Hướng dẫn cho học sinh nhận biết các dạng của bài toán tínhgiá trị của biểu thức sẽ giúp học sinh hiểu nhanh và giải chính xác hơn, hiệu quảhơn là tiền đề để các em học tốt các dạng bài
Trang 11 MỞ ĐẦU1.1 Lí do chọn đề tài.
Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho các bậc học khác Ở Tiểuhọc, môn Toán có vị trí rất quan trọng nó cung cấp kiến thức, kỹ năng cơ bản banđầu, đồng thời chuẩn bị cơ sở để tiếp tục học ở các lớp trên Môn Toán giúp họcsinh phát triển tư duy lô gíc trí thông minh, óc sáng tạo Là công cụ cần thiết và liênquan đến các môn học khác, giúp con người nhận thức thế giới xung quanh để hoạtđộng hiệu quả trong thực tế Ngoài ra, nó còn giúp con người có lí trí, đức tính cần
cù vượt khó khăn, biết cách làm việc có kế hoạch, nề nếp và tác phong khoa học.Góp phần trong việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất tốt như: tính cẩnthận, chính xác và trung thực
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn toán lớp 3, tôi thấy mình phảitrau rồi kiến thức, học tập nâng cao trình độ, tìm tòi vận dụng phương pháp dạy -học mới giúp học sinh nắm bắt kiến thức mới một cách nhanh nhất, hiệu quả vàtoàn diện nhất Trong quá trình giảng dạy tôi thấy dạy Toán nói chung và dạy giảitoán nói riêng gặp không ít những khó khăn với đa số học sinh vì ở lứa tuổi này tư
duy còn hạn chế mà dạng toán “ Tính giá trị biểu thức” là một dạng toán khó đối
với học sinh lớp 3 Hướng dẫn cho học sinh nhận biết các dạng của bài toán tínhgiá trị của biểu thức sẽ giúp học sinh hiểu nhanh và giải chính xác hơn, hiệu quảhơn là tiền đề để các em học tốt các dạng bài tính giá trị của biểu thức ở lớp 4, 5.Năm học 2017 -2018 bản thân tôi được phân công trực tiếp giảng dạy lớp 3A,tôi đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp thực hiện vào dạy học sinh “Tính giá trịbiểu thức” Hết học kì I tôi đã khảo sát chất lượng về thực hiện giải dạng toán nàygần 90 % học sinh đã làm tốt dạng toán tính giá trị biểu thức mà không bị nhầm lẫncách tính Tôi rất phấn khởi, Từ đó tôi đã nghiên cứu và sử dụng sáng kiến " Một
số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các bài toán tính giá trị của biểu thức.”
vào dạy học có hiệu quả trong những năm học vừa qua Tôi đã mạnh dạn viết thànhsáng kiến này
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Tìm ra những biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các học toán tính giá trịbiểu thức ở trường Tiểu học Thị Trấn Lang Chánh nói riêng và lớp 3 nói chung.Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Toán 3 giúp các em tiếp tục học tốt mônnày ở các lớp trên
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các bài toán tính giá trị của biểuthức
- Học sinh lớp 3A trường tiểu học Thị Trấn Lang Chánh
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu các tài liệu: Sách giáo viên, tài liệu hưỡng dẫn họctoán 3, vở bài tập toán 3
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thực trạng tổ chức dạy – học toán 3 ởtrường TH Thị Trấn Lang Chánh Trong quá trình thực hiện tôi đã đề ra cácphương án, phù hợp với điều kiện của lớp mình và chỉ đạo tổ chức thực hiện
- Phương pháp điều tra: Điều tra hoàn cảnh gia đình học sinh, đặc điểm tâm lícủa học sinh
Trang 2- Phương pháp hỏi – đáp: Hỏi học sinh thích học toán, ngại học toán, nguyênnhân ngại học toán.
- Phương pháp thống kê toán học: Kết quả khảo sát học sinh
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối chiếu các số liệu thống kê trước và saukhi thực hiện
- Phương pháp luyện tập thực hành: Luyện tập và thực hành làm các bài toántính giá trị biểu thức
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đề ra những giải pháp nhằm nâng caochất lượng dạy – học Toán 3 ở trường Tiểu học
Trang 32 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT
CÁC BÀI TOÁN TÍNH GIÁ TRỊ BIỂU THỨC2.1 Cơ sở lý luận.
Dạy Toán học là dạy cho học sinh sáng tạo, rèn luyện các kỹ năng, trau dồiphẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó Đó là phẩm chất quý báu củacon người Việt Nam Thông qua học toán để đức tính đó được thường xuyên pháthuy và ngày càng hoàn thiện
Trong quá trình dạy học ở Tiểu học, toán là một trong những môn học giúphọc sinh phát triển toàn diện Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấpnhững kiến thức cần thiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động Nhữngkiến thức kĩ năng toán học là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứngdụng trong thực tế đời sống Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinhnhiều mặt như: phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ ( trừutượng hoá, khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, ) Giúp họcsinh biết tư duy, suy nghĩ làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đứctốt đẹp của người lao động
Giáo dục toán học là một bộ phận của giáo dục tiểu học Do đó, môn Toán cónhiệm vụ góp phần vào thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học Đó là: trang bịcho học sinh một hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết cho việc học tậptiếp hoặc đi vào cuộc sống Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào hoạt độngthiết thực trong đời sống, từng bước hình thành, rèn luyện thói quen phương pháp
và tác phong làm việc khoa học, phát triển hợp lí phù hợp với tâm lí của từng lứatuổi Tạo tiền đề cho học sinh học tốt các môn học khác
2.2 Thực trạng.
2.2.1 Về phía giáo viên.
Đa số giáo viên đều có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, yêu nghề.Bên cạnh đó vẫn có giáo viên không nắm được hoàn cảnh cũng như tâm lí học sinh,không nắm được lí do vì sao học sinh ngại học tính giá trị biểu thức, chưa nắm bắtđược mối quan hệ của nội dung dạng toán này ở các lớp, chưa phân loại được đốitượng học sinh trong lớp để có kế hoạch phụ đạo cho học sinh chưa hoàn thành vàbồi dưỡng được học sinh có khả năng hoàn thành tốt môn toán Việc đánh giá, nhậnxét học sinh chưa thường xuyên, liên tục Chưa có hình thức thi đua, khen thưởngtrong dạy học hoặc có nhưng chưa kịp thời Việc sử dụng phương pháp dạy học cònđơn điệu, không linh hoạt Các hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú
2.2.2 Về phía học sinh.
Năm học 2017 – 2018, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3A Vớitổng số là 29 học sinh Tất cả các em đều cùng độ tuổi và đã hoàn thành chươngtrình lớp 2
Trong quá trình giảng dạy và dự giờ tôi thấy HS làm dạng bài tính giá trị biểuthức còn chưa tốt hay nhầm lẫn về cách thực hiện Là lớp có nhiều đối tượng HSkhác nhau nên phần nhiều các em đã làm bài đúng kết quả nhưng có em chưa nắmđược cách làm phù hợp với từng dạng bài Nhiều bài làm tính giá trị biểu thức cáchgiải chưa hợp lí Mặt khác, các bài tính giá trị biểu thức có nhiều dạng bài Do đó
Trang 4học sinh thường lúng túng khi gặp các dạng bài khác nhau, đặc biệt đối với dạngbài là biểu thức có phép tính cộng trừ nhân chia trong cùng một biểu thức, biểuthức có dấu ngoặc đơn ( ) dạng bài mới mà ở lớp 2 các em chưa được làm quen, Học sinh còn ngại tính toán, không thích học toán tính giá trị biểu thức.
Toán 3 đã có nhiều mạch kiến thức đòi hỏi các em phải tư duy, thực hànhnhiều, phải biết nhận diện đúng dạng toán thì các em mới có thể làm đúng và yêuthích môn học Nhưng nhiều em vẫn ngại học toán vì các em cho rằng Toán khóbởi các em không hiểu Hơn nữa chủ yếu các bài toán tính giá trị biểu thức đều phảixác định thứ tự và thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia tuy không khó nhưcác bài toán có lời văn song dễ nhầm lẫn, hay sai
2.2.3 Về phía phụ huynh:
Là trường Tiểu học Thị Trấn vùng miền núi thuộc huyện nghèo, đa số phụhuynh là cán bộ, công chức đều rắt con quan tâm việc học tập, giáo dục và giúp đỡcác em hoàn thành hoạt động ứng dụng (Hoạt động cần người thân giúp đỡ ở giađình); còn số phụ huynh làm nghề nông hay đi làm ăn xa (Bản Lưỡi, Bản Trải,….)chưa quan tâm được các em do sống xa nhà hoặc không biết cách dạy bảo các em
2.2.4 Kết quả khảo sát thực trạng.
Đề khảo sát chất lượng học sinh như sau:
Đề bài: (Thời gian 30 phút)
Bài 3: (4 điểm) Tính giá trị biểu thức sau bằng cách thuận tiện nhất:
- (Đa số HS thực hiện đã đúng, nhưng vẫn có học sinh sai vì quên không nhớ)
Bài 2: Tính giá trị của các biểu thức sau:
- (Thứ tự thực hiện phéptính chưa đúng dẫn đếngiá trị của biểu thứccũng sai Đối với biểuthức này nên thực hiệnphép tính nhân trước)
c) 7 (17 – 9) = 119 – 8 = 111
- (Chưa nắm được cách thựchiện phép tính dẫn đến giá trị củabiểu thức cũng sai Đối với biểuthức này nên thực hiện phép tínhtrong dấu ngoặc đơn trước)
Trang 5Bài 2: Tính giá trị biểu thức sau bằng cách thuận tiện nhất:
a) 25 7 + 25 3
= 175 + 75
= 250
b) 1 + 3 + 5 + 7 + 9 = 4 + 12 + 9 = 16 + 9 = 25
- (Thứ tự thực hiện phép tính và kết quả là đúng nhưng tính bằng cách tínhnày chưa thuận tiện nhất) Nên cần phân biệt cách tính thuận tiện khác với cáchtính thông thường, giúp ta tìm ra kết quả nhanh mà chính xác
3 Các biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các bài toán tính giá trị của biểu thức
3.1 Tiến hành hỏi đáp sự hứng thú học Toán và không hứng thú học Toán Tìm hiểu lí do.
- Qua hỏi đáp trực tiếp tỉ lệ HS thích học Toán: 17em 58,6%
- Số lượng học sinh còn ngại học Toán: 12em 41,4%
- Đa số HS ngại học Toán trong lớp là học sinh nữ Qua tìm hiểu nguyên nhântôi được biết hầu hết các em nữ có khả năng sáng tạo hạn chế so với HS nam Các
em ngại học toán vì nhiều dạng bài khó nhớ và chán nản khi suốt ngày phải nhânchia tính toán, một mặt do không làm được bài nên dẫn đến ngại học Nắm bắtđược tâm lí của các em tôi quyết định phân dạng bài và đưa ra cách giải cho từngdạng bài tính giá trị biểu thức cũng như các dạng toán khác giúp HS hiểu bài làmđược bài để HS tìm thấy hứng thú khi học Toán
3.2 Nghiên cứu mối quan hệ và chuẩn bị hướng dẫn cho HS làm bài.
- Trước hết ta nhận thấy các dạng bài tính giá trị biểu thức là một mạch kiếnthức đồng tâm Nếu ở lớp 2 biểu thức chỉ có một phép tính, thì mạch kiến thức lớp
3 tiếp thu từ dạng bài tính giá trị biểu thức ở lớp 2 Tuy nhiên ở lớp 3, việc tính giátrị biểu thức của học sinh được nâng cao thành các biểu thức có chứa các số có 2chữ số, 3 chữ số, trong một biểu thức có các phép tính cộng, trừ, nhân chia, biểuthức có dấu ngoặc đơn và được mở rộng thêm phần tính giá trị biểu thức với cácdạng bài tính bằng cách thuận tiện nhất, hợp lí, tính nhanh Không chỉ đơn thuầntính các biểu thức mà kiến thức này còn được vận dụng phù hợp cho các bài toángiải kép làm tiền đề cho học sinh vận dụng giải các bài toán giải của các lớp 4, 5.Xác định được mối liên hệ của các mạch kiến thức tôi đã phân loại bài toán tínhgiá trị biểu thức thành các dạng bài, dạng bài sau vận dụng và phát triển từ dạng bàitrước và phù hợp với sự phát triển các mạch kiến thức trong chương trình Toán 3,phù hợp với từng đối tượng học sinh trong cùng một lớp học
3.3 Phân loại đối tượng học sinh.
Trang 6Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành phân loại đối tượng học sinh theo Thông
tư 22 và văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGD ĐT: Hoàn thành tốt (T); Hoàn thành(H); Chưa hoàn thành (C)
Thông qua việc họp phụ huynh đầu năm, tôi đã trao đổi với bố mẹ các em đểnắm được hoàn cảnh gia đình, đắc điểm tâm lí của từng em Từ đó nhận biết nhữngyếu tố khách quan ảnh hưởng đến lực học của các em
Như vậy, thông qua việc phân loại đối tượng học sinh, tôi đã biết được tỉ lệhọc sinh có lực học khác nhau trong lớp Đó là cơ sở để tôi thực hiện công tác chủnhiệm lớp như: Tôi chia lớp thành các tổ, các nhóm học tập có học sinh hoàn thànhtốt, học sinh hoàn thành và chưa hoàn thành, phân cho học sinh hoàn thành tốt ngồigàn, kèm cặp và giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành, học sinh chưa hoàn thành ngồi
ở vị trí những bàn học phía trên của lớp để dễ tiếp thu bài và được giáo viên giúp
đỡ kịp thời trong từng tiết học cúng như đánh gí sự tiến bộ của các em chính xáchơn
Họp phụ huynh học sinh lớp 3AVới việc thực hiện giải pháp trên, tôi đã xây dựng được công tác chủ nhiệmlớp ổn định, đánh giá học sinh theo tuần, theo tháng dễ dàng Đắc biệt là xây dựngđược đội ngũ Hội đồng tự quản của lớp có năng lực giúp đỡ các bạn cùng tiến bộ,nâng cao chất lượng đại trà và giúp các em có hứng thú, tự tin trong học tập
3.4 Rèn cho học sinh những thói quen cần thiết trong quá trình học tập môn Toán và tính giá trị biểu thức.
- Hình thành nề nếp học tập: Mọi học sinh phải độc lập suy nghĩ, làm việc tíchcực Có thói quen tự giác, chủ động khi làm bài, không quay cóp bài của bạn,không đưa thẻ cứu trợ khi chưa suy nghĩ và chưa đọc đề toán Học sinh biết huyđộng các kiến thức của mình tham gia tích cực vào việc giải quyết nội dung, yêucầu bài toán
- Rèn cho học sinh tính cẩn thận trong học tập như : Trước khi làm bài phảinháp Không hiểu bài thì nên hỏi nhóm trưởng hoặc các bạn khác trong nhóm hoặc
cô giáo
- Làm xong thử lại, khi thấy đúng kết quả mới chép vào vở
- Yêu cầu học sinh ở từng nhóm phải viết chữ số trong phép tính rõ ràng.Trình bày bài toán đúng, đẹp
- Tạo cho học sinh tính mạnh dạn để trao đổi ý kiến trong nhóm hoặc trướclớp vì sự hỗ trợ giữa các học sinh trong nhóm, lớp, góp phần làm các em mạnh dạnhơn hiểu bài sâu hơn
- Giúp học sinh tự tin hơn vào khả năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm vềcách học của mình
- Sau khi làm xong bài tập cho các em tự kiểm tra, đánh giá và sửa chữa bàilàm của mình trước khi nộp bài
- Cần rèn ý chí vượt khó cho các em khi làm bài Khi tính toán gặp các bàitoán khó, giáo viên cần giúp các em có sự tự tin, không nên nản lòng Khuyến
Trang 7khích các em tự lực làm bài, tìm tòi hướng giải quyết để đạt được kết quả cao trong
học tập
3.5 Lựa chọn các phương pháp dạy học toán tính giá trị biểu thức.
a Phương pháp dạy học trực quan: Do đặc điểm nhận thức của học sinhTiểu học là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượngđến thực tiễn ” và do tính chất đặc thù của các đối tượng Toán học tính trừu tượng
và khái quát cao mà phương pháp trực quan có vai trò quan trọng trong quá trìnhdạy học Toán ở Tiểu học Với những hình ảnh trực quan do các đồ dùng biểu diễnmang lại và lời giảng của giáo viên học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận vàlĩnh hội kiến thức Toán trừu tượng Bản chất của phương pháp dạy học này là giáoviên đã tác động vào tư duy học sinh Tiểu học theo đúng quy luật nhận thức
b Phương pháp gợi mở – vấn đáp: Phù hợp với yêu cầu đổi mới phươngpháp dạy học, bởi nó không bày đặt sẵn kiến thức mà giáo viên kích thích ngườihọc tự tìm kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi Phương pháp này rất phù hợp nógiúp người học tập dượt suy nghĩ và diễn đạt khi trả lời câu hỏi, kiến thức hìnhđược thành theo cách này giúp học sinh nhớ lâu hiểu kỹ và tự tin hơn Trong quátrinh gợi mở, với hệ thống câu hỏi giáo viên đưa ra, sau khi học sinh tìm được cáccâu trả lời đã giúp học sinh tìm ra thứ tự thực hiện và cách tính giá trị biểu thức và
dễ dàng phát biểu thành quy tắc
c Sử dụng phương pháp luyện tập - thực hành: Đây là một phương pháp
thường dùng trong dạy học Toán ở Tiểu học Bởi đặc điểm nhận thức của học sinhTiểu học mang nặng tính cụ thể Vì thế các kiến thức và kỹ năng thường được hìnhthành thông qua thực hành – luyện tập Phạm vi sử dụng phương pháp thực hànhluyện tập là phổ biến ở trong tất cả các tiết học dạy tính giá trị biểu thức
d Phương pháp giảng giải - minh họa: Đây là phương pháp cần thiết trong
quá trình dạy tính giá trị biểu thức; vì có nhiều dạng và rất trừu tượng đối với họcsinh lớp 3, các em khó có thể tự tìm ra được cách tính giá trinh biểu thức Vì thếgiáo viên cần sử dụng phương pháp này để giảng giải giúp học sinh hiểu được kiếnthức, hình thành được quy tắc tính giá trị biểu thức
3.6 Lựa chọn các hình thức dạy học
a Chia nhóm học tập: Có rất nhiều cách chia nhóm như: chia nhóm ngẫunhiên, nhóm cùng trình độ, nhóm cùng sở thích, nhóm cùng đặc điểm, Dù chianhóm bằng cách nào thì cuối cùng mỗi nhóm phải có số học sinh gắn với nhiệm vụhọc tập Chương trình học VNEN học sinh đã được ngồi học theo 1 nhóm từ 4emđến 6 em Vậy giáo viên chỉ căn cứ vào nội dung các hoạt động học tập để chianhóm đôi, nhóm 4 hay nhóm 6 cho phù hợp
Trang 8Bài 45 : Tính giá trị của biểu thức (Tiếp theo) – Tài liệu hướng dẫn học Toán
3 – Tập 1B - Trang 71 Chia nhóm 4 em hoặc 6 em để thực hiện: Hoạt động 2 b)
và c) Đọc và thảo luận :
- Nếu muốn tính 15 + 25 trước, rồi nhân 4, ta nghĩ ra kí hiệu quy định mới
Học sinh tích cực hoạt động nhóm
b Tổ chức hoạt động học tập cá nhân bằng phiếu giao việc
Học sinh Tiểu học khi học Toán cần thiết có những nội dung phải thực hiệnhọc cá nhân, chẳng hạn để hình thành kỹ năng và rèn luyện kĩ năng tính với 4 phéptính Nhờ những hoạt động học cá nhân mà học sinh đưa ra thông tin phản hồichính xác về mức độ tiếp thu kiến thức, về kỹ năng thực hành, về phương pháp suyluận Từ đó giúp cho giáo viên có kế hoạch dạy học hợp lí tiếp theo, giúp học sinhhoàn thiện kiến thức đã học Hoạt động học tập cá nhân là rất cần thiết bởi, mụctiêu cuối cùng dạy học ở trên lớp là hình thành kiến thức kỹ năng tới từng học sinh
Ví dụ 1: Sau khi đã hình thành quy tắc tính giá trị biểu thức Bài 44 : Tính giátrị của biểu thức(tiếp theo) – Tài liệu hướng dẫn học Toán 3 – Tập 1B - Trang 69,yêu cầu học sinh thực hiện cá nhân các hoạt động 1, 2, 3, 4
c Tổ chức các trò chơi học tập:
Trò chơi học Toán đưa học sinh vào những tình huống vui vẻ khiến trẻ khôngthấy e sợ, thấy hứng thú và kích thích tính tò mò, vì vậy sẽ cuốn hút tâm lý của trẻ.Khi trẻ chơi sẽ là lúc bộc lộ rõ những khả năng hiểu biết kiến thức và ứng dụngkiến thức theo trình độ thực có của trẻ
Để lựa chọn trò chơi phù hợp, giáo viên cần xác định được mục đích của tròchơi là gì, hình thành, luyện tập, cũng cố kiến thức nào, giáo dục kĩ năng gì, phẩmchất gì ? thì cần dựa vào mục tiêu bài học
Trò chơi đưa ra phải đa dạng, phong phú, hấp dẫn; luật chơi đơn giản dễ hiểu,
dễ chơi, phải phù hợp với chủ đề bài học với đặc điểm và trình độ học sinh, vớilượng thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, có tác dụng khích lệtinh thần học tập cho tất cả các đối tượng học sinh trong lớp, tránh bỏ rơi học sinhyếu kém ngoài cuộc Đặc biệt, trò chơi phải không gây nguy hiểm cho học sinh vàmôi trường xung quanh
Không nên chọn những trò chơi chỉ được mặt vui nhộn, nhưng lại thiếu tácdụng giáo dục về kiến thức, phẩm chất cũng như kĩ năng học tập
Trò chơi phải được luân phiên thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàmchán cho học sinh
Chẳng hạn trò chơi “Ai nhanh – Ai đúng” trong hoạt động 2 – Trang 76
Để trò chơi phát huy hiệu quả trong dạy học Toán, người giáo viên cần có sựchuẩn bị tốt; mọi học sinh đều hiểu trò chơi và tham gia dễ dàng, học sinh phải nắmđược quy tắc chơi và phải tôn trọng, tuân thủ luật chơi
Giáo viên cần quy định rõ thời gian, địa điểm chơi, không lạm dụng quá nhiềukiến thức và thời lượng bài học
Trang 9Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện chohọc sinh tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu, từ chuẩn bị, tiến hành tròchơi và đánh giá sau khi chơi
Học sinh chơi trò chơi để làm bài tập 2
d Vận dụng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học
Khi dạy về tính giá trị biểu thức có dấu ngoặc, giáo viên có 2 cách dạy nhưsau:
Cách 1: giáo viên đưa ra quy tắc tính giá trị biểu thức có dấu ngoặc “khi tínhgiá trị biểu thức có chứa dấu ngoặc ( ), ta thực hiện các phép tính trong ngặc trước”.Giáo viên đưa ví dụ về biểu thức có dấu ngoặc (35 + 25)x3 và yêu cầu học sinh tínhgiá trị của biểu thức này
Cách 2: Giáo viên yêu cầu học sinh tính giá trị biểu thức 35 + 25 x 3, học sinhnhận xét: phải tính phép nhân 25x3 trước rồi thực hiện phép cộng 35 + 25 x 3 = 35+ 75 = 110 Giáo viên đưa ra tình huống mới: “hãy tìm cách viết thêm kí hiệu đểthực hiện phép cộng 35 + 25 trước” Học sinh buộc phải suy nghĩ, từng em nghĩcách kí hiệu riêng của mình (các kí hiệu có thể rất khác nhau tuỳ từng em), chẳnghạn: 35 + 25 x 3; (35 + 25) x 3; 35 + (25 x 3) Sau đó các bạn cùngnhau trình bày và đi đến thống nhất cách kí hiệu: (35 + 25) x 3 Tới đây, giáo viêncho học sinh nêu quy tắc tính giá trị của biểu thức có chứa dấu ngoặc
3.7 Dạy cách thực hiện các dạng bài toán tính giá trị biểu thức lớp 3 trong chương trình VNEN
Nội dung các dạng bài toán tính giá trị biểu thức lớp 3 chương trình VNEN
gồm có những dạng sau :
- Biểu thức chỉ có phép tính cộng, trừ
- Biểu thức chỉ có phép tính nhân, chia
- Biểu thức có phép tính cộng, trừ, nhân, chia
- Biểu thức có dầu ngoặc ( )
- Các biểu thức dạng tính nhanh, tính bằng cách thuận tiện, tính hợp lí
Trước hết tôi cho HS ôn tập củng cố lại các dạng bài tính giá trị biểu thức cơbản Với mỗi dạng bài tôi đưa ra cách giải mẫu giúp HS nhận diện từng dạng, HSchủ động biết cách giải về từng dạng Mỗi dạng tôi đã phát triển thành nhiều bài tậpkhác nhau cho HS thực hành giải
DẠNG 1: CÁC BIỂU THỨC CHỈ CÓ DẤU CỘNG, TRỪ.
Kiểu bài tập 1: Tính giá trị của biểu thức sau:
VD: Bài 3 ( Trang 67- Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B )
Trang 10= 12 + 20 = 150 - 30
= 32 = 1200
Kết luận: Trong biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ yêu cầu tính thông thường
ta thực hiện theo thứ tự từ trái qua phải Dấu bằng viết trước biểu thức thẳng hàng với nhau.
Kiểu bài tập 2: Tính giá trị các biểu thức sau bằng cách nhanh nhất
(hợp lí, thuận tiện):
a) 257 + 68 + 43 c) 268 + 43 - 268 + 257
b) 218 + 822 + 28 + 232 d) 1881 + 1000 + 19
- GV hướng dẫn HS xác định các bước:
+ Bước 1: Xác định yêu cầu là tính nhanh ( thuận tiện hoặc hợp lí ).
+ Bước 2: Tìm các cặp số trong biểu thức cộng hoặc trừ cho nhau có tận cùng
bằng 0
Vận dụng cách đổi chỗ các số hạng trong phép cộng hoặc có trường hợp tách
số, nhóm số để làm bài
+ Bước 3: Thực hiện tính trong ngoặc trước ngoài ngoặc sau.
Ví dụ: Vận dụng tách nhóm số có thể làm dạng bài tập trên theo nhiều cáchsáng tạo:
DẠNG 2: CÁC BIỂU THỨC CÓ DẤU NHÂN, CHIA.
Kiểu bài tập 1: Tính giá trị của biểu thức: ( Bài 3 Trang 67; Bài 1b Trang 69; Bài 2b - Trang 74 - Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B)
Trang 11-Bài 3 - Trang 67- Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B
c) 5 4 : 2 d) 12 : 2 6
- Giáo viên hướng dẫn HS:
+ Bước 1: Xác định yêu cầu: Tính giá trị biểu thức
+ Bước 2: Cách thực hiện: Trong biểu thức có dấu nhân, chia ta thực hiện lần
lượt từ trái sáng phải
Lưu ý : Biểu thức dấu chia viết trước, dấu nhân viết sau cũng thực hiện theo thứ tự từ trái sang phải.
DẠNG 3: CÁC BIỂU THỨC CÓ DẤU CỘNG, TRỪ, NHÂN, CHIA.
Kiểu bài tập1: Tính giá trị của biểu thức: ( Bài 2 Trang 69; Bài 3 Trang 74
-Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B)
Bài 2 - Trang 69- Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B
a) 300 - 20 4 b) 200 + 63 : 3
12 4 - 20 56 : 8 + 12
- Giáo viên hướng dẫn HS:
+ Bước 1: Xác định yêu cầu: Tính giá trị biểu thức
+ Bước 2: Cách thực hiện: Trong biểu thức có dấu cộng, trừ, nhân, chia ta
thực hiện nhân chia trước, cộng trừ sau
Kết luận: Đối với biểu thức tính thông thường có dấu cộng trừ nhân chia
ta thực hiện nhân chia trước cộng trừ sau ( viết đúng vị trí các dấu trong biểu thức).
Kiểu bài tập 2: Tính giá trị các biểu thức sau bằng cách nhanh nhất
(hợp lí; thuận tiện ).
a) 126 8 + 2 126 c) 329 : 4 + 71 : 4
b) 3 235 + 235 7 d) 475 : 5 + 25 : 5
- GV giúp HS nhận biết:
+ Bước1: Tính giá trị của biểu thức ( nhanh nhất, hợp lí, thuận tiện ) khác với
yêu cầu tính giá trị biểu thức thông thường