1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp giúp khắc phục những hạn chế của học sinh khi viết bài văn nghị luận xã hội lớp 9

22 424 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 269 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội - nhân sinh,một tư tưởng, đạo lí, một lối sống cao đẹp, một hình tượng tích cực hoặc tiêucực của đời sống, một vấn đề của tự nh

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ.

1 Lý do chọn đề tài.

Trong chương trình Ngữ văn những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã đưa dạng bài nghị luận xã hội bắt đầu học từ lớp 9 cho đến hết lớp 12, thi vàođại học Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội - nhân sinh,một tư tưởng, đạo lí, một lối sống cao đẹp, một hình tượng tích cực hoặc tiêucực của đời sống, một vấn đề của tự nhiên, môi trường Mục đích của kiểu bàinày là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữacon người với con người trong xã hội, thông qua đó phát triển những tư tưởng, tìnhcảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về đạo đức, lối sống…bằng một ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, giàu sứcthuyết phục

Trong chương trình Ngữ văn lớp 9, kiểu bài nghị luận xã hội chủ yếu là 2dạng: nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội và nghị luận về một vấn đề

tư tưởng, đạo lí Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, đối với thi học sinh giỏi

và thi khảo sát chất lượng học kỳ II cũng như thi vào 10, Sở Giáo dục và Đàotạo thường đưa ra một dạng nghị luận xã hội nữa đó là nghị luận về một vấn đề

xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, đây là một dạng mới đối với học sinh.Việc đưa kiểu bài nghị luận xã hội trở thành một kiểu bài bắt buộc trongphân môn Tập làm văn lớp 9, thành nội dung các bài thi, bài kiểm tra là một chủtrương đúng đắn với mục tiêu: học văn, các em không chỉ biết cái hay, cái đẹpcủa tác phẩm, tài năng của nhà văn mà còn giúp các em biết những vấn đề củacuộc sống, những vấn đề diễn ra xung quanh các em như: phẩm chất đạo đức,lối sống của con người, lối sống, quan niệm sống, môi trường sống…Từ đó các

em định hướng cho mình một quan điểm sống phù hợp, sống có ích, có ý nghĩa,hoàn thiện nhân cách, đạo đức, tâm hồn của mình hơn, phát triển toàn diện hơn,đồng thời cũng đưa bộ môn Văn ở THCS gắn liền với thực tế đời sống hơn.Tuy nhiên, đây lại là một kiểu bài khó đối với học sinh THCS, khi mà tưduy và vốn sống của các em còn hạn chế Bên cạnh đó, kiểu bài này không chỉđòi hỏi kỹ năng làm bài mà còn đòi hỏi kiến thức về các vấn đề thực tế của đờisống, để từ đó đòi hỏi các em phải bộc lộ tư tưởng, quan điểm, suy nghĩ củamình Đây thực sự là một hạn chế ở các em học sinh lớp 9, nhất là học sinh miềnnúi Khi mà cuộc sống của các em còn khó khăn, vốn sống còn ít ỏi, tư duy chưaphát triển hoàn thiện, suy nghĩ có phần còn non nớt thì việc bộc lộ suy nghĩ,quan điểm, bình luận, đánh giá, đưa ra các dẫn chứng…thực sự là một khó khănrất lớn với các em Chính vì thế mà các em thường hay lúng túng khi làm kiểubài này, ngại học, ngại làm, kết quả làm bài còn rất thấp, thường mắc nhiều lỗitrong quá trình làm kiểu bài này

Trong khi đó, nghị luận xã hội ở lớp 9 lại là tiền đề, là cái gốc, là nền tảng

để các em học tốt hơn ở cấp THPT cũng như để thi tốt nghiệp lớp 12 và thi đạihọc Nếu các em không hiểu, không biết cách làm bài sẽ là một khó khăn rất lớncho quá trình học tập sau này

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy, giáo viên cũng còn đang lúngtúng trong cách dạy, phương pháp dạy, chưa chú trọng chỉ ra lỗi, nguyên nhân

Trang 2

để có cách khắc phục những hạn chế của các em, chính vì thế mà dẫn tới kếtquả giảng dạy chưa được cao.

Là một giáo viên giảng dạy lớp 9, thấy được những hạn chế các em thườngmắc phải, những băn khoăn của đồng nghiệp, tôi đã luôn trăn trở làm thế nào đểkhắc phục được những hạn chế của các em? Làm thế nào để các em viết tốt hơnbài nghị luận xã hội ? Với những băn khoăn, trăn trở đó, trong quá trình giảngdạy tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và từ đó đúc rút ra một số kinh nghiệm đểgúp việc dạy và học kiểu bài nghị luận xã hội trong nhà trường THCS được hiệu

quả hơn Chính vì thế, tôi chọn vấn đề “ Một số biện pháp giúp khắc phục những hạn chế của học sinh khi viết bài văn nghị luận xã hội lớp 9” làm đề

tài nghiên cứu của mình với mong muốn chia sẻ với các đồng nghiệp cũng như giúpcác em học sinh lớp 9 biết làm bài nghị luận xã hội đạt hiệu quả cao hơn ở những cấphọc tiếp theo

Đồng thời trao đổi cùng các đồng nghiệp, giúp các đồng nghiệp có thêmkinh nghiệm, phương pháp giảng dạy kiểu bài nghị luận xã hội lớp 9 có hệthống, khoa học hơn và đạt hiệu quả cao hơn đối với học sinh miền núi

3 Đối tượng nghiên cứu.

- Đề tài nghiên cứu những hạn chế học sinh thường gặp khi viết bài vănnghị luận xã hội, nguyên nhân và cách khắc phục những hạn chế của học sinh

4 Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: nghiên cứu hệ thống líthuyết về đặc điểm, yêu câu, các bước làm bài văn nghị luận xã hội lớp 9;

PP điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: khảo sát thực trạng của họcsinh khi viết bài nghị luận xã hội

PP thống kê, xử lý số liệu: thu thập số liệu, xử lý số liệu sau thu thập, điềutra khảo sát thực tế tình trạng của học sinh

PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN

1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Như chúng ta đã biết trong cấu trúc đề thi cấp Huyện, cấp Tỉnh, hay thi vàoTHPT, môn Ngữ văn những năm gần đây đều có câu hỏi, yêu cầu học sinh vậndụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn khoảng 300

từ (hoặc một trang giấy thi) Có hai dạng bài cụ thể là: Nghị luận về một vấn đề

tư tưởng đạo lí; Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

Học sinh phải biết bám sát vào quy định trên để định hướng ôn tập và làmbài thi cho hiệu quả Ở kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trảinghiệm của bản thân, trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánhgiá, thái độ của mình về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức

và hành động) cho bản thân Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận

Trang 3

dụng những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích,chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ ) mà còn phải biết trang bị cho mìnhkiến thức về đời sống xã hội

Bài văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế Cần tránhtình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua cácbước đi khác của quá trình lập luận Mặt khác với kiểu bài nghị luận xã hội, họcsinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút rabài học cho bản thân Thực tế cho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việclàm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm củabài nghị luận Vì những yêu cầu trên mà việc khắc phục những hạn chế của họckhi làm bài cũng như rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một bài vănnghị luận xã hội là một việc làm rất cần thiết

2 Cơ sở thực tiễn của sáng kiến kinh nghiệm.

Theo cấu trúc đề thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, ở tất cả các kì thiHọc sinh giỏi cấp tỉnh, cho đến thi vào lớp 10 THPT, thi tốt nghiệp THPT vàthi vào đại học, cao đẳng từ năm 2009, trong đề thi môn Ngữ văn sẽ có một câuhỏi (chiếm khoảng 30%) yêu cầu vận dụng kiến thức về xã hội đời sống đểviết bài nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí; một hiện tượng đời sống xãhội

Việc đưa nghị luận xã hội vào cấu trúc đề thi là hợp lý, bởi kiểu bài này đòihỏi học sinh phải có ý thức học một cách nghiêm túc ; có thói quen chủ độnggiải quyết nhiều tình huống bất ngờ, đa dạng trong cuộc sống; rèn luyện tư duynhanh nhạy, biết gắn việc học lí thuyết với thực tiễn đời sống xã hội Kiểu bàinày khá hay, có ích và phân loại đúng trình độ người học

Việc đưa văn nghị luận xã hội trở thành một nội dung trong các bài thi, bài

kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn các cấp là một chủ trương đúng “Văn nghị luận

xã hội thực sự là một kiểu bài rất có khả năng kích thích tính tư duy sáng tạo của cả người dạy và người học”- (TS Nguyễn Văn Tùng)

Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy kiểu bài nghị luận xã hội ở nhà trường

ít khó khăn cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, đề thi học sinh giỏi môn Văn lớp 9cấp Huyện, cấp Tỉnh, đề thi khảo sát chất lượng học kỳ II của Sở Giáo dục vàĐào tạo, đề thi vào lớp 10 THPT, thường có dạng nghị luận về một vấn đề xãhội đặt ra trong tác phẩm văn học, tuy nhiên trong sách giáo khoa lại không cóbài học về dạng này, chính vì thế, học sinh không biết cách làm

Trang 4

Về phía giáo viên dạy:

Bản thân một số giáo viên cũng có phần lúng túng, vừa dạy vừa học hỏi,chưa vững kiến thức, kỹ năng, cách làm bài của kiểu bài này, nên chỉ thườngbám vào phần thiết kế trong sách giáo khoa mà chưa có sự đào sâu, cụ thể hóatừng dạng nghị luận thành các bước làm bài cụ thể cho học sinh

Về phía học sinh học:

Những năm gần đây học sinh có xu thế ngại học văn, sợ học văn, nhất là vănnghị luận xã hội, vì đây là một kiểu bài khó, ngoài đòi hỏi kỹ năng về văn nghị luậnhọc ở lớp 7, còn đòi hỏi vốn sống phong phú, hiểu biết nhiều, khả năng lập luận,dẫn dắt, nêu suy nghĩ, quan điểm, bình luận, đánh giá, các em không xác định đượcyêu cầu của đề bài, không phân định rõ đó là dạng nghị luận gì, từ đó khó có thểxác định và tìm được hướng đi của bài, thường mắc nhiều hạn chế khi làm bài

Điều tra thực trạng.

Năm học 2017- 2018 tôi được nhà trường phân công dạy Ngữ văn 9, ngay

từ đầu năm học tôi đã xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của giáo viên dạy lớp 9 đó

là ngoài giảng dạy kiến thức trong sách giáo khoa theo phân phối chương trình

37 tuần thì song song với đó nhiệm vụ trọng trách nặng nề đó là ôn luyện, rèn kĩnăng thuần thục, cung cấp kiến thức đầy đủ để cuối năm học các em còn tham

dự kì thi tuyển vào THPT Chính vì thế ngay từ đầu tháng 9 tôi đã ra tiến hành

ra đề nghị luận kiểu dạng nghị luận mà các em đã học ở lớp 7 sau đó tôi tiếnhành chấm bài mục đích để nắm bắt được khả năng làm bài nghị luận của họcsinh Đề khảo sát( phụ lục 1) KÕt quả như sau ( Bài làm của HS ở phụ lục 2):

Bảng 1: Kết quả khảo sát đầu năm

Từ kết quả bài kiểm tra đầu tiên tôi nhận thấy học sinh còn mắc nhiều hạnchế khi viết bài nghị luận, nhất là dạng nghị luận xã hội Xuất phát từ thực tế đó,tôi đã nghiên cứu những lỗi các em thường mắc phải, nguyên nhân mắc lỗi và từ

đó tôi xin đưa ra một số giải pháp giúp các em khắc phục những hạn chế khi viếtbài văn nghị luận xã hội, từ đó các em viết bài đạt kết quả cao hơn

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần chú ý tới việc tiếp thu của các emngay trong các tiết học cũng nhữ qua quá trình thực hành.Thông thường, khiviết bài nghị luận, các em thường mắc phải những hạn chế như: Không nhậndiện đúng dạng bài nghị luận xã hội; Không biết cách viết, viết lan man, viếttheo cảm tính, nghĩ gì viết nấy, không theo các bước làm bài cụ thể hay một bốcục hoàn chỉnh;Không biết triển khai các ý, sắp xếp các ý một cách lộn xộn, lặpý;Không biết cách viết mở bài, kết bài trúng vấn đề, thường viết lan man; Nhầm

Trang 5

lẫn các dạng bài nghị luận xã hội, nhất là nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ratrong tác phẩm văn học sang nghị luận về tác phẩm văn học;Không biết lập luận,bài viết thiếu chặt chẽ, lôgic, thiếu độ sâu, chưa làm toát lên vấn đề; Học sinhkhông biết lấy dẫn chứng, thường không có dẫn chứng trong bài viết hoặc nhầmlẫn các dẫn chứng không phù hợp với vấn đề nghị luận.

3 2 Giáo viên cần tìm ra đúng nguyên nhân vì sao học sinh mắc lỗi để

từ đó có cách khắc phục hiệu quả những hạn chế của học sinh.

Qua quá trình giảng dạy nhiều năm, cũng như chấm bài thi học sinh giỏicấp Huyện hay bài thi khảo sát chất lượng giữa các trường, tôi nhận thấy nguyênnhân chủ yếu dẫn đến bài làm văn nghị luận xã hội của học sinh chưa tốt là vì:Học sinh không hiểu đúng về kiểu bài nghị luận xã hội, các em còn mơ hồ

về kiểu bài này chính vì thế cũng không nắm vững được yêu cầu của kiểu bàinghị luận xã hội về nội dung, hình thức, kỹ năng là gì, thường hay viết chungchung, lan man, khó xác định

Học sinh chưa nắm vững từng dạng nghị luận xã hội, đâu là nghị luận về tưtưởng, đạo lí; đâu là dạng nghị luận về hiện tượng đời sống, nghị luận về vấn đề

xã hội đặt ra trong một tác phẩm văn học, cho nên thường nhầm lẫn trong quátrình viết bài

Học sinh không nắm vững các bước làm bài của từng dạng một, nên khôngbiết cách triển khai vấn đề một cách khoa học, logic

Học sinh chưa thành thạo ở kỹ năng phân tích đề, tìm ý, xây dựng luậnđiểm, luận cứ nên bài viết chưa chặt chẽ, còn lộn xộn

Học sinh chưa hiểu cách viết mở bài, kết bài, vì thế thường không biết viết

và viết không trúng, không đúng

Học sinh chưa thành thạo các thao tác làm bài của kiểu bài này như thao tácchứng minh, giải thích, bình luận…

3 3 Từ những nguyên nhân trên, giáo viên có cách khắc phục cụ thể 3.3.1 Cần giúp học sinh hiểu thế nào là kiểu bài nghị luận xã hội và phân biệt kiểu bài này với kiểu bài nghị luận văn học.

Nghị luận xã hội thực chất là trình bày quan điểm thái độ của mình về mộtvấn đề xã hội nào đó được nêu ở phần đề bài bằng hình thức bình và bàn luận

mở rộng Từ đó đưa ra bài học cho bản thân, nhận thức được điều gì đó sau khibàn luận và tự nêu được hành động hoặc đề xuất biện pháp góp phần làm chovấn đề bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống Ví dụ: Em hãy viết một bài nghịluận ngắn về hiện tượng gian lận trong thi cử của học sinh hiện nay

Còn nghị luận văn học là dạng đưa ra các vấn đề bàn luận là các vấn đề bànbạc về văn học, có thể là tác giả, tác phẩm, ý kiến nhận định về tác phẩm, nhânvật trong tác phẩm…Ví dụ: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của nhân vật anh thanhniên trong truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long ( Sách Ngữ vănlớp 9, tập 1)

3.3.2 Giúp học sinh nắm vững yêu cầu chung của kiểu bài nghị luận xã hội.

Về nội dung:

Bài làm văn về nghị luận xã hội là một bài tập làm văn mà ở đó yêu cầu họcsinh trình bày được:

Trang 6

+ Quan điểm, thái độ của mình về một vấn đề xã hội nào đó (được nêutrong yêu cầu của đề bài) bằng hình thức bình luận và bàn luận mở rộng.

+ Xác định được bài học cho bản thân trên các khía cạnh: Nhận thức được

gì sau khi bàn luận và tự nêu được hành động hoặc đề xuất những biện pháp gópphần làm cho vấn đề vừa bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống

Về hình thức.

Một bài nghị luận xã hội dù dung lượng ngắn hay dài cũng vẫn phải đảmbảo cấu trúc của một bài làm văn Bố cục 3 phần như các bài văn khác PhầnGiải quyết vấn đề được tổ chức bằng một số đoạn văn Yêu cầu lập luận (có lýlẽ) chặt chẽ kết hợp minh chứng, diễn đạt logic mạch lạc và trình bày sáng sủa

Về kĩ năng

Mỗi bài văn nghị luận xã hội đều yêu cầu sự vận dụng nhiều kĩ năng của họcsinh: Kỹ năng quan sát thực tiễn, kĩ năng lập ý, kĩ năng bố cục văn bản, kĩ năng lậpluận, bàn luận, bình luận, đánh giá, kĩ năng dẫn chứng và phân tích dẫn chứng…

3.3.3 Giúp học sinh nhận diện đúng từng dạng bài nghị luận xã hội Mỗi một dạng bài nghị luận xã hội sẽ có cách làm bài khác nhau, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh nhận diện đúng từng dạng một.

* Nghị luận về tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một tư tưởng đạo lí có thể đề cập đến các vấn đề của đời sống

xã hội như : đạo đức, tư tưởng, văn hoá, nhân sinh quan, thế giới quan,…Có thểkhái quát một số vấn đề thường được đưa vào đề thi như: Về nhận thức (lítưởng, mục đích sống); Về tâm hồn,tính cách, phẩm chất (lòng nhân ái, vị tha,

độ lượng…, tính trung thực, dũng cảm chăm chỉ, cần cù… Về quan hệ gia đình,quan hệ xã hội : Tình mẫu tử, tình anh em, tình thầy trò, tình bạn, tình đồngbào…; Về lối sống, quan niệm sống,…

Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là :

Sử dụng thao tác lập luận giải thích để làm rõ ý nghĩa vấn đề, các nghĩa nghĩatường minh, hàm ẩn (nếu có); Sử dụng thao tác lập luận phân tích để chia táchvấn đề thành nhiều khía cạnh, nhiều mặt, chỉ ra các biểu hiện cụ thể của vấn đề;

Sử dụng thao tác lập luận chứng minh để làm sáng tỏ vấn đề Dẫn chứng lấy từthực tế, có thể lẩy trong thơ văn nhưng không cần nhiều (tránh lạc sang nghịluận văn học); Sử dụng thao tác lập luận so sánh, bình luận, bác bỏ để đối chiếuvới các vấn đề khác cùng hướng hoặc ngược hướng, phủ định cách hiểu sailệch, bàn bạc tìm ra phương hướng…

* Nghị luận về một hiện tượng đời sống.

Kiểu bài nghị luận về hiện tượng đời sống thường đề cập đến những vấn đềcủa đời sống xã hội, những hiện tượng nổi bật, tạo được sự chú ý và có tác độngđến đời sống con người, những vấn đề chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức,…Yêu cầu của kiểu bài này là học sinh cần làm rõ hiện tượng đời sống (quaviệc miêu tả, phân tích nguyên nhân, các khía cạnh của hiện tượng…) từ đó thểhiện thái độ đánh giá của bản thân cũng như đề xuất ý kiến, giải pháp trước hiệntượng đời sống Học sinh cần có cách viết linh hoạt theo yêu cầu của đề bài, tránhlàm bài máy móc hoặc chung chung Ngoài việc trang bị cho mình những kỹ nănglàm bài, học sinh cần tích lũy những vốn hiểu biết thực tế về đời sống xã hội

- Các thao tác lập luận chủ yếu là: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận

Trang 7

* Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học.

Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài nghịluận xã hội, không phải là kiểu bài nghị luận văn học Cần tránh tình trạng làm lạc

đề sang nghị luận văn học Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một

tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống (thường là một tư tưởng, đạo lí) Đây là dạng văn khá khó đối với học sinh lớp 9 bởi sự tích hợp giữa vấn đề

xã hội và vấn đề văn học Điều đó đòi hỏi học sinh phải có kiến thức tổng hợp về

cả hai mảng kiến thức là văn học và xã hội

Vì là dạng đề kết hợp và vận dụng nhiều thao tác khác nhau: giải thích,phân tích, chứng minh, bình luận… kiểu văn bản này đòi hỏi học sinh phải linhhoạt trong từng thao tác làm bài của mình Ví dụ: Từ nhân vật Phương Định trongtruyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê em có suy nghĩ gì về tráchnhiệm của thanh niên hiện nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước?

3.3.4 Hướng dẫn học sinh nắm vững các bước làm bài văn nghị luận

xã hội.( Có giáo án minh họa kèm theo ở phụ lục 2)

Bước 1: Tìm hiểu, phân tích đề

Phân tích đề là chỉ ra những yêu cầu về nội dung, thao tác lập luận và phạm vidẫn chứng của đề Đây là bước đặc biệt quan trọng trong làm văn nghị luận xã hội

Các bước phân tích đề : Đọc kĩ đề bài, gạch chân các từ then chốt (những từ

chứa đựng ý nghĩa của đề), chú ý các yêu cầu của đề (nếu có), xác định yêu cầu của

đề (Tìm hiểu nội dung của đề, tìm hiểu hình thức và phạm vi tư liệu cần sử dụng).Cần trả lời các câu hỏi : Đây là dạng đề nào? Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết?

Đối với dạng đề nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí:

Dạng nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí thường có có 2 dạng đề:

Đề nổi, học sinh dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài

Đề chìm, học sinh cần đọc kĩ đề bài, dựa vày ý nghĩa câu nói, câu chuyện ,văn bản được trích dẫn mà xác định luận đề

Dạng đề trong đó tư tưởng đạo lí được nói đến một cách trực tiếp Ví dụ :

bàn về sự tự tin, lòng tự trọng của con người

Dạng đề trong đó tưởng đạo lí được nói tới một cách gián tiếp.

Ví dụ: Đề bài : “ Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con

cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết” (B.Babbles)

Hãy trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên

Hướng dẫn phân tích đề : Ý kiến trên có các từ khoá trọng tâm cần giải thích:

“Sứ mạng” : Vai trò lớn lao, cao cả của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái

“ Người mẹ”: Người sinh ra con cái , rộng hơn đó chính là mái ấm gia đình

“ Chỗ dựa cho con cái”: nơi che chở , yêu thương , là nơi con cái có thể nương tựa.Câu nói đã đưa ra quan điểm giáo dục của cha mẹ với con cai hết sứcthuyêt phục : Vai trò của cha mẹ không chỉ nằm trong việc dạy dỗ con mà quantrọng hơn là làm sao để con cái biết sống chủ động, tích cực, không dựa dẫm.Đây chính là vấn đề nghị luận

Đối với dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cần rèn cho học sinh có kĩ năng phân tích đề:

Xác định ba yêu cầu:

Trang 8

+ Yêu cầu về nội dung: Hiện tượng cần bàn luận là hiện tượng nào ? Đó làhiện tượng tốt đẹp, tích cực trong đời sống hay hiện tượng mang tính chất tiêucực, đang bị xã hội lên án, phê phán ? Có bao nhiêu ý cần triển khai trong bàiviết ? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào?

+ Yêu cầu về phương pháp : Các thao tác nghị luận chính cần sử dụng ?Giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích, bác bỏ, so sánh,…

+ Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Bài viết có thể lấy dẫn chứng trong vănhọc, trong đời sống thực tiễn (chủ yếu là đời sống thực tiễn)

Ví dụ minh hoạ: Nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay

+ Vấn đề nghị luận : Hiện tượng ô nhiễm môi trường Đây là hiện tượngmang tính tiêu cực, ảnh hưởng xấu tới đời sống của con người Bài viết cần đảmbảo cấu trúc 4 phần chính : Thực trạng- Nguyên nhân- Tác hại- Giải pháp và bàihọc

+ Học sinh có thể sử dụng kết hợp các thao tác : giải thích hiện tượng, phântích bình luận về tác hại của hiện tượng, bác bỏ những quan niệm sai lệch liênquan đến vấn đề, …

+ Dẫn chứng : Bài viết có thể lấy dẫn từ cuộc sống, tư liệu…

Đối với bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học:

Đối với dạng bài này, học sinh cần xác định:

- Dạng đề

- Yêu cầu nội dung (đối tượng): Xác định vấn đề cần nghị luận

- Yêu cầu thao tác lập luận

- Yêu cầu phạm vi tư liệu, dẫn chứng

Bước 2: Tìm ý

Bất kì bài văn nào cũng cần tìm ra các ý chính, tìm ra hệ thống luận điểmchính, khung sườn cho bài văn Vậy làm thế nào để tìm được ý? Sau khi các emxác định được kiểu dạng bài nghị luận thì các em bám vào từ khóa để lập ý, các

từ khóa của từng kiểu bài nghị luận học sinh cần bám vào đó là:

Kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống: giải thích(nếu cần), thựctrạng; nguyên nhân; hậu quả; biện pháp

Kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lí: giải thích; phân tích; bác bỏ; đánh giá

Ví dụ : Cho đề bài: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động như thế nào

để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông

- Tai nạn giao thông là gì?

- Thực trạng tai nạn giao thông? Diễn ra ở đâu ? Nhờ đâu mà em biết được điều đó? Dẫn chứng bằng số liệu cụ thể về số vụ việc, người và vụ mà em biết.

- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (khách quan và chủ quan)

- Hậu quả xấu gây ra là gì (bản thân, gia đình, xã hội như thế nào?)

- Biện pháp khắc phục (với cá nhân, cộng đồng xã hội,với cơ quan chức năng…)

Bước 3: Lập dàn ý

Gv cần cung cấp, định hướng cho học sinh cách lập dàn ý cũng như dàn ý

cụ thể của từng dạng để các em tránh nhầm lẫm khi mà bài

* Dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.

Đối với dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống, có 2 dạng nhỏ:

Trang 9

+ Đối với dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống tiêu cực:

Mở bài: Nêu hiện tượng đời sống cần nghị luận.

- Giới thiệu sự việc, hiện tượng cần bàn luận

- Mở ra hướng giải quyết vấn đề: Thường là trình bày suy nghĩ

Thân bài:

Bước 1: Miêu tả hiện tượng được đề cập đến trong bài.

+ Giải thích ( nếu trong đề bài có khái niệm, thuật ngữ hoặc các ẩn dụ, hoán

dụ, so sánh…) cần làm rõ để đưa ra vấn đề bàn luận

Ví dụ : giải thích thế nào là ô nhiễm môi trường? thế nào là bệnh vô cảm?…

+ Chỉ ra thực trạng ( biểu hiện của thực trạng)

Bước 2: Phân tích tác hại của vấn đề.

- Đối với mỗi cá nhân ( ảnh hưởng sức khoẻ, kinh tế, danh dự, hạnh phúcgia đình, ảnh hưởng tâm lí….)

- Đối với cộng đồng, xã hội; Đối với môi trường xung quanh

Bước 3: Chỉ ra nguyên nhân ( khách quan và chủ quan)

Khách quan : trường xung quanh, do trào lưu, do gia đình, nhà trường…Chủ quan: Do ý thức, tâm lí, tính cách, ….của mỗi người

Bước 4: Bày tỏ thái độ, ý kiến đánh giá của người viết về hiện tượng

Giải pháp : Thông thường mỗi hiện tượng đều xuất phát từ những nguyênnhân cụ thể, nguyên nhân nào thì đi kèm với giải pháp ấy

Nêu bài học rút ra cho bản thân : Bài học nhận thức và hành động

Kết bài:

- Đánh giá chung về sự việc, hiện tượng đời sống đã bàn luận

- Phát triển, mở rộng, nâng cao vấn đề

Ví dụ: Đề bài, em hãy nghị luận về hiện tượng gian lận trong thi cử của học sinh hiện nay.

I Mở bài: giới thiệu vấn đề nghị luận: gian lận trong thi cử

II Thân bài: nghị lận gian lận trong kì thi

1 Giải thích gian lận trong thi cử là gi:

- Là không trung thực, dối trá trong kì thi, không làm đúng với khả năng của mình,làm không đúng với tư duy của mình, sai lệch sự thật

2 Hiện trạng gian lận trong kì thi cử hiện nay:

- Gian lận trong thi cử diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến

- Gian lận trong thi cử diễn ra với nhiều hình thức: quay cóp, dung phao, thi

hộ, sử dụng những vật công nghệ hiện đại để xme tài liệu,…

- Các hình thức gian lận ngày càng tinh vi hơn

3 Nguyên nhân dẫn đến gian lận trong thi cử:

- Do học sinh lười học,do cha mẹ háo danh vọng, ép buộc con,nhà trường

vì bệnh thành tích…

4 Hậu quả của gian lận trong thi cử:

- Chất lượng học sinh khi ra trường không đảm bảo chất lượng,

- Làm mất niềm tin vào thế hệ tương lai của đất nước

- Thiếu trung thực trong học tập sẽ dẫn đến thiếu trung thực trong cuộc sống xã hội

Trang 10

5 Khắc phục tình trạng gian lận trong thi cử:

- Ý thức được hành vi gian lận của mình là sai; xử lí nghiêm khắc đối với học sinh gian lận trong thi cử

III Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về hành vi gian lận trong thi cử

- Đây là một vấn nạn hết sức không tốt, Chúng ta hãy loại bỏ vấn nạn này

+ Đối với dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống tích cực:

Mở bài: Nêu hiện tượng đời sống cần nghị luận.

- Giới thiệu sự việc, hiện tượng cần bàn luận, mở ra hướng giải quyết vấn đề

Thân bài:

Bước 1: Nêu cách hiểu về hiện tượng, đánh giá về hiện tượng

Nêu cách hiểu, khái niệm, bản chất của hiện tượng, đánh giá về hiện tượng

Bước 2: Phân tích tác dụng của vấn đề.

Nêu tác dụng, ý nghĩa của hiện tượng đối với đời sống, mở rộng vấn đề, phản đề

Bước 3: Nêu giải pháp phát huy vấn đề.

Bước 4: Rút ra bài học nhận thức và hành động

Khẳng định tính nhân văn của hiện tượng; Bài học hành động cho bản thân

Kết bài:

Khái quát lại vấn đề, khẳng định ý nghĩa, tính đúng đắn của vấn đề.

VD: Em hãy viết bài văn nghị luận về phong trào hiến máu nhân đạo hiện nay.

I Mở bài: giới thiệu về phòng trào hiến máu nhân đạo

II Thân bài:

1 Giải thích thế nào là hiến máu nhân đạo:

- Hiến có nghĩa là cho đi, tự dâng hiến, tự nguyện không có ai ép buộc và bắt làm

- Hiến máu là cho đi máu của mình không phải người ta ép buộc

- Nhân đạo là một hành động có ý nghĩa

- Hiến máu nhân đạo là một hành động ý nghĩa

- Là một nghĩa cử cao đẹp của con người

2 Vì sao phải hiến máu nhân đạo:

- Máu là một thứ kì diệu, nuôi sống mỗi con người, không một ai có thể tạo

ra máu

- Thế giới ngày càng phát triển thì hiểm họa đến với con người ngày càng nhiều như: tai nạn gia thông, tai nạn nghề nghiệp, các ca phẫu thuật trong bệnh viện,…

- Nhu cầu máu là một nhu cầu cần thiết và cấp bách của con người khi cần thiết, máu có thể cứu sống một con người

3 Ý nghĩa của việc tham gia hiến máu nhân đạo:

- Một mục tiêu hàng đầu và vô cùng ý nghĩa đó là cứu sống con người

- Hiến máu còn thể hiện tình yêu thương, đùm bọc và chia sẻ với con người

- Cho đi rồi chúng ta sẽ nhận lại, ai dám nói trong đời mình không lần gặp rủi ro, chính vì thế khi chúng ta cho đi giọt máu của mình sẽ nhận lại được giọt máu của người khác

- Đây là nghĩa cử cao đẹp và được tổ chức mọi lúc mọi nơi trên đất nướcIII Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về phong trào hiên máu nhân đạo

- Đây là một nghĩa sử rất cao đẹp

- Chúng ta một lần cũng đi hiến máu

Trang 11

* Dạng nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.

Mở bài:

- Dẫn dăt, giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận, hướng giải quyết vấn đề

Thân bài:

Bước 1: Giải thích tư tư tưởng , đạo lí.

Tùy theo yêu cầu đề bài có thể có những cách giải thích khác nhau:

- Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

- Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó

giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề

- Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội

dung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập

Thường trả lời câu hỏi : Là gì? Như thế nào? Biểu hiện cụ thể?

Bước 2: Giải thích, chứng minh làm sáng tỏ vấn đề

- Phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý (thường trả lời câu

hỏi tại sao nói như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống xã hội để chứng minh Từ đó chỉ

ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội)

- Bác bỏ (phê phán) những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề

- Phần này thực chất là trả lời câu hỏi: Tại sao? (Vì sao?) Vấn đề được biểu

hiện như thế nào? Có thể lấy những dẫn chứng nào làm sáng tỏ?

Bước 3: Bàn luận, mở rộng.

Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng sai, đóng góp

-hạn chế của vấn đề.

- Mở rộng vấn đề: giải thích, chứng minh, đào sâu thêm vấn đề, lật ngược vấn đề

Bước 4 : Bài học: Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động.

- Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm, …( Thực chất trả lời câu hỏi: từ vấn đề bàn luận, hiểu ra điều gì? Nhận ra vấn đề gì có ý nghĩa

đối với tâm hồn, lối sống bản thân? )

- Bài học hành động - Đề xuất phương châm đúng đắn, phương hướng hành động cụ thể ( thực chất trả lời câu hỏi: Phải làm gì? …)

Kết bài:

Đánh giá ngắn gọn, khái quát về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận

Phát triển, liên tưởng, mở rộng, nâng cao vấn đề

Ví dụ: Đề bài: Suy nghĩ của em về câu nói Học tập là một cuốn vở không

Học tập: Học và luyện tập để có hiểu biết và kĩ năng

Cuốn vở: Ghi chép những hiểu biết trong quá trình học tập

Ý cả câu: Học tập là công việc suốt đời, không ngừng nghỉ

2 Phân tích – chứng minh

Ngày đăng: 31/10/2018, 08:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w