Trong thời đại ngày nay không một ai có thể nghi ngờ về vai trò của khoa học tự nhiên trong đời sống xã hội cũng như sự phát triển của kinh tế, khoa học – kỹ thuật, …. Sự phát triển của khoa học tự nhiên ở hầu hết các lĩnh vực của khoa học hiện đại như y học, kỹ thuật hạt nhân, hóa học, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, …. Với sự phát triển đó, thế giới chúng ta đã có những thành tựu vĩ đại về khoa học và công nghệ mà nhờ đó, loài người đạt được sự tăng trưởng kinh tế không ngừng. Song, thế giới cũng đang phải đối mặt với những vấn đề hết sức nghiêm trọng có tính toàn cầu. Một trong số đó là vấn đề ô nhiễm môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên. Tình trạng này đang đặt loài người trước sự thách thức của giới tự nhiên như từ lâu Ph.Ăngghen đã từng cảnh báo và đang đe dọa chính sự tồn tại của bản thân Trái đất. Vì vậy, tiểu luận này tiến hành xem xét, phân tích một số vai trò của Khoa học môi trường đến sự phát triển của thế giới quan khoa học, và vai trò trong sự phát triển của xã hội loài người. Từ đó nhận thấy và tái khằng định tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong Khoa học môi trường nói riêng và khoa học nói chung.
Trang 1NGUYỄN PHƯỚC HIẾU
MSHV: 17C81003
VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC
Tiểu luận Triết học Chương trình cao học và nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học
TP HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 2VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC
Tiểu luận Triết học Chương trình cao học và nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học
NGUYỄN PHƯỚC HIẾU
MSHV: 17C81003Khoa học Môi TrườngTrường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
TP HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 31.1 Thế giới quan 2
1.2 Thế giới quan khoa học 4
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG 6
2.1 Khái niệm môi trường 6
2.2 Khái niệm Khoa học môi trường 6
2.2.1 Nguồn gốc Khoa học môi trường 6
2.2.2 Khái niệm Khoa học môi trường 6
2.3 Đặc trưng của Khoa học môi trường 7
2.4 Mối liên hệ của Khoa học môi trường đối với triết học và các ngành Khoa học khác 9
CHƯƠNG 3: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC 11
3.1 Thế giới quan khoa học tác động đến khoa học môi trường 11
3.2 Vai trò của Khoa học môi trường đối với sự phát triển của thế giới quan khoa học 15
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay không một ai có thể nghi ngờ về vai trò củakhoa học tự nhiên trong đời sống xã hội cũng như sự phát triển của kinh tế,khoa học – kỹ thuật, … Sự phát triển của khoa học tự nhiên ở hầu hết cáclĩnh vực của khoa học hiện đại như y học, kỹ thuật hạt nhân, hóa học, côngnghệ sinh học, công nghệ thông tin, …
Với sự phát triển đó, thế giới chúng ta đã có những thành tựu vĩ đại vềkhoa học và công nghệ mà nhờ đó, loài người đạt được sự tăng trưởng kinh tếkhông ngừng Song, thế giới cũng đang phải đối mặt với những vấn đề hết sứcnghiêm trọng có tính toàn cầu Một trong số đó là vấn đề ô nhiễm môi trường
và sự cạn kiệt tài nguyên Tình trạng này đang đặt loài người trước sự tháchthức của giới tự nhiên như từ lâu Ph.Ăngghen đã từng cảnh báo và đang đedọa chính sự tồn tại của bản thân Trái đất
Vì vậy, tiểu luận này tiến hành xem xét, phân tích một số vai trò củaKhoa học môi trường đến sự phát triển của thế giới quan khoa học, và vai tròtrong sự phát triển của xã hội loài người Từ đó nhận thấy và tái khằng địnhtính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong Khoa học môi trườngnói riêng và khoa học nói chung
Trang 5Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC1.1 Thế giới quan
1.
1.1.1 Khái niệm
Thế giới quan là hệ thống tổng quát những quan điểm của con người vềthế giới (toàn bộ sự vật và hiện tượng thuộc tự nhiên và xã hội), về vị trí conngười trong thế giới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trongthực tiễn xã hội Thế giới quan chính là biểu hiện của cái nhìn bao quát đốivới thế giới, bao gồm cả thế giới bên ngoài lẫn con người và mối quan hệ giữacon người và thế giới
1.1.2 Cấu trúc của thế giới quan
Thế giới quan có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều yếu tố nhưng 2 yếu tốquan trọng nhất là tri thức và niềm tin, trong đó tri thức chính là hạt nhân,được thể hiện qua các quan điểm, quan niệm, tâm tư, tình cảm, tín ngưỡng,v.v
Trong thế giới quan, những quan điểm triết học, khoa học, chính trị,đạo đức, thẩm mĩ và đôi khi cả quan điểm tôn giáo đóng vai trò quan trọngnhất
Một thế giới quan bền vững là thế giới quan có tri thức và niềm tinthống nhất với nhau
1.1.3 Vai trò và tính chất của thế giới quan
Thế giới quan định hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người, đặcbiệt là định hướng về về hệ giá trị nói riêng, nhân sinh quan nói chung
Tính chất và nội dung của thế giới quan được quyết định chủ yếu bởinhững quan điểm triết học Vấn đề chủ yếu trong một thế giới quan cũngđồng nhất với vấn đề cơ bản của triết học (chủ yếu là quan hệ giữa ý thức và
Trang 6vật chất) Tuỳ theo cách giải quyết vấn đề này mà người ta phân chia ra hailoại thế giới quan cơ bản: duy vật và duy tâm.
Thế giới quan có tính chất lịch sử vì thế giới quan phản ánh sự tồn tạivật chất và tồn tại xã hội, phụ thuộc vào chế độ xã hội và trình độ hiểu biết,đặc biệt là khoa học của từng thời kì lịch sử Trong xã hội có giai cấp, thế giớiquan mang tính giai cấp; về nguyên tắc, thế giới quan của giai cấp thống trị làthế giới quan thống trị; nó chi phối xã hội và lấn át thế giới quan của các giaicấp khác
Thế giới quan không những là sự tổng hợp lí luận và ý nghĩa nhận thức,
mà còn rất quan trọng về mặt thực tiễn; nó làm kim chỉ nam cho hành độngcủa con người
Từ việc hiểu biết về thế giới, chúng ta có được bức tranh về thế giớitrong ý thức tức thế giới quan và từ đó quyết định lại thái độ và hành vi đốivới thế giới Có một cái nhìn đúng đắn sẽ định hướng con người hoạt độngtheo sự phát triển lôgic của xã hội và góp phần vào sự tiến bộ xã hội Vì thế,thế giới quan là trụ cột về mặt hệ tư tưởng của nhân cách, là cơ sở cho đạođức, chính trị và hành vi
1.1.4 Những hình thức cơ bản của thế giới quan
Tùy theo cách tiếp cận, có nhiều cách phân loại hình thức thế giớiquan; song, xét theo trình độ phát triển tư duy của con người, thế giới quanthể hiện dưới 3 hình thức cơ bản:
- Thế giới quan huyền thoại:
Thể hiện chủ yếu qua các chuyện thần thoại Đan xen giữa tri thức vàniềm tin Đan xen giữa thực và ảo, giữa thần và người Trật tự không gian,thời gian bị đảo lộn
- Thế giới quan tôn giáo:
Thể hiện chủ yếu qua giáo lý của các tôn giáo Tuyệt đối hóa vai trò
Trang 7của niềm tin Tuyệt đối hóa vai trò của giới siêu nhiên Nặng tính chất ảo.
- Thế giới quan triết học:
Thể hiện chủ yếu qua các học thuyết triết học Đề cao vai trò trí tuệ.Không chỉ thể hiện quan điểm, quan niệm về thế giới mà còn chứng minhchúng băng lý luận
Triết học là hạt nhân của thế giới quan, quyết định tính chất của thếgiới quan (Thế giới quan duy vật: Thế giới quan duy vật chất phác, thế giớiquan duy vật siêu hình, thế giới quan duy vật biện chứng; Thế giới quan duytâm: Thế giới quan duy tâm khách quan, thế giới quan duy tâm chủ quan)
Trong những hình thức đa dạng của mình, thế giới quan nào hình thành
và phát triển dựa trên những thành tựu khoa học là thế giới quan khoa học, sẽđược trình bày rõ hơn trong phần sau
1.2 Thế giới quan khoa học
Thế giới quan khoa học là thế giới quan phản ánh một cách đúng đắn ,chân thực , khách quan hiện thực và khách quan bên ngoài Người có thế giớiquan khoa học là người có tình cảm cao đẹp , sâu sắc , đúng đắn , lành mạnh ;
có lý trí , không để tình cảm lấn át; có ý thức đúng đắn; có niềm tin sâu sắcvào tường lai tốt đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa; có lý tưởng cao đẹp, trongsáng
Thế giới quan khoa học hiện đại thực chất là thế giới quan duy vật biệnchứng, bao gồm các vấn đề về sự tồn tại của vật chất, mối quan hệ giữa vậtchất, ý thức và các quy luật tổng quát của sự vận động vật chất Trong thếgiới quan duy vật biện chứng , triết học cùng với cá khoa học khác đã khẳngđịnh sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên vớinhững quy luật khách quan
Trang 8Phép biện chứng duy vật là hình thức mở, luôn luôn đổi mới, bổ sungbởi những thành tựu mới của xã hội Từ Mác , Ăngghen , Lenin không chỉ đổimới , bổ sung mà còn vận dụng nó vào trong nhận thức và thực tiển Nó vậndụng vào những thành tựu khoa học thực tiễn.
Với những đặc điểm trên đây đã làm cho phép biện chứng duy vật trởthành phương pháp luận phổ biến Nó đã loại bỏ những hạn chế các quanđiểm của các nhà triết học trước đó và phát triển theo hướng tich cực hơn, nêntrở thành hoàn thiện nhất , sâu sắc nhất
Việc nắm vững những nguyên tắc, phương pháp luận được rút ra từ thếgiới quan khoa học giúp chúng ta nhận thức đúng hiện thực khách quan củathời đại của đất nước của địa phương với tất cả những mối quan hệ giai cấp vàdân tộc , những tương quan lực lượng cách mạng , nắm bắt được sự tiến bộ vàquy định của sự phát triển của lịch sử
Thế giới quan duy vật biện chứng phản ánh đúng đắn hiện thực kháchquan của xã hội hiện thực, bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp công nhân vànhân dân lao động , là vũ khí lý luận sắc bén , là kim chỉ nam soi đường chogiai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân lao động và cá dân tộc bị áp bức trênthế giới đấu tranh giải phóng khỏi bị bóc lột và nô dịch , tiến lên xây dựngmột xã hội văn minh và nhân đạo hơn đó là chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa Mác-Lenin nói chung và thế giới quan duy vật biện chứngnói riêng đã kế thừa tất cả những giá trị tư tưởng văn hóa của nhân loại đã có
từ trước, nó luôn luôn gắn liền với thực tiễn của phong trào cách mạng , thựctiễn vận động của lịch sử , của sự phát triển của khoa học kỷ thuật với cuộcđấu tranh tư tưởng lý luận chống lại các học thuyết tư sản, các loại chủ nghĩa
cơ hội Nó là học thuyết về sự phát triển nhằm định hướng cho con ngườivươn tới cuộc sống tự do, thoát khỏi sự thống trị của tự nhiên và thống trị của
Trang 9con người với con người Đó là tính nhân văn cao cả của thế giới quan duyvật biện chứng.
Trang 10Chương 2: TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG2.1 Khái niệm môi trường
Môi trường cần phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này, tức là
môi trường bao bọc xung quanh con người - cả môi trường tự nhiên lẫn môitrường xã hội chứ không phải chỉ là môi trường tự nhiên Điều đó có nghĩa làmôi trường bao gồm các yếu tố, các điều kiện tự nhiên (lý học, sinh học, hóahọc) lẫn các yếu tố, các điều kiện nhân tạo (cả các yếu tố và điều kiện tựnhiên đã được con người biến đổi) bao quanh con người Con người không
thể tồn tại ở đâu khác ngoài tồn tại trong tự nhiên, dựa vào nguồn vật chất, nguồn năng lượng trong tự nhiên để sống và cũng không thể phát triển ở đâu
khác ngoài việc có thể phát triển trong môi trường tự nhiên lẫn trong môitrường xã hội
2.2 Khái niệm Khoa học môi trường
2.2.1 Nguồn gốc Khoa học môi trường
Khoa học môi trường đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu khoa họcthực sự trong những năm 1960 và 1970 do một nhu cầu về cách tiếp cận đangành để phân tích các vấn đề phức tạp về môi trường, sự xuất hiện của cácluật môi trường cơ bản đòi hỏi các giao thức môi trường cụ thể điều tra vànhận thức của công chúng ngày càng tăng về hành động trong việc giải quyếtcác vấn đề môi trường Các sự kiện thúc đẩy sự phát triển này bao gồm việcxuất bản cuốn sách Silent Spring về những ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đếnMôi trường của Rachel Carson cùng với các vấn đề môi trường lớn diễn ranhư vấn đề ô nhiễm môi trường ở London, Anh năm 1952, hay ở Los Angeles
Mỹ 1960 sự cố tràn dầu ở Santa Barbara năm 1969…
2.2.2 Khái niệm Khoa học môi trường
Trang 11Thông thường, "Khoa học môi trường" và "Sinh thái học" thường được
sử dụng thay thế cho nhau, nhưng về mặt kỹ thuật, sinh thái chỉ đề cập đếnviệc nghiên cứu các sinh vật và tương tác của chúng với nhau và môi trườngcủa chúng Sinh thái học có thể được coi là một bộ phận nhỏ của Khoa họcmôi trường Trung tâm Quốc gia về Thống kê Giáo dục Hoa Kỳ The NationalCenter for Education Statistics định nghĩa Khoa học môi trường: Là một lĩnhvực tập trung vào việc áp dụng các nguyên tắc sinh học, hóa học và vật lý đểnghiên cứu môi trường và giải pháp cho các vấn đề môi trường, bao gồm cácchủ đề như giảm thiểu hoặc kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môitrường…; sự tương tác giữa xã hội loài người và môi trường tự nhiên; và quản
lý tài nguyên thiên nhiên Khoa học môi trường bao gồm các nghiên cứu vềsinh học, hóa học, vật lý, địa chất học, khí hậu học, thống kê, và mô hình hóatoán học (3)
2.3 Đặc trưng của Khoa học môi trường
Khoa học môi trường là một ngành học liên ngành, kết hợp các ngànhkhoa học vật lý, sinh học và thông tin (bao gồm sinh thái, sinh học, vật lý, hóahọc, động vật học, khoáng vật học, đại dương, khoa học thời tiết, khoa học đấtđai, địa chất, khoa học khí quyển và địa chất) để nghiên cứu môi trường, vàgiải pháp của những vấn đề môi trường Ngày nay, Khoa học môi trường tiếpcận một cách tích hợp, định lượng và liên ngành để nghiên cứu các hệ thốngmôi trường trên trái đất Các lĩnh vực nghiên cứu liên quan bao gồm cácnghiên cứu môi trường và kỹ thuật môi trường Nghiên cứu môi trường kếthợp nhiều hơn các khoa học xã hội để hiểu các mối quan hệ của con người,nhận thức và các tác động đối với môi trường Kỹ thuật môi trường tập trungvào thiết kế và công nghệ để nâng cao chất lượng môi trường ở mọi khíacạnh Các nhà khoa học môi trường nghiên cứu các chủ đề như sự hiểu biết về
Trang 12các quá trình trên trái đất, đánh giá các hệ thống năng lượng thay thế, kiểmsoát và giảm thiểu ô nhiễm, quản lý tài nguyên thiên nhiên và những ảnhhưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu Các vấn đề về môi trường gần như baogồm sự tương tác giữa các quá trình vật lý, hóa học và sinh học Các nhà khoahọc môi trường đưa ra cách tiếp cận hệ thống để phân tích các vấn đề môitrường Các yếu tố chính của một nhà khoa học môi trường hiệu quả bao gồmkhả năng liên hệ không gian, các mối quan hệ thời gian cũng như phân tíchđịnh lượng Một số ngành khoa học trong Khoa học môi trường như:
Khoa học khí quyển: Khoa học khí quyển tập trung vào bầu khí quyểncủa Trái Đất Khoa học khí quyển có thể bao gồm các nghiên cứu về khítượng học, hiện tượng khí nhà kính, mô hình phân tán khí quyển các tạp chấtgây ô nhiễm không khí, các hiện tượng lan truyền âm thanh liên quan đến ônhiễm tiếng ồn và thậm chí là ô nhiễm ánh sáng Lấy ví dụ về hiện tượngnóng lên toàn cầu, các nhà vật lí tạo ra các mô hình máy tính lưu thông khíquyển và bức xạ hồng ngoại, các nhà nghiên cứu phân tích sự tồn lưu của cáchóa chất trong khí quyển và các phản ứng của chúng Các nhà sinh học phântích sự đóng góp của thực vật và động vật đối với lượng khí carbon dioxide vàcác chuyên gia như các nhà khí tượng học và hải dương học làm tăng thêm sựhiểu biết động lực khí quyển
Sinh thái học: Sinh thái học là nghiên cứu về tương tác giữa các sinhvật với môi trường của chúng Các nhà sinh thái học có thể điều tra mối quan
hệ giữa một quần thể sinh vật với một số đặc tính vật lý của môi trường, nhưnồng độ hoá học; hoặc có thể điều tra sự tương tác giữa hai quần thể của cácsinh vật khác nhau thông qua một số mối quan hệ cộng sinh hoặc cạnh tranh
Ví dụ, một phân tích liên ngành của một hệ sinh thái đang bị ảnh hưởng bởimột hoặc nhiều tác động có thể bao gồm một số lĩnh vực khoa học môi trườngliên quan Các nhà sinh vật học sẽ mô tả hệ thực vật và động vật, các nhà
Trang 13nghiên cứu sẽ phân tích việc vận chuyển các chất gây ô nhiễm nước đến đầmlầy, các nhà vật lí sẽ tính toán lượng khí thải ô nhiễm không khí và các nhàđịa chất học sẽ hỗ trợ cho việc phát triển công nghiệp hiểu rõ đất đầm lầy vàbùn đáy.
Hóa môi trường: Hóa môi trường là nghiên cứu về các thay đổi hóa họctrong môi trường Các lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu bao gồm ô nhiễm đất và ônhiễm nước Các chủ đề phân tích bao gồm sự xuống cấp hóa học trong môitrường, vận chuyển hóa chất nhiều pha (ví dụ như bốc hơi dung tạo ra chấtgây ô nhiễm không khí) và các ảnh hưởng hóa học đến sinh vật
Địa chất học: bao gồm địa chất môi trường, hiện tượng núi lửa và sựtiến hóa của vỏ trái đất Trong một số hệ thống phân loại, cũng có thể baogồm thủy văn, bao gồm cả hải dương học
2.4 Mối liên hệ của Khoa học môi trường đối với triết học và các ngành Khoa học khác
Khoa học môi trường là lĩnh vực liên ngành bao gồm sự kết hợp giữacác ngành khoa học nhiều lĩnh vực để có thể hiểu được về sự hình thành, pháttriển của môi trường xung quanh, bên cạnh những quy luật của giới tự nhiên,khuynh hướng phát triển, sự tác động do con người và sự tác động trở lại củamôi trường đến xã hội loài người Do đó, Khoa học môi trường yêu cầu sựphát triển của các ngành khoa học khác, bao gồm cả khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hội Khi các ngành khoa học khác phát triển sẽ thúc đẩy việcnghiên cứu môi trường Vấn đề môi trường, vấn đề quan hệ giữa con người vàgiới tự nhiên không đơn giản chỉ là vấn đề thuần túy khoa học hay kinh tế - kỹthuật, nó còn là vấn đề mang tính giai cấp, vấn đề tư tưởng, vấn đề chính trị
Do vậy, các khoa học xã hội, đặc biệt là triết học, có nhiệm vụ làm cho mọingười nhận thức rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường, cần làm cho mọi người