Người chịu thuế TNCN không có khả nănggiao nghĩa vụ chịu thuế sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế.Không giống như các loại thuế gián thu, ví dụ thuế tiêu dùng, khoản thuế
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 3
1.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của Thuế Thu nhập cá nhân(TNCN) ở Việt Nam 3
1.2 Khái niệm và đặc điểm của thuế TNCN 4
1.3 Vai trò của Thuế TNCN 8
1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với Thuế TNCN. .15
1.5 Nội dung pháp luật cơ bản về Thuế TNCN 18
1.5.1 Đối tượng nép thuế: 19
1.5.2 Kỳ tính thuế 19
1.5.3 Thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế: 20
1.5.4 Biểu thuế 22
1.5.5 Thu nhập miễn thuế 23
1.5.6 Các hình thức giảm trừ 25
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ THUẾ TNCN VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN VỀ THUẾ TNCN 27
2.1 Thực trạng pháp luật về thuế TNCN ở Việt Nam 27
2.1.1 Những thành tựu và kết quả đạt được của Thuế TNCN 27
2.1.2 Những hạn chế, vướng mắc trong tổ chức thực hiện Luật thuế TNCN ở Việt Nam 29
2.1.2.1 Về công tác cấp mã số thuế, kê khai nép thuế, quyết toán thuế TNCN 29
2.1.2.2 Hạn chế từ những quy định của Luật Thuế TNCN 31
2.2 Những định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam 41
2.3 Một số giải pháp hoàn thiện Luật Thuế TNCN ở Việt Nam 46
KẾT LUẬN 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tếthế giới Những qui luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giê, từngphót điều chỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng quốcgia và bản thân mỗi chúng ta Chóng ta cần phải hiểu các qui luật đó và tựđiều chỉnh bản thân cho phù hợp với diễn biến của qui luật Quá trình mở cửa,hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàn cầu hóa nền kinh tế đang dầnchứng tỏ là một qui luật của loài người tiến bộ Để bắt kịp với quá trình nàythì mỗi quốc gia phải liên tục có những cải cách nhằm làm phù hợp và thíchnghi với môi trường bên ngoài Trong công cuộc cải cách đó, cải cách về thuếluôn được các quốc gia đặc biệt chú trọng bởi tầm quan trọng của nó đối với
sự phát triển và ổn định lâu dài về mọi mặt của mỗi quốc gia Khái niệm cạnhtranh về thuế giữa các quốc gia lớn trên thế giới đã xuất hiện trong mét haithập kỉ gần đây đã khiến cho các quốc gia còn lại cũng phải liên tục tiến hànhcải cách thuế nhằm tăng cường sức cạnh tranh trên các lĩnh vực thương mạimậu dịch, lực lượng lao động
Nhận thức được điều đó, nước ta đã và đang tiến hành cuộc cải cáchnhằm hoàn thiện hệ thống thuế còn nhiều thiếu sót để có thể theo kịp và bắtnhịp với tốc độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới,đồng thời cũng có thể đạt được các mục tiêu về kinh tế-xã hội-chính trị màNhà nước đã đề ra
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một sắc thuế trực thu có vai trò hếtsức quan trọng Nó đã ra đời tương đối sớm ở các nước phát triển và ngày naythì phát triển rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Sự phát triển của nóđồng hành với sự phát triển của nền kinh tế Điều đó đã được khẳng định khinhìn vào lịch sử phát triển thuế thu nhập cá nhân ở các nước phát triển ViệtNam đang trên con đường phát triển và thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuếkhông thể thiếu được Nó sẽ khẳng định được vai trò và chức năng của mình
Trang 4là một nguồn thu quan trọng trong ngân sách nhà nước và là công cụ gópphần đảm bảo công bằng xã hội một cách đắc lực Chính vì vậy, việc nghiêncứu và hoàn chỉnh Luật thuế thu nhập cá nhân là một việc làm cần thiết
Là mét sinh viên Khoa Pháp Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, em
rất mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu về thuế Đề tài “Pháp luật về Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam- Thực trang và phương hướng hoàn thiện” mà em dự định nghiên cứu sẽ là một cơ hội tốt cho em để được nghiêncứu sâu hơn về thuế, trong đó đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân
Trang 5CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của Thuế Thu nhập cá nhân(TNCN) ở Việt Nam.
Cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế theo hướng thịtrường và chủ trương thực hiện một nền kinh tế mở, Luật đầu tư nước ngoàitại Việt Nam ra đời vào năm 1987 đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nướcngoài đưa vốn vào Việt Nam làm ăn Thị trường lao động cũng bắt đầu xuấthiện những vấn đề mới Tiền lương cho lao động làm ở công ty nước ngoàicao hơn nhiều lần so với lao động ở cơ quan Nhà nước Sự khác biệt về mứctiền lương quá lớn trong xã hội đã gây ra những mâu thuẫn nhất định và hậuquả là việc chảy máu chất xám Chính sách thuế thu nhập cá nhân với tên gọi
là “ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” được ban hànhvào 27/12/1990, có hiệu lực thi hành bắt đầu từ 4/1991 Pháp lệnh này đã qua
5 lần sửa dổi, bổ sung vào các năm 1994, 1997, 1999, 2001 2004 Đến năm
2007, sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và saugần một năm công bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà XHCH Việt nam khoáXII đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) Luật có hiệu lực thihành từ 1/1/2009 Mặc dù còn những ý kiến khác nhau về Luật thuế TNCN,song có thể nói, đây là một văn bản luật được soạn thảo công phu nhất từtrước đến nay, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân vớinhiều điểm mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Luật Thuế TNCN đã có vai trò rất lớn trong việc động viên một phần thu
Trang 6nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước, huy động trách nhiệm, nghĩa vụđóng góp, san sẻ của các cá nhân đối với cộng đồng xã hội; đồng thời thựchiện công bằng xã hội Vị trí của sắc thuế này trong hệ thống thuế ngày mộtnâng cao
1.2 Khái niệm và đặc điểm của thuế TNCN.
Khái niệm thuế TNCN:
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuếthực nhận của cá nhân trong 1 năm hoặc từng lần phát sinh TTNCN khôngchỉ nhằm mục đích mục đích tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước màcòn thực hiện việc điều hòa thu nhập giữa các tầng líp dân cư bảo đảm sựcông bằng xã hội
Thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) là một loại thuế thực thu đánh
trên thu nhập của các cá nhân trong từng thời kỳ.
Thuế TNCN được thu theo 2 phương án chính:
- Phương pháp tính thuế theo từng hộ gia đình, phương pháp này được ápdụng tại Pháp, Hà Lan Phương pháp tính thuế này bảo đảm tính công bằng xãhội cao hơn nhưng phức tạp bởi hộ gia đình phải mở sổ sách kế toán theo dõinguồn thu nhập của các thành viên trong gia đình Phương pháp này có rất Ýtnước áp dụng
- Phương pháp tính thuế thu nhập đối với từng cá nhân: phương pháp nàyđược áp dụng phổ biến tại Anhm Nhật Bản, Thụy Điển…phương pháp nàyđơn giản, dễ lầm, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên cóđiểm hạn chế là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu nhập đảm bảo côngbằng xã hội, nhất là những cá nhân có người ăn theo
Đa số các nước đều đánh thuế theo nơi cư trú, nhưng ở mỗi nước lại cónhững định nghĩa khác nhau Chẳng hạn ở Pháp, một người được coi là cư trú
Trang 7tại Pháp nếu coi pháp là nơi ở chính, hành nghề chính hay có các trung tâmquyền lợi đặt tại pháp hoặc thường xuyên có mặt tại pháp trên 6 tháng/1 nămhoặc pháp là nơi mang lại phần lớn thu nhập ở Mỹ, cá nhân cư trú là côngdân Mỹ và những nười sinh sống ở Mỹ tối thiểu là 330 ngày đêm.
Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở các nước cũng quy định về vấn đềmiễn, giảm thuế tùy theo trình độ phát triển của từng nước
Mặt khác, có thể nhận thấy thuế TNCN là loại thuế phức tạp có diện đánhthuế rộng, khi tính toán phải xét đến gia cảnh của người nép thuế và chínhsách xã hội có liên quan
Đặc điểm thuế TNCN:
-Thứ nhất Thø nhÊt, TTNCN là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp
vào thu nhập của mỗi cá nhân Người chịu thuế TNCN không có khả nănggiao nghĩa vụ chịu thuế sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế.Không giống như các loại thuế gián thu, ví dụ thuế tiêu dùng, khoản thuếđược tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không ảnh hưởng nhiều đến tâm lícủa người mua về khoản thuế mình phải nép, thuế trực thu có thể hiểu bóngbẩy là Nhà nước trực tiếp thò tay vào tói chúng ta và lấy tiền của ta ra, điều
đó chắc chắn sẽ có ảnh hưởng mạnh về tâm lí của người nép thuế Chính vìvậy, mỗi khi chính phủ có những thay đổi trong chính sách thuế TNCN nhviệc điều chỉnh thuế suất và thay đổi phạm vi các đối tượng được miễn giảmthuế thì đều gây ra những phản ứng mạnh mẽ trong dân cư Ví dụ ở Mỹ, năm
2006 khi tổng thống George Bush quyết định giảm mức thuế suất thuế TNCNgiảm dần các đối tượng được miễn giảm thuế, nó lập tức đã gây ra nhữngphản ứng rất gay gắt Bởi vì họ cho rằng sự giảm thuế suất thì chỉ nhằm vàocác bậc thuế ở mức thu nhập cao, tức là nó đem lại lợi Ých cho tầng líp giàu
có và vó thu nhập cao trong xã hội, còn đối với tầng líp dân cư có mức thunhập trung bình và thấp thì chính sách thuế của Tổng thống dường như khôngđem lại cho họ điều gì Mà nó cũng đồng nghĩa với việc nguồn thu ngân sách
Trang 8chính phủ có thể giảm đi, các hoạt động mang tính phóc lợi xã hội mà chủ yếunhằm hỗ trợ người nghèo do đó cũng sẽ giảm đi Hoặc ngay như tại ViệtNam, khi Pháp lệnh thuế TNCN lần đầu tiên đi vào thực hiện 1-4-1991, các
cá nhân người nước ngoài làm việc và có thu nhập phát sinh tại Việt Namphản ứng cũng khá quyết liệt khi thấy rằng thuế suất thuế TNCN đối với họ làquá cao, do lúc đó thu nhập trung bình của nước ta vẫn còn thấp còn trong khi
đó lương trả cho các chuyên gia nước ngoài thì cao hơn nhiều so với trongnước ở đây, ta muốn khẳng định lần nữa là thuế TNCN mang đặc điểm làloại thuế trực thu và phạm vi điều tiết rất rộng nên nó có ảnh hưởng rất mạnhđến tâm lí của dân cư
- Thứ hai, TTNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía
cạnh Một là, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của
cá nhân thuộc diện không đánh thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồngốc phát sinh trong nước hay nước ngoài Hai là, đối tượng phải kê khai népthuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân VN
và những người nước ngoài, người VN định cư ở nước ngoài cư trú thườngxuyên hay không thường xuyên nhưng ngày có số ngày có mặt, làm việc, cóthu nhập theo quy định của luật thuế TNCN
- Thứ ba, xét dưới góc độ kĩ thuật, thuế TNCN có cách tính thuế khá
phức tạp bởi diện đánh thuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh cá nhân,chính sách xã hội cụ thể, có áp dụng phương pháp lũy tiến Có nh vậy mớiđảm bảo công bằng xã hội, người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khinép thuế, họ vẫn còn 1 khoản thu nhập cao hơn so với người thu nhập thấpkhi chưa nép thuế
- Thứ tư, thu nhập chịu điều tiết của thuế sẽ căn cứ vào cụ thể nguồn gốc
phát sinh của các khoản thu nhập và căn cứ vào đặc điểm cư trú hay một sốđặc điểm khác tuỳ theo luật của từng nước Thông thường các nước vẫn sửdụng nguyên tắc cư trú để đánh thuế thu nhập cá nhân Quan niệm về nơi cư
Trang 9trú giữa các quốc gia gần như là tương đồng Nó có những nội dung cơ bảnsau: (i) có nơi ở chính tại quốc gia đó hoặc có thời gian sống ở đó từ 183 ngàytrở lên hoặc lâu hơn những nơi khác Thời gian này có thể thay đổi theo quiđịnh của từng quốc gia (ii) Hành nghề chính tại quốc gia đó, tức là phần lớnthu nhập của đối tượng được tạo ra từ những hoạt động này (iii) Có trung tâmlợi Ých kinh tế tại quốc gia đó, tức là có phần vốn đầu tư chủ yếu hoặc có trụ
sở hoạt động ở quốc gia đó Thu nhập chịu thuế bao gồm tất cả các khoản thunhập theo qui định của Nhà nước sau đó được khấu trừ đi các khoản chi phíkhác được phép khấu trừ theo qui định của Nhà nước Nhà nước sẽ có mộtdanh mục các khoản thu nhập mà phải tính vào thu nhập chịu thuế, đồng thời
sẽ có một danh mục khác liệt kê các chi phí được phép khấu trừ khỏi thu nhậpchịu thuế trước khi tính thuế Ví dụ ở Pháp thì người ta chia ra làm tám loạithu nhập Ta có thể kể tóm tắt ở đây: thu nhập từ cho thuê bất động sản; thunhập từ tiền lương ; thu nhập từ hoạt động sản xuất công nghiệp và thươngmại; thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp; thu nhập của một số lãnhđạo doanh nghiệp; thu nhập từ hoạt động phi thương mại; thu nhập từ bán tàisản; thu nhập từ đầu tư động sản Ngoài ra, có những trường hợp các cá nhân
có thu nhập phát sinh ở nước ngoài mà đã nép thuế một phần ở nước ngoài,thì khi đó việc khấu trừ thuế nép ở trong nước sẽ phụ thuộc vào hiệp định kíkết giữa quốc gia đó và bên nước ngoài về việc tránh đánh thuế trùng Các đốitượng không cư trú tại quốc gia đó thì sẽ chỉ có nghĩa vụ nép thuế TNCN đốivới phần thu nhập phát sinh tại quốc gia đó
- Thứ năm, thuế TNCN thông thường là loại thuế luỹ tiến.Các nước
thường xây dựng một biểu thuế luỹ tiến, các bậc ứng với mức thu nhập càngcao thì có mức thuế suất biên càng cao Do đó những người có thu nhập càngcao thì phải chịu mức thuế đóng góp cao hơn so với những người có mức thunhập thấp hơn Nó góp phần đảm bảo tính chất công bằng trong phân phối xãhội, công bằng ở đây là công bằng theo chiều dọc Biểu thuế luỹ tiến đượcxây dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuế dùa vào khả năng nép thuế của các
Trang 10cá nhân khác nhau Những người có thu nhập cao thì có nhiÒu khả năng népthuế cao hơn những người có thu nhập thấp và ngược lại Tư tưởng đánh thuếdùa vào khả năng nép thuế của Nhà vua Writ1- vị vua nước Anh vào thế kỉ thứ17- đã là cơ sở cho sự phát triển rất sớm của các biểu thuế luỹ tiến Khoảngcách tương đối giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định tính chất luỹ tiến mạnhhay yếu của biểu thuế Khoảng cách này mà càng lớn thì mức độ lũy tiến củabiểu thuế càng cao và ngược lại.
- Thứ sáu, thuế TNCN là một loại thuế phức tạp và mang tính trung lập
đối với cơ cấu kinh tế:
Do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của dân cư, phạm vi điều chỉnh rấtrộng nên việc quản lý đối loại thuế này là hết sức khó khăn Nó dễ gây phảnứng cho người nép thuế Đồng thời do tính chất phân tán và động của đốitượng chịu thuế và nguồn thuế nên công tác quản lý thu thuế rất khó khăn.Chính vì đặc điểm này mà chi phí hành thu của thuế thu nhập cá nhân rất cao
1.3 Vai trò của Thuế TNCN.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, mức sống người dân càng cao thì thuế
TNCN ngày càng góp phần quan trọng trong nguồn thu nhân sách nhà nước.
Chóng ta biết rằng thuế thu nhập cá nhân thu được dùa vào mức thu nhậpcủa dân cư Thu nhập của dân cư càng cao thì nã còng đồng nghĩa với mứcthu từ thuế TNCN sẽ tăng Điều đó chỉ có thể có được khi nền kinh tế có tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP lớn Thông thường, ở những nước càng pháttriển thì tỉ trọng đóng góp của thuế trực thu càng lớn, trong đó thuế TNCNchiếm tỉ trọng khá cao Ta có thể thấy được điều đó qua sè liệu một số nướcphát triển trong khối OECD “năm 1980 tỉ lệ thuế thu nhập cá nhân của cácnước trong khối OECD là 10,9% GDP, trong khi đó tỉ lệ này vào năm 1995 là10,4%”2 Ta cũng có thể xem cấu trúc thuế trong khối OECD từ năm 1980-
1
? Nguån: www.taxworld.org: History of taxation
2 Nguån: Tµi chÝnh th¸ng 5/2001
Trang 111995 để từ đó thấy được vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong nguồn thungân sách chính phủ hàng năm ở những nước phát triển.
Trang 12Bảng 1- Thay đổi cấu trúc thuế trong khối OECD từ 1980-1995:
Đơn vị tính:%
(Nguồn OECD Revenue Statistic)
Còn ở những nước đang phát triển, đời sống người dân chưa cao, thunhập trung bình mới chỉ đủ cho các hoạt động sinh hoạt cần thiết của ngườidân và tiết kiệm ra một phần nhỏ Số lượng những người có thu nhập cao,giàu có trong xã hội thì chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong xã hội, đại bộ phậndân cư là có thu nhập và mức sống còn thấp so với dân cư các nước phát triển.Chính vì vậy, khả năng đóng góp thuế TNCN cho Nhà nước ở các nước đangphát triển vẫn còn rất thấp Ví dụ ở Trung Quốc là một nước đang phát triểnnhưng có mức độ phát triển cao thì thuÕ TNCN chỉ chiếm 13,4% năm 1994
và 16,3% năm 1996 tổng số thu; trong khi đó nguồn thuế TNCN ở Mỹ đạtxấp xỉ 48% năm 1994 trên tổng số thu các loại thuế và phí Nhìn vào số liệu,
ta có thể thấy rằng thuế TNCN thu được tỉ lệ thuận với mức độ phát triển củanÒn kinh tế, với thu nhập trung bình của dân cư Thuế TNCN do đó tất yếu sẽdần trở thành một nguồn thu quan trọng hàng đầu trong nguồn thu ngân sáchnhà nước
Thuế TNCN góp phần đảm bảo tính công bằng và giảm bớt sự phân
hoá giàu nghèo trong xã hội.
Trang 13Một chức năng quan trọng của thuế là nhằm đảm bảo tính công bằng vàgiảm bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội Trong các loại thuế thì thuếTNCN thể hiện rõ nét nhất vai trò này Do đặc điểm là thuế đánh trên thunhập của các cá nhân cùng với tính chất luỹ tiến của thuế TNCN đã thu hẹpđược khoảng cách về thu nhập giữa các cá nhân có mức thu nhập cao và các
cá nhân có mức thu nhập thấp Đây là quan điểm công bằng theo chiều dọc,những người có khả năng nép thuế càng cao thì sẽ nép nhiều thuế hơn vàngược lại Nó khác so với quan điểm công bằng theo chiều ngang là tất cảmọi người sẽ nép thuế cùng với một tỉ lệ nh nhau Các khoản thuế thu đượcsau đó có thể được chính phủ sử dụng để trợ giúp lại những người có mức thunhập thấp Trên lí thuyết đây là một loại thuế rất ưu việt trong việc điều hòathu nhập giữa người giàu và người nghèo Tuy nhiên trên thực tế nó vẫn còngây rất nhiều tranh cãi giữa các nhà kinh tế Khoảng cách giàu nghèo trong xãhội ngày càng mở rộng hơn Người ta đặt ra câu hỏi là liệu chính sách thuếTNCN có thực sự đem lại sự phân phối công bằng hơn cho xã hội hay là nókhông có tác dụng gì cả hay nếu có thì là không đáng kể Và một vấn đề nữacũng được đem ra tranh cãi giữa các nhà kinh tế về tính công bằng của chínhsách thuế Người ta đặt câu hỏi là liệu hiệu quả công bằng mà chính sách thuếđem lại có xung đột với hiệu quả kinh tế hay không Chúng ta đã biết rằng bất
cứ một hoạt động nào cũng chứa đựng trong nã hai tác dụng; tác dụng hiệuquả kinh tế và tác dụng về hiệu quả công bằng Hiệu quả kinh tế là việc sửdụng tối ưu nhất các nguồn lực của xã hội mà từ đó có thể tạo ra tổng lợi Ýchcho xã hội là lớn nhất, còn hiệu quả công bằng quan tâm đến việc phân phốitổng lợi Ých xã hội đã thu được cho các thành viên trong xã hội Giữa hiệuquả kinh tế và hiệu quả công bằng thường xảy ra những mâu thuẫn đốinghịch, được cái này thì phải hi sinh cái còn lại Chính vì vậy, đối với cácnước đang phát triển, bài toán được đặt ra là nên đưa vấn đề nào lên ưu tiên,hiệu quả kinh tế hay công bằng Các nước chấp nhận một cái bánh to và chiakhông đều hay một cái bánh nhỏ và chia đều? Để đánh giá hiệu quả kinh tế
Trang 14thì người ta có nhiều công cụ để tính toán, nhưng để đánh giá hiệu quả côngbằng thì là một vấn đề hết sức khó khăn vì bản thân nã đã là một khái niệmtrừu tượng Thế nào là công bằng? Rất khó có thể đưa ra một định nghĩa hoànchỉnh để tất cả mọi người thống nhất Bạn trồng trong vườn của mình métvườn hoa rất đẹp và rất thơm, rất nhiều người trầm trồ khen ngợi vườn hoacủa bạn và mỗi buổi chiều thường sang vườn hoa nhà bạn để thưởng thức.Nhưng có một người hàng xóm của bạn bị bệnh về đường hô hấp sang phànnàn với bạn rằng hương hoa nhà bạn làm anh ta cảm thấy khó chịu và đòi bạnphá vườn hoa đó đi Câu hỏi đặt ra là bạn nên để nguyên đó hay phá vườn hoa
đi, có cách lùa chọn nào là công bằng không? Vấn đề công bằng càng trở nênphức tạp hơn khi phân tích về chính sách thuế TNCN Người có thu nhập caothắc mắc tại sao họ phải đóng thuế nhiều hơn những người có thu nhập thấphơn họ Họ nói rằng bởi vì tôi lao động nhiều hơn, hoặc trước đây tôi phải vất
vả học hành, bỏ chi phí thời gian và tiền của để có thể làm được những côngviệc đòi hỏi trình độ hơn, do đó tôi có thu nhập cao hơn những người lười laođộng hoặc không chịu khó vươn lên là điều tất nhiên Do đó tiền thuế thunhập mà mọi người phải đóng phải là nh nhau Cách giải thích này cũng hoàntoàn có cơ sở của nó Nhưng ngược lại, người có thu nhập thấp lại lí luận rằng
vì tôi không có cơ hội nhận được việc làm tốt, vì trước đây gia đình tôi khókhăn nên tôi không có điều kiện đi học đại học những người có thu nhậpcao hơn là do họ có những điều kiện thuận lợi và may mắn hơn tôi, do đó cầnphải lấy một phần thu nhập của họ để hỗ trợ chúng tôi bù đắp vào sự khôngmay mắn và không thuận lợi mà chúng tôi đã gặp phải Lí luận của nhữngngười này cũng không sai Nếu cho họ mọi điều kiện y hệt nh người có thunhập cao thì họ chắc sẽ cũng có một mức thu nhập tương tự Vậy cách đánhthuế nh thế nào là công bằng? Liệu chính sách thuế thu nhập theo biểu thuếlũy tiến đã là công bằng với những người có thu nhập cao hay chưa? Và biểuthuế lũy tiến với các bậc thuế nh vậy đã là công bằng hay chưa? Các chínhphủ đều chấp nhận và coi một biểu thuế lũy tiến là công bằng hơn cho tất cả,
Trang 15tất nhiên nó cũng phải hi sinh quyền lợi của một số Ýt để đảm bảo quyền lợi
số đông Việc điều chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập sẽ là công cụ để chínhphủ điều chỉnh mức công bằng lệch về phía nào, người có thu nhập cao hayngười có thu nhập thấp Chúng ta cần phải hiểu ở đây ý nghĩa công bằng chỉ
là mang tính tương đối, nó công bằng cho một bộ phận dân cư nhưng nó cũng
là không công bằng cho một bộ phận dân cư khác Chính sách thuế TNCNđược xây dựng nhằm mục đích là đem lại sự công bằng cao nhất cho xã hộitrong điều kiện có thể, tất nhiên là nó cũng cần phải đảm bảo các mục tiêukhác của xã hội
Thuế TNCN góp phần tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện tăng
đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ta biết rằng mỗi một đơn vị thu nhập bao gồm hai phần: đơn vị tiêu dùng
và phần còn lại là đơn vị tiết kiệm Khi bạn có thu nhập là một triệu đồng, bạnphải nép thuế giả sử là 100.000, bạn còn lại 900.000 trong đó bạn tiêu dùnghết 800.000 còn 100.000 bạn dành tiết kiệm Nếu như không có thuế thu nhập
cá nhân, bạn có quyền tiêu dùng 850.000 và tiết kiệm 150.000; Nếu nhưkhoản thuế nép không sử dụng trong chi tiêu chính phủ thì có nghĩa là tiếtkiệm quốc gia trong trường hợp trước là 200.000 (100.000+100.000); còn ởtrường hợp sau thì tiết kiệm quốc gia chỉ là 150.000 bằng chính với tiết kiệmkhu vực tư nhân Khi tiết kiệm tăng thì sẽ có nhiều nguồn vốn hơn dành chođầu tư vào trang thiết bị máy móc Tỉ lệ tiết kiệm quốc gia có ảnh hưởng vôcùng quan trọng trong tăng trưởng và ổn định kinh tế lâu dài Nó cung cấpnguồn vốn để đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhà xưởng, hay nghiên cứu khoahọc để có thể tăng sản lượng trong tương lai Nhật Bản là minh chứng rõ nétnhất cho thấy ảnh hưởng của tiết kiệm đối với sự phát triển kinh tế Việc sửdụng thuế TNCN là một công cụ điều tiết giữa tiêu dùng và tiết kiệm, tránhnhững tiêu dùng xa hoa mà thay vào đó là đầu tư vào tư bản và con người, sẽgóp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế lâu dài Tuy nhiên, điều đó không có
Trang 16nghĩa là càng tăng thuế TNCN thì sẽ càng tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia Chóng
ta cũng đã đề cập ở trên là thuế thu nhập cá nhân có ảnh hưởng mạnh đến tâm
lí và phản ứng của dân cư Nếu chúng ta cố gắng duy trì mức thuế suất thuếTNCN cao thì sẽ không khuyến khích người lao động tham gia sản xuất kinhdoanh Sở dĩ nh vậy là vì người lao động cảm thấy khi họ lao động vất vả đểkiếm tiền thì ngay sau khi nhận tiền họ đã phải trả một phần lớn thu nhập đócho Nhà nước Do đó họ sẽ không còn động lực cao trong lao động và kiếmtiền Đây cũng là một nguyên nhân để giải thích tại sao một số nước Bắc Âunhư Thụy Điển, nơi mà có mức điều tiết thu nhập giữa người giàu và ngườinghèo cao, trong xã hội có mức phóc lợi cao trên thế giới thì hiện nay lại tụthậu về kinh tế hơn so với một số nước Tây Âu, nơi mà sự điều tiết về thunhập không mạnh mẽ bằng; điều tương tự cũng xảy ra giữa Mỹ và Canada.Theo các nhà kinh tế giải thích thì một phần nguyên nhân là do việc điều tiếtthu nhập của người có thu nhập cao quá lớn đã dẫn đến mất động lực củangười lao động hoặc người lao động sẽ chuyển sang làm việc ở những nướckhác có mức thuế TNCN thấp hơn Do đó, năng suất lao động đã không tăngmạnh nhaư đáng lẽ nó có thể Chúng ta cần có một mức thuế suất vừa phải vàhợp lí để đảm bảo việc tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia nhưng đồng thời vẫn duytrì được nỗ lực và động cơ làm việc của người lao động
Thuế TNCN được các chính phủ của các nước sử dụng rộng rãi trong
việc điều hành chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế khác.
Do thuế TNCN chiếm một phần lớn nguồn thu ngân sách Nhà nước,đồng thời nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng và tiết kiệm củadân cư nên nó có vai trò hết sức quan trọng trong chính sách tài khóa củachính phủ các nước Chính sách tài khóa của chính phủ là chính sách sửdụng chi tiêu chính phủ và thuế là hai công cụ cơ bản để điều chỉnh tổng cầucủa nền kinh tế, khi nền kinh tế suy thoái thì chính phủ có thể tăng chi tiêuhoặc giảm thuế để từ đó kích cầu và đưa nền kinh tế tăng trưởng trở lại; còn
Trang 17khi nền kinh tế đang ở thời kì phát triển quá nóng so với mức bình thườngthì chính phủ lại giảm chi tiêu của mình hoặc tăng thuế để làm giảm tổngcầu Chính phủ có thể điều chỉnh các loại thuế khác nhau căn cứ theo diễnbiến chu kì kinh doanh, nhưng loại thuế được điều chỉnh chủ yếu vẫn là thuếthu nhập, có thể là thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập cá nhân.Mức sản lượng của nền kinh tế tương ứng với tổng mức thu nhập của chính
nó, do đó để điều chỉnh mức sản lượng người ta có thể điều chỉnh mức thunhập của dân cư, từ đó điều chỉnh tổng cầu và đưa nền kinh tế đến mức sảnlượng mong muốn Khi tăng thuế thu nhập thì thu nhập thực tế của dân cưgiảm đồng nghĩa với việc giảm chi tiêu của dân cư do đó tổng cầu giảm, sảnlượng cân bằng của nền kinh tế giảm; còn khi giảm thuế thì điều ngược lại
sẽ xảy ra Mức độ ảnh hưởng của thuế thu nhập cá nhân sẽ phụ thuộc vào độ
co giãn của thu nhập đối với sự thay đổi của thuế suất Nếu độ co giãn lànhạy cảm thì chỉ cần thay đổi thuế suất một tỉ lệ nhỏ cũng có thể làm thayđổi tổng cầu một lượng đáng kể; ngược lại nếu là không nhạy cảm thì tổngcầu sẽ thay đổi không đáng kể Thuế thu nhập cá nhân cũng là loại thuếđược sử dụng chủ yếu trong việc thanh toán nợ của chính phủ Nếu thế hệchúng ta chi tiêu nhiều hơn so với mức thu thì đồng nghĩa với việc thế hệsau chóng ta sẽ phải gánh chịu thuế thu nhập cá nhân cao hơn để thanh toáncác khoản nợ nần đó Bên cạnh chức năng là một công cụ đắc lực trong việcthực hiện chính sách tài khoá của chính phủ, việc quản lí thuế TNCN cũnggiúp Nhà nước trong quản lí giám sát thu nhập của dân cư, từ đó có thể đánhgiá chính xác hơn về mức sống và thu nhập của dân cư nhằm đưa ra cácchính sách kinh tế phù hợp hơn Để tiến hành thu thuế thu nhập của dân cưthì chính phủ cũng phải xây dựng một hệ thống thuế để tiến hành thu vàcũng là để giám sát việc thu nép Vì vậy chính phủ có thể nắm rõ được tìnhhình thu nhập của toàn bộ dân cư Khi làm được điều này, chính phủ sẽ cóthể đánh giá chính xác hơn về thực trạng nền kinh tế, sự phân bố thu nhậptrong dân cư và còn rất nhiều yếu tố khác nữa, từ những đánh giá này mà
Trang 18chính phủ có thể đưa ra các chính sách kinh tế phù hợp hơn như là các chínhsách về việc làm, chính sách bảo hiểm trợ cấp xã hội
Thuế TNCN khẳng định quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân với nhà nước.
Điều này ta cã thể thấy rõ nét khi đem so sánh về ý thức con người giữacác nước phát triển nh Mỹ, Pháp, Đức với các nước đang phát triển nhIndonesia, Lào hay nh bản thân Việt Nam Do ở các nước phát triển, hệthống thuế trực thu đã phát triển và hầu hết mọi người dân đều phải tự tínhthuế và nép thuế cho mình, do đó quan niệm về thuế của họ rất rõ ràng, họcảm thấy mình có nghĩa vụ nép thuế cho Nhà nước của mình Họ cảm thấy tựhào khi nép thuế vì biết mình đã đóng góp cho Nhà nước Tất nhiên cũng cónhiều trường hợp trèn thuế nhưng đây chỉ là những trường hợp cá biệt Còn ởnhững nước đang phát triển thì sao? Khái niệm nép thuế cho Nhà nước còn làđiều hết sức mới lạ đối với rất nhiều người Họ không biết mình phải népthuế Hàng ngày chúng ta vẫn phải nép thuế, nhưng do là thuế gián thu nênchúng ta không biết Khi phải tính và nép thuế trực thu thì nhiều người không
hề thấy thoải mái chút nào Chính vì không phải tự tính thuế và nép thuế chomình nên ý thức thuế của người dân ở những nước đang phát triển là rất thấp.Minh chứng đơn giản là việc dân cư đi qua cầu phải nép phí, lệ phí; có phải aicũng nép không, nếu trèn nép được thì họ cũng sẽ sẵn sàng làm ngay cho dù
đó chỉ là một khoản tiền rất nhỏ Nhìn những nước phát triển, dù không cóngười thu tiền phí và lệ phí thì người đi qua những nơi mà phải nép phí và lệphí vẫn tự giác bỏ đồng xu vào chỗ thu tiền rồi mới đi qua Cũng chính vì sựnhận thức về nghĩa vụ nép thuế đối với Nhà nước của người dân những nướcđang phát triển thấp hơn người dân những nước phát triển cho nên ý thức vềquyền con người của họ cũng thấp hơn Những người càng có ý thức về nghĩa
vụ của mình đối với Nhà nước càng cao thì họ càng có ý thức về quyền củamình đối với Nhà nước cao hơn, họ đòi hái Nhà nước cũng phải thực hiện lạinhững nghĩa vụ đối với họ Chính vì vậy, ta có thể thấy rằng sự phát triển của
Trang 19thuế thu nhập cá nhân cũng là một bước đánh dấu sự phát triển về nhận thức
và văn hóa của con người Đi kèm với sự phát triển về kinh tế bao giê cũng là
sự phát triển về con người
1.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với Thuế TNCN.
Nh chóng ta đã đề cập trong phần vai trò của thuế TNCN, ta có thể thấyrằng sắc thuế có một tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống thuế của mọiquốc gia Nó được đánh giá cao trong vai trò tạo nguồn thu trong ngân sách
và vai trò điều tiết thu nhập của dân cư, đồng thời nó cũng được xem là công
cụ thuế đắc lực trong việc thực hiện chính sách tài khóa của chính phủ Do đó,việc điều chỉnh Thuế Thu nhập cá nhân bằng pháp luật là hoàn toàn cần thiết Thêm vào đó, chúng ta cũng nên điều chỉnh Thuế TNCN bằng pháp luậtxuất phát từ những lý do sau:
Trước hết, Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là thể chế hoá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tài chính
Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “áp dụng thuế thu nhập
cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bé Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập” Cô thể hoá Nghị quyết đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã
thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đã đặt ra yêu cầu:
“Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu
trong nuớc cho phù hợp với tiến trình hội nhập Mở rộng diện thuế trực thu
và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”
Thứ hai, ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm tăng cường
công tác kiểm soát, phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế-xã hội
Trang 20Trong hệ thống chính sách thuế gồm có các loại thuế gián thu và thuếtrực thu Thuế trực thu như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cánhân Thuế thu nhập cá nhân được xây dựng trên các nguyên tắc “lợi Ých”,
“công bằng” và “khả năng nép thuế” Theo nguyên tắc lợi Ých thì mọi ngườitrong xã hội đều được hưởng những thành quả phát triển của đất nước về thểchế luật pháp, cơ sở hạ tầng, phóc lợi xã hội, an ninh trật tù , đồng thời cũng
có nghĩa vô đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việcnép thuế Nguyên tắc “công bằng” và “khả năng nép thuế” thể hiện ở chỗ:người có thu nhập cao hơn thì nép thuế nhiều hơn, người có thu nhập nhưnhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nép thuế Ýt hơn, người có thunhập thấp chưa phải nép thuế Thời gian qua ở nước ta, khoảng cách chênhlệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thunhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng (trong thời gian từ năm 1993 đếnnăm 2004, khoảng cách này đã tăng từ 3,7 lần lên đến 13,5 lần) Như vậy,việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, côngbằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và hạn chế sự gia tăng khoảngcách chênh lệch giầu nghèo giữa các tầng líp dân cư, đồng thời Nhà nước sẽnắm được thông tin về thu nhập của cá nhân góp phần phòng, chống thamnhòng, lãng phí
Thứ ba, ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm hoàn thiện hệ
thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới.
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, hệ thống chính sách thuế đãđược hình thành và từng bước hoàn thiện qua hai lần cải cách (năm 1990 vànăm 1995) Trong giai đoạn đầu chuyển đổi nền kinh tế, các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh chưa phát triển, các thị trường đang trong quá trình hìnhthành, thu nhập dân cư nhìn chung còn thấp và chưa đa dạng (chủ yếu là tiềnlương, tiền công).Với bối cảnh đã, Nhà nước đã sử dụng 3 sắc thuế để động
Trang 21viên cho phù hợp với từng loại thu nhập: đối với thu nhập của cá nhân kinhdoanh áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp; đối với người có thu nhập từ tiềnlương tiền công cao hơn mức bình quân xã hội áp dụng Pháp lệnh thuế thunhập đối với người có thu nhập cao (gọi tắt là Pháp lệnh thuế thu nhập cao);đối với người chuyển quyền sử dông đất, áp dụng Luật thuế chuyển quyền sửdông đất
Tuy nhiên, tới giai đoạn 2006-2010, các thị trường tài chính – tiền tệ,thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoahọc công nghệ đã có sự phát triển mạnh mẽ hơn Nền kinh tế tiếp tục tăngtrưởng nhanh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuấtkinh doanh, có thêm nhiều nguồn thu nhập khác nhau: thu nhập từ kinhdoanh, từ tiền lương, tiền công, từ dịch vụ và đầu tư tài chính Bên cạnh đã,cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, số người nước ngoài đến làm ănsinh sống tại Việt Nam và số người Việt Nam có thu nhập từ nước ngoài cũng
sẽ tăng lên.Trước tình hình này, chính sách thuế hiện hành đối với thu nhậpcủa cá nhân đã không còn phù hợp
Thêm vào đó, chính sách thuế hiện hành cũng chưa phù hợp với thông
lệ quốc tế: chưa có một chính sách thuế điều tiết thống nhất đối với thu nhậpcủa cá nhân
Để đảm bảo phát triển kinh tế xã hội ổn định, bền vững và chủ động hộinhập kinh tế quốc tế, việc tiếp tục hoàn thiện các chính sách tài chính trong đã
hệ thống chính sách thuế nói chung, thuế thu nhập cá nhân nói riêng là hết sứccần thiết, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phân bổ nguồn lực đồng thời giảiquyết tốt các mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăngtrưởng với công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo
Thứ tư, ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm đảm bảo ổn
định nguồn lực cho ngân sách nhà nước
Trang 22Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâurộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốcphòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế còng ngày càng giatăng Thêm vào đã, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngânsách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích luỹ trong nước được tăngdần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước Thuếthu nhập cá nhân cũng sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn địnhthu cho ngân sách nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.5 Nội dung pháp luật cơ bản về Thuế TNCN.
Ngày 20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà XHCH Việtnam khoá XII đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) Luật baogồm 4 chương 35 Điều và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009 Luật cómột số nội dung cơ bản sau:
1.5.1 Đối tượng nép thuế:
Điều 2 Luật thuế Thu nhập cá nhân 2007 và mục 1 phần A Thông tư số84/2008/TT-BTC đã quy định đối tượng nép thuế thu nhập cá nhân là cánhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam
và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ ViệtNam
Cá nhân cư trú là người đáp ứng mét trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dươnglịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng kýthường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê cóthời hạn
Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng các điều kiện trên
Trang 231.5.2 Kỳ tính thuế
Luật Thuế TNCN 2007 quy định riêng kỳ tính thuế giũa cá nhân cư trú
và cá nhân không cư trú.Cụ thể:
Kỳ tính thuế đối với cá nhân cư trú được quy định như sau:
a) Kỳ tính thuế theo năm áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh; thunhập từ tiền lương, tiền công;
b) Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với thunhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, trừ thu nhập từ chuyểnnhượng chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từtróng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại;thu nhập từ thừa kế; thu nhập từ quà tặng;
c) Kỳ tính thuế theo từng lần chuyển nhượng hoặc theo năm đối với thunhập từ chuyển nhượng chứng khoán Trường hợp cá nhân áp dụng kỳ tínhthuế theo năm thì phải đăng ký từ đầu năm với cơ quan thuế
Kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú được tính theo từng lần phát
sinh thu nhập áp dụng đối với tất cả thu nhập chịu thuế
1.5.3 Thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế:
Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 cũng đã quy định chi tiết các loạithu nhập chịu thuế một cách chi tiết, cụ thể Theo đó, các loại thu nhập chịuthuế bao gồm:
- Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinhdoanh hàng hoá, dịch vụ; từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấyphép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm tiền lương, tiền công, cáckhoản có tính chất tiền lương, tiền công; tiền thù lao; tiền nhận được từ thamgia hiệp hội kinh doanh , hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý
Trang 24và các tổ chức; các khoản phụ cấp, trợ cấp( trừ các khoản phụ cấp, trợ cấptheo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, anninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ởnơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hót, phụ cấp khu vựctheo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi connuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuấthàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luậtlao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giảiquyết tệ nạn xã hội; )
- Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm: tiền lãi cho vay; lợi tức cổ phần; thu nhập
từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác(trừ thu nhập từ trái phiếu Chính phủ);
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm: thu nhập từ chuyển nhượngphần vốn trong các tổ chức kinh tế; thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
và thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm: thu nhập từ chuyểnnhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; thu nhập từ chuyểnnhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; thu nhập từ chuyển nhượng quyềnthuê đất, thuê mặt nước và các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyểnnhượng bất động sản
- Thu nhập từ tróng thưởng, bao gồm tróng thưởng từ xổ số, trong cáchình thức khuyến mại; trong các hình thức cá cược, casino; trong các trò chơi,cuộc thi có thưởng và các hình thức tróng thưởng khác
- Thu nhập từ bản quyền, bao gồm: thu nhập từ chuyển giao, chuyểnquyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyểngiao công nghệ
- Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
Trang 25- Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chứckinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữuhoặc đăng ký sử dụng.
- Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chứckinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữuhoặc đăng ký sử dụng
Căn cứ vào các thu nhập chịu thuế trên, Luật thuế TNCN cũng đã quyđịnh 2 cách xác định thu nhập tính thuế tại Điều 21 Cụ thể, thu nhập tínhthuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công là tổng thu nhậpchịu thuế quy định trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảohiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảohiểm bắt buộc, các khoản giảm trừ giảm trừ gia cảnh, giảm trừ đối với cáckhoản đóng góp từ thiện, nhân đạo Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từđầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, tróng thưởng,tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng là thunhập chịu thuế
1.5.4 Biểu thuế
Tương ứng với 2 cách xác định thu nhập tính thuế, Luật thuế TNCN
cũng áp dụng 2 biểu thuế khác nhau áp dụng với thu nhập tính thuế Với thunhập từ thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công thì Luật thuế TNCN ápdụng biểu thuế lũy tiến từng phần Biểu thuế cụ thể như sau:
Thuế suất (%)
Trang 27Thu nhập tính thuế Thuế suất
(%)
Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1 Điều
13 của Luật thuế TNCN
Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại khoản
2 Điều 13 của Luật thuế TNCN
200,1
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản
1 Điều 14 của Luật thuế TNCN
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản
2 Điều 14 của Luật thuế TNCN
252
1.5.5 Thu nhập miễn thuế
Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Luật thuế TNCN các thu nhập đượcmiễn thuế bao gồm:
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ,
mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng vớicon dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bàngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau
- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liềnvới đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất
Trang 28- Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nướcgiao đất
- Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng;cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹchồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội;ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau
- Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâmnghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành cácsản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
- Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đượcNhà nước giao để sản xuất
- Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểmnhân thọ
- Thu nhập từ kiều hối
- Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giê được trả cao hơn sovới tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giê theo quy định của pháp luật
- Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả
- Thu nhập từ học bổng, bao gồm:
a) Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước;
b) Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước theochương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó
- Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiềnbồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồithường khác theo quy định của pháp luật
Trang 29- Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩmquyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện,nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận
Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từthiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhànước có thẩm quyền phê duyệt
Đối tượng nép thuế gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnhhiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nép thuế thì được xét giảm thuế tươngứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nép
i) Mức giảm trừ đối với đối tượng nép thuế là 4 triệu đồng/tháng (48triệu đồng/năm);
ii) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng Người phụ thuộc là người mà đối tượng nép thuế có trách nhiệm nuôidưỡng, bao gồm:
a) Con chưa thành niên; con bị tàn tật, không có khả năng lao động; b) Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mứcquy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung họcchuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động;