Nhiệm vụ nghiên cứu Một là, về phương diện lý luận, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về học sinh phổ thông, các đặc điểm về tâm lý, sinh lý, nhận thức có ảnh hưởng, tác động đến h
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ VĂN NAM
GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO HỌC SINH
PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 9.38.01.07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Ngô Văn Nam
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 8
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở nước ngoài 20
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu 23
1.4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 25
1.5 Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu đề tài 26
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 28
2.1 Khái niệm giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông 28
2.2 Vai trò xã hội của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông 39
2.3 Các thành tố của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông 44
2.4 Các yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông .55
2.5 Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở một số quốc gia và gợi mở cho Việt Nam 62
Chương 3 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM 75
3.1 Sự phát triển và ảnh hưởng của giáo dục phổ thông đến hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông 75
3.2 Thực trạng cơ sở chính trị - pháp lý của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông 81
3.3 Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông 86
3.4 Đánh giá kết quả hoạt động giáo dục quyền con người đối với học sinh phổ thông 103 Chương 4 NHU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 112
Trang 44.1 Nhu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con người cho học sinh
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế đã chứng minh, giáo dục quyền con người mang lại những giá trị xã hội
to lớn vì nó sẽ giúp hình thành nhận thức và thái độ tôn trọng quyền con người của các cá nhân; tôn trọng công bằng, pháp luật, quyền con người và quyền tự do cơ bản của mọi công dân, không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì từ phía các cơ quan công quyền, các chủ thể khác trong xã hội và bản thân mỗi công dân Ở cấp độ quốc tế, từ năm 1994 Liên hợp quốc đã triển khai thập kỷ giáo dục quyền con người trên phạm vi toàn cầu Mục đích và tinh thần cao cả của Chiến lược toàn cầu về giáo dục quyền con người được thể hiện ở việc trang bị sự hiểu biết, kiến thức cơ bản về quyền con người để giúp cho mỗi con người hiểu, tôn trọng và biết thực hành các quyền con người của mình và tôn trọng, bảo vệ các quyền con người của những người khác Bằng cách đó mà con người ngày càng trở nên thân thiện, hoà hợp với nhau vượt qua mọi ngăn cách, ngày càng có cơ hội chung sống hoà bình và phát triển Hoạt động giáo dục quyền con người đối với học sinh được thiết kế “lồng ghép” trong hệ thống giáo dục quốc dân Nhiều quốc gia trên thế giới đã có chương trình giáo dục về quyền con người dành cho cho trẻ em từ lứa tuổi rất nhỏ [111]
Tại Việt Nam, giáo dục quyền con người là một bộ phận cấu thành của giáo dục pháp luật Hai chức năng quan trọng nhất của giáo dục quyền con người đó là trang bị những kiến thức cơ bản, xây dựng ý thức tôn trọng, bảo vệ và những kỹ năng sử dụng quyền con người của bản thân mỗi người và của những người khác [95] Ở cấp học trung học phổ thông, nội dung quyền con người cũng đã được đề cập ở nhiều nội dung khác nhau [111] Tại các cơ sở giáo dục đại học chuyên ngành luật cũng như không chuyên luật, vấn đề giáo dục, đào tạo về quyền con người cũng đã được quan tâm ở những mức độ khác nhau Giáo dục nhân quyền cũng đã được thực hiện từ lâu trong các nhà trường phổ thông ở Việt Nam, chủ yếu thông qua môn học đạo đức và giáo dục công dân [111] Thực tế này cho thấy, vấn đề giáo dục quyền con người đã được Nhà nước quan tâm và coi giáo dục quyền con người là một nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông
Trang 7Các nghiên cứu về giáo dục về quyền con người ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, hoạt động giáo dục quyền con người được tiến hành cả trong và ngoài nhà trường [16, tr.16-22], [32, tr.27-46] Đối với hoạt động giáo dục quyền con người trong nhà trường tập trung vào kiện toàn nội dung giáo dục quyền con người, nhưng
bị “đóng khung” trong chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoạt động giáo dục ngoài nhà trường được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau Nội dung tập huấn, tuyên truyền khá đa dạng, bao gồm các vấn đề lý luận về quyền con người nói chung, các tiêu chuẩn quốc tế và quy định quốc gia về quyền con người , tuy nhiên, các nội dung liên quan đến quyền con người của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương (phụ
nữ, trẻ em, người thiểu số, người sống chung với HIV/AIDS…) chiếm dung lượng lớn [111] Từ hiện trạng giáo dục quyền con người ở Việt Nam cho thấy, yêu cầu cụ thể hóa nội dung, phương thức giáo dục quyền con người cho từng nhóm đối tượng cụ thể là yêu cầu cần thiết, trong đó có học sinh phổ thông
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã được ban hành ngày 4/11/2013 Một trong những định hướng quan trọng, cốt lõi của công cuộc đổi mới này là sự chuyển đổi quá trình giáo dục từ chủ yếu trang
bị kiến thức sang phát triển toàn diện nhằm hình thành phẩm chất đạo đức nhân văn và năng lực nhận thức, kỹ năng thực hành cho người học Học đi đôi với hành lý luận gắn với thực tiễn giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, dạy cho người học các kỹ năng mềm, khả năng ứng phó, giải quyết các vấn đề [6]
Để triển khai thực hiện việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, có rất nhiều công việc phải làm, trong đó có giáo dục quyền con người cho học sinh các trường học thuộc hệ thống giáo dục mầm non, phổ thông và trẻ em nói chung Giáo dục quyền con người, kết hợp với giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật và kỹ năng sống là một trong những nội dung, điều kiện đặc biệt quan trọng để thực hiện được mục tiêu giáo dục, hình thành phẩm chất đạo đức nhân văn, năng lực nhận thức, kỹ năng thực hành của trẻ em trong cuộc sống Trên cơ sở đó, giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông nhằm hình thành sự hiểu biết, ý thức, hành vi tôn trọng, sử
Trang 8dụng, bảo vệ quyền của bản thân và của những người khác, đồng thời, giáo dục quyền con người nhằm tạo lập cho học sinh ngay từ tuổi thiếu niên sự khoan dung, sống có trách nhiệm với chính mình và cộng đồng, xã hội
Thực tế hiện nay quyền trẻ em, quyền con người của học sinh chưa được nhận thức đầy đủ Trong cuộc sống hàng ngày còn xảy ra nhiều hiện tượng xâm phạm quyền, lợi ích của học sinh Bản thân học sinh cũng chưa có hiểu biết cần thiết về quyền của mình và cách thức bảo vệ Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông có ý nghĩa xã hội to lớn, vừa tránh được sự khô cứng, nặng về lý luận, vừa làm tăng tính hấp dẫn, ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống của các em trong điều kiện xã hội hiện đại Tuy nhiên, việc giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông mới chỉ là bước khởi đầu, còn hạn chế cả về cách thức tổ chức và nội dung, hình thức, phương pháp Trong khi đó, xét về yêu cầu, mục tiêu thì trọng tâm của giáo dục phổ thông là giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức công dân cho học sinh phổ thông và những kiến thức cơ bản, kỹ năng thực hành trong cuộc sống Để đạt được mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo bậc phổ thông nói riêng, đòi hỏi phải tổ chức có chất lượng, hiệu quả thiết thực giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông Trên bình diện lý luận nói riêng, rất cần thiết nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở nước ta hiện nay
Chính vì vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Giáo dục quyền con người cho học
sinh phổ thông ở Việt Nam hiện nay” làm nội dung nghiên cứu cho luận án tiến sĩ
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, về phương diện lý luận, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về học
sinh phổ thông, các đặc điểm về tâm lý, sinh lý, nhận thức có ảnh hưởng, tác động đến hoạt động giáo dục quyền con người; làm rõ nội hàm khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp, hình thức, các nhân tố tác động đến hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trên cơ sở các vấn đề lý luận về giáo dục quyền con người
Hai là, về thực tiễn, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục
quyền con người cho học sinh phổ thông, nêu rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trên các phương diện: nhận thức, nội dung, phương pháp, cách thức, chủ thể tiến hành hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông Tác giả luận án tiến hành điều tra hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở một số địa phương để làm minh chứng cho các luận điểm khoa học được nêu ở trong Luận án
Ba là, nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục
quyền con người cho học sinh phổ thông trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm một số nước và ứng dụng vào cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông, bao gồm các hợp phần cơ bản như đối tượng, chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp, các yếu tố tác động và các điều kiện đảm bảo thực hiện; nghiên cứu thực trạng trên cơ sở khung lý thuyết trên; đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới trên tất cả các hợp phần cơ bản thuộc khung lý thuyết của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trong Luận án tập trung vào hình thức giáo dục chính khóa về quyền con người, tức là hoạt động giáo dục quyền con người do trường phổ thông thực hiện Các hoạt động giáo dục quyền con người
Trang 10cho học sinh phổ thông ngoài nhà trường đóng vai trò hỗ trợ cho giáo dục quyền con người chính thức
- Phạm vi về không gian và đối tượng nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu, khảo sát ở một số trường phổ thông ở thành phố Hà Nội, tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Hồ Chí Minh Việc lựa chọn điểm tiến hành điều tra được phân bổ cho cả ba khu vực địa lý (Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam)
Đối tượng được khảo sát thực tiễn giáo dục quyền con người bao gồm: nhà quản
lý trong trường phổ thông, giáo viên giảng dạy môn Đạo đức và Giáo dục công dân, giáo dục pháp luật và các học sinh phổ thông
- Phạm vi về thời gian:
Luận án tập trung nghiên cứu, khảo sát giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trong những năm gần đây, từ năm 2013 đến hiện nay
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở nước ta hiện nay Khái niệm học sinh phổ thông được hiểu theo Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi 2009) bao gồm học sinh tiểu học, học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Về phương pháp luận, luận án được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy luật lịch sử; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật và phát triển con người; quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ quyền con người; khoa học chính trị - pháp lý hiện đại về quyền con người, giáo dục quyền con người
- Về các phương pháp nghiên cứu :
Để thực hiện nhiệm vụ của luận án, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, so sánh, điều tra xã hội học đối với toàn bộ nội dung các vấn đề nghiên cứu của luận án
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng nhằm nghiên cứu các tư liệu tại
đề tài khoa học, sách chuyên khảo, bài báo, tạp chí khoa học có chứa đựng các phân tích và kết luận đã được các tác giả khác thực hiện; các văn kiện của Đảng, văn bản
Trang 11quy phạm pháp luật của Nhà nước, số liệu thống kê chính thức đã công bố,… để làm
rõ thành quản nghiên cứu và những khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu làm
rõ Phương pháp này được áp dụng chủ yếu trong Chương 1, Chương 2 của Luận án
- Phương pháp hệ thống, liên ngành nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài có mối quan hệ mật thiết với nhiều ngành khoa học xã hội khác như giáo dục học, tâm lý học, xã hội học để có sự luận giải đa chiều về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông Phương pháp này áp dụng chủ yếu trong Chương 2 và Chương 3 của Luận án
- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng trong việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá về thực trạng nhận thức và thực hiện giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông Nội dung điều tra xã hội học chủ yếu được tiến hành tại một số trường trung học phổ thông ở Hà Nội, Thừa Thiên Huế và thành phố Hồ Chí Minh Việc điều tra theo phương pháp chọn mẫu Mỗi tỉnh sẽ lựa chọn 6 trường ở cả
ba cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông Việc điều tra được tiến hành ngẫu nhiên dưới sự trợ giúp của giáo viên chủ nhiệm trong việc phát và thu phiếu
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã nghiên cứu, làm rõ nội hàm khái niệm giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông, đặc trưng cơ bản và các yếu tố cấu thành cơ bản của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
- Nghiên cứu các yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông theo các chiêu hướng tích cực hay tiêu cực;
- Nghiên cứu trên cơ sở kết hợp cách tiếp cận - phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục con người, quan điểm của khoa học pháp lý hiện đại và các quan điểm cơ bản về giáo dục học và tâm lý học
- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở một số trường phổ thông để rõ những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở Việt Nam hiện nay
- Căn cứ vào đường lối đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, trong đó có đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, luận án xây dựng luận cứ
Trang 12khoa học cho các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trong điều kiện Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông – đối tượng đang trong quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách Các kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông dựa trên những đặc thù của đối tượng được giáo dục làm cơ sở lý luận cho việc đổi mới, nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trong giai đoạn hội nhập hiện nay Ngoài ra, luận án cũng là nguồn tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp lý, phục vụ cho hoạch định chính sách giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trong điều kiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án có gồm 4 chương như sau:
- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và cơ sở lý thuyết của việc
nghiên cứu đề tài;
- Chương 2 Những vấn đề lý luận về giáo dục quyền con người cho học
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến xác định đường lối tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người và yêu cầu thể chế hóa quyền con người trong khuôn khổ pháp luật quốc gia
Một trong những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới về kinh tế năm
1986 là “đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua”[2] Đây là cơ sở chính trị quan trọng đối với việc thể chế hóa quyền con người trong các quy định pháp luật và
tổ chức thực hiện pháp luật cũng như việc tổ chức triển khai giáo dục quyền con người trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế của nước ta, nhằm hình thành từng bước nền văn hóa pháp quyền, văn hóa quyền con người ở nước ta
Về phương diện lập pháp, thuật ngữ quyền con người được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 Theo đó, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật (Điều 50 Hiến pháp năm 1992) Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, “tính từ năm 1996 đến năm 2002, Nhà nước đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn
40 Bộ Luật và Luật, trên 120 Pháp lệnh, gần 850 văn bản pháp luật của Chính phủ và trên 3.000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành, trong đó đã “nội luật hóa” một cách toàn diện những công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX và trong thời kỳ này Đây là điều
mà trong giai đoạn trước hầu như chúng ta chưa làm được”[2]
Trang 14Thể chế hóa cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) về quyền con người là “quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết”, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Hiến pháp năm 2013 Hiến pháp năm 2013 gồm 11 Chương 120 điều Nội dung về quyền con người, quyền công dân được quy định tại Chương II từ điều 14 đến điều 49 Về số lượng điều luật về quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013 là 36/120 điều Có thể khẳng định Hiến pháp năm
2013 là Hiến pháp của quyền con người là bước tiến mạnh mẽ về tư duy lý luận của Đảng và nỗ lực lập pháp của Nhà nước về vấn đề quyền con người, đưa vấn đề quyền con người ở Việt Nam gần hơn với các chuẩn mực quốc tế Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao hiện thực hóa quyền con người trong pháp luật và giải pháp nào để thực thi quyền con người hiệu quả
Các công trình nghiên cứu về quyền con người được tiếp cận từ cơ bản đến chuyên sâu Các công trình nghiên cứu về quyền con người trên thế giới và ở Việt Nam cho chúng ta có cái nhìn tổng quát nhất về quyền con người từ pháp luật quốc tế (được thể hiện trong các Văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người) đến hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó có đề cập cả những quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển Có thể kể đến các công trình nghiên cứu:
- Wolfgang Benedek (chủ biên), Tìm hiểu về quyền con người, Nxb Tư pháp,
Trang 15- Hoàng Văn Hảo, Quyền con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Tạp chí Luật học số 1/1995
Bên cạnh kết quả nghiên cứu khái quát về quyền con người, các công trình nghiên cứu cũng đã hướng tới việc bảo đảm, thực thi quyền con người trong bối cảnh của từng quốc gia trên thế giới Kết quả nghiên cứu về bảo đảm, thực thi quyền con người trong bối cảnh của từng quốc gia trên thế giới giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể
về thực thi quyền con người ở từng quốc gia khác nhau, với thể chế chính trị, truyền thống, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là cuốn sách “Quyền con người trong thế giới hiện đại nghiên cứu và thông tin” do các tác giả Phạm Khiêm Ích, Hoàng Văn Hảo chủ biên thuộc loại tài liệu tham khảo nội bộ của Viện thông tin Khoa học Xã hội năm 1995
Ngoài ra, trong các nghiên cứu về quyền con người thì việc đặt nghiên cứu quyền con người theo hướng liên ngành, đa ngành luật học là hướng nghiên cứu mang tính chuyên sâu và giúp cho chúng ta có cái nhìn đa chiều về quyền con người trong từng lĩnh vực pháp luật Các nghiên cứu này đi từ quyền con người như là giá trị xã hội phổ biến và tính đặc thù như nghiên cứu của Võ Khánh Vinh [129, tr.9-20], quyền con người trong pháp luật quốc tế như nghiên cứu của Trần Văn Thắng [104, tr.111-120], Nguyễn Khắc Hải [42, tr.138-165], Trịnh Tiến Việt [130, tr.166-221], Nguyễn Trung Tín [110, tr.222-233], Nguyễn Thị Báo [4, tr.283-312] … Bên cạnh cách tiếp cận quyền con người trong pháp luật quốc tế và yêu cầu nội luật hóa công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam còn có khá nhiều công trình đề cập quyền con người trong từng lĩnh vực pháp luật khác nhau như: Quyền con người trong pháp luật an sinh xã hội [16, tr.9-26], bảo vệ quyền con người và việc xây dựng tòa án Hiến pháp ở Việt Nam [99, tr.55-74], quyền tự do kinh doanh của công dân và Nhà nước thuế [71, tr.133-148], mối quan hệ giữa quyền con người với Luật Hình sự Việt Nam [88 tr.169-181], quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam [88, tr.169-181]…
Từ kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về quyền con người, cách thức tiếp cận về quyền con người theo hướng đa ngành, liên ngành luật học giúp nghiên cứu sinh có được nhận thức vừa cơ bản, vừa chuyên sâu về quyền con người,
Trang 16nhất là bảo đảm thực thi quyền con người trong từng lĩnh vực pháp luật, từ đó giúp cho nghiên cứu sinh nhận diện được đặc thù của quyền con người trong từng lĩnh vực
để xác định nội dung, phương pháp giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông Theo đó, quyền con người là phạm trù rất rộng và không dễ hiểu đối với mọi người Vì thế, việc xác định nội dung quyền con người cần được phổ biến, giáo dục cho từng đối tượng cụ thể dựa trên các đặc thù về tâm lý lứa tuổi, thành phần xuất thân, hoàn cảnh xã hội… là vấn đề vô cùng quan trọng vì nó quyết định đến hiệu quả giáo dục quyền con người, nhất là việc hiểu biết về quyền con người phù hợp với nhu cầu của bản thân từng cá nhân, khả năng vận dụng pháp luật quyền con người trong việc bảo vệ quyền con người của bản thân và của những người khác Luận điểm khoa học này được nghiên cứu sinh sử dụng trong quá trình xác định các vấn đề lý luận về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông, nhất là liên quan đến: Nội dung quyền con người cần giáo dục cả ở cấp độ pháp luật quốc tế hay pháp luật quốc gia; xác định nội dung giáo dục quyền con người ở các cấp học phổ thông tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; xác định phạm vi giáo dục quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.1.2 Các nghiên cứu về giáo dục quyền con người
Nội dung quyền con người không chỉ là những quyền được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ quốc gia và quốc tế mà nó còn bao hàm cả những chuẩn mực để hình thành nhân cách con người và những quyền tự nhiên được ghi nhận trong văn hóa, tập quán sinh hoạt của các dân tộc, các vùng miền cũng như các chuẩn mực đạo đức con người Chính vì vậy, giáo dục quyền con người không chỉ là giáo dục nội dung quy phạm pháp luật mà còn cả giáo dục đạo đức, truyền thống, văn hóa của quốc gia, dân tộc, vùng miền để đối tượng được giáo dục nhận ra được cái chuẩn mực làm người và cũng từ đó, rèn luyện bản thân và những người xung quanh theo các chuẩn mực làm người đó Hoạt động giáo dục quyền con người được các nghiên cứu đề cập khá toàn diện từ khía cạnh lý luận giáo dục quyền con người cho đến nội dung, phương pháp, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục quyền con người và biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con người trong giai đoạn hội nhập toàn cầu hiện nay
Trang 17Thứ nhất, các nghiên cứu lý luận liên quan đến giáo dục quyền con người
Xuất phát điểm của các nghiên cứu này xoay quanh luận điểm “quyền con người có giá trị chung, tính phổ cập và mang tính đặc thù của từng dân tộc, quốc gia, sự khác nhau về lịch sử, thể chế chính trị, văn hóa và tôn giáo” [33] Các công trình nghiên cứu về lý luận về giáo dục quyền con người luận giải về sự cần thiết, nội dung, phương thức giáo dục quyền con người được đặt trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Kết quả nghiên cứu chính yếu đã được các công trình nghiên cứu này đề cập là: i) Xác định nội hàm của giáo dục quyền con người như nghiên cứu của:
- Nancy Flowers, What is Human Rights Education? In A Servey of Human Right Education, Bertelsmann Verlag, 2003
- Võ Khánh Vinh (Chủ biên, 2010), Giáo dục quyền con người những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội
- Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Viện Raoul Wallenberg về quyền con người và Luật nhân đạo, Đại học Lund, Thụy Điển, Hiến pháp, pháp luật và quyền con người: Kinh nghiệm Việt Nam
và Thụy Điển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 [118]
- Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Khoa Luật châu Á Thái bình dương thuộc Đại học tổng hợp Sydney, Quyền con người: Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam và Australia, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004 [119] …
Những kết quả nghiên cứu của các công trình này đã xác định nội hàm của giáo dục quyền con người như là quyền cơ bản của con người; các biện pháp, cách thức (phương pháp) giáo dục quyền con người; nội dung giáo dục quyền con người; mối quan hệ giữa quyền con người với quyền được giáo dục…là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nhận diện giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông – một đối tượng giáo dục quyền con người cụ thể
ii) Xác định được nội dung, phương thức giáo dục quyền con người Nội dung giáo dục quyền con người được đề cập từ khía cạnh chủ trương giáo dục nhân quyền của Liên hợp quốc của các tác giả Vũ Thị Bích Hường, Trần Quang Trung [58, tr.70–80] đến việc giáo dục quyền con người như một thiết chế bảo đảm quyền con người
Trang 18trong quá trình hội nhập và phát triển như nghiên cứu của Đặng Dũng Chí, Hoàng Văn Nghĩa [15, tr.3–9] cũng như đề cập đến quá trình hoàn thiện quan điểm lý luận
về quyền con người của Đảng và trong quá trình sửa đổi Hiến pháp Việt Nam của tác giả Hoàng Văn Nghĩa [81 tr.5-10; 17]; luận giải vai trò xã hội của giáo dục quyền con người của Võ Khánh Minh [74] …
iii) Đáng chú ý trong các nghiên cứu lý luận về giáo dục quyền con người là
Luận án tiến sĩ Luật học Giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay của tác giả
Võ Khánh Minh bảo vệ thành công tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2015 Ở công trình này, tác giả coi trọng giáo dục quyền con người từ góc độ liên ngành, đa ngành Các vấn đề lý luận về giáo dục quyền con người đã được đề cập tương đối đầy đủ ở công trình này Các kết quả nghiên cứu lý luận về giáo dục quyền con người của tác giả Võ Khánh Minh đặt nền tảng lý luận cho các nghiên cứu giáo dục quyền con người cho các đối tượng cụ thể Nhiều kết quả nghiên cứu lý luận về giáo dục quyền con người trong công trình này được nghiên cứu sinh kế thừa, sử dụng trong Luận án
iv) Giáo dục quyền con người là một trong những giải pháp quan trọng cho việc bảo đảm quyền con người trong một số lĩnh vực cụ thể Từ kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đề cập đến việc bảo đảm thực thi quyền con người trong các lĩnh vực khác nhau cho thấy, bảo đảm thực thi quyền con người trong các lĩnh vực khác nhau cho thấy, thông qua việc bảo đảm thực thi quyền con người cho những đối tượng này đã gián tiếp góp phần vào giáo dục, nâng cao ý thức về quyền con người Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu của:
- Đặng Dũng Chí, Bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và những vấn đề đặt
Trang 19- Lưu Bình Nhưỡng, Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em dưới góc độ nhân quyền, Tạp chí Luật học, số 2/2009, [87, tr.16–22]
- Đào Trí Úc, Hiến pháp năm 2013 và nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2015, [123, tr.3–9]
- Nguyễn Thị Phương Hoa, Bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về tư pháp hình sự tại Việt Nam (chủ nhiệm đề tài), Công trình nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, 2011 [49]…
Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh nghiệm giáo dục quyền
con người ở các nước trên thế giới Tư tưởng về quyền con người và giáo dục quyền con người ở Việt Nam hình thành muộn hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới Do đó, việc học tập, nghiên cứu kinh nghiệm giáo dục quyền con người của các quốc gia trên thế giới cũng được nhiều tác giả quan tâm như Nguyễn Đức Minh với kinh nghiệm giáo dục quyền con người ở Cộng hoà Liên bang Đức [70, tr.49–56]; của Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Hội nghiên cứu quyền con người Trung Quốc [117] nghiên cứu so sánh quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam (truyền thống, lý luận và thực tiễn), trong đó có hoạt động giáo dục quyền con người; nghiên cứu của Đinh Ngọc Vượng
về kinh nghiệm giáo dục quyền con người ở một số nước trên thế giới, in trong Giáo dục quyền con người – Những vấn đề lý luận và thực tiễn [131, tr.333-346]; hay nghiên cứu của tác giả Bùi Nguyên Khánh về phương pháp giáo dục quyền con người – kinh nghiệm từ các chương trình giáo dục nhân quyền của Liên hợp quốc [59, tr.360-375]
Phần V cuốn sách “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN” do Trung tâm nghiên cứu quyền con người - quyền công dân thuộc Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản có đề cập đến việc Giáo dục và nghiên cứu quyền con người trong khu vực ASEAN (trang 151 – 171) có đề cập đến hoạt động giáo dục, nghiên cứu quyền con người của Indonesia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam cũng như hoạt động phối hợp giáo dục quyền con người trong khu vực
Thứ ba, các công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục quyền con người
trong điều kiện của Việt Nam Theo đó, giáo dục quyền con người là một nội dung
Trang 20giáo dục trong chương trình giáo dục quốc gia cũng được luận giải ở những khía cạnh khác nhau như: Giáo dục quyền con người ở Việt Nam tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật được đề cập trên hai khía cạnh:
- Giáo dục quyền con người trong các trường chuyên luật như nghiên cứu của: Nguyễn Hữu Chí, Giáo dục quyền con người ở Việt Nam tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 18 (155)/2009, [16, tr.16–22]; Nguyễn Thị Phương Hoa (2012), Tình hình nghiên cứu và giảng dạy pháp luật về quyền con người tại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Hội nghị mạng lưới giáo dục về quyền con người do Viện khoa học xã hội Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, tháng 10/2012 [48]; Đỗ Minh Khôi, Giảng dạy và nghiên cứu về pháp luật quyền con người tại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, in trong Giáo dục quyền con người – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010; Phùng Thế Vắc, Đinh Thị Mai, Nghiên cứu và giảng dạy quyền con người, quyền công dân ở Học viện An ninh Nhân dân, in trong Giáo dục quyền con người – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010, [124, tr.196-226]; Hoàng Hùng Hải, Công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học về quyền con người tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, in trong Giáo dục quyền con người – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010, [41, tr.244-250]; Phạm Văn Beo, Tình hình và phương pháp giảng dạy về nhân quyền tại Đại học Cần Thơ, in trong Giáo dục quyền con người – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010, [8, tr.262-277]; Hoàng Thị Kim Quế, Quyền con người và giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học, Đại học quốc Hà nội, Chuyên san Kinh tế - Luật, số 3/2006 [95]…
- Giáo dục quyền con người được đề cập trong các học phần thuộc chương trình đào tạo cử nhân luật tại một số cơ sở đào tạo chuyên ngành luật như nghiên cứu của: Cao Thị Oanh, Giáo dục quyền con người trong Luật Hình sự Việt Nam, in trong Giáo dục quyền con người – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010, [88, tr.278-286], Đỗ Thị Phượng, Giáo dục quyền con người trong
tố tụng hình sự Việt Nam, in trong Giáo dục quyền con người – Những vấn đề lý luận
và thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010, [92, tr.196-211]…
Trang 21Bên cạnh nghiên cứu giáo dục quyền con người trong các trường chuyên ngành luật còn có nghiên cứu về giáo dục quyền con người ở các trường đại học, trường phổ thông như nghiên cứu của Nguyễn Trường Giang, Giáo dục quyền con người tại các trường đại học hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2013 [33], Lã Khánh Tùng,
Vũ Công Giao, Khái quát về hoạt động giáo dục về quyền con người ở Việt Nam hiện nay, http://www.crights.org.vn/home.asp?id=80&langid=1 [111]…
Ngoài các công trình nghiên cứu kể trên còn có các nghiên cứu giáo dục quyền con người phân hóa theo một số đối tượng như thanh niên như nghiên cứu của Ngô Văn Nam, Giáo dục quyền con người cho thanh niên ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học số 6/2014 [76]; và bảo đảm quyền được giáo dục nhân quyền cho người nghèo như nghiên cứu của Tạ Minh Lý, Bảo đảm quyền con người cho người nghèo trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13/2009, [64, tr.40-46]…
Thứ tư, các nghiên cứu đánh giá thực trạng, nhu cầu và định hướng trong giáo
dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay Các nghiên cứu này được đề cập khá đa dạng Tác giả Võ Khánh Minh đề cập đến hai vấn đề: i) Về nhu cầu và quan điểm tăng cường giáo dục quyền con người ở nước ta hiện nay [74]; Các yếu tố tác động đến giáo dục quyền con người [75] được xem là các nghiên cứu mang tính định hướng cho việc nghiên cứu về giáo dục quyền con người ở nước ta hiện nay Tác giả Phạm Hữu Nghị đề cập đến các tiền đề, điều kiện đảm bảo giáo dục quyền con người [80, tr.121-126] Tác giả Hà Thị Mai Hiên đòi hỏi xây dựng chiến lược giáo dục quyền con người ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế [46, tr.388-396] Ngoài
ra, cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến những đòi hỏi và nội dung về giáo trình giáo dục quyền con người ở các trường chuyên luật bậc đại học và yêu cầu giáo dục quyền con người ở bậc cao học luật [28, tr.397- 408], [36, tr.409-421], [57, tr.422-438]
Tác giả Nguyễn Văn Dũng đánh giá về Những vấn đề thực tiễn đặt ra khi triển khai các hoạt động giáo dục quyền con người ở Việt Nam [23, tr.161-170] Tác giả
Lê Văn Hòe đề cập bốn nhân tố là “mắt xích chủ yếu” tác động lên quá trình giáo dục quyền con người ở Việt Nam [52, tr.108-120] Các hình thức, phương pháp phổ biến,
Trang 22giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay cũng được tác giả Nguyễn Thị Lan Anh đề cập [1, tr.127-143] Đánh giá về thực trạng các điều kiện bảo đảm cho giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay cũng được tác giả Trương Thu Hà đề cập khá chi tiết [37, tr.144-160]
Từ kết quả nghiên cứu về giáo dục quyền con người trong các công trình nghiên cứu kể trên, nghiên cứu sinh rút ra một số đánh giá, nhận xét sau đây:
Một là, quyền con người là chủ đề thu hút được nhiều nhà khoa học trong và
ngoài nước Trong bối cảnh Việt Nam, sự gia tăng các công trình nghiên cứu về quyền con người là bước phát triển vượt bậc về tư duy lý luận nhằm đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi thực tiễn về quyền con người ở Việt Nam hiện nay Những băn khoăn
về “tính chính trị” của quyền con người dần được lãng quên thay vào đó là nhận diện quyền con người là giá trị mang tính chất phổ biến, không thể tước bỏ, không thể phân chia, có liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau [21, tr.41-43]
Hai là, giáo dục quyền con người đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu làm
rõ về phương diện lý luận, thực trạng giáo dục quyền con người và những điều kiện, biện pháp thúc đẩy hoạt động giáo dục quyền con người trong giai đoạn hiện nay
Về phương diện lý luận, các nghiên cứu đều thống nhất, hoạt động giáo dục quyền con người là nhu cầu bức thiết cả về lý luận và thực tiễn [101, tr.18-26], [127, tr.11-17], là một quyền cơ bản của con người [32, tr.27-46] Các nghiên cứu về giáo dục con người đã luận giải được một số vấn đề lý luận về giáo dục quyền con người như: 1 Mục đích, vai trò, ý nghĩa, phạm vi giáo dục quyền con người [35, tr.47-61];
2 Mục đích, ý nghĩa, nội dung và nguyên tắc cơ bản của giáo dục quyền con người [60, tr.62-72]; 3 Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục quyền con người [89, tr.73-83]; 4 Phương pháp giảng dạy về quyền con người [103, tr.84-97]; 5 Phân loại đối tượng giáo dục về quyền con người [38, tr.98-107]…
Về thực trạng giáo dục quyền con người đã được các tác giả đề cập chủ yếu liên quan đến giáo dục quyền con người trong trường đại học chuyên và không chuyên luật Các nghiên cứu này đã cho người đọc nhận diện thực trạng giáo dục quyền con người trong trường đại học nói chung và thực trạng nghiên cứu, giảng dạy quyền con người ở một số trường đại học chuyên luật có uy tín ở Việt Nam Bên cạnh việc
Trang 23nghiên cứu về giáo dục quyền con người ở các trường chuyên luật cũng đã có một số nghiên cứu nghiên cứu giáo dục quyền con người lồng ghép vào các môn học chuyên ngành Gần đây, tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiến hành các chương trình thảo luận về việc lồng ghép giảng dạy quyền con người trong các môn học chuyên ngành Xu hướng này cho thấy, việc giáo dục quyền con người được “lồng ghép” trong các môn học chuyên ngành được xem là cách thức giáo dục quyền con người hiệu quả
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
Giáo dục phổ thông là một cấp học trong hệ thống giáo dục Việt Nam Trải qua các giai đoạn phát triển, giáo dục phổ thông của Việt Nam cũng đã có nhiều thay đổi
về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục phổ thông để cho hoạt động giáo dục phổ thông của Việt Nam gần với thế giới Các cuộc cải cách giáo dục nói chung, cải cách giáo dục phổ thông nói riêng cũng hối hả cùng với những hối hả của đổi mới và tăng trưởng ở phương diện kinh tế Kết quả cải cách giáo dục phổ thông ở nước ta từ chỗ coi trọng giáo dục tri thức sang coi trọng giáo dục đạo đức, phẩm giá con người cũng như coi trọng giáo dục kỹ năng sống để học sinh phổ thông Việt Nam có thể tiếp nhận được các tri thức tiến bộ của nhân loại Nói khác đi, bảo đảm giáo dục toàn diện cho học sinh phổ thông là vấn đề rất quan trọng cho việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông ở nước ta Thực tiễn giáo dục phổ thông ở nước ta thời gian qua đã đặt ra các nghiên cứu đòi hỏi:
- Tăng cường giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng hướng nghiệp đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như: Nguyễn Thanh Bình, Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ thông, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 32/2008, [9, tr.15-
17], Nguyễn Thanh Bình, Giáo dục tích hợp giá trị và kĩ năng sống cho học sinh, Tạp
chí Khoa học Giáo dục, số 112/2015, [10, tr.9-11], Hoàng Gia Trang, Biện pháp hỗ
trợ tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, Tạp chí Giáo dục số 376/2016, [113, tr.14-17], Ninh Văn Bình, Công tác phân luồng và hướng nghiệp cho học sinh phổ thông thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 115/2015, [13, tr.45-
46, 50], Nguyễn Minh Đường, Đỗ Thị Bích Loan, Định hướng giá trị nghề nghiệp
Trang 24cho học sinh phổ thông đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 128/2016, [30, tr.1-3]; Nguyễn Thị Thanh Hồng, Giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh phổ thông theo quan điểm dạy học tích hợp, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 126/2016, [45, tr.22-24], Đặng Hoàng Minh, Khả năng tự định hướng cho nghề nghiệp và cuộc sống tương lai của học sinh trung học phổ thông, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 29/2008, [69, tr.23-28], Nguyễn Khắc Hùng, Các biện pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trường trung học phổ thông (tại thành phố Hồ Chí Minh), Luận án tiến sĩ giáo dục học, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên,
2009 [56]…
Các nghiên cứu này đã luận giải sự cần thiết, cách thức để tăng cường biện pháp giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng hướng nghiệp để học sinh phổ thông nhằm trang bị những kỹ năng cần thiết cho học sinh phổ thông, đồng thời hỗ trợ cho việc học tập các môn học khác
- Giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông như nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình, Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 11/2006, [11, tr.14-17], Nguyễn Thị Kim Dung, Chương trình giáo dục đạo đức học sinh phổ thông ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 39 (100)
- tháng 6/2014 [19, tr.52-55], Nguyễn Đình Đặng Lục có hai công trình nghiên cứu
về giáo dục pháp luật là: Giáo dục pháp luật trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000 và Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách, tái bản lần thứ 1, có chỉnh lý, bổ sung, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2005 [65], [66], Đỗ Chí Hiếu, Giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông như thế nào, Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật, số 5/2012, [47, tr.20–26], Trần Thị Sáu, Giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2012 [98]… Các công trình này đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật cho các đối tượng cụ thể Kết quả nghiên cứu của các công trình này có giá trị tham khảo đáng kể cho việc làm rõ cơ sở khoa học, luận giải nội hàm khái niệm, xây dựng nội dung, hình thức giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
- Giáo dục cho học sinh phổ thông những kỹ năng về giá trị sống như nghiên cứu của Nguyễn Bội Quỳnh [97, tr.86-88], kỹ năng giao tiếp của Hồ Thị Nhật [77],
Trang 25về biên giới, biển và hải đảo trong dạy học môn Giáo dục công dân của Nguyễn Văn Long [63, tr.5-8], hoạt động của cha mẹ trong giáo dục con cái ở các gia đình Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thanh Bình [12, tr.14-16], giáo dục hoạt động trải nghiệm của Đỗ Ngọc Thống [106, tr.13-16], sự ảnh hưởng của nhà trường đến giáo dục các giá trị văn hóa công nghiệp cho học sinh phổ thông của Nguyễn Thị Kim Dung [20, tr.12-14]… Thông qua giáo dục kỹ năng này giúp hình thành ở học sinh phổ thông những nhận thức cơ bản để hình thành các kỹ năng cần thiết và qua đó có thể rèn luyện các kỹ năng này qua các môn học khác nhau
- Nghiên cứu những vấn đề đặt ra đối với mục tiêu giáo dục phổ thông của Đỗ Ngọc Thống [107, tr.5-8] cũng như xây dựng chương trình giáo dục phổ thông phù hợp với yêu cầu cải cách giáo dục hiện nay của Đỗ Ngọc Thống [108, tr.1-3] cũng như giáo dục để phòng ngừa hành vi lệch chuẩn của học sinh phổ thông của Hoàng Gia Trang [114, tr 18-19, 23]…
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là một trong những bước khởi đầu cho bảo đảm sự phát triển toàn diện của học sinh phổ thông Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở nước ta được thiết kế lồng ghép vào chương trình giáo dục phổ thông và được đề cập chủ yếu ở các môn học khoa học xã hội và nhân văn, trong đó quan trọng nhất là môn Giáo dục công dân
Nội dung giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được tiến hành bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, trong đó, giáo dục quyền con người ở trong trường phổ thông đang được coi trọng Các hoạt động giáo dục quyền con người ngoài nhà trường cho học sinh phổ thông chưa được quan tâm nhiều Tuy nhiên,các nghiên cứu về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông còn nhiều hạn chế và chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở nước ngoài
Ở nước ngoài, các nghiên cứu về giáo dục quyền con người và giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm luận giải ở những khía cạnh khác nhau Điểm chung của các nghiên cứu về giáo dục quyền con người ở nước ngoài là tăng cường tính chủ động của đối tượng được giáo dục cũng như đa dạng hóa các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động giáo dục quyền con người như nghiên cứu của: Nancy Flowers (2003) [141], của Wolfgang Benedek (2002) [151]
Trang 26hay hướng dẫn về thập kỷ giáo dục quyền con người cho các quốc gia thành viên của Liên Hợp quốc [147] hay đề cập đến yêu cầu được tiếp cận giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng [146]… Có thể khẳng định, các kết quả nghiên cứu về giáo dục quyền con người ở nước ngoài, cùng với các nghiên cứu về giáo dục quyền con người
ở trong nước đã thiết lập được hệ thống cơ sở lý luận giáo dục quyền con người vững chắc, làm cơ sở quan trọng cho việc cụ thể hóa các vấn đề lý luận của giáo dục quyền con người vào hoạt động giáo dục quyền con người cho từng đối tượng cụ thể
Hoạt động giáo dục quyền con người trong hệ thống các trường học tại các quốc gia cũng được quan tâm đề cập trong nhiều nghiên cứu
- OHCHR, UNESCO, Human Rights Education in Primary and Secondary School Systems: A Self-assessment Guide for Governments, New York and Geneva,
2012 (Giáo dục quyền con người trong hệ thống trường trung học: một hướng dẫn dành cho các chính phủ) [143] cung cấp bản hướng dẫn cho các quốc gia trong việc triển khai giáo dục quyền con người ở các trường trung học
- HURIGHT OSAKA trong báo cáo nghiên cứu, Human Rights education in the School Systems in Southeast Asia – Cambodia, Indonesia, Lao PDR and Thailand,
2009 (Giáo dục quyền con người trong hệ thống trừng học ở Nam Á – Cam-pu-chia, Indonesia, Lào) [138] đề cập chi tiết đến hoạt động giáo dục quyền con người tại các trường học ở Campuchia, Lào và Thái Lan, trong đó có đề cập đến những thực hành tốt nhất cho giáo dục quyền con người trong hệ thống trường học tại Châu Á
- Council of Europe, OSCE/ODIHR, UNESCO, OHCHR, Human Rights Education in the School Systems of Europe, Central Asia and North America: A Compendium of Good Practice (Giáo dục quyền con người trong hệ thống trường học
ở Châu Âu, Trung Á và Bắc Mỹ: một tóm tắt tốt cho việc thực hành), 2009 [134], nghiên cứu, làm rõ hoạt động giáo dục quyền con người ở Châu Âu, Trung Á và Nam Phi dưới góc nhìn so sánh của những thực hành tốt Nghiên cứu này đã chỉ ra những hướng rất khác nhau trong việc tiếp cận nội dung, phương pháp giáo dục quyền con người trong hệ thống các trường học
- EURYDICE, Citizenship Education at School in Europe (Giáo dục công dân trong trường học ở Châu Âu) [139] đề cập đến nội dung giáo dục công dân trong hệ thống các Trường ở Châu Âu, trong đó cũng có đề cập đến một số nội dung giáo dục quyền con người được kết cấu là một nội dung của chương trình giáo dục công dân
Trang 27Điều này có thể lý giải ở khía cạnh khái niệm công dân và quyền con người cũng có khá nhiều điểm chung
- Trong nghiên cứu “A New Vision for Human Rights Education in Quebec High Schools” (Một cách nhìn mới về giáo dục quyền con người trong trường phổ thông ở Quebec) [140] đã chỉ ra sự khác biệt đáng kể trong giữa các lứa tuổi trong việc áp dụng nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp Đây cũng là kinh nghiệm được chỉ ra trong nghiên cứu “Student Rights and Human Rights Education - Taiwan’s Experience, Human Rights Education in Asian Schools” (Quyền của người học và giáo dục quyền con người, kinh nghiệm ở Đài Loan và các trường học ở Châu Á) [135] Việc xác định đúng đối tượng và mục đích giáo dục quyền con người là cơ sở cho việc xây dựng mô hình, nội dung giáo dục phù hợp
- Canadian Teachers’ Federation, Human Rights Education in Canada (Giáo dục quyền con người ở Canada), http://www.ctf-fce.ca/Research-Library/Human RightsEducation_WEB.pdf
- Cosmopolitan Civil Societies Research Centre Faculty of Arts and Social Sciences University of Technology, Sydney, Human Rights Education in the School Curriculum (Giáo dục quyền con người trong chương trình giáo dục nhà trường) , ISBN NO: 978-0-9922981-0-4, https://www.uts.edu.au/sites/default/files/HRE ReportFinal22July.pdf [138] đề cập đến hoạt động giáo dục quyền con người trong các trường học ở Australia chỉ ra những điểm thuận lợi (cơ hội) hay những khoảng trống có ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục quyền con người ở mỗi bang của Australia
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài giáo dục quyền con người, giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông, tác giả rút ra những nhận xét sau đây
Một là, các nghiên cứu ở nước ngoài đã làm rõ tầm quan trọng, vai trò của giáo
dục quyền con người trong việc hình hành văn hóa quyền con người Hoạt động giáo dục quyền con người đã được các quốc gia coi trọng và được tiến hành dựa trên hướng dẫn về giáo dục quyền con người của Liên hợp quốc Trên cơ sở đó, các quốc gia đã triển khai các chương trình quốc gia về giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng, phổ biến các quy định quốc tế về quyền con người, các phương thức bảo vệ
Trang 28quyền con người nhằm từng bước hình thành văn hóa quyền con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội
Hai là, các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tiến hành giáo dục
quyền con người đối với học sinh phổ thông Mục đích chủ yếu của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng sử dụng, bảo vệ quyền, tôn trọng quyền của những người khác Trong các công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến nội dung, phương pháp giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông Điểm chung của các nghiên cứu này là khẳng định sự cần thiết, vai trò của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông Trong đó đáng chú ý là bảo đảm sự tham gia chủ động và mô hình lớp học phù hợp để nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con người là những vấn đề được luận giải khá kỹ lưỡng Ở một số quốc gia trên thế giới như Thái Lan, Philippine, nội dung giáo dục quyền con người được thiết kế lồng ghép vào chương trình giáo dục phổ thông
Ba là, các nghiên cứu ở nước ngoài đã đề cập kinh nghiệm của từng quốc gia
trong việc xây dựng nội dung, chương trình giáo dục quyền con người cho từng đối tượng Sự phân hóa theo tâm lý lứa tuổi để thiết kế nội dung, chương trình giáo dục quyền con người là kết quả nghiên cứu đáng quan tâm Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ngoài những vấn đề lý luận chung còn phù thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các quốc gia, việc áp dụng các hình thức, phương pháp giáo dục quyền con người cho học sinh cũng cần có sự linh hoạt, hợp lý với từng quốc gia
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu
1.3.1 Những kết quả nghiên cứu cần được kế thừa trong quá trình thực hiện luận án
- Trên bình diện quốc tế và quốc gia, vấn đề quyền con người và giáo dục quyền
con người đã được khẳng định có tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ liên quan đến mỗi cá nhân cụ thể mà còn liên quan đến sự phát triển của từng quốc gia cũng như nghĩa vụ quốc tế của mỗi quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa
Giáo dục quyền con người cho học sinh nói riêng cũng được quan tâm đặc biệt, nhằm qua đó xây dựng văn hóa quyền con người ngay từ lứa tuổi thanh, thiếu niên, các chủ nhân, công dân của từng quốc gia Giáo dục quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia Trong đó,
Trang 29các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế về quyền con người Quyền con người luôn được dựa trên cơ sở đạo đức và hiến pháp, pháp luật Giáo dục quyền con người phải bắt đầu từ nhận thức đúng đắn về quyền con người, mục đích, yêu cầu của giáo dục quyền con người Đây là điều kiện căn bản để hình thành ý thức quyền con người
- Giáo dục quyền con người nhằm hướng tới năng lực, kỹ năng thực hành, bảo vệ
quyền con người cho bản thân mỗi cá nhân và cho những người khác Đó chính là mục đích, yêu cầu của giáo dục quyền con người, từ nhận thức tới hành động tự bảo vệ
quyền con người cho bản thân và cho người khác là cả một quá trình lâu dài Xây dựng văn hóa nhân quyền phải bắt đầu tựu việc giáo dục quyền con người cùng với nhiều biện pháp khác Không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng bảo vệ quyền con người mà giáo dục quyền con người còn nhằm xây dựng tính tích cực chính trị pháp lý cho các cá nhân trong việc đấu tranh với những hành vi xâm phạm, coi thường quyền con người
- Tôn trọng, bảo đảm sự đa dạng trong giáo dục quyền con người sao cho phù hợp với điều kiện của các quốc gia, các lĩnh vực hoạt động, các nhóm đối tượng xã hội Từ đó cần xác định đa dạng về nội dung, hình thức, phương pháp, hình thức giáo dục quyền con người để hướng tới giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng là xu hướng phát triển tất yếu của hoạt động giáo dục quyền con ngươi
1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu trong Luận án
Những công trình liên quan đến đề tài giáo dục quyền con người nêu trên có ý nghĩa tham khảo quan trọng đối với việc triển khai luận án của nghiên cứu sinh Trên
cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài luận
án, nghiên cứu sinh đã xác định những vấn đề đặt ra cho luận án cần tiếp tục triển khai nghiên cứu sau đây:
- Phân tích làm sáng tỏ tính chất toàn diện về mục đích, nhiệm vụ của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu về giáo dục quyền con người trong và ngoài nước
- Nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu vào các thành tố (các yếu tố) cơ bản của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trên cơ sở đặc điểm nhận thức và quá trình phát triển tâm sinh lý lứa tuổi học sinh phổ thông
- Nghiên cứu các yếu tố tác động đến giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở Việt Nam
Trang 30- Nghiên cứu các điều kiện đảm bảo giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở Việt Nam hiện nay
- Thực hiện việc khảo sát về giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
để đánh giá khách quan, toàn diện về thực trạng giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở Việt nam hiện nay
- Xây dựng các quan điểm, giải pháp bảo đảm giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông trên cơ sở lý luận và thực tiễn
1.4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề của đề tài Luận án, các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được xây dựng và đặt ra như sau:
1 Đặc thù của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông có gì khác biệt
so với những đối tượng khác? Hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông bao gồm những thành tố cấu thành nào và có những yếu tố nào chi phối đến hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông? Ở các nước hoạt động giáo dục quyền con người được diễn ra như thế nào và Việt Nam có thể học tập gì từ kinh nghiệm của các nước?
Giả thuyết nghiên cứu: Học sinh phổ thông là lứa tuổi đang trong quá trình hoàn
thiện nhân cách để trở thành “người lớn” Do vậy, hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là rất cần thiết và được thực hiện không chỉ trong môi trường giáo dục nhà trường, mà còn cả trong môi trường giáo dục gia đình, xã hội, trong đó, giáo dục quyền con người trong nhà trường phổ thông giữ vai trò quan trọng nhất
2 Hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông tại Việt Nam thời gian qua đã diễn ra như thế nào và đã đạt được những thành tựu cũng như còn tồn tại những nhược điểm gì?
Giả thuyết nghiên cứu: Hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ
thông đã được quan tâm từ bậc tiểu học cho tới bậc phổ thông trung học Hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được tiến hành tổng thể từ giáo dục nhà trường tới các hoạt động ngoại khóa và có sự tương tác mật thiết giữa các thành
tố cấu thành hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông Tác động của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông có tác dụng tích cực
Trang 31đối với việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh phổ thông từ nhận thức tới hành động
3 Trong điều kiện đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông nói riêng cần phải được thay đổi dựa trên các quan điểm và giải pháp nào?
Giả thuyết nghiên cứu: Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi
đòi hỏi hoạt động giáo dục nói chung, giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông nói riêng cũng phải thay đổi cho phù hợp Việc đổi mới hoạt động giáo dục quyền con người không thể tách rời với việc đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông, đồng thời cần phải có sự gắn kết chặt chẽ hơn nữa giáo dục quyền con người chính thức trong trường phổ thông với giáo dục quyền con người với tính chất là các hoạt động ngoại khóa do các tổ chức đại diện cho học sinh phổ thông thực hiện
1.5 Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu đề tài
Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh dựa trên những cơ sở lý thuyết sau đây:
- Quan điểm về quyền con người Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Các quan điểm, học thuyết về tâm lý học giáo dục, tâm lý học lứa tuổi và tâm
lý học phát triển làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá quá trình giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông như: Nguyễn Kế Hào (2005) [43], Nguyễn Thạc (2006) [100], Dương Thị Diệu Hoa (2012) [52], Nguyễn Văn Đồng (2012) [29]; Lê Văn Hồng và các cộng sự (2001) [55], Jean Piaget [41]
- Các quan điểm cơ bản trong các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người
và giáo dục quyền con người nói chung, đối với trẻ em nói riêng
- Quan điểm, mục tiêu, triết lý giáo dục của Nhà nước Việt Nam
Tiểu kêt chương 1
Giáo dục quyền con người là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Với tư cách là một tổ chức quốc tế có mục đích duy trì hòa bình và an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, Liên hợp quốc đã có nhiều dự án, chương trình để thúc đẩy hoạt động giáo dục quyền con người ở các quốc gia trên thế giới Trong bối cảnh đó,
Trang 32các nghiên cứu về giáo dục quyền con người đặt trong mối quan hệ với đặc thù của từng quốc gia đã được nhiều nghiên cứu luận giải ở những khía cạnh khác nhau Việc bảo đảm giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng không phân biệt là kỳ vọng lớn lao, vì thông qua giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng sẽ không còn tình trạng có những cá nhân đến chết mà không có cơ hội được biết về quyền con người Học sinh phổ thông là một đối tượng cần phải được giáo dục quyền con người,
vì đây là chủ thể đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện tâm sinh lý và nhân cách
để sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân và là chủ thể pháp luật độc lập Việc thực hiện giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được thực hiện dựa trên nguyên lý của giáo dục quyền con người và có xem xét đến đặc thù về tâm sinh lý lứa tuổi để thiết kế nội dung, sử dụng phương pháp, xác định mục tiêu giáo dục quyền con người Nội dung giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông chịu sự chi phối mạnh mẽ của mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục phổ thông Đây là những vấn đề cần được quan tâm luận giải để có được cơ sở khoa học vững chắc cho hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
Trang 33Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI
CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG
2.1 Khái niệm giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
2.1.1 Quan niệm về giáo dục quyền con người
Giáo dục nhân quyền đã và đang là vấn đề được quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế Năm 1978, UNESCO đã triệu tập Hội nghị quốc tế về giáo dục nhân quyền tại Viên (Áo) đã nhấn mạnh giáo dục nên làm cho mỗi cá nhân thấy quyền của mình, đồng thời họ cũng phải biết tôn trọng những quyền của người khác Đến năm
1993, Hội nghị thế giới về quyền con người cũng được tổ chức tại Viên đặt trọng tâm vào việc coi giáo dục, đào tạo và thông tin chung về quyền con người là thiết yếu cho thúc đẩy và đạt được các quan hệ hài hòa, ổn định trong các cộng đồng và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, khoan dung và hòa bình Trên quan điểm này, Hội nghị nhấn mạnh đến nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia trong việc bảo đảm mục đích của giáo dục là nhằm tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và các tự do cơ bản và điều này nên được đưa vào các chính sách giáo dục ở cấp độ quốc gia và quốc tế
Tiếp sau các Tuyên bố của Hội nghị quốc tế tại Viên về giáo dục nhân quyền, Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết 59/113A ngày 10 tháng 12 năm 1994 Tuyên bố
về chương trình Thập kỷ giáo dục quyền con người (1995 - 2004) và Nghị quyết số 113B ngày 14 tháng 7 năm 2005 thông qua dự thảo kế hoạch hành động bổ sung cho giai đoạn thứ nhất (2005 - 2009) của Chương trình thế giới về giáo dục quyền con người bản kế hoạch tập trung vào hệ thống các trường tiểu học và trung học với yếu
tố chính là “tiếp cận giáo dục dựa trên quyền”
Tại Việt Nam, giáo dục quyền con người là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và được đề cập trên nhiều góc độ khác nhau Có quan điểm cho rằng: Giáo dục quyền con người cũng là một trong các quyền con người, là một
bộ phận của quyền được giáo dục, quyền được biết về quyền của mình [32, tr.27-46] Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến quyền được giáo dục liên quan đến quyền con
Trang 34người, từ đó con người hiểu rõ về quyền của mình và đấu tranh cho quyền của mình
và của người khác
Tác giả Nguyễn Thị Báo cho rằng: Giáo dục quyền con người là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có mục đích của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ tri thức về quyền con người để biết tự mình bảo vệ quyền của mình và tôn trọng quyền của người khác phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của các chuẩn mực trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con người [5] Theo tác giả Võ Khánh Minh, quan niệm quyền con người được hiểu theo những nội hàm sau: i) Giáo dục quyền con người là hoạt động hướng đến con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm về quyền con người, rèn luyện kỹ năng, năng lực và lối sống, bồi dưỡng
tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với văn hoá quyền con người, chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội; ii) Giáo dục quyền con người là một tiểu hệ thống có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ tương hỗ với các tiểu hệ thống khác của giáo dục pháp luật như: luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật dân sự, luật tố tụng dân sự….; iii) Giáo dục quyền con người
là quá trình hoạt động (tác động) có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục quyền con người để chuyển tải, truyền đạt những nội dung (thông tin, tri thức, năng lực về quyền con người), thông qua các hình thức và phương pháp khác nhau đến đối tượng tiếp nhận giáo dục quyền con người nhằm đạt được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định [72, tr.30-32]
Mặc dù còn nhiều cách hiểu khác nhau về giáo dục quyền con người, song tựu chung lại các quan điểm đều thống nhất:
Một là, giáo dục quyền con người là hệ thống các biện pháp, cách thức nhằm
truyền đạt các kiến thức, các kỹ năng về quyền con người đến mọi cá nhân trong xã hội Tùy thuộc vào mục đích, đối tượng giáo dục để xây dựng biện pháp, cách thức thực hiện
Hai là, mục tiêu của giáo dục quyền con người là để tăng cường nhận thức của
đối tượng được giáo dục nhằm thay đổi nhận thức về quyền con người từ đó có hành
Trang 35vi xử sự của từng cá nhân trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ quyền con người, từ đó hình thành văn hóa quyền con người Nói cách khác, thông qua hoạt động giáo dục quyền con người, đối tượng được giáo dục sẽ hình thành “phương pháp, tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng về quyền con người, giá trị, thái độ và hành vi tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người” [72, tr.32] Giáo dục về quyền con người là chìa khóa quan trọng trong việc thúc đẩy quyền con người, vì việc giáo dục và đào tạo quyền con người sẽ nâng cao kiến thức, làm rõ giá trị, thúc đẩy tình đoàn kết, thay đổi thái độ và phát triển kỹ năng - tất cả những điều này sẽ góp phần vào sự tôn trọng
và thực thi các quyền con người
Ba là, chủ thể thực hiện giáo dục quyền con người rất đa dạng, nhưng các chủ thể
này phải là những tổ chức được giao thực hiện chức năng giáo dục hoặc thực hiện các hoạt động giáo dục quyền con người là một trong những nội dung hoạt động của tổ chức
đó thông qua các chuyên gia có tri thức, lý luận cần thiết về quyền con người, các quy định của pháp luật về quyền con người và đời sống quyền con người, hiểu biết đối tượng giáo dục quyền con người (nhu cầu, định hướng, hoàn cảnh, môi trường sống của đối tượng…), phải có năng lực và cách thức chuyển tải nội dung quyền con người đến đối tượng giáo dục quyền con người và phải là hình mẫu trong việc tôn trọng quyền con người Hơn nữa, chủ thể giáo dục quyền con người phải có khả năng minh hoạ những vấn đề quyền con người trong cuộc sống hằng ngày [72, tr.32] Đây là điểm khác biệt đáng chú ý giữa giáo dục pháp luật nói chung với giáo dục quyền con người Nếu không
có những kiến thức cần thiết thì không thể thực hiện hoạt động giáo dục quyền con người Bởi lẽ, quyền con người là mang bản chất tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào, là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới [21, tr.19]
Bốn là, vì quyền con người có giá trị chung, tính phổ cập và mang tính đặc thù
của từng dân tộc, quốc gia, sự khác nhau về lịch sử, thể chế chính trị, văn hóa và tôn giáo [34], không chỉ liên quan đến pháp luật quốc gia mà còn liên quan đến luật quốc
tế, những chuẩn mực quốc tế về quyền con người và liên quan đến từng cá nhân trong
xã hội, do đó, đối tượng giáo dục quyền con người cũng đa dạng và được xác định dựa trên mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục quyền con người Nói cách khác,
Trang 36tùy thuộc vào đối tượng, mục tiêu giáo dục quyền con người, chủ thể giáo dục sẽ có nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp
Ngoài những quan điểm chung về giáo dục quyền con người, một số vấn đề liên quan đến giáo dục quyền con người cần phải được bàn sâu hơn hoặc ít nhất cần phải được phản ánh trong quan niệm về giáo dục quyền con người là:
Thứ nhất, hệ thống biện pháp, cách thức giáo dục quyền con người cần phải đặt
trong mối tương quan đặc thù của thể chế chính trị, truyền thống, văn hóa của từng quốc gia, nhất là phải đặt nó trong mối tương quan với mục tiêu của hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục quyền con người là một trong những hoạt động góp phần hình thành nếp nghĩ, cách hành xử của từng cá nhân được đặt trong mối quan hệ với việc bảo vệ thực thi quyền con người của mình và của người khác Giáo dục quyền con người dù được tiến hành theo phương thức nào đi chăng nữa nó cũng được xem
là trục xuyên suốt của quá trình hình thành nhân cách con người – một sản phẩm bậc cao, được trải qua quá trình đào tạo rèn luyện khắt khe nhất Vì vậy, hoạt động giáo dục quyền con người là sự thể hiện thống nhất về nội dung và hình thức thực hiện các hoạt động giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia
Thứ hai, các nghiên cứu thực tiễn giáo dục quyền con người thời gian qua cho
thấy, hoạt động giáo dục quyền con người có thể thực hiện chính thức hoặc không chính thức, tức là lồng ghép trong các hoạt động hoặc được thực hiện bởi các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội… Mỗi phương thức giáo dục quyền con người có
ưu điểm, nhược điểm riêng của nó Vì vậy, việc đa dạng hóa phương thức giáo dục quyền con người không chính thức do các tổ chức chính trị, chính trị xã hội thực hiện cần được khuyến khích
Thứ ba, giáo dục quyền con người theo hướng chuyên biệt là biện pháp hữu
hiệu cho việc nâng cao ý thức quyền con người, giúp cho việc giáo dục quyền con người đạt hiệu quả cao hơn Đối tượng giáo dục quyền con người rất rộng, đó là toàn thể cá nhân trong xã hội, song ở mỗi nhóm đối tượng khác nhau, nhu cầu giáo dục quyền con người theo đó cũng có sự khác biệt đáng kể Sự khác biệt này không chỉ ở khía cạnh nội dung giáo dục quyền con người mà còn ở cả mục tiêu, phương pháp cũng như cách thức tiến hành hoạt động giáo dục quyền con người Yêu cầu phân hóa
Trang 37hoạt động giáo dục quyền con người theo đối tượng cũng đã được nhiều nghiên cứu quan tâm luận giải Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ tập trung làm rõ nội dung quyền con người của từng đối tượng cụ thể mà chưa tập trung vào làm rõ hoạt động giáo dục quyền con người cho những đối tượng trên
2.1.2 Đặc điểm của học sinh phổ thông và khái niệm giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
2.1.2.1 Những đặc điểm của học sinh phổ thông
Học sinh phổ thông là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, nhưng chưa có khái niệm chính thức về nó Việc làm rõ nội hàm khái niệm học sinh phổ thông trước hết cần hiểu khái niệm học sinh và giáo dục phổ thông Học sinh được hiểu là “người học trong các nhà trường (phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp) Học sinh cao đẳng, đại học là sinh viên, học sinh các trường trung học và cao đẳng sư phạm là giáo sinh Từ học sinh còn được dùng để chỉ người đi học một nghề nào đó (học sinh học may)” [154] Từ điển tiếng Việt giải thích học sinh là người theo học ở nhà trường [129] Giáo dục phổ thông bao gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông (Khoản 1 Điều 26 Luật Giáo dục 2005) Đối tượng của giáo dục phổ thông là học sinh tiểu học, học sinh trung học cơ
sở và học sinh trung học phổ thông Do đó, thuật ngữ học sinh phổ thông là khái niệm dùng để chỉ những đối tượng đang theo học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở
và trung học phổ thông Đây là giai đoạn học sinh phổ thông có nhiều diễn biến phức tạp trong quá trình phát triển tâm sinh lý có ý nghĩa quyết định tới việc hình thành nhân cách con người từ giai đoạn đặt nền móng cho đến giai đoạn củng cố nhân cách trước khi trở thành người trưởng thành Từ thực trạng nhận thức và sự phát triển tâm sinh lý học sinh phổ thông có thể nhận thấy:
Thứ nhất, học sinh phổ thông là người đang theo học tại các trường phổ thông
bao gồm tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học,
có tuổi là mười một tuổi Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi Dưới góc độ tâm lý học lứa tuổi, quá trình nhận thức, diễn biến quá trình phát triển tâm sinh lý thì học sinh phổ thông theo nghĩa đối
Trang 38tượng được giáo dục quyền con người trong Luận án là đối tượng đang trong quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện về tri thức, tâm lý, tình cảm
Nếu như học sinh tiểu học được coi như “tờ giấy trắng” thì học sinh trung học
cơ sở, trung học phổ thông lại có nhiều điểm phát triển mang tính đột phá, chuyển hóa từ nhi đồng sang thiếu niên, thanh niên Quá trình phát triển và hoàn thiện về tri thức, tâm lý, tình cảm của học sinh phổ thông liên quan trực tiếp đến việc củng cố, phát triển, hoàn thiện trình độ nhận thức, trong đó có nhận thức về quyền con người
Do vậy, việc xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục quyền con người cần phản ánh được trình độ nhận thức, yêu cầu phát triển, nâng cao trình độ nhận thức về quyền con người phù hợp với quá trình phát triển, hoàn thiện trình độ nhận thức, tâm lý, tình cảm của học sinh phổ thông
Thứ hai, hoạt động giáo dục học sinh phổ thông chủ yếu mang tính chất cung
cấp cho học sinh những tri thức cơ sở [62, tr.14-61], [129, tr.512] làm tiền đề cho học sinh có thể học lên ở bậc cao hơn (cao đẳng, đại học) Luật Giáo dục năm 2005 quy định: Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ
sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn
có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh
Trang 39Đặc điểm này đặt ra yêu cầu cần có định hướng rõ ràng về hoạt động giáo dục quyền con người đối với học sinh phổ thông Hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông có thể được thiết kế như một nội dung của chương trình phổ thông, nghĩa là chương trình giáo dục chính thức Đối với phương thức giáo dục quyền con người chính thức trong chương trình giáo dục phổ thông, học sinh được truyền thụ kiến thức quyền con người như một nội dung của chương trình học phổ thông Cách thức tổ chức giáo dục quyền con người theo lớp học không thể đề cập được hết nội dung giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông và có thể bị coi nhẹ, do giáo dục phổ thông ở nước ta chủ yếu tập trung và những môn học cơ bản Ngoài hoạt động giáo dục quyền con người chính thức trong chương trình giáo dục phổ thông thì hoạt động giáo dục quyền con người có thể được thực hiện trong các chương trình ngoại khóa thông qua hoạt động thi tìm hiểu, tờ rơi, chương trình hoạt động đoàn đội… Hoạt động giáo dục quyền con người ngoại khóa cần được tiến hành thường xuyên, với các chủ đề gắn liền với nội dung chương trình giáo dục phổ thông, tâm lý lứa tuổi
Thứ ba, giáo dục phổ thông do các trường phổ thông trực tiếp thực hiện Tri
thức, tình cảm, cách hành xử của học sinh phổ thông có ảnh hưởng mạnh mẽ từ phía nhà trường, thầy cô giáo Do đó, hoạt động giáo dục quyền con người đối với học sinh phổ thông cần phải thu hút được sự tham gia của các thầy cô giáo Thầy cô giáo trong các trường phổ thông phải trở thành tấm gương cho việc giáo dục, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Điều này hoàn toàn phù hợp với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, bởi Bác đề cao sứ mệnh của người thầy giáo, Người viết: “Có
gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất , những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang” [68, tr.331] Ðể làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, người thầy giáo phải có phẩm chất tốt Bác nhắc nhở: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức
Trang 40là chính trị Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức Cho nên thầy giáo,
cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con” [67, tr.492]
Nội dung pháp luật về quyền con người nói chung, quyền con người liên quan đến học sinh phổ thông nói riêng là những quy định liên quan trực tiếp đến từng cá nhân học sinh Đối với học sinh phổ thông có nhiều vấn đề riêng tư học sinh không chia sẻ với ai, kể cả cha mẹ nhưng các em sẵn sàng chia sẻ với thầy cô giáo Thầy cô được các em tin tưởng, chia sẻ những “bí mật”, tâm tư tuổi học trò Do đó, sự tham gia của các thầy cô giáo vào hoạt động giáo dục quyền con người giúp cho hoạt động này có hiệu quả hơn Thầy cô giáo trong các trường phổ thông có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động giáo dục quyền con người thông qua hoạt động lên lớp giảng dạy nội dung pháp luật quyền con người Thầy cô giáo trong các trường phổ thông cũng
có thể tham gia gián tiếp cho hoạt động giáo dục quyền con người thông qua việc cộng tác với các chuyên gia thực hiện hoạt động giáo dục quyền con người tại cơ sở giáo dục nơi mình đang công tác hoặc được mời tham vấn, phản biện cho chương trình giáo dục quyền con người dưới góc độ của chuyên gia giáo dục, có am hiểu về đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh phổ thông
Thứ tư, quá trình phát triển tâm, sinh lý, tri thức của học sinh phổ thông được
phát triển từ chỗ phụ thuộc vào gia đình, nhà trường đến chỗ học sinh phổ thông có suy nghĩ độc lập, có các quan hệ độc lập, có thể thể hiện quan điểm cá nhân, khẳng định cái tôi, vị thế của mình ở nhà trường, gia đình và xã hội, vì vậy, hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông phải bảo đảm quá trình thể hiện cái tôi trên cơ sở hiểu rõ quyền của mình và đấu tranh cho quyền của mình cũng như quyền của người khác Hoạt động giáo dục quyền con người không chỉ là những hiểu biết về quyền mà còn cả những hiểu biết về nghĩa vụ của học sinh phổ thông, bởi vì quyền con người đi liền với quyền của cá nhân và toàn xã hội, nghĩa vụ để tôn trọng, bảo vệ
và thúc đẩy quyền con người thuộc về tất cả cá nhân và toàn xã hội Giáo dục quyền con người cung cấp cơ sở pháp lý cho việc giải quyết xung đột và thúc đẩy các trật tự
xã hội Chính vì vậy, hoạt động giáo dục quyền con người là cơ sở quan trọng cho việc hình thành tâm lý, nhân cách của công dân trong mối quan hệ với nhà nước, tư cách chủ thể có khả năng gánh chịu các trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm pháp lý