SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH GIẢI CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ ĐỒ THỊ PHẦN CHUYỂN ĐỘNG CƠ HỌC BẬC TH
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH
GIẢI CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ ĐỒ THỊ PHẦN CHUYỂN ĐỘNG CƠ HỌC BẬC THCS Ở TRƯỜNG THCS THIẾT ỐNG
Người thực hiện: Đinh Ngọc Phương Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Thiết Ống SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Vật lí
THANH HOÁ NĂM 2018
Trang 2MỤC LỤC
3 Các giải pháp sử dụng bài tập đồ thị trong dạy học phần chuyển
3.2 Các giải pháp giúp học sinh giải các dạng bài tập về đồ thị phần
Trang 3PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Một trong định hướng đổi mới PPDH là vận dụng lý luận dạy học giảiquyết vấn đề vào soạn thảo tiến trình dạy học các chủ đề cụ thể của môn học.Nhờ đó bồi dưỡng cho học sinh kỹ năng tư duy, năng lực độc lập giải quyết vấn
đề trong học tập và trong thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.Trong phương pháp dạy học giải bài tập vật lí, vai trò của giáo viên là tạo điềukiện thuân lợi cho học sinh họat động, kích thích hứng thú học tập của học sinh,hướng dẫn tổ chức và giúp đỡ để học sinh có thể thực hiện thành công nhiệm vụhọc tập Tránh làm thay cho học sinh những gì mà học sinh có thể tự lực làmđược, rèn luyện cho học sinh làm việc tự lực, trở thành chủ thể của hoạt độngnhận thức, tìm tòi, khám phá ra các kiến thức mới, phát triển năng lực trí tuệ.Muốn vậy giáo viên phải dạy cho học sinh theo chủ đề hoặc dạng bài tập vàcung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản rồi hướng dẫn học sinh giải một vàibài tập cơ bản liên quan đến chủ đề hoặc dạng bài tập đó
Trong các dạng bài tập vật lí thì các bài toán có liên quan đến đồ thị (vẽ,đọc, giải bằng đồ thị) là những bài toán hay và lí thú Để giải các bài tập nàyhọc sinh không những phải có am hiểu cơ bản về vật lí có liên quan mà cũngphải có kiến thức, kĩ năng về đồ thị, phương trình toán học, chính vì vậy nó làthước đo cụ thể để đánh giá về mức độ tư duy về tự nhiên nói chung và tư duy
bộ môn vật lí nói riêng Đồ thị cho ta hình ảnh trực quan về các mối quan hệgiữa các đại lượng, hay sự phụ thuộc của đại lượng này vào đại lượng kia và nó
có thể thay thế cho việc mô tả mối quan hệ đó bằng lời Xét tính chất đặc biệtcủa bài tập đồ thị trong hệ thống các bài tập Vật lý thuộc phần chuyển động cơ
học lớp 8, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh giải các dạng bài tập về đồ thị phần chuyển động cơ học bậc THCS ở trường THCS Thiết Ống”.
2 Mục đích nghiên cứu:
Sử dụng bài tập trong dạy học Vật lý (trong đó có bài tập đồ thị), đồngthời đề xuất các định hướng và biện pháp về việc lựa chọn, xây dựng và sử dụngbài tập đồ thị này nhằm rèn luyện kỹ năng giải bài tập và tích cực hoá hoạt độngnhận thức của HS trong dạy học phần chuyển động cơ học lớp 8 nói riêng vàVật lý nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu:
Các dạng bài tập và cách giải bài tập đồ thị phần chuyển động cơ học vật
lí THCS
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý thuyết.
- Cơ sở lý luận về tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học liên quan đếngiải bài tập Vật lý, nhất là bài tập đồ thị
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chương trình, nội dung dạy họcphần chuyển động cơ học, vật lý lớp 8
2
Trang 4- Nghiên cứu các biện pháp, cách thức bồi dưỡng hoạt động nhận thứccho
HS trong quá trình dạy học Vật lý
4.2 Nghiên cứu thực nghiệm.
- Thực trạng dạy học vật lý có sử dụng bài tập đồ thị của GV và HS vàgiải quyết bài tập đồ thị Vật lý ở trường THCS
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THCS Thiết Ống, huyện BáThước, tỉnh Thanh Hóa
- Thống kê và xử lý số liệu thực nghiệm
PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm :
1.1 Vai trò của bài tập đồ thị trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lý ở trường THCS.
Bài tập Vật lý nói chung, bài tập đồ thị nói riêng nó thể hiện được vai tròquan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lý ở trường phổthông:
- Truyền thụ cho học sinh hệ thống kiến thức;
- Phát triển năng lực nhận thức cho học sinh;
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức và nhân cách cho học sinh;
- Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp
1.2 Các loại bài tập đồ thị và tác dụng mỗi loại
Bài tập đồ thị là bài tập Vật lý mang tính chất đặc biệt Tuỳ theo mục đích
có thể phân chia bài tập đồ thị thành ba loại cơ bản sau (theo sơ đồ)
1.2.1 Loại thứ nhất: Đọc đồ thị và khai thác đồ thị đã cho.
Loại bài tập này có tác dụng rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc đồ thị,biết từ đồ thị đoán nhận trạng thái của vật thể, của hệ vật, của một đối tượng kỹthuật hay của một hiện tượng và từ đồ thị khai thác những dữ kiện để giải quyếtmột vấn đề cụ thể
1.2.2 Loại thứ hai: Vẽ đồ thị theo những dữ kiện đã cho của bài tập.
Loại bài tập này có tác dụng rèn luyện cho học sinh kỹ năng vẽ đồ thị,trong đó có thói quen chọn các trục toạ độ để biểu diễn các đại lượng biến thiên
và các đại lượng phụ thuộc, biết chọn tỉ lệ xích hợp lý để có thể vẽ đồ thị với độchính xác cần thiết
1.2.3 Loại thứ ba: Dùng đồ thị đã cho sẵn để giải bài tập.
Những bài tập Vật lý được giải bằng phương pháp đồ thị cũng được xếpvào loại những bài tập đồ thị Trong số đó có nhiều bài tập có thể giải bằng
Trang 5những phương pháp khác nhau như phương pháp số học, phương pháp đại số Ngoài ra trong loại bài tập đồ thị này còn có các bài tập không thể hoặc rất khógiải bằng phương pháp khác, nhưng nếu dùng biểu diễn đồ thị thì bài toán lại trởnên rất là đơn giản….
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Những năm trước đây, trong các kì thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh,thi vào trường chuyên thường có các bài toán liên quan đến đồ thị và được coi lànhững bài toán hay điển hình về tư duy vật lí Trong các đề thi học kỳ của Sởgiáo dục trong thời gian gần đây có các bài toán đồ thị về phần điện học, tuynhiên kết quả thi của các em như chúng ta đã biết là không cao vì các em khônglàm được dạng bài tập này
Thực ra trong chương trình sách giáo khoa vật lý THCS không đi sâu vào
vấn đề đồ thị Ở lớp 6 có đồ thị ở phần nhiệt học, lớp 9 có đồ thị biểu diễn sựphụ thuộc giữa cường độ dòng điện vào hiệu điện thế nhưng tất cả chỉ dừng lại ởmức độ thu thập thông tin từ kết quả thí nghiệm mà chưa yêu cầu ở mức độ vậndụng, phát triển tư duy cho học sinh, các em chưa biết cách vẽ đồ thị trong cáctrường hợp tổng quát tức là chưa biết cách vẽ, đọc đồ thị
Qua thực tế giảng dạy trên lớp, khi gặp những bài tập liên quan đến đồ thịhọc sinh thường lúng túng, không hiểu được yêu cầu cơ bản của bài toán nêndẫn đến không có phương pháp giải Theo tôi nguyên nhân của tình trạng nàyđược thể hiện ở một số điểm sau:
+ Học sinh chưa có kiến thức cơ bản về đồ thị hoặc có em có kiến thức cơbản về đồ thị trong toán học nhưng khi vận dụng sang vật lí thì không vận dụngđược hoặc vận dụng không đúng
+ Học sinh chưa nắm sâu sắc được mối quan hệ vật lí cơ bản mô tả trong
đồ thị nên việc đọc, hiểu đồ thị còn hạn chế
+ Lâu nay giáo viên vẫn hay ra đề cho học sinh về dạng toán liên quan đến
đồ thị nhưng dạng bài tập chưa nhiều mà không mang tính hệ thống
Trước đây (trước năm học 2016-2017) khi chưa vận dụng sáng kiến nàyvào dạy học tự chọn lớp 8 và bồi dưỡng học sinh khá giỏi lớp 8 và lớp 9, tôi có
ra đề khảo sát học lực của học sinh ở 3 dạng như sáng kiến này và kết quả thuđược như sau:
cho
Dùng đồ thị đã cho sẵn để giải bài tập
Biết đọc
đồ thị và khai thác
đồ thị
Không biết đọc
đồ thị và khai thác
đồ thị
Biết vẽ
đồ thị theo những dữ kiện đã cho
Không biết vẽ đồ thị theo những dữ kiện
Biết dùng
đồ thị đã cho sẵn
để giải bài tập
Không biết dùng đồ thị
đã cho sẵn
để giải bài tập
4
Trang 6Để góp phần giải quyết thực trạng trên tôi đã mạnh dạn sưu tầm tài liệucùng với kinh nghiệm giảng dạy trên lớp và bồi dưỡng học sinh khá giỏi, sựgiúp đỡ của đồng nghiệp rồi viết thành sáng kiến kinh nghiệm này
Sáng kiến này xin đề cập đến một số dạng bài tập chuyển động cơ họctrong vật lí lớp 8 liên quan đến đồ thị như: Vẽ đồ thị; giải bài tập bằng đồ thị; đọc, hiểu đồ thị để giải bài tập; trong từng phần có đưa ra một số kiến thức cơbản về đồ thị phục vụ cho việc giải bài tập Với yêu cầu đổi mới cách dạy, cáchhọc mấy năm gần đây thì tài liệu học tập ngày một đầy đủ về cả chất lượng lẫn
số lượng Bài tập về đồ thị cũng rất được nhiều tài liệu đề cập đến, tuy nhiên đểphân bố số lượng như thế nào cho hợp lý đối với người học thì lại chưa có Bêncạnh đó, là cách để học sinh chiếm lĩnh được tri thức bằng phương pháp đồ thịthì cũng còn nhiều điều phải xem xét…Đối với giáo viên, là những người trựctiếp giảng dạy các em học sinh thì sao? Trong quá trình thực hiện sang kiến, tôi
đã tiến hành điều tra về tình hình sử dụng bài tập đồ thị, cũng như là phươngpháp đồ thị của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học ở trường trung học
cơ sở Thiết Ống, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Kết quả điều tra đã cho thấyrằng việc sử dụng các bài tập đồ thị phục vụ cho dạy học là rất hạn chế Giáoviên ít tìm tòi, nghiên cứu và sử dụng chúng trong dạy học; còn học sinh thì íthứng thú và rất ngại làm các bài tập bằng phương pháp đồ thị
động cơ học vật lí lớp 8
3.1 Nội dung cơ bản chủ đề chuyển động cơ học:
Nội dung cơ bản của phần chuyển động cơ học là khảo sát và nghiên cứucác dạng chuyển động cơ học như chuyển động thẳng đều và chuyển động trònđều, chuyển động không đều… được rút ra từ những quan sát thực nghiệm và tưduy khái quát, mà chưa xét đến nguyên nhân làm biến đổi chuyển động, đâychính là cơ sở cho việc nghiên cứu cơ học Để tiếp thu và nắm rõ các dạngchuyển động cơ học, HS phải có được khái niệm về vật mốc, hệ quy chiếu vàkhái niệm chất điểm, từ đó xây dựng các khái niệm các đại lượng đặc trưng chochuyển động như: đường đi, độ dời, tốc độ, vận tốc… đối với các loại chuyểnđộng
Hiểu rõ các điều kiện và đặc điểm của chuyển động cơ học Xây dựng kháiniệm hệ quy chiếu, phương trình mô tả, biểu diễn chuyển động của vật, đồ thị
mô tả mối liên hệ giữa các đại lượng như toạ độ với thời gian, vận tốc với thờigian Tính tương đối của chuyển động công thức cộng vận tốc
Vận dụng các kiến thức về chuyển động để giải thích một số hiện tượngVật lý thường gặp, giải quyết những bài toán Vật lý đơn giản
Cấu trúc logic phần “chuyển động cơ học” lớp 8 theo sơ đồ sau:
Tính tương đốicủa chuyển động
Chuyểnđộng cơhọcVật
mốc
Trang 73.2.1 Dạng 1 Viết phương trình và vẽ đồ thị đường đi, đồ thị toạ độ (chuyển động).
Bài toán 1 Từ hai thành phố A và B trên cùng một đường thẳng cách nhau
240km, hai ô tô khởi hành cùng một lúc và chạy ngược chiều nhau Xe đi từ A
có vận tốc v1 = 40km/h, xe đi từ B có vận tốc v2 = 80km/h
a Lập công thức xác định vị trí của mỗi xe đối với thành phố A vào thờiđiểm t kể từ lúc hai xe khởi hành
b Tìm thời điểm và vị trí hai xe gặp nhau
c Tìm thời điểm và vị trí hai xe cách nhau 80 km
d Vẽ đồ thị đường đi của hai xe theo thời gian và đồ thị vị trí của hai xekhi chọn A làm mốc [1]
GV hướng dẫn:
- Thiết lập công thức tính quãng đường của hai ô tô;
- Xác định thời gian mà hai xe gặp nhau ;
- Xác định thời điểm và vị trí hai xe cách nhau 80 km
- Lập bảng biến thiên của đường đi s theo thời gian t kể từ vị trí khởihành
- Vẽ hệ trục toạ độ SOt có gốc toạ độ O trùng với A; gốc thời gian là lúchai xe xuất phát
- Căn cứ vào bảng biến thiên, biểu diễn các điểm thuộc đồ thị lên hệ trụctoạ độ (chỉ cần xác định hai điểm) Nối các điểm này lại ta được đồ thị
Lược giải: Chọn chiều dương là chiều chuyển động của xe đi từ A, gốc
toạ độ là A, gốc thời gian là lúc hai xe khởi hành
a Quãng đường mà hai xe đi được sau thời gian t kể từ lúc khởi hành:
Xe đi từ A: s1 = v1.t = 40t, xe đi từ B: s2 = v2.t = 80t
Vị trí của mỗi xe đối với mốc A:
Xe đi từ A: x1 = s1 = 40t (xo = 0, to = 0, v1> 0)
Xe đi từ B: x2 = AB - s2 = 240 - 80t (xo =AB = 240, to = 0, v2< 0)
Chú ý: Cần phân biệt rõ biểu thức quãng đường và biểu thức vị trí vật
chuyển động so với mốc chọn trước thường khác nhau (như x2 khác s2), cũng cótrường hợp trùng nhau (x1 = s1)
160
km,
6
Trang 8Hình 3.2.1b
Xe đi từ B cách A là x2 =240- 80 43 = 4003 km
d Dựa vào biểu thức xác định đường đi của các xe vào thời gian t : S1 = 40t,
S2 = 80t thì đồ thị đường đi của chúng (Hình 3.2.1a) là đường thẳng nên ta chỉ
cần xác định hai điểm thuộc đồ thị
Chú ý: Các đồ thị đường đi chỉ cho biết quãng đường mỗi xe thay đổi
theo thời gian, không cho biết vị trí cụ thể của mỗi xe tại thời điểm t nào đó
Tương tự như trên, ta có: x1= 40t , x2=240 - 80t Đồ thị như Hình 3.2.1b
x1(km) 0 40
x2(km) 240 160
Bài toán 2 Một động tử X có vận tốc khi di chuyển là 4m/s Trên đường di
chuyển từ A đến C, động tử này có dừng lại tại điểm E trong thời gian 3giây(E
cách A một đoạn 20m) Thời gian để X đi từ E đến C là 8 giây Khi X bắt đầu di
chuyển khỏi E thì gặp một động tử Y đi ngược chiều Động tử Y di chuyển tới A
thì quay ngay lại C và gặp động tử X tại C (Y khi di chuyển không thay đổi vận
Chọn t = 0 tại A lúc X bắt đầu di chuyển
Thời gian X đi từ A đến E là: t1 = 20:4 = 5s
và quãng đường EC là: 4 x 8 = 32m
Quãng đường AC dài 20 + 32 = 52m
Vì X và Y đến C cùng lúc nên thời gian Y đi
là tY = 8s
Hình chiếu của G lên trục Ox cho biết
nơi hai xe gặp nhau x1 = x2 = 80km Hình
chiếu của G lên trục thời gian Ot cho biết
thời điểm gặp nhau lúc 2h kể từ khi hai xe
khởi hành
s(km)
8040
t(h)1
x(m)
E E/
16
Hình 3.2.2
Trang 9400 L(m)
Đồ thị của X là đường gấp khúc AEE'C; Đồ thị của Y là đường gấp khúc E'MC
(Để vẽ chính xác điểm M, vẽ F đối xứng với E' qua Ot rồi nối FC cắt Ot tại M)
Bài toán 3 Một ca nô chạy liên tục từ bến sông A đến bến sông B rồi trở về A.
a Hỏi vận tốc trung bình vTB của ca nô suốt thời gian cả đi lẫn về sẽ tăng lên
hay giảm đi khi vận tốc v0 của dòng nước chảy tăng lên ? Coi vận tốc của ca nô
so với nước là không đổi
b Vẽ dạng đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc vận tốc trung bình vTB của ca nô vào
vận tốc của dòng nước v0.[3]
Lược giải: Đặt khoảng cách tục từ bến sông A đến bến sông B là S.
Thời gian ca nô đi xuôi là t1 = S/(v+v0)
Bàn luận: Khó khăn của học sinh khi giải dạng bài tập này là chưa nắm
và hiểu sâu về cách chọn các mốc (cũng như cách vẽ hệ trục toạ độ có gốc toạ
độ là hai mốc), kĩ năng vẽ đồ thị biểu diễn các đại lượng liên quan (khả năng vẽ
đồ thị hàm số), có trường hợp vẽ được đồ thị nhưng quên rằng biến chỉ xác định
trên một khoảng hay một đoạn của biến
Khi vẽ đồ thị ta sẽ thấy được nó là một công cụ cho ta hình ảnh trực quan
về các mối quan hệ giữa các đại lượng trong chuyển động Sau khi vẽ đồ thị ta
nên quan sát nó để thấy được mối quan hệ đó
3.2.2 Dạng 2 Đọc, hiểu đồ thị để giải toán theo yêu cầu.
Để đọc và hiểu đồ thị thì không những phải hiểu được mối quan hệ giữa
các đại lượng đó trên đồ thị để “hình dung hóa” các quỹ đạo và “cách thức”
chuyển động rồi tuân theo các nguyên tắc đồ thị trong toán học (hàm số phụ
thuộc vào biến số) mà còn cần đặc biệt chú ý đến các “điểm chốt” trên đồ thị
như: Điểm gãy khúc, giao nhau đoạn song song, đối xứng (trục và tâm)
Thời gian ca nô đi ngược là t2 = S/(v-v0)
Do đó tổng thời gian ca nô đi là: t = t1+ t2 = 2v.S/(v2-v02)
Suy ra vận tốc trung bình cả quá trình là vTB = 2.S/t
= (v2-v02)/v Kết luận là vTB giảm khi v0 tăng, nhưng vẫn phải
đảm bảo v 0 v.Viết lại biểu thức vTB = 2
0
2
1
v v
v => đồ thị có dạng là một phần của đường parabol dạng y = b - ax2
Hình 3.2.3
Bài toán 4 Hai ô tô chuyển động
cùng chiều Vận tốc của hai xe như nhau:
Khi đi trên đường là v1, còn khi đi trên cầu
là v2 (với v2 < v1) Đồ thị hình 3.2.4 cho
biết sự phụ thuộc của khoảng cách giữa hai
ô tô theo thời gian Từ đồ thị hãy tính v1, v2
và chiều dài của cây cầu [4]
Trang 10Nhận xét: Khi hai xe cùng đi trên đường bằng hoặc cùng đi trên cầu thì
khoảng cách giữa chúng là không đổi (vì vận tốc hai ô tô bằng nhau) Nhưng khi
xe 1 bắt đầu lên cầu thì vận tốc giảm xuống v2 trong khi đó vận tốc xe 2 vẫn là
v1 nên khoảng cách giữ chúng giảm dần đến khi cả hai xe cùng lên cầu thìkhoảng cách lại không đổi Rồi khi xuống dốc vận tốc của xe 1 lại tăng đến v1
nên khoảng cách giữa chúng lại tăng lên cho đến khi cả hai cùng đi trên đườngbằng thì khoảng cách đó lại không đổi
GV hướng dẫn HS:
- Từ đồ thị ta thấy: Giai đoạn đi trên AB của đồ thị là khi cả hai xe chưa vàocầu, khoảng cách là không đổi và bằng 400m Giai đoạn BC khoảng cách giảm,đến giai đoạn CD thì khoảng cách không đổi và bằng 200m, giai đoạn DEkhoảng cách lại tăng lên và cuối cùng giai đoạn EF khoảng cách lại không đổi
và bằng giai đoạn đầu Vậy AB và EF là đường bằng, BC là lên cầu, CD trêncầu, DE xuống cầu Vậy khoảng cách giữa hai xe trên đường bằng là x1 = 400m
và khi trên cầu là x2 = 200m
- Vì khoảng cách bắt đầu giảm tại B nên lúc đó xe thứ nhất bắt đầu lên cầu
Và khoảng cách bắt đầu không đổi tại C nên lúc này xe 2 bắt đầu lên cầu Vậybắt đầu giây thứ 10 xe 1 lên cầu, đến giây thứ 30 xe 2 lên cầu Vậy xe 1 xuấtphát trước xe 2 là t1 = 30 – 10 = 20 (s)
- Khi cả hai xe đi trên đường bằng: s1 = v1.t1 => 400 = 20v1 => v1 = 20 (m/s)
- Khi cả hai xe đi trên cầu: s2 = v2.t1 => 200 = 20v2 => v2 = 10 (m/s)
- Xe thứ nhất bắt đầu lên cầu ở B và xuống cầu ở D nên thời gian xe thứnhất chạy trên cầu là t2 = 50 (s)
- Chiều dài của cây cầu là: l = v2.t2 = 10.50 = 500 (m)
Bài toán 5 Cho biết đồ thị xác định vị trí
của hai vật chuyển động trên cùng một đường
thẳng được biểu diễn như hình 3.2.5
Lược giải:
a Xét chuyển động của hai vật
- Hai vật chuyển động thẳng đều, vì đồ thị xác định vị trí của chúng làđường thẳng
- Vật I xuất phát từ 0h từ vị trí 10km so với mốc A (về phía chuyển động)
- Vật II xuất phát sau vật I là 2h từ A
- Hai vật chuyển động cùng chiều
- Vận tốc vật I: Trong thời gian t1= 3h – 0h = 3h
Vật đi được s1 = 40– 10 = 30km nên có vận tốc v1 = s1/t1 = 30/3 = 10km/h
- Vận tốc vật II: Trong thời gian t2= 3h – 2h = 1h
t(h)
x(km)
10 OA
b Từ đồ thị hãy xác định thời điểm, quãng đường
đi và vị trí 2 vật đuổi kịp nhau
c Căn cứ vào đồ thị, lập công thức đường đi và
công thức xác định vị trí của mỗi vật đối với mốc
A Nghiệm lại kết quả câu b bằng tính toán [1]
Trang 11Vật đi được s2 = 40 – 0 = 40km nên có vận tốc v2 = s2/t2 = 40/1 = 40km/h.
b Tọa độ giao điểm G của hai đồ thị cho biết, vật 2 đuổi kịp vật I sau 3h
kể từ khi vật I xuất phát, vị trí gặp nhau cách A 40km
c Lập công thức đường đi (Chọn mốc thời gian là lúc vật I xuất phát)
- Vật I: s1= v1t = 10t, vật II: : s1= v2t = 40(t – 2)
- Công thức xác định vị trí của hai vật đối với mốc A
Vât I: t01= 0, x01= 10 => x1= 10 + v1(t - 0) = 10 + 10t
Vât II: t02= 2, x02= 0 => x2= 0 + v2(t - 2) = 40t - 80
Nghiệm lại kết quả câu b):
- Khi hai xe đuổi kịp nhau ta có: x1= x2 => 10 + 10t = 40t – 80 => t = 3h.Tại vị trí x1= x2= 10 + 10.3 = 40km, cách mốc A là 40km
Bai toán 6 Hình 3.2.6a và 3.2.6b là đồ thị của hai chuyển động thẳng.
Hãy mô tả mỗi chuyển động (vị trí, đường đi, vận tốc) [4]
Trong 2,5 giây nữa vật nghỉ ở O
Trong 2,5 giây cuối cùng chuyển động thẳng đều với vận tốc là 5 m/s đi về phía
A nhưng mới tới vị trí B cách O là 5.2,5 = 12,5m
Hình 3.2.6b
0 x(m)
-16
16
4 8 12 16 20 t(phút)
dọc theo trục Ox cho bởi đồ thị hình
3.2.7a
a Hãy mô tả quá trình chuyển động
b.Vẽ đồ thị phụ thuộc thời gian của
vận tốc chuyển động
x(m)
1050-5
15
1 2 3 4 5 6 8 t(ph)
Hình 3.2.7a