1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nợ công và khủng hoảng nợ công thực trạng nợ công ở việt nam và giải pháp

18 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 225,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng nợ công gia tăng liên tục ở cả các nước vượt quá sự tăng trưởng của nền kinh tế GDP gây ra tình trạng mất kiểm soát trong khả năng chi trả của quốc gia khiến nền kinh tế phục

Trang 1

MỤC LỤC

Lời Mở Đầu 2

I Nợ công và khủng hoảng nợ công ………3

1.Nợ công……… 3

a.Định nghĩa………3

b.Nguyên nhân làm xuất hiện tình trạng nợ công……… 3

c.Phân loại nợ công……….3

d.Các chỉ tiêu xác định tình trạng nợ công……… 5

2.Khủng hoảng nợ công………5

a.Định nghĩa………5

b.Nguyên nhân gây ra tình trạng khủng hoảng nợ công………….5

I Khủng hoảng nợ công hiện nay……….6

1.Tình hình chung ở Châu Âu……… 6

2.Tình hình ở Hi Lạp………7

a.Thực trạng khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp………7

b.Các gói cứu trợ cho Hy Lạp……….8

c.Tác động của nợ công đến tình hình tài chính tiền tệ………….9

3.Hiệu ứng Domino và hệ lụy đến tăng trưởng toàn cầu………10

II Thực trạng nợ công ở Việt Nam và giải pháp……… 11

1.Thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay……….11

a.Tình hình nợ công ở Việt Nam trong những năm gần đây…….11

b.Nguyên nhân dẫn đến nợ công ở Việt Nam………12

2.Các giải pháp đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng nợ công………14

Kết Luận………17

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, những năm 2007- cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu đã làm cho nhiều quốc gia gặp phải tình trạng trì trệ khó khan cho nền kinh tế Hậu quả để lại của cuộc khủng hoảng này là không nhỏ, nhiều ngân hàng, công ty lớn bị phá sản, thất nghiệp gia tăng… Và có thể khẳng định rằng nợ công vừa là một nguyên nhân khủng hoảng nhưng cũng là một hậu quả do khủng hoảng mang lại Tình trạng nợ công gia tăng liên tục ở cả các nước vượt quá sự tăng trưởng của nền kinh tế (GDP) gây ra tình trạng mất kiểm soát trong khả năng chi trả của quốc gia khiến nền kinh tế phục hồi rất chậm chạp, và đứng trước nguy cơ tiếp tục khủng hoảng Bất kể từ những nước phát triển, giàu nhất thế giới như Mỹ hay Nhật Bản cho tới những quốc gia phát triển ở châu Âu như Đức, Pháp, Hy Lạp, Tây Ban Nha,… hay Trung Quốc “chủ nợ lớn nhất của Mỹ và các quốc gia”, tất cả các “đại gia” này đều đang mắc một khoản nợ công không hề nhỏ Đặc biệt những nước như Hi lạp, Ireland, Bồ Đào Nha… các nước này hiện đang là tiêu điểm của nợ công trên toàn thế giới Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập cũng không tránh khỏi tình trạng trên

Vì vậy nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nợ công và khủng hoảng nợ công” để phần nào hiểu rõ hơn thực trạng nợ công trên toàn cầu, cũng như Chính phủ Việt Nam những năm qua Bên cạnh đó là một số đề xuất giúp nước ta thoát khỏi tình trạng này

Trang 3

I Nợ công và khủng hoảng nợ công

1 Nợ công

a Định nghĩa

Theo luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ngày 17/06/2009, nợ công bao gồm: Nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương Như vậy, Các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ (trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công

→ Nợ chính phủ, còn gọi là nợ công hoặc nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay

b Nguyên nhân làm xuất hiện tình trạng nợ công

Chúng ta có những lý do cụ thể riêng và diễn biến khác nhau đối với từng quốc gia

cụ thể, tuy nhiên cũng có một số nguyên nhân đều diễn ra ở các nước trên thế giới:

- Thâm hụt ngân sách: tăng chi tiêu, chi tiêu công ngày càng tăng, thiếu sự kiểm soát, thiếu chặt chẽ nhưng nguồn thu giảm sút, không đáp ứng kịp nhu cầu chi tiêu công

- Chính phủ gia tăng huy động vốn nhưng các dự án đầu tư kém hiệu quả, sự tiếp cận

dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngoài, việc sử dụng, quản lý vốn không hiệu quả

- Trái phiếu chính phủ mất giá, mức tín nhiệm bị hạ thấp

- Tăng khối lượng phát hành trái phiếu để lấy tiền trang trải chi phí an sinh xã hội, để

bù đắp thâm hụt ngân sách

- Mâu thuẫn giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ khi kích cầu

- Khủng hoảng tiết kiệm nội địa

- Các con số thông kê thiếu minh bạch, thay đổi niềm tin của giới đầu tư…

c Phân loại nợ công

- Phân theo nguồn vay bao gồm: vay trong nước, vay nước ngoài

 Vay trong nước: Chính phủ vay thông qua phát hành công cụ nợ

 Vay nước ngoài: khoản vay ngắn hạn, trung - dài hạn phải trả lãi hoặc không phải trả lãi do Nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức khác của Việt Nam vay của chính phủ nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế, cá nhân nước ngoài

- Phân theo chủ thể đi vay bao gồm: Chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính, tín dụng được Chính phủ bảo lãnh

Trang 4

Nợ Chính phủ: khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được

ký kết nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ tài chính

ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền

tệ trong từng thời kỳ

Nợ được Chính phủ bảo lãnh: khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh

Nợ chính quyền địa phương: khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành

- Phân theo loại hình vay bao gồm: vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA), vay

ưu đãi, vay thương mại

Vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA): khoản vay nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam từ nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, tổ chức tài trợ song phương, tổ chức liên quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ có yếu tố không hoàn lại (thành tố ưu đãi) đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc, 25% đối với khoản vay không ràng buộc

Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA

Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường

- Phân theo thời hạn vay bao gồm: vay ngắn hạn, vay trung – dài hạn

Khoản vay ngắn hạn là khoản vay có kỳ hạn dưới một năm

Khoản vay trung - dài hạn là khoản vay có kỳ hạn từ một năm trở lên

- Phân theo loại lãi suất bao gồm: lãi suất cố định, lãi suất thả nổi

- Phân theo chủ nợ và nhóm chủ nợ: chủ nợ chính thức, chủ nợ tư nhân

Chủ nợ chính thức: gồm chủ nợ song phương là các Chính phủ hoặc cơ quan đại diện cho Chính phủ và chủ nợ đa phương là các tổ chức tài chính quốc tế đa phương

Chủ nợ tư nhân: gồm các ngân hàng thương mại, người sở hữu trái phiếu, các chủ

nợ tư nhân khác không thuộc chính phủ hoặc không đại diện cho chính phủ

- Phân theo công cụ nợ: gồm thỏa thuận vay, tín phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ nợ khác

d Các chỉ tiêu xác định tình trạng nợ công

- Nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP)

Trang 5

- Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP

- Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

- Nợ chính phủ so với GDP

- Nợ chính phủ so với thu ngân sách nhà nước

- Nghĩa vụ nợ chính phủ so với thu ngân sách nhà nước

- Nghĩa vụ nợ dự phòng so với thu ngân sách nhà nước

- Hạn mức vay thương mại nước ngoài, bảo lãnh vay nước ngoài của Chính phủ Thông thường người ta sử dụng chỉ tiêu nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP) để xác định tình trạng nợ công của một quốc gia

2 Khủng hoảng nợ công

a Định nghĩa

Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo nền kinh

tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia Nhu cầu chi nhiều quá, trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hình thức như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,… để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng Nợ không trả sớm, để lâu thành "lãi mẹ đẻ lãi con"

và ngày càng chồng chất thêm

b Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng khủng hoảng nợ công:

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ nần, mỗi nước tuỳ từng thời kỳ lại có nguyên nhân khác nhau, nhưng tình trạng nợ công ở nhiều nước đều có chung một số nguyên nhân cơ bản:

- Gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước: lương và chi phí hoạt động của

bộ máy nhà nước ở các cấp có xu hướng ngày càng nhiều, các chương trình kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, đầu tư phát triển có sở hạ tầng không ngừng tăng …, đặc biệt, hậu quả to lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua đã buộc nhiều nước phải chi rất nhiều để khắc phục

- Chính phủ không minh bạch trong kê khai số liệu: sự kiểm soát chi tiêu và quản

lý nợ của Nhà nước yếu kém, không chặt chẽ, thậm chí bị buông lỏng và tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, cùng với tệ tham nhũng phát triển ở nhiều nước (điển hình Hy Lạp)

Trang 6

- Các nguồn thu (chủ yếu từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi, thậm chí một

số loại thuế chịu áp lực phải cắt giảm Như thuế quan và phí hải quan của hầu hết các nước phải cắt giảm hoặc loại bỏ để phù hợp với các quy định của WTO và các thoả thuận thương mại khác mà các quốc gia tham gia Trong khi đó, vấn đề quản lý các nguồn thu, gặp không ít khó khăn ở nhiều nước do tình trạng trốn thuế, tệ tham nhũng, hối lộ, kiểm soát không chặt và xử lý không nghiêm của các cơ quan chức năng

- Tâm lý ảo tưởng về sức mạnh, uy tín quốc gia dẫn đến tình trạng vay nợ tràn lan, đầu tư quá trớn, thiếu tính toán với suy nghĩ chính phủ dư sức bù đắp thâm hụt ngân sách bằng nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào và cả vay nợ (điển hình Argentina)

- Chính phủ không kịp thời khống chế hành vi cho vay thiếu trách nhiệm của một

số ngân hàng khi nền kinh tế tăng trưởng nóng và nhà đất tạo thành bong bóng Mặt khác Chính phủ đã lựa chọn bao cấp các ngân hàng này khi họ bị thua lỗ (điển hình Ireland)

- Tỷ lệ tiết kiệm trong nước thấp đồng nghĩa với việc thâm hụt ngân sách của quốc gia sẽ khó có thể bù đắp bằng các nguồn vốn nội địa và phải đi vay vốn từ nước ngoài

II Khủng hoảng nợ công hiện nay

1 Tình hình chung ở châu Âu

Khủng hoảng nợ công ở EU xuất phát từ Hy Lạp vào cuối năm 2009, Hy Lạp rơi vào tình trạng lâm nguy về tài chính công với thâm hụt ngân sách ở mức 13,9% GDP, vượt gấp

4 lần giới hạn cho phép của SGP1 Mức thâm hụt ngân sách này cùng với khoản nợ công trị giá 236 tỉ Euro, chiếm 115% GDP của Hy Lạp trong năm 2009 đã gấp tới 2 lần quy định về

nợ công trong SGP đã khiến Hy Lạp lâm vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Cuộc khủng hoảng ở Hy Lạp xảy ra khi các nước EU chưa phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế đã lan thành “đại dịch” toàn châu lục, khiến một loạt nước EU khác lâm vào khủng hoảng nợ công

Sau một thập kỷ gần như đình trệ, tăng trưởng kinh tế của Bồ Đào Nha được dự báo

là rất yếu (0,6% năm 2010 và 1,1% năm 2011) Thâm hụt ngân sách nhà nước lên đến 9,4% trong năm 2009 Nợ công cũng ở mức 76,6% GDP trong năm 2009 và có thể lên tới 84,6% trong năm 2010

Cùng với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, từng tận hưởng hơn một thập kỷ kinh tế tăng trưởng nhanh, từ lâu vẫn được đánh giá là nước có ngân sách cân bằng, mức nợ công thấp, hiện cũng đang đứng trước những khó khăn không dễ tháo gỡ do nền kinh tế mất đi sức

1 Hiệp ước ổn định và tăng trưởng của Liên minh châu Âu EU

Trang 7

cạnh tranh, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt Thâm hụt ngân sách của Tây Ban Nha lên tới 11,2% trong năm 2009 và có thể cao gấp ba mức trần của EU trong năm 2010 Chính phủ Tây Ban Nha đã chi quá nhiều cho phúc lợi thất nghiệp và các biện pháp kích cầu sau khủng hoảng

Tình hình tại bốn nền kinh tế lớn ở châu Âu là Anh, Pháp, Italy và Đức cũng đáng lo ngại Nợ công của Italy trong những tháng đầu năm 2010 vào khoảng 120,1% GDP, trong khi thâm hụt ngân sách của Anh ở mức gần 12% GDP Pháp cũng phải tạm ngừng mọi chi tiêu cho khu vực công trong vài năm tới để giảm thâm hụt ngân sách, trong khi Đức đang phải vật lộn để cân bằng mức thâm thủng ngân sách khổng lồ

2 Một vài nét về tình hình ở Hi Lạp

a Thực trạng khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp

Hy Lạp được đặt vào tình trạng khủng hoảng nợ công kể từ cuối năm 2009, khi Chính phủ mới của nước này thừa nhận rằng Chính phủ tiền nhiệm đã công bố những số liệu kinh tế không trung thực, đặc biệt là về thâm hụt ngân sách

Thực tế thâm hụt ngân sách của nước này năm 2009 là 13,6% không phải là 6,7% GDP như đã từng được báo cáo, cao hơn nhiều hạn mức thâm hụt ngân sách 3% GDP cho phép đối với các nước thành viên EU Đến năm 2010, báo cáo của OECD2 cho thấy nợ công của Hy Lạp đã lên tới con số 330 tỷ Euro, tương đương với 147.8% GDP Các chuyên gia kinh tế dự đoán dù Hy Lạp có thực hiện được kế hoạch thắt lưng buộc bụng kéo dài 3 năm,

2 Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development)

Trang 8

nợ của Hy Lạp đến năm 2012 vẫn tăng lên mức 172% GDP.

Thâm hụt ngân sách trong 8 tháng đầu năm 2011 của Hy Lạp lên tới 18,1 tỷ euro (24,67 tỷ USD), tăng mạnh so với 14,813 tỷ euro cùng kỳ năm ngoái Như vậy, Hy Lạp đang cùng lúc đối mặt với những vấn đề nan giải: nợ công quá cao (147,8%), thâm hụt ngân sách lớn (13,6% GDP năm 2010), thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai lớn (trung bình vào khoảng 9% GDP – so với mức trung bình của toàn khu vực Eurozone là 1%) Mức thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp đều vượt quá trần quy định cho phép của Liên minh Tiền tệ và Kinh tế châu Âu (EMU), đặc biệt vi phạm Hiệp ước Bình ổn và Tăng trưởng của Liên minh châu Âu (EU) với quy định trần thâm hụt ngân sách 3% GDP

Biểu đồ dưới cho thấy mức thâm hụt ngân sách của một số quốc gia Châu Âu:

Trang 9

(Nguồn: Morgan Stanley)

Việc ngụy tạo các số liệu nhằm che dấu thực trạng đất nước đã khiến uy tín của Chính phủ Hy Lạp bị suy giảm nặng nề Cả 3 hãng xếp hạng tín nhiệm lớn nhất thế giới hiện đều đều hạ mức tín nhiệm của Hy Lạp xuống mức gần thấp nhất, đồng thời cảnh báo nguy cơ vỡ nợ của nước này là rất cao Lợi suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 2 năm

đã tăng trên 60%, trong khi đó kỳ hạn 1 năm đã vượt 110%, đồng nghĩa với việc Hy Lạp gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn từ thị trường vốn quốc tế và chỉ có thể mong đợi các khoản cứu trợ đặc biệt từ IMF, ECB3, một số quốc gia khác

b Các gói cứu trợ cho Hy Lạp

Dưới sự nhất trí của 27 nước thành viên, quỹ Bình ổn Tài chính châu Âu (EFSF) đã được thành lập ngày 9/5/2010, với mục tiêu duy trì sự ổn định cho khu vực EU thông qua việc hỗ trợ các nước châu Âu, trong đó có Hy Lạp, những nước gặp khó khăn về tài chính

Tháng 5/2010, các nhà lãnh đạo Eurozone và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố gói

cứu trợ kỳ hạn 3 năm trị giá 110 tỷ EUR dành cho Hy Lạp Sau đó, tháng 10/2010 IMF cho

Hy Lạp vay thêm 2,5 tỷ EUR, nâng tổng giá trị các khoản vay khẩn cấp mà IMF dành để ngăn chặn khả năng vỡ nợ của nước này lên 10,58 tỷ EUR Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2010 và 6/2011, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã mua khoảng 45 tỷ EUR trái phiếu

3 Ngân hàng Trung ương Châu Âu (European Central Bank)

Trang 10

chính phủ Hy Lạp Ngoài ra, các khoản hỗ trợ thanh khoản mà ECB dành cho các ngân hàng Hy Lạp đã tăng từ 47 tỷ EUR vào tháng 1/2010 lên 98 tỷ EUR vào tháng 5/2011

Tuy vậy, khoản cứu trợ này dường như không giải quyết được vấn đề vì tới đầu tháng 9/2011, EU tiếp tục thông báo về việc sẽ triển khai gói cứu trợ thứ hai dành cho Hy Lạp Sau nhiều tháng tranh cãi, ngày 22/2/2012, các bộ trưởng tài chính khu vực Eurozone

đã thông qua thỏa thuận về một gói cứu trợ khổng lồ mới trị giá 130 tỷ Euro dành cho Hy

Lạp Để nhận được gói cứu trợ trên, đổi lại Hy Lạp phải chấp nhận thực hiện mọi biện pháp tiết kiệm có thể, nhằm giảm dần khoản nợ công xuống còn 120,5% GDP vào năm 2020 Chính phủ Hy Lạp cần đến gói giải cứu này để tránh nguy cơ vỡ nợ vào ngày 20/3, khi các gói vay đáo hạn đến kỳ trả nợ Theo phóng viên BBC tại Brussels, thỏa thuận này có nghĩa

Hy Lạp sẽ cần phải tiến hành các biện pháp cắt giảm chi tiêu công mạnh tay hơn nữa Nếu không, nợ của Hy Lạp vào năm 2020 vẫn sẽ ở mức 129% GDP

c Tác động của nợ công Hi Lạp đến tình hình tài chính tiền tệ

Đối với chính Hy Lạp:

Khủng hoảng tài chính trong nước Hệ lụy đầu tiên Hy Lạp phải đối mặt là mất khả năng tiếp cận thị trường tài chính quốc tế hoặc những điều kiện ưu đãi đi kèm các khoản vay sẽ mất đi, chi phí lãi vay sẽ ở mức rất cao hoặc thậm chí không huy động được nguồn vốn

Ảnh hưởng nặng nề đến hệ thống ngân hàng khu vực Châu Âu và thế giới

Đức và Pháp là 2 nước chủ nợ lớn nhất của Hy Lạp Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế, thiệt hại của các ngân hàng Pháp và Đức nếu Hy Lạp vỡ nợ lần lượt là 56,9 và 23,8 tỷ USD Ngoài ra, việc Hy Lạp vỡ nợ cũng gây thiệt hại lớn cho ngân hàng Anh, Bồ Đào Nha, Mỹ, Hà Lan, Nhật…ảnh hưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng toàn cầu…

Ngày đăng: 31/10/2018, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w