1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của hệ thống tài chính đối với sự phát triển kinh tế tại việt nam trong giai đoạn hiện nay h

29 253 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 834,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lực về vốn,nhu cầu về vốn luôn là vấn đề quan trọng và được ưu tiên hàng đầu khibước vào một kì kinh doanh mới.Tuy nhiên trong nền kinh tế luôn xuất hiệnnhững chủ thể có vốn nhàn rỗi và

Trang 1

Mục lục

Phần 1: Cơ sở lý thuyết

1 Khái niệm hệ thống tài chính

2 Chức năng của hệ thống tài chính

3 Cấu trúc hệ thống tài chính

4 Vai trò của hệ thống Tài chính

Phần 2: Vai trò của hệ thống tài chính đối với sự phát triển kinh tế

tại Việt Nam Liên hệ trong giai đoạn hội nhập hiện nay

1 Thị trường tài chính

2 Trung gian tài chính

3 Hệ thống cơ quan giám sát

Trang 2

lực về vốn,nhu cầu về vốn luôn là vấn đề quan trọng và được ưu tiên hàng đầu khibước vào một kì kinh doanh mới.Tuy nhiên trong nền kinh tế luôn xuất hiệnnhững chủ thể có vốn nhàn rỗi và những chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn cho hoạtđộng kinh doanh và tiêu dùng nhưng lại không đủ hoặc không có vốn.Nhưng giữahai loại chủ thể này rất khó gặp nhau để có thể trao đổi nhu cầu về vốn của mình

do những cản trở về thời gian,sự quen biết,thông tin,trình độ và uy tín…Để giảiquyết mâu thuẫn đó các định chế tài chính trung gian ra đời,đã tạo nên sự thuận lợi

và phân tán rủi ro cho các bên

Xã hội ngày càng phát triển,nhu cầu sử dụng về nguồn vốn ngày càng đadạng và phức tạp hơn.Trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao,trình độ chuyênmôn cũng tăng lên không ngừng đã giúp cho việc trao đổi tài chính ngày càng trởnên dễ dàng và nhanh hơn với nhiều hình thức tiếp cận nguồn vốn khácnhau.Người ta có thể thỏa mãn nhu cầu về vốn thông qua thị trường tài chính trựctiếp hoặc qua các trung gian tài chính.Tuy nhiên việc thông qua thị trường tàichính trực tiếp mang lại nhiều nguy cơ tiềm ẩn với rủi ro cao hơn.Để đảm bảo chonền kinh tế tăng trưởng bền vững đòi hỏi dòng vốn phải được luôn chuyển mộtcách trôi chảy,nhạy bén nhưng phải đặt trong một khuôn khổ, trật tự nhấtđịnh.Điều đó đã tạo động lực hình thành và ra đời một hệ thống tài chính nhằmđảm bảo dòng vốn luân chuyển an toàn, hiệu quả hơn

Hiểu được tầm quan trọng của hệ thống tài chính đối với nền kinh tế, đặc biệttrong bối cảnh hội nhập không ngừng mà Việt Nam đang hướng tới.Cho nên việctìm hiểu hệ thống tài chính và vai trò của hệ thống tài chính đối với nền kinh tếViệt Nam hiện nay là điều hết sức cần thiết Nhằm làm rõ vấn đề này, tiểu luận tậptrung tìm hiểu và phân tích “ Vai trò của hệ thống tài chính đối với sự phát triểnkinh tế tại Việt Nam”

Nội dung nghiên cứu của nhóm gồm 3 phần:

Nghiên cứu cơ sở lý thuyết

Trang 3

Vai trò của hệ thống tài chính đối với sự phát triển kinh tế tại Việt Namtrong xu hướng hội nhập mới

Cơ hội – thách thức – giải pháp

Với thời lượng cho phép,nhóm 1 đã tìm hiểu thông tin trong giáo trình, một

số sách báo, và trang mạng cổng thông tin bộ tài chính nhưng không thể tránh khỏithiếu sót và hạn chế về kiến thức Nhóm 1 rất mong nhận được góp ý bổ sung của

Cô giáo, bạn bè để hoàn chỉnh bài tiểu luận được tốt hơn

Nhóm 1 chân thành cảm ơn!

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1 Khái niệm hệ thống tài chính

Hệ thống tài chính (HTTC) là tổng thể bao gồm các bộ phận cấu thành: thị trườngtài chính, định chế tài chính trung gian, cơ sở hạ tầng pháp lý – kỹ thuật và các tổ chức

Trang 4

quản lý giám sát và điều hành HTTC; gắn liền với việc huy động, sử dụng các công cụTài chính để tổ chức phân bổ nguồn lực tài chính nhằm đạt được mục tiêu đề ra của cácchủ thể trong nền kinh tế; được tạo lập trong một môi trường kinh tế xã hội cụ thể

2 Chức năng của hệ thống tài chính

a Huy động nguồn tài chính

Chức năng huy động vốn thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tàichính nhằm tạo lập nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.Chứcnăng huy động vốn được thực hiện trên cơ sở tương tác giữa các yếu tố:

- Chủ thể cần vốn

- Các nhà đầu tư

- Hệ thống tài chính gồm thị trường tài chính và định chế tài chính

- Môi trường tài chính và kinh tế

b Phân bổ nguồn tài chính:

Chức năng phân bổ nguồn tài chính hay còn gọi là chức năng phân phối nguồn tàichính biểu hiện thông qua thiết lập kế hoạch sử dụng nguồn lực có sẵn để đạt được mụctiêu phát triển trong ngắn hạn và dài hạn của các chủ thể kinh tế - xã hội.Qua chức nanăng phân bổ nguồn lực,các quỹ tiền tệ chuyên dùng được hình thành với những quy

mô nhất định tương ứng với nhu cầu chi tiêu của các chủ thể

c Sàng lọc, chuyển giao và phân tán rủi ro:

Chức năng sàng lọc, chuyển gia và phân tán rủi ro thể hiện qua việc tổ chứcthực hiện các công cụ của hệ thống tài chính,quản lý giám sát điều hành,cung cấpthông tin giúp cho những nhà đầu tư lựa chọn kênh đầu tư an toàn hạn chế bớt cáchình thức đầu tư có tính rủi ro cao

d Kiểm tra giám sát quá trình phân bổ nguồn tài chính

Kiểm tra tài chính phản ánh hoạt động thu thập và đánh giá những bằngchứng về thông tin liên quan đến quá trình huy động vốn và phân bổ các nguồn tài

Trang 5

chính với mục đích giảm bớt thông tin bất cân xứng, đảm bảo tính đúng đắn, tínhhiệu quả và hiệu lực của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.

e Vận hành hệ thống thanh toán

Chức năng vận hành hệ thống thanh toán nhằm làm tăng tính thanh khoảncủa các tài sản tài chính,giảm chi phi giao dịch, được thể hiện thông qua việcphát triển và hoàn thiện các hệ thống thanh toán,đặc biệt thanh toán không bằngtiền mặt

3 Cấu trúc hệ thống tài chính

a Thị trường tài chính

b Trung gian tài chính

c Cơ sở hạ tầng pháp lý – kỹ thuật về tài chính

d Các tổ chức điều hành, giám sát hệ thống tài chính

4 Vai trò của hệ thống tài chính

Hệ thống tài chính có vai trò được thể hiện thông qua các mối liên hệ giữacác dòng vốn với sự tăng trưởng kinh tế và sự điều hành của các định chế tàichính ( chủ yếu là các trung gian tài chính) trong vai trò phân bổ nguồn lực vàocác khu vực kinh tế,các hoạt động kinh tế diễn ra một cách hiệu quả

- Hệ thống tài chính tạo ra các dòng vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh

tế.Bằng nghiệp vụ của mình,hệ thống tài chính huy động và tạo lập các nguồn vốn,

1 phần chảy trực tiếp vào các lĩnh vực đầu tư phát triển theo hình thức tự đầu tư,vàmột phần lớn đước tăng cường vào dòng tài chính với mục tiêu thu được cáckhoản lợi tức thống qua các khoản đầu tư nợ và đầu tư vốn chủ sở hữu.sự xuấthiện những dòng vốn này cùng với sự bổ sung thường xuyên từ lợi tức tài chínhlàm vững mạnh thị trường tài chính, tăng cường các nguồn lực tài chính cho tăngtrưởng kinh tế

- Hệ thống tài chính ( chủ yếu là các trung gian tài chính) có vai trò phân bổ

nguồn lực tài chính một cách hiệu quả

Trang 6

 Trung gian tài chính với chức năng huy động vốn để cho vay từ đó

đã nảy sinh ra các dịch vụ giám sát và đánh giá các giao dịch tài chính,quản lý rủi

ro và tạo thuận lợi cho các giao dịch ( tăng thông tin và giảm chi phí )

 Ngoài ra với sự ra đời của các trung gian tài chính cũng cũng có ýnghĩa trong việc tích lũy vốn cho nền kinh tế và hỗ trợ đổi mới công nghệ cho vấn

đề tăng trưởng kinh tế trên nhiều khía cạnh khác nhau

 Quản lý điều hành hiệu quả các dòng vốn (không để vượt giới hạncho phép) và sự hình thành phát triển của các thể chế tài chính

PHẦN 2: VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁTTRIỂN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM.LIÊN HỆ TRONG GIAI ĐOẠN HÔI NHẬPHIỆN NAY

1 Vai trò của thị trường Tài chính

Trang 7

* Thị trường tài chính tạo lập nguồn vốn cho nền kinh tế

Với vai trò là tích tụ và tập trung tư bản cho nền kinh tế, hệ thống Ngân hàngthương mại là một kênh huy động vốn giáp tiếp để tạo lập nguồn vốn Hệ thốngNgân hàng thương mại thực hiện chức năng huy động vốn của mọi thành phầnkinh tế trong xã hội thông qua các dịch vụ tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ thanh toán,

…Lãi suất huy động trên thị trường có ảnh hưởng rất quan trọng đến lượng vốn

mà các Ngân hàng thương mại huy động được Lãi suất này phải đảm bảo là lãisuất thực dương, tức là phải cao hơn tỷ lệ mất giá của tiền tệ nhưng phải thấp hơnlãi suất cho vay để đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho hệ thống Ngân hàng.Từnguồn vốn huy động này, các Ngân hàng thương mại cung ứng một lượng vốn dồidào cho nền kinh tế thông qua hoạt động cấp tín dụng.Lãi suất trên thị trường tiền

tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua bán chứng khoán trên thị trườngvốn

Khi lãi suất tiết kiệm chưa thật sự hấp dẫn những người có tiền nhàn rỗimong muốn có nơi đầu tư sinh lợi cao hơn, mạo hiểm hơn thì thị trường chứngkhoán là một kênh huy động vốn trực tiếp cho nền kinh tế Dựa vào tính thanhkhoản cao của tài sản tài chính trên thị trường này cũng như tính linh hoạt tronglựa chọn danh mục đầu tư sao cho mức sinh lời tối ưu, thị trường chứng khoán rađời ở Việt Nam đã thật sự là nơi thu hút vốn rất lớn vì tính hấp dẫn ở suất sinh lờicao hơn lãi suất tiết kiệm hay sự kỳ vọng vào giá trị cổ phiếu trong tương lai Mặtkhác, nhà đầu tư cần vốn chỉ phải bỏ ra chi phí rất thấp nhưng có thể huy độngnguồn vốn lớn, tức thì, không bị bó hẹp như cơ chế cho vay Tuy nhiên, điều nàycòn phụ thuộc vào sự thuyết phục của nhà đầu tư từ những dự án kinh tế có sứcsinh lời cao Điều quan trọng là cần phải khơi thông cơ chế hoạt động cho thịtrường chứng khoán phát triển

* Thị trường tài chính góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế

Trang 8

Các công cụ và chính sách trên thị trường tài chính ngày càng phát triển sẽgiúp khai thông các nguồn vốn và khai thác triệt để các nguồn lực tài chính.Cácnguồn lực tài chính bao gồm nguồn lực trong nước và nguồn lực từ nướcngoài.Đối với nguồn lực tài chính trong nước, cần phát triển đa dạng các dịch vụ

về tài chính để những khoản tiết kiệm, tiền nhàn rỗi được đưa vào lưu thông sinhlợi hơn là đưa vào cất trữ.Khi đó, nội lực tài chính trong nước được huy động triệt

để Đối với nguồn lực tài chính bên ngoài, cần có chính sách khơi thông luồng tiềnvào và ra bằng cơ chế giám sát hơn là các biện pháp quản lý hành chánh, để thuhút nguồn lực tài chính lớn của các tập đoàn nước ngoài

Thị trường tài chính phát triển, mọi thông tin trên thị trường được công khai,minh bạch Nhà đầu tư muốn phát hành cổ phiếu huy động vốn trên thị trườngphải thực sự là đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao Sự cạnhtranh thu hút vốn này buộc các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả hoạt động,thường xuyên đổi mới công nghệ để tăng hiệu quả kinh tế Vì thế mà hiệu quảkinh tế của xã hội cũng được nâng lên.Mặt khác, khi doanh nghiệp tạo được sự kỳvọng vào một giá trị thị trường tương lai tăng cao sẽ kích thích cho mọi người tăngtiết kiệm để đầu tư vào các doanh nghiệp có hiệu quả cao.Vì vậy, thị trường tàichính có vai trò kích thích việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả

* Thị trường tài chính góp phần đầy nhanh quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế

Ngày nay với tốc độ tự do hóa toàn cầu, không một thị trường nào có thể pháttriển riêng lẻ mà phải có mối liên hệ với nhau Điều đó được thể hiện bằng việcmức độ tự do hóa thị trường tài chính trong nước và mức độ hội nhập vào nền kinh

tế thế giới Vì thế mà hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới tiến hành cải cáchtài chính tiền tệ theo xu hướng tự do hóa tài chính

Đối với tự do hóa tài chính, được thể hiện ở các mặt sau:

Trang 9

- Tự do hóa lãi suất: lãi suất hình thành trên thị trường phải do thị trườngquyết định, phụ thuộc vào cung cầu, đầu tư, mức tiết kiệm và thu nhập trong nềnkinh tế Tự do hóa lãi suất thường gắn liền với nó là tự hóa tỷ giá hối đoái, có tácđộng mạnh đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quyết định tốc độ và tính chất củatăng trưởng kinh tế.

- Tự do hóa cơ chế quản lý tỷ giá linh hoạt: là thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi

có quản lý Việc áp dụng cơ chế này là phù hợp với thị trường tài chính hiện tạicủa Việt Nam Tuy nhiên, điều cần lưu ý là điều chỉnh tỷ giá linh hoạt tương ứngvới một rổ tiền tệ, gồm các đồng tiền tham gia vào thương mại với Việt Nam hơn

là neo chặt vào dollar Mỹ Mấu chốt của chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý làxây dựng một hành lang tỷ giá cho phép tỷ giá giao động trong một giới hạn nhấtđịnh xung quanh tỷ giá chính thức của Ngân hàng Nhà nước

Ngoài ra, quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam phải được tiến hành từngbước và gắn với tự do hóa các lĩnh vực khác như:

- Tự do hóa giao dịch vãng lai

- Tự do hóa giao dịch vốn

- Thực hiện chuyển đổi đồng bản tệ

Thị trường tài chính phát triển sẽ làm tăng khả năng chuyển đổi tiền tệ đốivới các giao dịch qua tài khoản vãng lai; mở rộng và không hạn chế các giao dịchtài chính qua biên giới của công dân nước sở tại và nước ngoài; các luồng vốnnước ngoài được tự do ra vào trên thị trường chứng khoán Khi nền kinh tế củamột nước là lớn mạnh và đồng tiền có uy tín thì đồng tiền của quốc gia đó đượcxem là đồng tiền chuyển đổi tự do khi mà bất cứ ai có đồng tiền đó đều có quyền

tự do chuyển đổi sang những ngoại tệ tự do mang đầy đủ chức năng thanh toán và

dự trữ quốc tế theo tỷ giá hối đoái thị trường ngay ở trong nước và cả khi ra khỏibiên giới quốc gia

Trang 10

Thị trường tài chính phát triển giúp cho các chủ thể tham gia trên thị trường

có thể hòa nhập vào nhau cho dù họ ở bất kỳ đâu trên thế giới và khi đó tính hộinhập quốc tế được thể hiện.Trước hết là trong lĩnh vực kinh tế – thương mại.Những vùng, miền kinh tế khác nhau có thể đang xen hoạt động kinh tế – thươngmại của nhau thông qua thị trường tài chính ở mỗi quốc gia khi mà thị trường tàichính được tự do hóa

Không thể phủ nhận những mảng sáng của thị trường tài chính Một cáchchung nhất, đó là: Chủ động, linh hoạt, vật lộn và nhìn rõ ra nhiều góc khuất…nên đã cơ bản thoát khỏi nhiều nguy cơ tái khủng hoảng tài chính, bùng nổ lạmphát quá lớn và chặn được đà suy giảm kinh tế

Tăng trưởng GDP và tỉ lệ thất nghiệp từ năm 1998 đến năm 2010

( Nguồn: IMF World Economic Outlook )

Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm dần qua các năm đi cùng với sự tăng lên của tốc

độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2000 đến 2005

Từ năm 2005 tới 2007 tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ tăng nhẹ, còn lạm

phát lại nhích dần qua các năm

Một số chỉ tiêu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998- 2010

Trang 11

( Nguồn: ADB statistics )

Trong bối cảnh gần như cả thế giới, kể cả những nền kinh tế phát triển tiếptục lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ và chưa khắc phục xong cuộc khủng hoảngtài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xuất phát từ Mỹ năm 2008,cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu lại tác động dữ dội đến kinh tế trong nước, cộng với hậuquả của chính sách thắt chặt tiền tệ có phần quá mức trong giai đoạn trước đó đãkhiến cho nền kinh tế rơi vào trạng thái giảm phát trong những thángcuối năm 2008 Mặc dù chịu tác động bởi những khó khăn cộng hưởng như vậy,nhưng kết thúc năm 2008 và 2009, nền kinh tế Việt Nam vẫn kiểm soát được hầuhết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường tài chính nói riêng ở mứcchấp nhận được và “cán đích an toàn” với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đạt mức tươngứng là 6,3% và 5,32% và lạm phát ở mức 19,90% và 6,52% Tốc độ tăng tín dụngtổng quát xung quanh 25%, đạt mức kỳ vọng; Chỉ số chứng khoán không mấtđiểm như các thách thức từng đe dọa từ đầu năm, VNINDEX vẫn giữ ở mức xungquanh 500 điểm; Thị trường bất động sản khá ổn định ở mức không bị trồi, sụt quálớn; Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 17,2 tỉ USD, vốn giải ngân tăng10% so với 2009 và “chạm” mức kỷ lục đã xác lập 11,5 tỉ USD năm 2008; Xuấtkhẩu xác lập con số kỷ lục 71,6 tỉ USD; Nhập siêu chỉ còn 17,3% tổng kim ngạchhàng hóa xuất khẩu Việt Nam vẫn đứng trong số các nước tăng trưởng khá trongkhu vực châu Á – vùng kinh tế đầu tầu của thế giới

Trang 12

Hầu hết các chỉ số tăng trưởng của cả 3 ngành công nghiệp, nông nghiệp,dịch vụ đều tăng khá so với năm 2009 (lần lượt công nghiệp: 7,7%/5,57%; nôngnghiệp: 2,78%/3,74% và dịch vụ: 7,52%/6,64%), kéo theo tăng trưởng GDP:6,78%/5,32% cùng cặp so sánh năm 2010/2009 – Nghĩa là, thị trường tài chính đãtừng bước đi đúng địa chỉ để kích hoạt cho nền kinh tế dần hồi phục sau suy giảm.Bước sang 2013: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2013 tăng 2,59% so với tháng12/2012 và tăng 7,02% so với cùng kỳ năm trước Chỉ số giá tiêu dùng bình quân haitháng năm 2013 tăng 7,04% so với bình quân cùng kỳ năm 2012.Kim ngạch hàng hóaxuất khẩu tháng 02/2013 ước tính đạt 7,5 tỷ USD, giảm 34,6% so với tháng trước, trong

đó kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực giảm mạnh: cao su giảm 53,9%; giầydép giảm 51,4%; dầu thô giảm 18,9% So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóaxuất khẩu tháng Hai giảm 9%

Tóm lại, thị trường tài chính có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựngphát triển đất nước.Đây là thị trường tiền đề cho mọi hoạt động của nền kinh tế xãhội được diễn ra, bắt đầu từ việc tạo lập nguồn vốn đến nâng cao hiệu quả kinh tế

xã hội và cuối cùng là hội nhập và nền kinh tế thế giới Cho nên, thị trường tàichính cần được xây dựng trên những nền tảng vững chắc, có cơ chế giám sát phùhợp nhằm hạn chế những tác hại, rủi ro khi có khuảng hoảng tài chính

2 Trung gian tài chính

Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì hiện Việt nam có: 5 Ngân hàngthương mại lớn (Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàngCông Thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngânhàng chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng liên doanh; 36 Ngân hàngthương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 10 Công ty tài chính;

13 Công ty cho thuê tài chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các công ty chứng khoán,các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tàichính

Trang 13

Tại Việt Nam, hiện có đầy đủ các loại hình tổ chức tài chính trung gian baogồm:

• Ngân hàng thương mại:

• Công ty chứng khoán

• Công ty tài chính

• Công ty bảo hiểm

• Quỹ đầu tư gồm có các quỹ đầu tư chúng khoán và quỹ đầu tư bất động sản

Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự tăng trưởng rất nhanh trong nhữngnăm qua với tốc độ tăng trưởng bình quân 35%/năm Với hoạt động nhận tiền gửi,cho vay, cung cấp các dịch vụ thanh toán, trao đổi ngoại tệ và các dịch vụ tư vấntài chính khác… hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khálớn cho nền kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50% vốnđầu tư toàn xã hội

Các công ty Chứng khoán trong quá trình phát triển luôn đồng thời tăng vốnđiều lệ, nhằm đáp ứng được khả năng tài chính và sự phát triển Các công ty chứngkhoán đã góp phần tốt trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanhnghiệp Tính đến cuối năm 2008, tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần40% GDP quốc dân Một lượng tiền gần 300.000 tỉ đồng được đưa vào nền kinh

tế, cao hơn rất nhiều nguồn vốn được cung ứng qua kênh chứng khoán và trởthành năm các tổ chức tín dụng cho vay nhiều nhất từ trước đến nay để đưa tổng

dư nợ tín dụng cho nền kinh tế xấp xỉ 1 triệu tỉ đồng, bằng 90% GDP Điều nàychứng tỏ, Các công ty chứng khoán đã giúp các doanh nghiệp niêm yết có điềukiện tiếp cận với nguồn vốn từ công chúng đầu tư, ổn định và với chi phí vốn thấp,mang tính dài hạn

Thị trường tài chính Việt Nam phát triển sinh ra một nhu cầu lớn về vốn Khinày, các Ngân hàng với những điều kiện chặt chẽ về hạn mức cho vay, kỳ hạn vay,điều kiện giải ngân sẽ rất khó đáp ứng hết được nhu cầu vốn lớn này.Sự ra đời

Trang 14

của các công ty tài chính, cho thuê tài chính là một bước phát triển tất yếu của thịtrường tài chính Tại Việt Nam, hiện có tới 17 công ty tài chính, phần lớn thuộccác tập đoàn kinh tế Nhà nước Các công ty tài chính thường trực thuộc những Tậpđoàn, Tổng công ty Nhà nước như: Công ty tài chính công nghiệp Tàu thủy, Công

ty tài chính Điện lực, công ty tài chính xi măng, công ty tài chính Than khoáng sảnViệt nam, công ty tài chính Cổ phần Dầu khí…Các công ty tài chính với ưu thế vềnguồn vốn lớn từ các tập đoàn rót xuống đã liên tục đầu tư dài hạn, tài trợ các dự

án như: Dự án đóng tàu, dự án thủy điện, đầu tư tài chính Ưu điểm của các công

ty tài chính là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự án lớntrọng điểm Tuy nhiên ở Việt Nam, các công ty tài chính lại trực thuộc các tậpđoàn mà các tập đoàn này về bản chất là sử dụng vốn của Nhà nước

Hiện có khoảng 20 quỹ đang tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán

VN, trong đó có các quỹ lớn thuộc các công ty quản lý VinaCapital và DragonCapital như Vietnam Opportunity Fund (VOF), Vietnam Infrastructure Ltd (VNI),Vietnam Growth Fund (VGF), Vietnam Enterprise Investment Ltd (VEIL) vàVietnam Dragon Fund (VDF) Ngoài ra nhóm quỹ đầu tư vào bất động sản cũng

là một nhân tố tạo nên sự phát triển trong lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam

Trong lĩnh vực bảo hiểm, Việt Nam có 11 DN BH nhân thọ, 27 DN BH phinhân thọ, 1 DN tái BH và 10 DN môi giới Cuối năm 2009 tổng doanh thu phí bảohiểm nhân thọ đạt 16.485 tỷ đồng (bằng 4,06% GDP), tổng doanh thu của cácdoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt đưuọc 3965.1 tỷ đồng đã góp phần làmtăng trưởng kinh tế, giúp cho dòng vốn luân chuyển hiệu quả hơn Hiện nay, vớiviệc gia tăng mạnh số lượng DN bảo hiểm trong thời gian qua, nhất là kể từ khicác DN bảo hiểm trong và ngoài nước được kinh doanh bình đẳng trên hầu hết cáclĩnh vực bảo hiểm theo lộ trình WTO từ đầu 2009 đến nay, thị trường bảo hiểmđang đóng góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Ngày đăng: 01/11/2018, 08:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w