Khái niệm Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.. Tầm
Trang 1MỤC LỤC
Lời nói đầu 2
Chương I: ĐẤT ĐAI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 3
1 Khái niệm 3
2 Đặc điểm đất nông nghiệp 3
3 Vai trò của đất nông nghiệp 5
4 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp 6
a Hiện trạng sử dụng 6
b Phân bố đất nông nghiệp 9
Chương II: ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 13
1 Khái niệm 13
2 Tình hình sử dụng đất phi nông nghiệp 13
a Đất Công nghiệp – Xây dựng 13
b Đất Dịch vụ 18
c Đất chuyên dùng khác 21
3 Tính tất yếu trong việc chuyển dịch đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp 21
Kết luận 23
Tài liệu tham khảo 24
Trang 2Lời nói đầu
Trong nền sản xuất xã hội, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của con người ngày càng tăng lên dựa trên cơ sở của nền tảng phát triển sản xuất và tiến bộ xã hội Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm của xã hội ngày tăng cao Tuy nhiên, nguồn lực để đáp ứng những nhu cầu đó thì không phải là vô hạn Do đó, phải tìm mọi cách phân chia và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của xã hội và tài nguyên thiên nhiên Trong các nguồn lực đó, đất là một trog những nguồn lực cơ bản nhất dùng để sản xuất ra của cải vật chất, là nguồn tài nguyên thiên nhiên do tự sinh ra và tồn tại một cách độc lập với ý muốn chủ quan của con người Tài nguyên đất là một thành phần thuộc thế giới tự nhiên,
là loại tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được
Như luật đất đai năm 1993 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùngquý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bản phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.”
Thật vậy, đất đai là tư liệu sản xuất vì nó vừa là tư liệu lao động khi đất đai sản xuất ra sản phẩm, vừa là đối tượng lao động khi đất chịu tác động của công cụ lao động Con người sử dụng hệ thống công cụ tác động vào vào đất để làm ra sản phẩm
Vậy tình hình sử dụng đất ở Việt Nam như thế nào? Phân bố đã hợp lí hay chưa vàđất đai đem lại hiệu quả kinh tế cũng như quốc phòng cho nước ta thế nào?
Trước những câu hỏi mang tính thực tiễn đó nên nhóm em chọn: Đánh giá tình hình sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay làm đề tài tiểu luận.
Mặc dù có nhiều sự cố gắng, nhưng do nhận thức còn hạn chế nên bài viết khôngthể tránh những thiếu sót Vì vậy, rất mong sự đóng góp ý kiến của cô và các bạn để bàiviết hoàn thiện hơn
Qua đây nhóm em cũng xin chân thành cảm ơn cô Phan Thị Thanh Thủy đã giúp
đỡ nhóm em rất nhiều để hoàn thành bài tiểu luận này
Chân thành cảm ơnNhóm thực hiện
Trang 3Chương I: ĐẤT ĐAI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1 Khái niệm
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Ở đây đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung cấpthức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển Với ý nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thaythế trong sản xuất nông nghiệp, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội
2 Đặc điểm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là một loại đất chủ yếu trong vốn đất đai của Nhà nước Tầm quan trọng đặc biệt của nó được xác định bởi phần lớn loại đất này đóng vai trò là tư liệu sản xuất chính tạo ra sản phẩm nông nghiệp mà chủ yếu là lương thực thực phẩm – yếu tố
cơ bản để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội
Một trong những nhiệm vụ cơ bản của việc phát triển khinh tế nông nghiệp đến năm 2000 mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra tại Đại hội toàn quốc lần thứ VII là:
“Sản xuất nông nghiệp đi vào chuyên canh kết hợp với kinh doanh tổng hợp nhằm đạt giátrị cao nhất trên một đơn vị diện tích Thâm canh tăng vụ là chính và mở thêm diện tích ởnhững nơi có điều kiện Tăng sản lượng lương thực phục vụ đủ nhu cầu trong nước, có
dự trữ và xuất khẩu
Nhắc đến đất nông nghiệp là người ta nghĩ ngay đến vấn đề sử dụng đất vào sản xuất các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào những mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là đất khác
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ , hợp lí ruộng đất trên thực tế người ta coi đất đai cóthể tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần có đầu tư lớn nào là đất nông nghiệp cho dù nó đã đưa vào sản xuất nông nghiệp hay chưa Vì vậy trong luật đất đai năm 1993, điều 17 ghi rõ: “Khoanh định các loại đất nông nghiệp… điều chỉnh việc khoanh định cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi
Trang 4từng địa phương và cả nước Những diện tích đất đai phải qua cải tạo mới đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp được coi là đất có khả năng nông nghiệp Nhà nước xác định mục đích sử dụng chủ yếu của đất nông nghiệp là sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Song, do đặc điểm tính chất từng loại đất này có sự khác nhau, dẫn đến tác dụng sử dụng
cụ thể cũng khác nhau, người ta chia đất nông nghiệp thành 4 loại sau đây:
Đất trồng cây hàng năm: là toàn bộ diện tích thiwcj tế trồng các loại cây màthời gian sinh trưởng và tồn tại thường không quá 1 năm như đất trồng lúa, đất trồng hoa màu, đất trồng chuyên rau…
Đất trồng cây lâu năm: là toàn bộ diện tích thực tês đã trồng các loại cây màthời gian sinh trưởng và tồn tại trên một năm như đất trồng cà phê, dừa, cam, chanh, xoài,… kể cả đất làm vườn ươm, cây giống
Đất trồng cây nông nghiệp lâu năm bao gồm cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm trồng xen, trồng kết hợp trên các loại đất khác như xen đường giao thông, xung quanh các vùng đất chuyên dùng khác
Đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi: bao gồm diện tích đồng cỏ tự nhiên, đồng
cỏ trồng, bãi cỏ để thả gia súc
Đất có mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp bao gồm các loại ao, hồ, sông… thực tế đã nuôi trồng các loại thủy sản cá, tôm, cua,… loại đất này không tính đến hồ, kênh, mương, máng thủy lợi
Đất nông nghiệp ở nước ta phân bố không đồng đều giữa các vùng trong cả nước Vùng đồng bằng sông Cửu Long có tỷ trọng đất nông nghiêọ trong tổng diện tích đất tự nhiên lớn nhất cả nước, khoảng 2.654.066 ha đất nông nghiệp, chiếm 67,1% diện tích toàn vùng Đất nông nghiệp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đất tại các vùng nên độ phì và
độ màu mỡ của đất nông nghiệp giữa các vùng cũng khác nhau Ở đồng bằng sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long, đất đai đượcbồi tụ phù sa thường xuyên nên rất màu mỡ, mỗi năm đất phù sa bồi tụ ở đông bằng sông Cửu Long thêm 80m Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ phần lớn là đất đỏ bazan
Tuy đất đai khác nhau nhưng quỹ đất nông nghiệp Việt Nam là rất lớn, chiếm 19 –22% diện tích đất tự nhiên Với quỹ đất như vậy sẽ đảm bảo cho nguồn lương thực, thực
Trang 5phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Do đặc điểm tự nhiên, khí hậu cận nhiệt đới và thảm thực vật nhiệt đới đa dạng nên sản xuất nông nghiệp cũng mang tính thời vụ theo 4 mùa, còn ở miền Nam 2 mùa nên việc sản xuất lúa nước rất thuận lợi cũng như trồng các loại cây công nghiệp có tính chiến lược cao như cao su, tiêu, cà phê… Để khai thác hợp líđất nông nghiệp cần phải có biện pháp kết hợp khoa học với truyền thống áp dụng đổi mới để việc sử dụng đất trong nông nghiệp đạt hiệu quả tốt nhất.
3 Vai trò của đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là loại đất phù hợp cho trồng cây lương thực, cây hoa màu và chỉ trồng trên đất nông nghiệp thì mới đạt hiệu quả cao, đảm bảo cho sự tồn tại, duy trì và phát triển của các loại cây lương thực, hoa màu này Phát triển kinh tế nông nghiệp chủ yếu do quỹ đất nông nghiệp và tính chất đất đó là yếu tố cơ sở, nền tảng và làm tiền đề cho sự phát triển này
Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có vai trò quan trọng đối với việc phát triển của nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp có nhiệm vụ bảo đảm lương thực, thực phẩm cho toàn dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, xây dựng cơ sở vật chất, tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, mở rộng thị trường, ổn định xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia, tạo cơ sở vũng chắc cho sự nghiệp cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Để đảm bảo được các vấn đề nêu trên thì đất nông nghiệp phải đảm bảo trú trọng hàng đầu Bởi vì quỹ đất đau tự nhiên là không thay đổi song do nhu cầu phát triển của xãhội đã làm cho đất nông gnhiệp bị thu hẹp lại, do đó cần phải có các chính sách đảm bảo quỹ đất nông nghiệp luôn luôn đủ để đáp ứng cho quá trình sản xuất nông nghiệp đmả bảo lương thực, thưucj phẩm cho toàn xã hội và kích thích các ngành nghề khác cùng phát triền
Nước ta có gần 80% dân số làm trong trông nghiệp, do đó đất nông nghiệp là môi trường việc làm cho đa số người dân tăng thu nhập, nâng cao đời sống, đây là điều kiện giữ vững sự ổn định trong nhân dân tạo nền móng vũng chắc về chính trị
Trang 6Đất nông nghiệp nước ta đang ngày càng phát triển, ngoài trồng trọt ra, đất nông nghiệp còn sử dụng vào lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là mặt nước nuôi trồng thủy sản
đang ngày càng phát triển, có chiến lược mạnh trong việc xuất khẩu như: tôm, cua, cá,…
Đất nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của của nông nghiệp trong nông thôn nước ta, đời sống vật chất tinh thần đang ngày càng được cải thiện đúng như mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
4 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
a Hiện trạng sử dụng
Theo báo cáo Tổng điều tra đất đai năm 2010, tổng diện tích nhóm đất nông
nghiệp của cả nước năm 2010 là 26.100.160 ha, tăng 5.179.385 ha (gấp 1,25 lần) so với năm 2000 Trong đó, lượng tăng chủ yếu ở loại đất lâm nghiệp (tăng 3.673.998 ha) và loại đất sản xuất nông nghiệp (tăng 1.140.393 ha)
Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 2000-2005 2005-2010 2000-2010Tổng diện tích
Trang 7Năm 2000 Năm 2005
Năm 2010
Biến động sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện trên các điểm sau:
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối, giai đoạn
2000-2010, tăng bình quân 114.000 ha/năm Sự gia tăng này có thể đến từ việc mở rộng
một phần quỹ đất chưa sử dụng, khai phá rừng, đất lâm nghiệp
Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm
đáng kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha Có 41/63 tỉnh giảm
diện tích đất trồng lúa Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu
quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng cây công
nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất
phi nông nghiệp (công trình công cộng, phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn,
hoặc đất sản xuất, kinh doanh)
Giai đoạn 2000-2005, diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh, từ 11.575.027 ha lên
14.677.409 ha, bình quân hằng năm tăng trên 620.000 ha và mức tăng trưởng này giảm
nhẹ trong giai đoạn kế tiếp Đất lâm nghiệp của cả nước năm 2010 tăng 571.616 ha so với
0.55
0.02 0 0
Đất SX NN Đất lâm nghiệp Đất nuôi trồng thuỷ sản Đất làm muối Đất nông nghiệp khác
Đất làm muối
Trang 8năm 2005, tính chung cho cả giai đoạn diện tích đất lâm nghiệp tăng 3.673.998 ha
Nguyên nhân tăng chủ yếu do các địa phương đã đẩy mạnh việc giao đất để trồng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với đó là do quá trình đo đạc, vẽ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp được xác định lại chính xác hơn
So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, thì tổng diện tích đất lâm nghiệp cả nước đạt 96,3%, thấp hơn quy hoạch được duyệt là 595.059 ha, trong đó có 35 tỉnh không hoàn thành chỉ tiêu quy hoạch
Trong 5 năm đầu (2000-2005), diện tích đất nuôi trồng thủy sản có sự tăng trưởng mạnh tăng từ 367.846 ha lên 700.061 ha, bình quân hàng năm tăng khoảng 66.500 ha Giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010) giảm 9.843 ha Năm 2010, diện tích đất nuôi trồng thủy sản chiếm 2,64% trong tổng cơ cấu đất nông nghiệp
So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, tổng diện tích đất nuôi trồng thủy sản của cả nước (không tính diện tích nuôi trồng thủy sản kết hợp) thực tế thấp hơn 124.392 ha (đạt 84,72% so với quy hoạch được duyệt)
Diện tích đất làm muối có sự suy giảm trong giai đoạn đầu 2000-2005 và tăng trưởng trở lại trong giai đoạn sau 2006-2010 Diện tích đất làm muối giảm 4.829 ha giai đoạn 2000-2005 và 5 năm sau đó tăng 3.487 ha Tính cả giai đoạn 2001-2010, diện tích đất làm muối giảm 1.342 ha Mặc dù trong những năm qua, sản xuất muối có những tiến
bộ nhất định về năng suất và chất lượng, tuy nhiên, ngành này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước Hàng năm, đất nước còn phải nhập khẩu muối cho các nhu cầu khác nhau với giá thành cao Đây là vấn đề mang tính nghịch lý cần phải xem xét, vì Việt Nam
là một nước nhiệt đới, với 3.444 km chiều dài bờ biển
Diện tích đất nông nghiệp khác đã có sự thay đổi đáng kể, tăng trưởng mạnh trong
10 năm qua, từ 402 ha năm 2000 lên tới 25.462 ha vào năm 2010, gấp hơn 63 lần Mức tăng trưởng gần như tuyến tính, lượng tăng trưởng hàng năm ở mức 2.506 ha
b Phân bố đất nông nghiệp
Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế
Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế trước hết được thể hiện theo tính tự nhiên của đất đai Tức là trong quỹ đất nông nghiệp của cả nước, đất nông nghiệp thuộc
Trang 9phân bố theo các vùng như thế nào phụ thuộc vào đặc tính tự nhiên của đất đai Trong đó,các yếu tố địa hình, nông hóa, thổ nhưỡng đóng vai trò quyết định.
Ở Việt Namcăn cứ vào các yếu
tố tự nhiên của đấtđai là chủ yếu, người ta phân quỹ đất đai thành 7 vùng lãnh thổ ĐấtNhà nước phân theo 7 vùng đó như sau: (theo tài liệu năm 1994)
Vùng Trung du miền núi phía Bắc:
Đất nông nghiệp có 1.201.437 ha chiếm 11,67% so với tổng quỹ đất tự nhiên của vùng Đất nông nghiệp ở đây chủ yếu trồng cây hằng năm (lúa rẫy, sắn, đậu, đỗ ) Phần lớn đất, nông nghiệp ở vùng này là cây công nghiệp dài ngày (chè, cà phê, ) và cây ăn quả Nhờ thành tựu phát triển sản xuất lương thực của cả nước, nhờ các cơ sở hạ tầng củavùng đang từng bước được củng cố và xây dựng nên khả năng chuyển đổi cây trồng và khai thác nông nghiệp của vùng còn rất lớn
Vùng Đồng bằng sông Hồng:
Đất nông nghiệp có 664.638 ha, chiếm 56,56% so với tổng diện tích toàn vùng Đất trong vùng được hình thành và bồi tụ thường xuyên bởi phù sa của hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình nên địa hình tương đối bằng phẳng, chất lượng đất tốt, rất phù
Trang 10hợp cho việc trồng lúa Vì vậy, vùng Đồng bằng sông Hồng được coi là vựa lúa của các tỉnh phía Bắc Do quá trình đô thị hóa, dân số đông nên đất nông nghiệp bị giảm mạnh.
Vùng Khu Bốn cũ:
Đất nông nghiệp có diện tích 676.707 ha chiếm 13,1% diện tích toàn vùng Đất đai
ở đây chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện khí hậu khắc nghiệt Bởi vậy, việc mở rộngquỹ đất nông nghiệp của vùng gắn với đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng, nhất là các cơ
sở hồ, đập đã và đang trở thành cần thiết
Vùng duyên hải miền Trung:
Đất nông nghiệp có 604.956 ha chiếm 12,05% so với quỹ đất tự nhiên của vùng Vùng này có sự biến động đất nông nghiệp tương đối lớn theo hướng giảm cây hàng năm,tăng các loại cây lâm nghiệp bảo vệ môi trường Từ năm 1980 đến 1994, đất nông nghiệpgiảm 45.587 ha để chuyển sang đất lâm nghiệp Đất trồng cây hằng năm giảm 93.495 ha, đất bồi tụ từ các con sông lớn đa số đất nông nghiệp là đất rẫy có độ dốc lớn, dễ bị rửa trôi khi gặp mưa kéo dài
Vùng Tây Nguyên:
Đất nông nghiệp là 798.358 ha, chiếm 11,2% so với đất tự nhiên của vùng Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đất cảu vùng Tây Nguyên là đất đỏ bazan màu mỡ nên rất thíchhợp với các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như: cà phê, cao su, hạt điều Đất chưa sử dụng 1.580.342 ha, có khả năng nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Vì vậy, tiềm năng về nông nghiệp của vùng rất lớn
Vùng Đông Nam Bộ:
Diện tích đất nông nghiệp là 1.029.375 ha, chiếm hơn 41,22% quỹ đất của vùng Vùng này chủ yếu là đất bazan màu mỡ thuận lợi cho phát triển các cây công nghiệp dài ngày và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Vì vậy, đây là một trong những vùng kinh tế trù phú, là miền đất có sức hấp dẫn đối với những người làm nông nghiệp Tuy nhiên, hiện tại trong vùng vẫn còn 35.087 ha đất chưa sử dụng, trong đó đất có khả năng nông nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể Đây là nguồn lực quý giá cần được khai thác
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:
Trang 11Đây là vùng đất nông nghiệp chiếm thành phần lớn đất nông nghiệp 2.620.238 ha trong tổng số 3.955.550 ha, chiếm 73,77% diện tích đất của vùng Hệ thống đất đai được
hệ thống sông Cửu Long bồi tụ phù sa thường xuyên nên rất màu mỡ Vì vậy, đấy được coi là vựa lúa cảu cả nước, vùng có sản lượng lương thực hàng hóa lớn nhất trong cả nước Bên cạnh đó, tiềm năng về đất đai của vùng cũng còn rất lớn Đất chưa sử dụng chủ yếu là đất nông nghiệp và được tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên Để khai thác tiềm năng này cần đầu tư một cách đồng bộ cả về kinh tế và xã hội,
từ khai hoang cải tạo đất đến xây dựng được các kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật Giải quyết được các vấn đề đó việc khai thác mở ra rất lớn, vùng sản xuất láu hàng hóa sẽ được mở rộng
c Hiệu quả kinh tế:
Đất canh tác ở các vùng nông thôn Việt Nam ngày càng bị thu hẹp lại Diện tích đất nông nghiệp còn bị mất chủ yếu là do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa Đất canhtác bị mất còn do việc xây dựng và tích nước của các đập hồ thủy điện, làm ngập các thung lũng trồng lúa, vùng đồi trồng cây ăn quả, các cụm dân cư… Diện tích đất canh tác
ở Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới, chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 0,12% Trong khi những mảnh đất màu mỡ dần ít đi, nhường chỗ cho những khu công nghiệp, sân golf thì mỗi năm dân số tăng khoảng 1 triệu người Mỗi năm Việt Nam mất đi 7.000 ha đất trồng lúa
Do vậy, việc duy trì được diện tích 3,81 triệu héc-ta trồng lúa đến năm 2020 là khó khăn, thách thức rất lớn
Ước tính cả nước có 9,4 triệu héc-ta đất nông nghiệp, như vậy trung bình diện tích đất nông nghiệp trên đầu người là 1.560,4 m2, chưa bằng 1/3 so với Thái Lan và Cam-pu-chia Số liệu thống kê năm 2010 cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ dân là 0,85 ha, trung bình một hộ có từ 5 đến 7 mảnh đất khác nhau, tổng khoảng cách từ nơi ở đến ruộng của các hộ dân là khoảng 4,7 km Ruộng đất phân tán, manh mún đã cản trở tính kinh tế theo quy mô, cơ giới hóa và khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất nông nghiệp Nghiên cứu của Đại học Copenhaghen và Trung tâm Tư vấn chính sách nông nghiệp cho thấy, số ngày công lao động trung bình của Việt Nam là 389
Trang 12ngày/năm/ha Hộ nông dân càng có nhiều mảnh đất thì lợi nhuận trung bình thu được từ mảnh đất đó càng giảm và chi phí càng tăng.
Khả năng tích tụ và tập trung ruộng đất của nông dân rất thấp, dẫn đến mức lợi nhuận thu được từ những mảnh ruộng nhỏ không đủ để bảo đảm chi tiêu trong cuộc sống của họ Kinh tế trang trại phát triển chậm, chỉ 1% số nông hộ lập trang trại Quy mô đất trung bình của một trang trại cũng chỉ đạt 6 ha Nguyên nhân chính của việc này là hoạt động của thị trường đất nông nghiệp rất yếu ớt Chỉ có 2,5% hộ nông thôn bán quyền sử dụng đất trong 5 năm từ 2001 - 2005, và khoảng 4% trong giai đoạn 2006 - 2010 Hoạt động thị trường thuê đất ở nông thôn cũng rất hạn chế
Theo điều tra của Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn(IPSARD), chỉ có 6% tổng số mảnh đất mà hộ sử dụng thông qua thị trường thuê mướn với khoảng 10% số hộ cho thuê hoặc cho mượn đất Rất nhiều nông dân sản xuất không hiệu quả, kiếm thu nhập chủ yếu từ các hoạt động phi nông nghiệp phi chính thức nhưng vẫn muốn giữ đất như một cơ chế để bảo hiểm rủi ro do thiếu hệ thống an sinh xã hội chính thức tại nông thôn Trong khi đó, với nguồn tích lũy hạn chế và thiếu hỗ trợ tín dụng nên rất khó cho các nông dân giỏi có đủ khả năng mua hoặc thuê lại đất của các nông dân khác Kết quả là rất nhiều đất nông nghiệp, đặc biệt tại khu vực ven đô hoặc đấtrừng được các nhà đầu tư thành thị mua hoặc thuê để đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả
Chương II: ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
1 Khái niệm
* Theo Điều 13 luật đất đai năm 2003 qui định nhóm đất phi nông nghiệp bao gồmcác loại đất:
Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị
Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp
Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp, đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh,đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm