử dụng dầu sẽ làm giảm khí CO2 phát sinh từ xe cộ; Sử dụng khí đốt, điện để đun gạch ngói thay vì sử dụng gỗ, than
- Biện pháp pháp lý: Không tác động trực tiếp đến BVMT nhưng là công cụ bảo đảm thực hiện những biện pháp BVMT nói trên
VD: Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương ĐCS VN ra nghị quyết số 41 về BVMT
trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để NQ này đi vào cuộc sống thì bắt buộc chúng ta phải thể chế hoá những cái đó thành quy định pháp luật (chúng ta không thể xử phạt 1 doanh nghiệp vì đã vi phạm NQ 41 được vì NQ này không phải là pháp luật, nó không có giá trị bắt buộc) Khi NQ này được thể chế hoá thành quy định trong Luật BVMT và luật khác thì mới mang tính bắt buộc và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước → VD chứng minh biện pháp pháp lý là công cụ bảo đảm thực hiện biện pháp chính trị
VD: Chỉ tuyên truyền, giáo dục không thôi thì sẽ không bao giờ làm thay đổi thói quen,
hành vi của con người Muốn BVMT thì phải quy định chế tài thiệt nặng (VD: Singapore phạt nặng như phạt tù, tiền phạt nặng, lao động công ích… đối với hành vi vi phạm)
→ Tuyên truyền, giáo dục phải đi đôi với pháp lý (ai là người có trách nhiệm tuyên truyền, kinh phí từ đâu…) thì khi đó biện pháp giáo dục mới được thực thi trên thực tiễn
Trang 6VD: Để ban hành 1 loại thuế, đảm bảo hành thu thì phải sử dụng công cụ pháp luật:
Thông qua luật quản lý thuế thì Nhà nước cưỡng chế thu thuế như thế nào, xử phạt hành
vi không nộp thuế ra sao…→ Để áp dụng được biện pháp kinh tế thì phải sử dụng pháp luật
VD: Ở VN, công nghệ sạch là không nhiều, nếu không sử dụng pháp luật thì không bao
giờ DN họ thay đổi công nghệ vì tiền bỏ ra để mua dây chuyền công nghệ là rất lớn, phải đào tạo lại công nhân, mất thêm chi phí vận hành … trong khi sử dụng công nghệ cũ (gây
ô nhiễm MT) thì hiệu quả kinh tế cao hơn → Để công nghệ sạch đi vào thực tiễn thì phải
sử dụng các biện pháp pháp lý: Nhà nước phải đặt ra các quy chuẩn đối với chất thải, khí thải, tiếng ồn…, DN nào không đáp ứng được quy chuẩn này thì sẽ bị xử phạt, đình chỉ hoạt động… mà muốn đáp ứng được tiêu chuẩn đó thì phải sử dụng công nghệ sạch, như thế thì CN sạch mới đi vào cuộc sống được
II Định nghĩa Luật môi trường, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật môi trường.
1 Định nghĩa Luật môi trường
- Luật môi trường là 1 lĩnh vực pháp luật gồm tổng hợp QPPL điều chỉnh QHXH phát sinh trực tiếp trong hoạt động khai thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố MT
- LMT là 1 lĩnh vực pháp luật vì 2 lý do:
Việc phân chia pháp luật thành những ngành luật độc lập đã gặp phải một số vấn đề không ổn về mặt kỹ thuật vì do pháp luật có sự thống nhất nên không chia thành những ngành luật độc lập được
Không thể nói LMT là 1 ngành luật trong hệ thống pháp luật VN vì tính thống nhất của MT Khi nói đến LMT thì không chỉ nói đến quy định của pháp luật VN mà còn gắn với luật quốc tế về MT)
→ LMT (mà chúng ta nghiên cứu trong môn học này) không chỉ là 1 ngành luật trong hệ thống pháp luật VN mà nó còn vượt ra khỏi khuôn khổ của ngành luật, LMT là lĩnh vực rất rộng bao gồm tổng hợp QPPL điều chỉnh các QHXH phát sinh trực tiếp trong hoạt động khai thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố MT QPPL này có thể nằm rải rác ở nhiều văn bản QPPL khác nhau như Hiến pháp 2013 (Điều 4311), Luật bảo vệ môi trường, Luật
11 Điều 43 quy định “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.”
Trang 7bảo vệ và phát triển rừng, luật khoáng sản, luật thuỷ sản, Luật năng lượng nguyên tử… và các bộ luật liên quan như BLDS, BLHS…
2 Đối tượng điều chỉnh của Luật môi trường
- Đối tượng điều chỉnh của LMT là các QHXH phát sinh trực tiếp trong hoạt động khai
thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố môi trường
VD: Trong việc bảo vệ rừng thì ĐTĐC ở đây không phải là QH giữa người và rừng mà là
QH giữa tổ chức, cá nhân với nhau phát sinh trong vấn đề bảo vệ rừng: Pháp luật quy định tất cả chúng ta đều có nghĩa vụ bảo vệ rừng, do đó con người không được tự ý săn bắn động vật rừng, giống loài nguy cấp, quý hiếm…) Nếu thực hiện những hành vi này thì sẽ chịu những biện pháp chế tài tương ứng, thậm chí là truy cứu TNHS
- Muốn xác định ĐTĐC, phạm vi điều chỉnh của LMT cần lưu ý:
Thứ nhất, cần phải xác định yếu tố môi trường: theo LMT thì yếu tố MT chỉ bao gồm những yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo12
→ Những QHXH phát sinh trong vấn đề bảo vệ các yếu tố phi vật thể, sản phẩm tinh thần thì không thuộc ĐTĐC của LMT
VD: Di sản văn hoá gồm DSVH vật thể và phi vật thể, trong DSVH vật thể thì gồm 2
loại: di tích LSVH và danh lam thắng cảnh → Di tích LSVH và danh lam thắng cảnh
là những yếu tố cấu thành MT nên những QH phát sinh trong việc bảo vệ 2 cái này thuộc ĐTĐC của LMT Còn đối với DSVH phi vật thể thì đây là những sản phẩm tinh thần nên không phải là yếu tố cấu thành MT Do đó, những QH phát sinh trong việc bảo vệ DSVH phi vật thể không được coi là ĐTĐC của LMT
Thứ hai, phải là những QHXH phát sinh trực tiếp trong việc khai thác, quản lý và bảo
vệ các yếu tố MT
VD: QH phát sinh trực tiếp trong việc bảo vệ, khai thác tài nguyên rừng gồm những
QH phát sinh trong việc Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, cấp giấy phép khai thác
gỗ rừng tự nhiên…là ĐTĐC của LMT Còn việc sau khi gỗ rừng được khai thác xong thì nó được sử dụng như thế nào (sản xuất thành những bộ bàn ghế hay làm nhà…) thì không thuộc ĐTĐC của LMT
12 Khoản 1, 2 Điều 3 Luật BVMT
Trang 8- Căn cứ vào chủ thể tham gia vào QHPL môi trường, ĐTĐC của LMT được chia làm 3
nhóm:
(1) Nhóm QH giữa các quốc gia và chủ thể khác của LQT về môi trường
→ Để điều chỉnh QH phát sinh trong việc BVMT thì không chỉ sử dụng quy định trong văn bản pháp luật QG mà còn có quy định của LQT nữa
VD: Xây dựng đập thuỷ điện trên thượng nguồn trên sông Mê Kong thì phải tham vấn
ý kiến của các QG trong lưu vực sông Mê Kong → QH về việc tham vấn ý kiến của các QG trong lưu vực sông Mê Kong thuộc ĐTĐC của LQT về MT, cụ thể là Hiệp định về hợp tác phát triển bền vững trong lưu vực sông Mê Kong; chủ thể của QH này
là các nước như Lào, VN, Campuchia, Thái, Miama
(2) Nhóm QH giữa các CQNN với nhau và giữa CQNN với tổ chức, cá nhân
→ Đây chính là những chủ thể thuộc ĐTĐC của luật QG
VD: Bộ Công thương phê duyệt, cho phép 1 DN xây dựng đập thuỷ điện trên lưu vực
sông Đồng Nai, việc này sẽ ảnh hưởng đến chế độ thuỷ văn của sông Đồng Nai đoạn chảy qua TP.HCM UBND TPHCM đã có văn bản phản đối việc phê duyệt này với lý
do việc xây dựng đập này sẽ ảnh hưởng đến việc cung cấp nước sinh hoạt ở TPHCM
Ta thấy, MQH giữa BCT với UBND TPHCM được điều chỉnh bởi luật QG và cũng thuộc ĐTĐC của LMT
VD: DN X xin phép khai thác nước ở sông Sài Gòn để sản xuất nước sạch sinh hoạt
để bán thì nó phát sinh QH thuộc ĐTĐC của LMT: giữa 1 bên là CQNN có thẩm quyền cấp giấy phép, 1 bên là chủ thể xin cấp giấy phép khai thác (chủ đầu tư dự án)
(3) Nhóm QH giữa tổ chức, cá nhân với nhau
VD: Công ty A xả nước thải vào nguồn nước làm cho tôm, cá của nông dân bị chết
Những người nông dân này yêu cầu Cty A phải BTTH do ô nhiễm MT gây ra Đây là
QH giữa tổ chức, cá nhân với nhau và thuộc ĐTĐC của LMT
3 Phương pháp điều chỉnh 13
- Trên cơ sở ĐTĐC, LMT sử dụng 2 PPĐC sau:
PP bình đẳng, thoả thuận → PP này dùng để điều chỉnh nhóm QH (1) và (3)
PP quyền uy: Đây là PP mà Nhà nước dùng quyền lực NN để tác động vào QHXH thuộc ĐTĐC của LMT → PP này dùng để điều chỉnh nhóm QH (2)
13 Là những biện pháp áp dụng để thực thi pháp luật và PPĐC sẽ được xác định dựa trên ĐTĐC
Trang 94 Nguyên tắc của Luật môi trường 14
1) Nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong môi trường trong lành 15 (ĐSTMTTL)
a Khái niệm
- Quyền được sống trong môi trường trong lành: là quyền được sống trong MT không bị ô nhiễm, đảm bảo cuộc sống được hài hoà với tự nhiên
- MT không bị ô nhiễm: không phải tới mức là môi trường trong sạch lý tưởng16 mà là MT
ở mức độ có thể chấp nhận được, tiêu chí đánh giá MT có bị ô nhiễm không căn cứ vào tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng môi trường17
VD: Trong lớp xuất hiện hàm lượng chì trong không khí mà vượt quá giới hạn cho phép
(theo tiêu chí đánh giá MT) thì mới xác định là không khí bị ô nhiễm, chứ nếu hàm lượng chì không cao thì chưa thể coi là ô nhiễm môi trường
VD: Xe ở ngoài đường chạy làm ồn ào lớp học thì chưa thể xác định đó là ô nhiễm tiếng ồn,
chỉ khi vượt quá giới hạn cho phép thì mới xác định là ô nhiễm môi trường
→ Tiêu chuẩn/quy chuẩn chất lượng môi trường do pháp luật quy định chỉ phản ánh môi trường ở mức có thể chấp nhận được (Tiêu chuẩn/quy chuẩn do CQNN ban hành nên sẽ tuỳ vào quan điểm của CQNN tại thời điểm ban hành, có khi những tiêu chuẩn, quy chuẩn này cũng không phù hợp với sức khoẻ con người)
VD: Bộ Tài nguyên và môi trường đưa ra quy chuẩn môi trường không khí xung quanh Tuy
nhiên, có khi hàm lượng chất ô nhiễm nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn chất lượng môi trường nhưng lại làm ảnh hưởng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của con người
Nói thêm: Ở những nước phát triển thì nếu thấy quy chuẩn được ban hành không phù hợp thì người dân được quyền kiện văn bản QPPL nhưng ở VN thì người dân chỉ được kiện các quyết định của cá nhân, cơ quan ban hành, chứ không được kiện văn bản QPPL do QH ban hành
b Cơ sở xác lập nguyên tắc
- Quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền tự nhiên của con người
14 Nguyên tắc là tư tưởng mang tính chỉ đạo của 1 cái gì đó
15 Đây thuộc QNV cơ bản của công dân, Hiến pháp cũng có quy định
16 Vì trên thế giới hiện nay không còn nơi nào còn trong sạch lý tưởng nữa, ngay cả Nam Cực, Bắc Cực người ta còn phát hiện chất gây ổ nhiễm dưới các lớp băng
17 2 cái này cũng đánh giá MT ở mức chấp nhận được thôi
Trang 10(?) Nếu là quyền tự nhiên của con người thì tại sao NN phải ghi nhận quyền này?
- Cơ sở xác lập nguyên tắc này cũng là câu trả lời cho câu hỏi trên:
(1) Xuất phát từ hiện trạng MT hiện nay mà quyền ĐSTMTTL ngày càng bị xâm hại một
cách nghiêm trọng; con người đang tự tước đoạt quyền của mình (con người vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân) Do đó, NN cần phải ghi nhận để có CSPL bảo vệ cho người dân ĐSTMTTL
(2) Xuất phát từ tầm quan trọng của việc ĐSTMTTL: vì quyền này liên quan đến sức
khoẻ, tính mạng của con người
VD: Sống trong MT ô nhiễm thì có thể mắc những căn bệnh nghiêm trọng như ung thư,
bệnh về đường hô hấp, bệnh nan y, xuất hiện làng ung thư… → làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người18
(3) Xuất phát từ xu hướng chung trên thế giới hiện nay:
VD: Trong Tuyên bố Stockholm 1972 và tuyên bố Rio 1992 đều đặt các nguyên tắc này
là nguyên tắc đầu tiên, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất, là nguyên tắc của những nguyên tắc19
VD: Các nước như VN, Nga, TQ, Ba Lan… đều ghi nhận quyền sống trong môi trường trong lành trong Hiến pháp của mình → Ghi nhận để làm cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền
con người được sống trong MT trong lành
- An ninh môi trường: là việc bảo đảm vấn đề môi trường không gây ảnh hưởng đến sự
ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia (Khoản 28 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường)
→ Muốn đảm bảo ANMT thì phải đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân
VD: Nhà máy X gây ô nhiễm môi trường, có nghĩa là nó đã xâm phạm đến quyền được sống
trong môi trường trong lành (ĐSTMTTL) Người dân tố cáo hành vi của nhà máy này đến CQNN có thẩm quyền, CQNN cũng thành lập đoàn thanh tra nhà máy X rồi kết luận: nhà máy đã có hành vi thải chất thải không qua xử lý ra môi trường, xâm phạm quyền
18 Nói thêm: Chất lượng MT sinh sống là 1 trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của Ngân hàng thế giới bên cạnh thu nhập bình quân đầu người, an sinh XH… → Nếu sống trong 1 khu vực có GDP cao mà ô nhiễm MT thì nó sẽ làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh… Rõ ràng ta thấy việc này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
19 Nói thêm: VN đều đã ký 2 tuyên bố này nên về mặt chính trị, đạo lý thì VN phải thực hiện việc bảo vệ quyền được sống trong MT trong lành này