Về phát triển kinh tế những khó khăn lớn đó là: giá cả hàng nông sảnthường mất ổn định, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, chưa có cơ cấu kinh tếhợp lý sản xuất nông nghiệp thì trồng trọt vẫn
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp này em xin chân thành cảm
ơn đến:
- Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Tây Nguyên nói chung, Thầy,
Cô giáo Khoa Kinh tế nói riêng đã truyền đạt những kiến thứcchuyên môn bổ ích trong quá trình em học tại trường
- Ban lãnh đạo và các cô, chú, anh, chị trong UBND xã Ea Tyh, người
đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho những sinh viên thựctấp tại địa phương
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Ngọc Thắng và thầy ĐỗMạnh Hoàng, người đã giảng dạy, cung cấp kiến thức và hướng dẫn chúng
em trong suốt thời gian thực tập và thực hiện chuyên đề này
Chúng em cũng xin gửi lời chúc chân thành và tốt đẹp nhất đến các thầy
cô trong trường Kính chúc các thầy cô thật nhiều sức khỏe để tiếp tục hoànthành tốt công tác giảng dạy
Chúng en xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công đến các
cô, chú, anh, chị trong xã Ea Tyh Chúc xã Ea Tyh luôn thành công, gópphần vào sự thành công của huyện nhà
Ea Tyh, tháng 09 năm 2013
Sinh viên
Vũ Thị Bích Diệp
Đỗ Thị Thảo
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản về rủi ro và bất định 5
2.1.2 Các khái niệm cơ bản về hộ và kinh tế hộ nông dân 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 12
PHẦN THỨ BA: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Đặc điểm địa bàn 15
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 15
3.1.2 Nguồn tài nguyên 17
3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 20
3.1.4 Cơ sở hạ tầng 23
3.1.5 Đánh giá chung về địa bàn xã Ea Tyh 24
3.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
Trang 33.2.2 Phương pháp phân tích 26
3.2.3 Công cụ xử lý số liệu 26
PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Thực trạng sản xuất kinh doanh cà phê của xã Ea Tyh 27
4.1.1 Thực trạng sản xuất cà phê 27
4.1.2 Tình hình thị trường tiêu thụ cà phê 30
4.1.3 Tình hình thực hiện kế hoạch giảm thiểu rủi ro 30
4.1.4 Đánh giá chung thực trạng sản xuất kinh doanh cà phê 32
4.2 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh cà phê tại xã Ea Tyh 33
4.2.1 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro 33
4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh cà phê 40
4.2.3 Tổn thất trực tiếp và gián tiếp đến người sản xuất 41
4.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cà phê của hộ nông dân tại xã Ea Tyh 42
4.3.1 Phòng trừ sâu bệnh: 42
4.3.2 Thiên tai 43
4.3.3 Khuyến khích quản lý chất lượng ngay từ khâu sản xuất 44
4.3.4 Quá trình sản xuất và tiêu thụ 45
PHẦN THỨ NĂM: KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 4PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Trong những năm gần đây diện tích và sản lượng cà phê của ViệtNam đã tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước đó Việc gia tăng sảnlượng trong giai đoạn này chủ yếu được kéo theo từ gia tăng diện tích vàmột phần nữa là do số diện tích cà phê trồng mới từ giai đoạn trước đếngiai đoạn này đã bước vào thời kỳ kinh doanh Tuy diện tích và sản lượngtăng cao hơn nhiều so với trước đó nhưng mức độ rủi ro cũng gia tăng rấtnhiều Rủi ro trong việc sản xuất kinh doanh cà phê của Việt Nam xuấthiện ở nhiều khía cạnh khác nhau và ngày càng trở nên phức tạp và khó dựbáo hơn
Tỉnh Đăk Lăk chúng ta phát triển kinh tế vẫn tập trung chủ yếu vàoviệc phát triển nông nghiệp đặc biệt tập trung vào sản xuất cà phê và cao
su, một ngành mang lại lợi thế rất lớn cho Đăk Lăk chúng ta Không chỉ cóvùng diện tích đất rộng lớn mà điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu rất thuậnlợi cho việc canh tác Do cây cà phê là loại cây công nghiệp rất phù hợp vớiđiều kiện sinh thái, thổ nhưỡng ở Đăk Lăk, nên từ sau ngày thống nhất đấtnước, diện tích cây cà phê phát triển khá nhanh Năm 1975 có trên 3.700 ha
cà phê, năm 1985 có 15.000 ha, năm 1990 diện tích cà phê đã tăng lên76.000 ha Hiện nay Đăk Lăk có trên 184.000 ha, (trong đó có trên 173.000
ha cà phê kinh doanh) với sản lượng đạt trên 400.000 tấn cà phê nhân xô,chiếm 36,4% sản lượng cà phê cả nước Cùng với việc tăng nhanh về diệntích, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như: chọn giống, bónphân, tưới nước, tạo tán đã làm năng suất và sản lượng cà phê tăng mạnh.Những năm trước 1990, năng suất bình quân 1 ha cà phê kinh doanh chỉ đạt
8 – 9 tạ nhân, đến năm 1994 năng suất bình quân đạt 18,5 tạ/ha, hiện naybình quân đạt 25 – 28 tạ/ha; cá biệt ở một số vùng sản xuất đã cho năng
Trang 5suất bình quân đạt 35 – 40 tạ/ha, vườn cà phê một số hộ gia đình đạt trên
50 tạ/ha
Là tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa, sản phẩm trồng trọt vàchăn nuôi khá lớn về sản lượng, đa dạng về chủng loại, với nguồn nguyênliệu dồi dào và rất tốt cho ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu Đặcbiệt là tỉnh được thiên phú cho thừa hưởng 311.000 ha đất đỏ bazan màu
mỡ, rất thích hợp cho cây cà phê phát triển Cây cà phê đã thực sự tạo rahiệu quả kinh tế, xã hội rất quan trọng và to lớn cho người dân Đăk Lăk
Hiện nay, cà phê là sản phẩm chủ lực của tỉnh Năm 2010, kimngạch xuất khẩu của tỉnh đạt trên 620 triệu USD, trong đó cà phê chiếm85% giá trị xuất khẩu của tỉnh và 40% giá trị xuất khẩu cà phê cả nước Càphê đóng góp trên 60% tổng thu ngân sách của tỉnh, giải quyết việc làmcho khoảng 300.000 lao động trực tiếp và khoảng 100.000 lao động giántiếp Xuất khẩu cà phê Đăk Lăk đã góp phần làm cho sản phẩm cà phêtrong nhiều năm qua được đứng vào nhóm các mặt hàng của cả nước có giátrị kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD mỗi năm ( năm 2010 giá trị kimngạch xuất khẩu của ngành cà phê Việt Nam đạt trên 1,7 tỷ USD), với sảnlượng cà phê hàng năm đứng thứ 2 thế giới và đến nay sản phẩm cà phêĐăk Lăk đã xuất khẩu đến gần 80 nước và vùng lãnh thổ trên khắp cácchâu lục
Xã Ea Tyh thuộc huyện Ea Kar là một nơi có vị trí địa lý thuận lợi(giáp TT Ea Knốp và nằm trên đường quốc lộ 26 đi Khánh Hòa), là cơ sở
để phát triển một nền kinh tế đa dạng về nông nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ Hệ thống giao thông thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tếvới các huyện trong tỉnh cũng như các tỉnh Duyên hải miền Trung Đất đaikhá đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây trồng như lúa, sắn, mía, điều cógiá trị xuất khẩu cao Mật độ sông suối cao, cùng với đặc thù về địa hình làmột lợi thế cho việc xây dựng các công trình thủy lợi và thủy điện có quy
Trang 6mô vừa và nhỏ, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước và điệnsinh hoạt.
Bên cạnh đó, xã Ea Tyh vẫn còn tồn tại nhiều mặt khó khăn Mặc dù
là vùng đất phù hợp với nhiều loại cây trồng, tuy nhiên tổng diện tích cây
cà phê chỉ đạt 120 ha trong tổng diện tích gieo trồng của toàn xã là 3.550,2
ha (chiếm 3,38%) Với nguồn nước mặt tuy dồi dào vào mùa mưa, nhưngkhả năng giữ nước của hệ thống sông suối trên địa bàn lại kém Tình hìnhthời tiết khí hậu trong những năm gần đây diễn biến phức tạp, thườngxuyên nắng hạn gây mất mùa, dịch bệnh cây trồng làm ảnh hưởng tới năngsuất và sản lượng
Về phát triển kinh tế những khó khăn lớn đó là: giá cả hàng nông sảnthường mất ổn định, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, chưa có cơ cấu kinh tếhợp lý sản xuất nông nghiệp thì trồng trọt vẫn là chủ yếu, chăn nuôi chỉmang tiêu dùng gia đình, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp vàngười nông dân
Trong quá trình thực tập tại xã tiếp xúc trên thực tiễn như vậy, vớimong muốn đóng góp một phần sức lực vào sự phát triển của xã Ea Tyh,huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk cũng như vào sự phát triển chung của đất
nước, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Phân tích rủi ro trong sản xuất kinh doanh cây cà phê của hộ nông dân trong việc áp dụng kỹ thuật, trình độ chủ hộ tại xã Ea Tyh, huyện EaKar, tỉnh Đăk Lăk” làm
đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh cà phê tại xã Ea Tyh, từ đótìm ra các nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh cà phê tại địa phương này
Đề xuất giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh tại xã Ea Tyh trong thời gian tới
Trang 71.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề này tập trung nghiên cứu rủi ro trong sản xuất kinh doanh
cà phê của hộ nông dân tại xã Ea Tyh trong việc áp dụng kỹ thuật, trình độchủ hộ
Trang 8PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản về rủi ro và bất định
2.1.1.1 Các khái niệm về rủi ro, tổn thất và phân loại rủi ro
a) Các khái niệm về rủi ro, tổn thất
- Rủi ro
+ Theo quan điểm của Trường phái truyền thống (tiêu cực):
Theo từ điển tiếng việt xuất bản năm 1995: “rủi ro là điều khônglành, không tốt bất ngờ xảy đến”
Theo giáo sư Nguyễn Lân: “rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự khôngmay
Theo từ điển Oxford: “rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đauđớn, thiệt hại”…
Trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Hồ Diệu định nghĩa: “rủi ro là sựtổn thất về tài sản hay giảm sút về lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dựkiến”
Như vậy: “rủi ro là nhứng thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu
tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn xảy racho con người”
+ Theo quan điểm trường phái trung hòa:
Theo Frank Knight (một học giả người Mỹ): “rủi ro là sự bất trắc cóthể đo lường được”
Theo Allan Willett (một học giả người Mỹ): “rủi ro là bất trắc có thểliên quan đến những biến cố không mong đợi”
Trang 9Theo C.Arthur William, Jr.Micheal, L.smith: “rủi ro là sự biến độngtiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết các hoạtđộng của con người Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chínhxác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi rophát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mấtkhông thể đoán trước”.
Như vậy: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi ro vừamang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thẻ mang tới tổn thất,mất mát, nguy hiểm… cho con người nhưng cũng có thể mang tới những
cơ hội”
- Kết luận: rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở các kết quả, số lượng các
kết quả có thể càng lớn, sai lệch giữa các kết quả càng cao thì rủi ro cànglớn Rủi ro là một khái niệm khách quan và có thể đo lường được
- Tổn thất (loss): là những thiệt hại, mất mát về tài sản, cơ hội mất
hưởng về con người tinh thần, sức khoẻ và sự nghiệp cuả họ do nhũngnguyên nhân của rủi ro gây ra
b) Phân loại rủi ro
- Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán
+ Rủi ro thuần túy: là những rủi ro dẫn đến tình huống tổn thất haykhông tổn thất, trường hợp tốt nhất là tổn thất không xảy ra
+ Rủi ro suy đoán: là những rủi ro dẫn đến tình huống tổn thất hoặcsinh lợi Phần sinh lợi còn gọi là phần thưởng cho rủi ro
- Rủi ro đặc trưng và rủi ro thị trường
+ Rủi ro đặc trưng (rủi ro có thể đa dạng được hoặc không có tính hệthống): đây là rủi ro thường xảy ra trong phạm vi hẹp, mang tính riêng
Trang 10có, cá thể và có thể phân chia, giảm thiểu được bằng cách đa dạnghóa, bằng các nguồn vốn góp chung Các dạng của rủi ro đặc trưng:
Rủi ro quản lý: là những rủi ro nảy sinh do trình độ yếu kém củangười quản lý vì vậy quyết định của họ đưa ra có thể sai lầm gây tổn hạithậm chí có thể phá sản cả doanh nghiệp
Rủi ro tài sản: là những rủi ro do nảy sinh do tài sản hoặc cơ cấu tàisản của doanh nghiệp nắm giữ
Rủi ro tài trợ: là những rủi ro và trách niệm pháp lý nảy sinh từ cơcấu nguồn vốn của doanh nghiệp
+ Rủi ro thị trường (rủi ro không thể đa dạng hóa hay còn gọi là rủi ro
hệ thống): đây là rủi ro nảy sinh từ tác động to lớn của thị trường nằmngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp và không thể giảm thiểu bằng cách đadạng hóa Rủi ro thị trường xuất phát từ các yếu tố sau:
Những thay đổi do cơ chế quản lý
Những thay đổi trong thị hiếu của khách hàng
Tiến bộ khoa học công nghệ
Chuyển dịch trong dòng vốn đầu tư
Thay đổi và dịch chuyển lực lượng lao động, dân số
2.1.1.2 Khái niệm về bất định và các mức độ về bất định
a) Khái niệm về bất định
Bất định là sự nghi ngờ về khả năng của chúng ta trong tiên đoán kếtquả tương lai của một hoạt động hiện tại Hay nói cách khác bất định làkhông yên ổn, luôn thay đổi Sự bất định xuất hiện khi một cá nhân nhậnthức được rủi ro
Trang 11Bất định là phản nghĩa với sự chắc chắn Mà sự chắc chắn là một trạngthái không có nghi ngờ.
Như vậy, rõ ràng thuật ngữ “sự bất định” mô tả trạng thái tư tưởng Sựbất định bắt đầu khi một cá nhân bắt đầu ý thức rằng không thể biết chắcchắn kết quả gì Bất định là một khái niệm chủ quan
b) Các mức độ về bất định
- Không có (tức là chắc chắn):
+ Những kết quả có thể được tiên đoán chính xác
+ Những quy luật vật lý, những môn học tự nhiên
- Mức 1 (sự bất định khách quan)
+ Những kết quả được nhận ra và xác suất được biết
+ Những trò chơi may rủi: bài, xúc xắc
- Mức 2 (sự bất định chủ quan):
+ Những kết quả được nhận ra và xác suất không được biết
+ Hỏa hoạn, tai nạn xe cộ, sự suy đoán kinh doanh
Trang 12- Một chi phí khác của rủi ro chính là chi phí bất định Ngay cả khikhông có tổn thất, sự hiện diện của rủi ro và bất định vẫn tạo ra chi phí Ởmức độ cơ bản, chi phí bất định có thể biểu thị ở “sự lo lắng” Chi phí bấtđịnh có thể xuất hiện dưới hình thức lo lắng hoặc sợ sệt, nhưng chi phí nàyđược thấy rõ nhất qua việc bố trí không hợp lý nguồn nhân lực của tổ chức.
Có thể phân loại các chi phí của rủi ro theo các tiêu thức sau đây:
+ Chi phí của rủi ro tồn tại ở hai dạng hữu hình và vô hình.
* Chi phí hữu hình: là toàn bộ những chi phí phải chi ra cho việcphòng ngừa, khoanh lại, bồi thường rủi ro, tổn thất và phục hồi sản xuất, thịtrường
* Chi phí vô hình: là toàn bộ những lợi nhuận mất hưởng, những thiệthại, mất thời cơ, mất uy tín, mất bạn hàng và thị trường v.v Đây được coinhư là khoản chi phí cơ hội mà nhiều khi chúng ta không thể nhận biếtđược Sự tiềm ẩn của chi phí loại này đã đánh lừa cảm giác của nhiều người,mặc dù chi phí của nó có thể lớn hơn gấp nhiều lần chi phí hữu hình
+ Chi phí rủi ro gắn liền với các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất
* Chi phí phòng ngừa rủi ro, tổn thất: là toàn bộ chi phí liên quan đếnviệc tập huấn, tuyên truyền, trang thiết bị kỹ thuật, những giải pháp đồng
bộ trong quản trị rủi ro nhằm để ngăn chặn, phòng ngừa những rủi ro, tổnthất xảy ra Đây là những chi phí cho dù không lớn lắm nhưng chắc chắn bịmất
* Chi phí khoanh lại rủi ro: bao gồm những chi phí trong khi xử lý sơ
bộ rủi ro nhằm làm cho rủi ro, tổn thất không trầm trọng hơn, không trởthành nguyên nhân cho những tổn thất tiếp theo
* Chi phí khắc phục rủi ro, tổn thất: là toàn bộ chi phí liên quan đến phụchồi sức khỏe của con người, giá trị sử dụng của tài sản, sản xuất kinhdoanh, thị trường, uy tín v.v Chi phí loại này thường rất lớn và khônglường hết được
Trang 13* Chi phí bồi thường tổn thất: là toàn bộ chi phí phải chi trả do cam kếtcủa nhà quản trị và thuộc trách nhiệm pháp lý của mình với người thứ ba khigặp rủi ro, tổn thất xảy ra
* Chi phí chia sẻ rủi ro, tổn thất: là toàn bộ chi phí phải bỏ ra (muabảo hiểm) để đánh đổi lấy sự an toàn hơn Nếu rủi ro, tổn thất xảy ra thìđược công ty bảo hiểm bồi hoàn thiệt hại Đây là chi phí khi tham gia bảohiểm
2.1.1.4 Mối quan hệ giữa rủi ro và tổn thất.
Rủi ro không phải là nguy cơ xảy ra những bất lợi mà thực tế rủi ro là
sự kiện bất lợi đã xảy ra và đã gây ra những thiệt hại về người và của Rủi rophản ánh mặt chất của những sự kiện không may xảy ra
Còn tổn thất là những hậu quả xác định khi rủi ro đã xảy ra Tổn thấtphản ánh về mặt lượng của những sự kiện bất ngờ không may xảy ra, qua
đó thấy được mức độ nghiêm trọng của rủi ro
Rủi ro và tổn thất là hai phạm trù khác nhau nhưng lại có quan hệ chặtchẽ với nhau Rủi ro là nguyên nhân, tổn thất là hậu quả; rủi ro là mặt chất,còn tổn thất là mặt lượng Do vậy, khi nghiên cứu về tổn thất sẽ thấy được
sự nguy hiểm, tác hại, mức độ nghiêm trọng của rủi ro đối với con người
và cuộc sống của họ Mặt khác, nghiên cứu về tổn thất mà không nghiêncứu về rủi ro sẽ không biết thiệt hại đó có nguyên nhân từ đâu để từ đó cóbiện pháp phòng chống, hạn chế một cách có hiệu quả
2.1.2 Các khái niệm cơ bản về hộ và kinh tế hộ nông dân
2.1.2.1 Hộ
Hộ là tất cả những người cùng chung sống trong một mái nhà, nhómngười đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làmcông (Theo Weberster, từ điển, 1990)
Trang 14Hộ là những người cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung
và có chung ngân quỹ (Theo Liên hiệp quốc)
Hộ là những người cùng có chung huyết thống có mối quan hệ mậtthiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bảnthân và cộng đồng (Theo Raul, 1989) cùng chung dòng máu được di truyềntrong dòng họ từ đời này sang đời khác và bao gồm cả những người làmcông mà tất cả họ đang cùng chung sống trong một mái nhà, họ cùng ănchung, cùng làm chung – sáng tạo ra của cải vật chất và cùng sử dụngchung nguồn ngân quỹ đã được tích lũy từ lao động của họ để cùng bảotồn
2.1.2.2 Hộ nông dân
Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, chủ yếu
sử dụng lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong mọt hệ thống kinh
tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phầnvào thị trường với mức hoàn hảo không cao (Theo ELLIS, 1988)
Như vậy, hộ nông dân là hộ có phương thức sản xuất nhỏ, họ làmkinh tế chủ yếu dựa trên các tư liệu về sản xuất mà mình có được, họ chủyếu vẫn là sản xuất tự cung tự cấp, họ có tham gia vào thị trường nhưng ởmức độ thấp
2.1.2.3 Kinh tế hộ
Kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ căn bản dựa vào sự tích luỹ, tựđầu tư để sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi nghèo đói và vươn lên làm
ăn khá giả Từ tự cung tự cấp vươn lên sản xuất hàng hoá với thị trường
Từ khái niệm về kinh tế hộ như trên ta có thể hiểu rằng: kinh tế hộ làđơn vị kinh tế tự chủ - họ chủ động tất cả trong quá trình sản xuất củamình, từ việc lựa chọn phương thức sản xuất đến việc lựa chọn mức đầu tư,
Trang 15họ tự tìm hiểu những vấn đề mà thị trường cần – nghĩa là sẽ trả lời cho câuhỏi: “Sản xuất cái gì?”, “Sản xuất như thế nào?” và “sản xuất cho ai?”, họhướng tới thị trường Họ tự lập về vốn đầu tư của mình nhờ vào sự tích lũytrong sản xuất để đầu tư và phát triển sản xuất vươn lên làm ăn khá giả.
2.1.2.4 Kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân sản xuất nhỏ trong nông nghiệp dựa trên cơ sởchế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và lao động cá nhân của người sản xuấttrong kinh tế riêng của mình (Theo từ điển Kinh tế của NXB Sự thật,1976)
Ở đây ta nhận thấy hai khái niệm kinh tế hộ và kinh tế hộ nông dân
có mối liên hệ với nhau là họ cùng tự quyết định trong sản xuất và cùng tựchịu trách nhiệm về quyết định của mình, cùng dựa vào những nguồn lực
mà mình có, nhưng khái niệm về kinh tế hộ nông dân mới chỉ bàn đến sự tựchủ và sự độc lập trong sản xuất của mình chưa nói gì đến sự vươn lên giàu
có và cũng chưa hướng tới thị trường
2.2 Cơ sở thực tiễn.
Cây cà phê lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1888 và trồngthử nghiệm tại tỉnh Ninh Bình, Quảng Bình Sau đó, cây cà phê được trồngnhân rộng ở tỉnh Nghệ An và 5 tỉnh Tây Nguyên
Niên vụ 2011 – 2012, tổng diện tích cà phê cả nước đạt 540.000ha,sản lượng hàng năm đạt hơn 1,2 triệu tấn Cây cà phê Việt Nam đã và đangđem lại hiệu quả kinh tế, giá trị xã hội to lớn điển hình như kim ngạch xuấtkhẩu hàng năm đạt từ 2,1 – 2,2 tỷ đô la Mỹ Ngoài ra, nó còn thu hút hàngtriệu lao động tham gia trong toàn chuỗi sản xuất, chế biến, kinh doanh càphê Cây cà phê trồng ở nước ta chủ yếu có 3 loại: cà phê vối (Robusta)chiếm 90% diện tích, cà phê chè (Arabica) chiếm 9% và cà phê mít(Excelsa) chiếm 1% Việt Nam hiện đang là nước xuất khẩu cà phê
Trang 16Robusta hàng đầu trên thế giới Để có được hiệu quả sản xuất, kinh tế từcây cà phê như hiện nay là sự tham gia, nỗ lực không ngừng và hợp tác của
cả 4 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà dân và nhà kinh doanh Chính vìvậy, việc cập nhật, ứng dụng thông tin dựa trên nhu cầu thị trường, lợi thế
về đất đai, nguồn nước, khi hậu để giúp người nông dân lựa chọn về giống,cách chăm sóc, bón phân, thu hoạch, phòng ngừa sâu bệnh trên cây cà phêmột cách hiệu quả để tiết kiệm chi phí, sản lượng cao, chất lượng tốt đang
là nhu cầu cấp thiết cho người nông dân
Sau khi Việt Nam vượt qua Brazil trở thành nhà xuất khẩu cà phêhàng đầu thế giới, ngành cà phê trong nước đang đối mặt với nhiều tháchthức Đó là khả năng cạnh tranh giành thị trường yếu đi, bị động về giá, đặcbiệt đang loay hoay tìm phương án giải quyết công nợ
Sản xuất cà phê nước ta đang gặp 3 khó khăn rất lớn và nếu khônggiải quyết được, không những người dân, doanh nghiệp mà cả ngành càphê sẽ đi đến "ngõ cụt"
Thứ nhất, tái canh cây cà phê Hiện nay lượng cây cà phê già có tuổiđời trên 25 năm chiếm đến 30% trong tổng diện tích 520.000 ha cà phêđang khai thác (khoảng 130.000ha) Những cây cà phê già cỗi này chonăng suất sản lượng thấp, vì vậy trồng mới lại diện tích cà phê già cỗi làvấn đề bức thiết đề ra
Thứ hai, chi phí đầu vào như phân bón, nông được tăng lên nhanhchóng Tuy chưa có con số điều tra chính thức nhưng hiện nay chi phí sảnxuất 1kg cà phê của nông dân khoảng 3.000 đồng, trong khi giá bán rakhoảng 3.800 đồng Chi phí đầu vào sản xuất cà phê tăng lên tạo ra áp lực
về giá bán
Thứ ba, thiếu yếu tố ổn định về giá kể cả trong nước cũng như thịtrường nước ngoài Mặt hàng cà phê chịu tác động rất lớn giá cả quốc tế,
Trang 17đặc biệt tại thị trường London và NewYork Lúc ở mức giá cao nhưng cókhi giá lại xuống thấp cả vài trăm USD.
Tuy nhiên còn nhiều khó khăn thách thức cho Việt Nam nói chung vàĐăk Lăk nói riêng, đặc biệt là trong vấn đề sản xuất cà phê Với tình hìnhtrên, Nhà nước đã có nhiều biện pháp và chính sách hỗ trợ để tăng năngsuất cây cà phê tại Đăk Lăk, tuy nhiên vấn đề giá cả vật tư và sự ảnh hưởngcủa thời tiết khí hậu là điều không thể tránh khỏi Bên cạnh đó, hình thứcsản xuất cà phê ở Đăk Lăk nói riêng và hầu hết các tỉnh Tây Nguyên nóichung đại đa số là sản xuất theo hình thức hộ gia đình nên năng suất thấp
và chất lượng cà phê chưa được bảo đảm
PHẦN THỨ BA: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 18- Phía Bắc giáp xã Ea Sô huyện Ea Kar
- Phía Tây giáp thị trấn Ea Knốp, xã Ea Sar huyện Ea Kar
- Phía Nam giáp xã Ea Pal, xã Cư Prông huyện Ea Kar
3.1.1.2 Địa hình thổ nhưỡng
Địa hình chủ yếu là các dãy đồi có đỉnh bằng, sườn thoải lượn sóng,
có địa hình thấp dần từ hướng Tây nam về hướng Bắc – Đông Bắc, độ caotrung bình khoảng 388m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 3 – 80,gồm hai dạng địa hình chính:
- Địa hình lượn sóng: tập trung tại khu vực phía Bắc, khu vựcnày bị chia cắt mạnh bởi các nhánh của các suối Ea Mtao Nang, suối EaTyh và các nhánh suối phụ đổ về sông Krông Hnăng
- Địa hình tương đơi bằng đan xen đồi thấp Tập trung tại khuvực trung tâm và phía Nam – Tây Nam xã
3.1.1.3 Thời tiết khí hậu
Nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng do sự nâng lên của địa hìnhnên có đặc điểm rất đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên,với nền nhiệt tương đối cao đều trong năm, biên độ nhiệt giữa ngày và đêmlớn
Nhiệt độ
- Nhiệt độ trung bình năm 23,70C
- Nhiệt độ trung bình cao nhất là 27 – 290C
- Nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,60C
Lượng mưa Lượng mưa trung bình năm là 1.500 – 1.800mm, lượngmưa cao nhất là 3.000mm Chia làm 2 mùa rõ rệt:
Trang 19- Mùa mưa kéo dài 6 tháng, từ tháng 5 đến cuối tháng 10 ( chiếm tới
80 – 85% lượng mưa cả năm)
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm khoảng
10 – 1k5% lượng mưa cả năm, kèm theo gió mùa Đông Bắc, nắng nóng vàkhô hạn, lượng bốc hơi nước lớn dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêmtrọng
3.1.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên.
Thuận lợi
Vị trí địa lí thuận lợi (giáp thị trấn Ea Knốp và nằm trên quốc lộ 26 điKhánh Hòa) là cơ sở để phát triển môt nền kinh tế đa dạng về nông nghiệp,công nghiệp và dịch vụ Hệ thống giao thông thuận lợi cho việc giao lưuphát triển kinh tế với các huyện trong tỉnh cũng như các tỉnh Duyên hảimiền Trung
Đất đai khá đa dạng thích hợp với nhiều loại cây trồng như lúa, sắn,điều, mía có giá trị xuất khẩu cao
Mật độ sông suối cao, diện tích mặt nước phong phú là cơ sở để pháttriển nuôi trồng thủy sản, cùng với đặc thù về địa hình là một lợi thế choviệc xây dựng các công trình thủy lợi và thủy điện có quy mô vừa và nhỏ,phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước tưới cho sinh hoạt
Trang 20mất mùa, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi làm ảnh hưởng đến năng xuất vàsản lượng.
3.1.2 Nguồn tài nguyên.
3.1.2.1 Tài nguyên đất.
Theo tài liệu điều tra đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệpxây dựng năm 1978 và theo bản đồ đất tỉnh Đăk Lăk tỉ lệ 1/100.000 đượcxây dựng năm 2005 cho thấy trên địa bàn xã Ea Tyh có các loại đất nhưsau:
Bảng 01: Tổng hợp tài nguyên đất trên địa bàn xã Ea Tyh năm 2011 St
Ký hiệu
Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
I Nhóm đất đỏ vàng
II Nhóm đất xám
Trang 21Đất xám trên đá Granit Xa 1.351 31,5
Nguồn: Theo bản đồ đất tỉnh Đăk Lăk năm 2005
Đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa): phân bố chủ yếu ở phía Bắc của xã.Phù hợp với cây hàng năm như hoa màu, lương thực, đậu đỗ, và một số câylâu năm như cao su, cà phê, tiêu
Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): phân bố ở phía Bắc, được hìnhthành tại chỗ trên 3 loại đá mẹ là phiến sét, Gơnai , phiến Mica đã phonghóa triệt để, có thành phần cơ giới thịt trung bình, đất ít xốp, mất nước đấttrở nên chai rắn
Đất xám trên đá Granit (Xa): đất có thành phần cơ giói đất cát phađến thịt nhẹ, độ phì của đất kém, nghèo nàn Đất thích hợp cho sự pháttriển của cây hàng năm, ở những nơi đất có tầng dày có thể phát triển trồngcây điều
3.1.2.2 Tài nguyên nước.
Nguồn nước tương đối phong phú và đa dạng, chủ yếu là nước mặt
Trang 22khá cao, chất lượng nước bình thường, hiện đang được nhân dân khai thácphục vụ sinh hoạt và tưới tiêu.
3.1.2.3 Tài nguyên rừng.
Năm 2011, diện tích rừng sản xuất trên địa bàn xã là 43,2 ha (chiếm1,01% tổng diện tích tự nhiên) Diện tích nằm rải rác, không tập trung, sốlượng gỗ thấp
3.1.2.4 Tài nguyên nhân văn.
Là một xã có 5 dân tộc anh em cùng sinh sống là kinh, Ê đê, Nùng,Tày, Mường mỗi dân tộc một phông tục tập quán riêng đã tạo nên một nềnvăn hóa đa dạng, phong phú giàu bản sắc Đó là vốn quý cần được bảo tồn
và phát huy
3.1.2.5 Nhân lực.
- Số hộ: 2.375 hộ
- Nhân khẩu: 9.480 người
- Lao động trong độ tuổi: 5.200 người
- Tốc độ tăng dân số: tăng tự nhiên là 1,2% năm, cơ học 1,6% năm
3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Trang 23- Nhóm cây hàng năm: lúa nước, cây mía, ngô, sắn và cây màu cácloại với tổng diện tích khoảng 2.834,2 ha (chiếm 79,8%).
- Nhóm cây ăn quả: mít, xoài, sầu riêng, với tổng diện tích khoảng
411 ha (chiếm 11,6%)
Điều kiện nơi đây thích hợp cho nhiều loại cây trồng, tuy nhiên đa số làcác loại cây hàng năm còn lại phần ít là các loại cây ăn quả và cây côngnghiệp Trong đó, nhóm cây công nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất (8,6%).Mặc dù người nông dân đã chú trọng phát triển từ khá lâu, hầu hết các hộđều đã trồng cà phê với gần hết diện tích của mình tuy nhiên về năng suấtbình quân chung thì lại chưa cao, kiến thức thâm canh của các nông hộchưa được tốt và đồng đều
Tuy nhiên sau một thời gian canh tác, người nông dân nhận thấy rằngnăng suất cây cà phê mang lại rất thấp, thu nhập không ổn định mà chi phílại tốn kém cho nên họ đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang nhóm câytrồng hàng năm, đặc biệt là cây mía và sắn Do điều kiện thời tiết và thổnhưỡng nơi đây chỉ phù hợp cho các loại cây hàng năm nên diện tích cây càphê ngày càng bị thu hẹp
b) Chăn nuôi
Xã Ea Tyh, với phương châm phát triển kinh tế nhiều thành phần,kinh tế trang trại làm then chốt, tạo điều kiện để khuyến khích phát triểnchăn nuôi Do đó chất lượng đàn gia cầm trong toàn xã ngày càng đượcnâng cao, các hộ nông dân đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất đang đượcngười dân quan tâm chú trọng Các trang trại chăn nuôi nên chủ động trongcông tác phòng chống dịch bệnh do đó tổng đàn gia súc, gia cầm ngày mộtphát triển về số lượng và chất lượng cho thu nhập cao
Trang 24Ngành chăn nuôi trên địa bàn xã khá phát triển, với nhiều mô hìnhtrang trại, nhiều vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao
- Đàn trâu bò: chăn nuôi trâu bò tập trung tại các thôn: An Bình,Quyết Tiến 1, Đồng Tâm 2,…theo hình thức chăn thả
- Đàn heo: tập trung tại các thôn như An Bình, Quyết Tiến 1,Đồng Tâm 2, theo hình thức trang trại
- Đàn gia cầm: tập trung ở các thôn An Bình, Quyết Tiến 1,Quyết Tiến 2, Đồng Tâm 1, Đồng Tâm 2,… theo hình thức trang trại
c) Thương mại dịch vụ
Đẩy mạnh lưu thông hàng hóa và giao lưu kinh tế với các địa bànkhác Hiện đại hóa các công trình hạ tầng thương mại, đảm bảo đáp ứng tốtcho xu hướng phát triển thương mại của khu vực
Phát triển và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Tạo điều kiện cho các
tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư hoạt động sản xuất,kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ
Khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư vào lĩnh vực thương mạidịch vụ (đầu tư tại khu trung tâm xã và chợ địa phương)
Giai đoạn 2011 – 2015 sẽ đầu tư xây dựng chợ thương mại khoảng 0,5
ha tại khu trung tâm Các dịch vụ thương mại sẽ cung cấp các loại hàng hóathiết yếu phục vụ nhu cầu địa phương và các vùng lân cận
3.1.3.2 Xã hội
- Giáo dục
Toàn xã có tổng số 1.625 học sinh, trong đó học sinh trung học cơ sở
có 718 học sinh, tiểu học có 690 học sinh và mẫu giáo mầm non có 217cháu Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường đạt 98,0%, tỷ lệ học sinh
Trang 25lên lớp đạt từ 85 – 95% Xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơsở.
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổthông, bổ túc, học nghề) đạt trên 90% cao hơn mức yêu cầu của tiêu chínông thôn mới là 70% Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 23,34%
- Văn hóa
Công tác thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước được chú trọng Các phong trào như: “Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hóa”; Cuộc vận động xây dựng “Nếp sống vănminh, gia đình văn hóa” đã thu hút được sự tham gia tích cực từ người dân
Tổ chức được nhiều đợt lien hoan văn nghệ, TDTT, hội thi,… Có 8/14thôn đạt danh hiệu thôn văn hóa (chiếm 57,1%), với 1.483 hộ đạt danh hiệugia đình văn hóa (chiếm 67,5%)
- Y tế
Có 01 trạm y tế, diện tích đất 789 m2, gồm 8 phòng chức năng, nhàcấp IV, có vườn thuốc nam, số cán bộ của trạm là 07 người, trong đó: 01bác sĩ, 02 y sĩ đa khoa, 01 nữ hộ sinh, 02 điều dưỡng và 01 trung cấp dược
Số người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế là 3.289 người, đạt34,6%
Trang 26- Đường xã, liên xã: có 02 tuyến, chiều dài 14,1 km, số km cungứng hóa đạt chuẩn: 9,3 km; còn lại 4,8 km đã xuống cấp, đi lại khó khăncần nâng cấp cải tạo.
- Đường liên thôn: có 16 tuyến với tổng chiều dài 22,4 km,100% đường đất, còn lầy lội vào mùa mưa
- Đường nội thôn, xóm: có 50 tuyến với tổng chiều dài 22,0 km,100% đường đất, lầy lội vào mùa mưa
- Đường nội đồng: có 16 tuyến với tổng chiều dài 51,2 km,trong đó trục đường chính nội đồng có 01 tuyến với chiều dài 6,3 km, cònlại 12 tuyến với tổng chiều dài 44,9 km, 100% đường đất, chưa đáp ứngđược nhu cầu vận chuyển nông sản
Hiện nay hệ thống công trình thủy lợi chỉ đáp ứng được khoảng 30 –
40 % nhu cầu tưới phục vụ sản xuất, sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn nướcmưa và các nguồn nước suối tự nhiên, vì vậy người nông dân không chủđộng được trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất, dẫn đến hiệu quả kémtrong sản xuất nông nghiệp