LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, khi đời sống ngày càng được nâng cao, đại bộ phận người dân Việt Nam đã tiếp cận được với tất cả các dịch vụ cơ bản và ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận với những dịch vụ cao hơn như dịch vụ tài chính – ngân hàng. Kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế mang đến sản phẩm tài chính đa dạng cùng với ứng dụng công nghệ tiên tiến đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng một cách thuận lợi hơn so với trước đây. Tiếp cận các DVNH giúp cho người dân, hộ gia đình, doanh nghiệp có một kênh tiết kiệm an toàn lãi suất cao, một kênh huy động vốn dồi dào với chi phí hợp lý và một kênh thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng, an toàn và bảo đảm. Đối với người dân có thu nhập cao, khu vực thành thị, việc tiếp cận với các DVNH trở nên quen thuộc, dễ dàng bởi mạng lưới giao dịch của các ngân hàng đối với khu vực này rộng khắp và có đủ kiến thức hiểu biết về DVNH. Tuy nhiên, đối với người dân nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa thì việc tiếp cận với các DVNH còn là khái niệm khá xa lạ. Việc không tiếp cận được với các DVNH sẽ khiến cho những người nông dân, hay người nghèo sẽ khó bảo vệ được những khoản thu nhập ít ỏi của mình để chống lại những rủi ro trong cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, mất mùa, thiên tai. Người nghèo dễ rơi vào vòng luẩn quẩn, phải đi vay ở khu vực không chính thức với lãi suất cao, khiến cho gánh nặng trả nợ càng cao, và nghèo sẽ càng nghèo hơn. Không có tài khoản ngân hàng cũng có thể khiến mọi người bị loại trừ khỏi các dịch vụ khác như y tế, bảo hiểm, là những dịch vụ giúp mọi người sống an toàn và tự bảo vệ mình tốt hơn. Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội gần 500 km về phía Tây. Với địa hình hiểm trở, phức tạp, nhiều thành phần dân tộc sinh sống (21 dân tộc), đa số người dân sống ở vùng nông thôn. Theo kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2014 trên 12 tỉnh do viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) phối hợp với Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) phối hợp tổ chức cho thấy về thu nhập bình quân khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên đạt 50 triệu đồng/1 năm/hộ. Mức thu nhập bình quân của khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất trong số các 12 tỉnh điều tra. Theo báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội đảm bảo an ninh quốc phòng năm 2014 của Tỉnh Điện Biên, tỷ lệ số hộ nghèo 31,49% trong đó khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn với tỷ lệ là 46,13%. Sự nghèo khó và chậm phát triển kinh tế của tỉnh làm hạn chế khả năng tiếp cận DVNH. Thực tế, tỷ lệ hộ nghèo ở tỉnh Điện Biên ở mức cao, dẫn tới những khó khăn trong việc tiếp cận DVNH của họ: các ngân hàng thường ngại cho vay đối tượng người nghèo vì sợ rủi ro; mặt khác, người nghèo khi tiếp cận với các DVNH thường cân nhắc nhiều về chi phí dịch vụ dẫn đến sự ngại ngần không sử dụng dịch vụ này. Ngoài ra, với việc không có thu nhập cao và thường xuyên, việc người nghèo tiếp cận với các dịch vụ mới của ngân hàng như ATM, thẻ tín dụng… là rất hạn chế và hầu như không có. Chính vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ tiếp cận DVNH trên quan điểm của ngân hàng - Phân tích thực trạng khả năng tiếp cận DVNH khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên dựa trên hệ thống chỉ tiêu đánh giá. - Đề ra các giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận DVNH tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức độ sử dụng DVNH (nhìn từ phía ngân hàng) và điều kiện cơ sở vật chất ngân hàng cung cấp DVNH. 3.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tiếp cận DVNH trên quan điểm từ phía ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên với các DVNH do các NHTM cung cấp gồm Agribank, BIDV và Vietinbank - Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu thu thập trong khoảng thời gian từ 2011-2014. - Phạm vi nội dung: Khả năng tiếp cận dịch vụ tiền gửi và cho vay do các NHTM cung cấp với các đối tượng thuộc khu vực nông thôn của tỉnh Điện Biên cụ thể: cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau 4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu Tác giả thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn: - Các báo cáo tổng kết của các NHTM trên địa bàn tỉnh Điện Biên các năm 2011 – 2014 - Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Điện Biên - Báo cáo điều tra dân số của tổng cục thống kê năm 2014 4.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu Để thực hiện phân tích dữ liệu, tác giả sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp phân tích tài liệu: Thu thập các thông tin liên quan đến khả năng tiếp cận DVNH, dựa trên sự phân tích nội dung những tài liệu đã sẵn có. - Phương pháp thống kê mô tả: Căn cứ vào dữ liệu thu thập để mô tả các vấn đề nghiên cứu - Phương pháp so sánh: So sánh với các chỉ tiêu trung bình của cả nước để đưa ra được nhận định một cách khách quan. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1: Tổng quan lý thuyết về khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng Chương 2: Thực trạng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên Chương 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên
Trang 1TRẦN THỊ MINH TRANG
MỞ RỘNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ QUỲNH HOA
Hà Nội - 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi với sự cố vấn của người hướng dẫn khoa học: Tất
cả các số liệu tham khảo trung thực và nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Trang 3Qua thời gian nghiên cứu lý luận và thực tế tác giả đã hoàn thành luận
văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý với đề tài “Mở rộng khả năng tiếp cận
dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên ” Tác giả xin
chân thành cảm ơn .và các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân đã quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN i
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 5
1.1 Dịch vụ ngân hàng 5
1.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng 5
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng 6
1.1.3 Các dịch vụ ngân hàng chủ yếu 8
1.2 Tiếp cận dịch vụ ngân hàng 11
1.2.1 Tiếp cận dịch vụ ngân hàng và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng .11
1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng 12
1.2.3 Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng 17
1.3 Kinh nghiệm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 21
1.3.1 Kinh nghiệm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của một số nước trên thế giới 21
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 26
1.4 Tổng quan các nghiên cứu về tiếp cận dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN 32
2.1 Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Điện Biên 32
2.1.1 Đặc điểm địa lý và kinh tế xã hội tỉnh Điện Biên 32
2.1.2 Ảnh hưởng của đặc điểm địa lý và kinh tế xã hội đến việc tiếp cận dịch vụ ngân hàng tỉnh Điện Biên 35
2.2 Thực trạng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu
Trang 52.2.2 Tiếp cận dịch vụ ngân hàng của cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên 42
2.3 Đánh giá tình hình tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên 56
2.3.1 Kết quả đạt được 56
2.3.2 Những hạn chế 58
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 59
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN 69
3.1 Mục tiêu, nguyên tắc nhằm mở rộng khả năng tiếp cận DVNH ở Việt Nam đến năm 2020 69
3.1.1 Mục tiêu 69
3.1.2 Nguyên tắc 70
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên 70
3.2.1 Nhóm giải pháp tăng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng từ phía các ngân hàng thương mại 70
3.2.2 Nhóm giải pháp tăng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng từ phía khách hàng 76
3.2.3 Các giải pháp từ phía Ngân hàng Nhà nước 80
3.3 Các giải pháp từ phía Chính phủ, chính quyền địa phương và các bộ ngành liên quan 82
3.3.1 Hoàn thiện khung pháp lý về tổ chức 82
3.3.2 Chính phủ cần tạo ra một môi trường kinh tế - chính trị - xã hội nông thôn ổn định 82
3.3.3 Nâng cao vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị -xã hội, các hiệp hội 83
3.3.4 Những hỗ trợ khác của Chính phủ và các bộ ngành 84
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TCTCNT Tổ chức tài chính nông thôn
Trang 7Biên đến 31/12/2014 42Bảng 2.5: Tổng dư nợ của các NHTM khu vực nông thôn của tỉnh Điện Biên
đến 31/12/2014 45Bảng 2.6: Dư nợ cho vay theo các chương trình tín dụng khu vực nông thôn
tỉnh Điện Biên đến 31/12/2014 46Bảng 2.7: Số liệu khách hàng cá nhân khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên tiếp
cận dịch vụ ngân hàng 46Bảng 2.8: So sánh số TKTG và TKTV trên 1.000 dân số trưởng thành khu vực
nông thôn tỉnh Điện Biên và cả nước năm 2014 48Bảng 2.9: Số liệu DNNVV và hộ gia đình tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng 52Bảng 2.10 Số liệu DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng 54Bảng 2.11: Số liệu DNNVV và hộ gia đình tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng
thuộc địa bàn tỉnh Điện Biên 43
Trang 8Biểu đồ 2.5: Số TKTG và TKTV của các NHTM trên 1.000 dân số trưởng thành 48Biểu đồ 2.6: Khách hàng cá nhân tiếp cận DVNH theo từng NHTM khu vực
nông thôn tỉnh Điện Biên 49Biểu đồ 2.7: Khách hàng cá nhân mở tài khoản thanh toán theo từng NHTM khu
vực nông thôn tỉnh Điện Biên 50Biểu đồ 2.8 Số lượng khách hàng tiếp cận mở TK tiết kiệm tại các NHTM khu
vực nông thôn tỉnh Điện Biên 51Biểu đồ 2.9: Số lượng khách hàng tiếp cận vay vốn tín dụng tại các NHTM khu
vực nông thôn tỉnh Điện Biên 51Biểu đồ 2.10: Số liệu hộ gia đình tiếp cận dịch vụ tín dụng tại NHTM theo loại
hình kinh doanh 53
Trang 9TRẦN THỊ MINH TRANG
MỞ RỘNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2015
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi đời sống ngày càng được nâng cao, đại bộ phận người dân ViệtNam đã tiếp cận được với tất cả các dịch vụ cơ bản và ngày càng có nhiều cơ hộitiếp cận với những dịch vụ cao hơn như dịch vụ tài chính – ngân hàng Kinh tế thịtrường và hội nhập quốc tế mang đến sản phẩm tài chính đa dạng cùng với ứngdụng công nghệ tiên tiến đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụtài chính ngân hàng một cách thuận lợi hơn so với trước đây Tiếp cận các DVNHgiúp cho người dân, hộ gia đình, doanh nghiệp có một kênh tiết kiệm an toàn lãisuất cao, một kênh huy động vốn dồi dào với chi phí hợp lý và một kênh thanh toánkhông dùng tiền mặt nhanh chóng, an toàn và bảo đảm Đối với người dân có thunhập cao, khu vực thành thị, việc tiếp cận với các DVNH trở nên quen thuộc, dễdàng bởi mạng lưới giao dịch của các ngân hàng đối với khu vực này rộng khắp và
có đủ kiến thức hiểu biết về dịch vụ ngân hàng Tuy nhiên, đối với người dânnghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa thì việc tiếp cận với các DVNH còn là kháiniệm khá xa lạ Việc không tiếp cận được với các DVNH sẽ khiến cho những ngườinông dân, hay người nghèo sẽ khó bảo vệ được những khoản thu nhập ít ỏi củamình để chống lại những rủi ro trong cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, mất mùa,thiên tai Người nghèo dễ rơi vào vòng luẩn quẩn, phải đi vay ở khu vực khôngchính thức với lãi suất cao, khiến cho gánh nặng trả nợ càng cao, và nghèo sẽ càngnghèo hơn Không có tài khoản ngân hàng cũng có thể khiến mọi người bị loại trừkhỏi các dịch vụ khác như y tế, bảo hiểm, là những dịch vụ giúp mọi người sống antoàn và tự bảo vệ mình tốt hơn
Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, cách thủ đô HàNội gần 500 km về phía Tây Với địa hình hiểm trở, phức tạp, nhiều thành phần dântộc sinh sống (21 dân tộc), đa số người dân sống ở vùng nông thôn Theo kết quảđiều tra hộ gia đình nông thôn năm 2014 trên 12 tỉnh do viện Nghiên cứu quản lýkinh tế Trung ương (CIEM), Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) phối hợpvới Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD)
Trang 11phối hợp tổ chức cho thấy về thu nhập bình quân khu vực nông thôn tỉnh Điện Biênđạt 50 triệu đồng/1 năm/hộ Mức thu nhập bình quân của khu vực nông thôn tỉnhĐiện Biên thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất trong số các 12 tỉnh điều tra Theo báocáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội đảm bảo an ninh quốcphòng năm 2014 của Tỉnh Điện Biên, tỷ lệ số hộ nghèo 31,49% trong đó khu vựcnông thôn tỉnh Điện Biên có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn với tỷ lệ là 46,13% Sự nghèokhó và chậm phát triển kinh tế của tỉnh làm hạn chế khả năng tiếp cận DVNH Thực
tế, tỷ lệ hộ nghèo ở tỉnh Điện Biên ở mức cao, dẫn tới những khó khăn trong việctiếp cận DVNH của họ: các ngân hàng thường ngại cho vay đối tượng người nghèo
vì sợ rủi ro; mặt khác, người nghèo khi tiếp cận với các DVNH thường cân nhắcnhiều về chi phí dịch vụ dẫn đến sự ngại ngần không sử dụng dịch vụ này Ngoài ra,với việc không có thu nhập cao và thường xuyên, việc người nghèo tiếp cận với cácdịch vụ mới của ngân hàng như ATM, thẻ tín dụng… là rất hạn chế và hầu như
không có Chính vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ tiếp cận DVNH trên quanđiểm của ngân hàng
- Phân tích thực trạng khả năng tiếp cận DVNH khu vực nông thôn tỉnh ĐiệnBiên dựa trên hệ thống chỉ tiêu đánh giá
- Đề ra các giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận DVNH tại khu vựcnông thôn tỉnh Điện Biên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức độ sử dụng DVNH (nhìn từ phíangân hàng) và điều kiện cơ sở vật chất ngân hàng cung cấp DVNH
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tiếp cận DVNH trên
quan điểm từ phía ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên với các DVNH
do các NHTM cung cấp gồm Agribank, BIDV và Vietinbank
- Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu thu thập trong khoảng thời gian từ2011-2014
- Phạm vi nội dung: Khả năng tiếp cận dịch vụ tiền gửi và cho vay do cácNHTM cung cấp với các đối tượng thuộc khu vực nông thôn của tỉnh Điện Biên cụthể: cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Tác giả thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn:
- Các báo cáo tổng kết của các NHTM trên địa bàn tỉnh Điện Biên các năm
2011 – 2014
- Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Điện Biên
- Báo cáo điều tra dân số của tổng cục thống kê năm 2014
4.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Để thực hiện phân tích dữ liệu, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Thu thập các thông tin liên quan đến khảnăng tiếp cận DVNH, dựa trên sự phân tích nội dung những tài liệu đã sẵn có
- Phương pháp thống kê mô tả: Căn cứ vào dữ liệu thu thập để mô tả các vấn
đề nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: So sánh với các chỉ tiêu trung bình của cả nước đểđưa ra được nhận định một cách khách quan
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Trang 13Chương 1: Tổng quan lý thuyết về khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng Chương 2: Thực trạng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnhĐiện Biên
Chương 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngânhàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
Trong chương này, tác giả nêu lên tổng quan lý thuyết về DVNH và tiếp cận
DVNH Quan điểm về dịch vụ ngân hàng của tác giả trong luận văn “dịch vụ ngân
hàng là tất cả những hoạt động mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế” Trong
phạm vi luận văn, tác giả tập trung vào dịch vụ huy động tiền gửi và dịch vụ chovay Trên cơ sở đó, quan điểm của tác giả về tiếp cận DVNH đồng nghĩa với việc sử
dụng các DVNH Do đó, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng được hiểu
là sự mở rộng về quy mô cũng như mức độ sử dụng DVNH.
Các chỉ tiêu đo lường mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Thứ nhất, về mức độ phủ kín của dịch vụ ngân hàng theo diện tích và dân số:
Được thể hiện ở mạng lưới các chi nhánh, điểm giao dịch của ngân hàng và sốlượng cây ATM được tính trên 100.000 dân số trưởng thành và trên 1000 km2
Thứ hai, nhóm chỉ tiêu về tiền gửi: Số dư tiền gửi của cá nhân, hộ gia đình;
Số tài khoản tiền gửi của cá nhân, hộ gia đình qua các năm; Số tài khoản tiền gửitrên 1.000 dân số trưởng thành
Thứ ba, nhóm chỉ tiêu về tín dụng: Dư nợ tín dụng của cá nhân, hộ gia đình,
các DNNVV; Số tài khoản tiền vay của cá nhân, hộ gia đình các DNNVV qua cácnăm; Số tài khoản tiền vay trên 1.000 dân số trưởng thành
Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Một là, các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận DVNH trên góc độ ngân hàng: chính sách; mạng lưới thông tin; thủ tục và các quy định của ngân hàng; số
lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp; trình độ, năng lực, kỹ năng của nhânviên ngân hàng
Trang 14Hai là, các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận DVNH trên góc độ khách hàng
- Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận DVNH trên góc độ kháchhàng cá nhân và hộ gia đình: trình độ học vấn; độ tuổi; khoảng cách địa lý; vùngmiền; thu nhập/chi tiêu của hộ gia đình; mối quan hệ với ngân hàng
- Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận DVNH trên góc độ kháchhàng là DNNVV: quy mô; số năm hoạt động; đặc điểm; loại hình kinh doanh
Bài học kinh nghiệm
Luận văn đã nghiên cứu một số bài học kinh nghiệm từ Hệ thống ngân hànglàng xã - BRI-UD (Indonesia); Kinh nghiệm của ngân hàng Grameen, Bangladesh ;Kinh nghiệm liên kết các định chế tài chính và nhóm tương trợ ở Ấn Độ; Ngân hàngnông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp Thái Lan; Phát triển thị trường tín dụngnông nghiệp và nông thôn từ kinh nghiệm phát triển tín dụng tam nông ở TrungQuốc từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN
Trong chương này, tác giả đã có những nét khái quát nhất về tình hình kinh
tế xã hội của tỉnh Điện Biên từ đó đánh giá ảnh hưởng của đặc điểm địa lý và kinh
tế xã hội đến việc tiếp cận DVNH tỉnh Điện Biên
Thực trạng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên
- Mức độ phủ kín dịch vụ ngân hàng khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên: Mức
độ phủ kín DVNH khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên ở mức rất thấp, thấp hơn rấtnhiều so với mặt bằng chung của tỉnh Điện Biên cũng như mặt bằng chung cả nước
Cụ thể: Số điểm giao dịch NHTM trên 1000 km2 là 1,58 điểm giao dịch (tỉnh ĐiệnBiên: 2,82; TB cả nước: 28,68); Số điểm giao dịch NHTM trên 100.000 dân sốtrưởng thành: 5,16 điểm GD (tỉnh Điện Biên: 8,31; TB cả nước: 13,82); Số câyATM trên 1000 km2 là 1,05 (tỉnh Điện Biên: 2,3; TB cả nước: 47,31); Số cây ATMtrên 100.000 dân số trưởng thành là 3,44 (tỉnh Điện Biên: 4,17; TB cả nước: 22,84)
- Tiếp cận dịch vụ ngân hàng của cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên:
Trang 15+ Số dư tiền gửi và dư nợ khu vực nông thôn tính đến thời điểm ngày31/12/2014;
+ Số TKTG thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và tiền vay của cá nhân gia tăngqua các năm Cụ thể: Số TKTG thanh toán tăng từ 32,963 tài khoản (năm 2011) lên54,227 (năm 2014); Số TKTG tiết kiệm tăng từ 12,854 tài khoản (năm 2011) lên14,701 (năm 2014); Số TKTV tăng từ 7,630 tài khoản (năm 2011) lên 8,669 (năm2014);
+ Số lượng TKTG tính trên 1.000 dân số trưởng thành tăng từ 158 tài khoản(2011) tăng lên 237 tài khoản (2014) (So với tỉnh Điện Biên năm 2014 là 354 tàikhoản; cả nước năm 2014 là 723,5 tài khoản); Số lượng TKTV tính trên 1.000 dân
số trưởng thành tăng từ 26 tài khoản (2011) tăng lên 30 tài khoản (2014) (So vớitỉnh Điện Biên năm 2014 là 44 tài khoản; cả nước năm 2014 là 418 tài khoản).Ngoài ra, số liệu còn được báo cáo theo từng NHTM;
+ Số hộ gia đình và các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng qua cácnăm tăng lên qua các năm Tính đến cuối năm 2014, tổng số hộ gia đình vàDNNVV tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng là 96.268 trong đó kinh tế hộ giađình là 95.924 hộ và DNNVV là 344 doanh nghiệp;
Kết quả đạt được: Mức độ phủ kín dịch vụ ngân hàng khu vực nông thôn
của tỉnh Điện Biên ngày càng cao; Có thêm NHTM mở chi nhánh trên địa bàn tỉnhĐiện Biên; số lượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các các DNNVV tiếp cậnDVNH không ngừng gia tăng qua các năm
Những hạn chế: Mức độ phủ kín DVNH khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên
quá thấp so với các khu vực khác và so với trung bình cả nước; Tốc độ gia tăngchậm và có khoảng cách xa với cả nước
Nguyên nhân của những hạn chế: Nguyên nhân từ phí ngân hàng (cơ chế
chính sách; cơ sở hạ tầng thông tin tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên; số lượngsản phẩm dịch vụ ngân hàng; kiến thức, kỹ năng, mức độ am hiểu văn hóa địaphương của nhân viên ngân hàng); Nguyên nhân từ phía cá nhân hộ gia đình (trình
độ học vấn; khoảng cách địa lý; thu nhập hộ gia đình; ngành nghề hộ gia đình khuvực nông thôn tỉnh Điện Biên); Nguyên nhân từ phía các DNNVV (quy mô, đặcđiểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa)
Trang 16CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN
Căn cứ vào mục tiêu, nguyên tắc nhằm mở rộng khả năng tiếp cận DVNH ở ViệtNam đến năm 2020, đánh giá thực trạng, tác giả đưa ra một số giải pháp mở rộng khảnăng tiếp cận DVNH tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên như sau:
Nhóm giải pháp tăng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng từ phía các ngân hàng thương mại
Thứ nhất, mở rộng mạng lưới cung ứng DVNH cho đối tượng dân cư tạivùng nông thôn
Thứ hai, nâng cao kiến thức chuyên môn, kiến thức về văn hóa địa phương
và kỹ năng liên quan đến công việc của nhân viên ngân hàng
Thứ ba, ngân hàng cần đa dạng các phương thức huy động tiền gửi và cho vay,phát triển sản phẩm DVNH mới và tăng cường tiện ích sản phẩm dịch vụ đã có của ngânhàng phù hợp với đối tượng khách hàng thuộc khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên
Nhóm giải pháp tăng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng từ phía khách hàng
Nhóm giải pháp tăng khả năng tiếp cận DVNH từ phía khách hàng cá nhân
và hộ gia đình (xây dựng chương trình giáo dục tài chính nhằm nâng cao năng lựcsử dụng các DVNH cho người dân.; tích cực tham gia các buổi giao lưu với ngân
hàng); Nhóm giải pháp tăng khả năng tiếp cận DVNH từ phía DNNVV (tăng cường
mối liên kết với ngân hàng nhằm tìm kiếm các sản phẩm tín dụng phù hợp; tạo sựtin tưởng của các NHTM đối với DNNVV dựa trên mối quan hệ thân thiết; nângcao năng lực quản lý doanh nghiệp cho đội ngũ quản lý của các DNNVV; thành lậpriêng một bộ phận thực hiện lên kế hoạch sử dụng nguồn vốn, huy động nguồn vốncho doanh nghiệp)
Các giải pháp từ phía Ngân hàng Nhà nước
Các giải pháp từ phía Chính phủ, chính quyền địa phương và các bộ ngành liên quan
Trang 17TRẦN THỊ MINH TRANG
MỞ RỘNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ QUỲNH HOA
Hà Nội - 2015
Trang 18LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi đời sống ngày càng được nâng cao, đại bộ phận người dân ViệtNam đã tiếp cận được với tất cả các dịch vụ cơ bản và ngày càng có nhiều cơ hộitiếp cận với những dịch vụ cao hơn như dịch vụ tài chính – ngân hàng Kinh tế thịtrường và hội nhập quốc tế mang đến sản phẩm tài chính đa dạng cùng với ứngdụng công nghệ tiên tiến đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụtài chính ngân hàng một cách thuận lợi hơn so với trước đây Tiếp cận các DVNHgiúp cho người dân, hộ gia đình, doanh nghiệp có một kênh tiết kiệm an toàn lãisuất cao, một kênh huy động vốn dồi dào với chi phí hợp lý và một kênh thanh toánkhông dùng tiền mặt nhanh chóng, an toàn và bảo đảm Đối với người dân có thunhập cao, khu vực thành thị, việc tiếp cận với các DVNH trở nên quen thuộc, dễdàng bởi mạng lưới giao dịch của các ngân hàng đối với khu vực này rộng khắp và
có đủ kiến thức hiểu biết về DVNH Tuy nhiên, đối với người dân nghèo, người dânở vùng sâu, vùng xa thì việc tiếp cận với các DVNH còn là khái niệm khá xa lạ.Việc không tiếp cận được với các DVNH sẽ khiến cho những người nông dân, hayngười nghèo sẽ khó bảo vệ được những khoản thu nhập ít ỏi của mình để chống lạinhững rủi ro trong cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, mất mùa, thiên tai Ngườinghèo dễ rơi vào vòng luẩn quẩn, phải đi vay ở khu vực không chính thức với lãisuất cao, khiến cho gánh nặng trả nợ càng cao, và nghèo sẽ càng nghèo hơn Không
có tài khoản ngân hàng cũng có thể khiến mọi người bị loại trừ khỏi các dịch vụkhác như y tế, bảo hiểm, là những dịch vụ giúp mọi người sống an toàn và tự bảo vệmình tốt hơn
Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, cách thủ đô HàNội gần 500 km về phía Tây Với địa hình hiểm trở, phức tạp, nhiều thành phần dântộc sinh sống (21 dân tộc), đa số người dân sống ở vùng nông thôn Theo kết quảđiều tra hộ gia đình nông thôn năm 2014 trên 12 tỉnh do viện Nghiên cứu quản lýkinh tế Trung ương (CIEM), Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) phối hợpvới Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD)
Trang 19phối hợp tổ chức cho thấy về thu nhập bình quân khu vực nông thôn tỉnh Điện Biênđạt 50 triệu đồng/1 năm/hộ Mức thu nhập bình quân của khu vực nông thôn tỉnhĐiện Biên thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất trong số các 12 tỉnh điều tra Theo báocáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội đảm bảo an ninh quốcphòng năm 2014 của Tỉnh Điện Biên, tỷ lệ số hộ nghèo 31,49% trong đó khu vựcnông thôn tỉnh Điện Biên có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn với tỷ lệ là 46,13% Sự nghèokhó và chậm phát triển kinh tế của tỉnh làm hạn chế khả năng tiếp cận DVNH Thực
tế, tỷ lệ hộ nghèo ở tỉnh Điện Biên ở mức cao, dẫn tới những khó khăn trong việctiếp cận DVNH của họ: các ngân hàng thường ngại cho vay đối tượng người nghèo
vì sợ rủi ro; mặt khác, người nghèo khi tiếp cận với các DVNH thường cân nhắcnhiều về chi phí dịch vụ dẫn đến sự ngại ngần không sử dụng dịch vụ này Ngoài ra,với việc không có thu nhập cao và thường xuyên, việc người nghèo tiếp cận với cácdịch vụ mới của ngân hàng như ATM, thẻ tín dụng… là rất hạn chế và hầu như
không có Chính vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ tiếp cận DVNH trên quanđiểm của ngân hàng
- Phân tích thực trạng khả năng tiếp cận DVNH khu vực nông thôn tỉnh ĐiệnBiên dựa trên hệ thống chỉ tiêu đánh giá
- Đề ra các giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận DVNH tại khu vựcnông thôn tỉnh Điện Biên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức độ sử dụng DVNH (nhìn từ phíangân hàng) và điều kiện cơ sở vật chất ngân hàng cung cấp DVNH
Trang 203.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tiếp cận DVNH trên
quan điểm từ phía ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên với các DVNH
do các NHTM cung cấp gồm Agribank, BIDV và Vietinbank
- Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu thu thập trong khoảng thời gian từ2011-2014
- Phạm vi nội dung: Khả năng tiếp cận dịch vụ tiền gửi và cho vay do cácNHTM cung cấp với các đối tượng thuộc khu vực nông thôn của tỉnh Điện Biên cụthể: cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Tác giả thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn:
- Các báo cáo tổng kết của các NHTM trên địa bàn tỉnh Điện Biên các năm
2011 – 2014
- Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Điện Biên
- Báo cáo điều tra dân số của tổng cục thống kê năm 2014
4.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Để thực hiện phân tích dữ liệu, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Thu thập các thông tin liên quan đến khảnăng tiếp cận DVNH, dựa trên sự phân tích nội dung những tài liệu đã sẵn có
- Phương pháp thống kê mô tả: Căn cứ vào dữ liệu thu thập để mô tả các vấn
đề nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: So sánh với các chỉ tiêu trung bình của cả nước đểđưa ra được nhận định một cách khách quan
Trang 215 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng Chương 2: Thực trạng tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn tỉnhĐiện Biên
Chương 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngânhàng tại khu vực nông thôn tỉnh Điện Biên
Trang 22CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
1.1 Dịch vụ ngân hàng
1.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Hiện tại, DVNH là một khái niệm chưa thống nhất Tính đa dạng, phức tạpcủa các loại hình dịch vụ làm cho việc thống nhất khái niệm DVNH trở nên khókhăn Theo cuốn sách “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại” của tác giả Davdcox chúng
ta thấy quan niệm của Anh: hầu hết các nghiệp vụ của NHTM đều được gọi là dịch
vụ ngân hàng [tr.12] Trong Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chứcthương mại thế giới (WTO) cũng không đưa ra khái niệm chính xác mà chỉ đưa racách phân loại các dịch vụ tài chính và DVNH trong đó DVNH là một bộ phận cấuthành dịch vụ tài chính Dịch vụ tài chính bao gồm toàn bộ dịch vụ bảo hiểm vàdịch vụ liên quan đến bảo hiểm, toàn bộ DVNH và dịch vụ tài chính khác (dịch vụchứng khoán…) DVNH bao gồm: nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính,chuyển tiền và thanh toán, séc, bảo lãnh và cam kết, mua bán các công cụ thị trườngtài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanhtoán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn và trunggian hỗ trợ về tài chính
Luật các TCTD năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12) của Việt Nam cũng chưađưa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải thích thuật ngữ DVNH mà chỉ đề cập đếnhoạt động của các NHTM trong Mục 2 gồm Điều 98, hoạt động của NHTM (nhậntiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửikhác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốntrong nước và nước ngoài; cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: mở tài khoảnthanh toán cho khách hàng, cung ứng các phương tiện thanh toán, cung ứng cácdịch vụ thanh toán) và các điều từ 99 đến 107 quy định những hoạt động: vay vốncủa NHNN, vay vốn của TCTD, tổ chức tài chính, mở tài khoản, tổ chức và tham
Trang 23gia các hệ thống thanh toán, góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinhdoanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh, nghiệp vụ ủy thác và đại
lý, các hoạt động kinh doanh khác của NHTM Như vậy, việc giải thích thuật ngữhoạt động ngân hàng như trên cũng chưa rõ về DVNH
Một quan điểm khác được ban hành theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTgngày 23/01/2007 của Thủ tướng chính phủ và hiện đang được Tổng cục thống kê sửdụng: ngân hàng là một trong những ngành được phân tổ trong lĩnh vực dịch vụ.Như vậy, ngân hàng được xem là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, thực hiện kinhdoanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng khách hàng Tất cả các hoạt
động mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế đều được xem là hoạt động dịch vụ.
Theo quan điểm về marketing ngân hàng, DVNH là tập hợp các đặc điểm tính năng,công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất địnhcủa khách hàng trên thị trường tài chính [Nguyễn Thị Minh Hiền (2007), Marketingngân hàng, NXB thống kê - tr.5]
Theo những cách tiếp cận trên, DVNH được hiểu theo hai góc độ: rộng vàhẹp Theo nghĩa rộng, DVNH là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán,ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với người dân và doanh nghiệp Quan niệmnày cũng phù hợp với phân ngành theo chuẩn quốc tế của Liên hợp quốc và phùhợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ tài chính trong GATS của WTO.Theo nghĩa hẹp, DVNH chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyềnthống (huy động vốn và cho vay)
Tác giả tiếp cận DVNH trong luận văn theo nghĩa rộng Điều đó có nghĩa là
“dịch vụ ngân hàng là tất cả những hoạt động mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh
tế” Theo đó, DVNH bao gồm: dịch vụ huy động tiền gửi, dịch vụ cho vay và một
số loại hình dịch vụ khác Trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung vào dịch vụ huyđộng tiền gửi và dịch vụ cho vay
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng
DVNH cũng là một loại hình dịch vụ trong nền kinh tế, do đó DVNH mangđầy đủ đặc điểm của loại hình dịch vụ, ngoài ra còn có một số đặc điểm riêng biệt
Cụ thể như sau:
Trang 24Thứ nhất, tính vô hình
Về bản chất, dịch vụ không có tính hữu hình về vật chất hay nói cách khác,dịch vụ là một hành động, sự thi hành, một nỗ lực trong khi hàng hóa là một vật thể,thiết bị, đồ đạc Do vậy người ta không thể nhìn thấy, sờ thấy hay nếm thử đối vớidịch vụ Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá dịch vụ Tuy nhiên, tính vô hìnhcủa dịch vụ lại có nhiều cấp độ khác nhau Không phải tất cả các dịch vụ đều hoàntoàn có tính vô hình vì cho dù dịch vụ là sự thi hành, thực hiện nhưng hầu hết cácdịch vụ đều được hỗ trợ bởi những vật thể hữu hình và những vật thể hữu hình đóđược gọi là dấu hiệu vật chất của dịch vụ Nhiều DVNH chứa đựng một số yếu tốhữu hình cho phép người ta dựa vào đó có thể phán đoán được dịch vụ như: Đểđánh giá dịch vụ thẻ của một ngân hàng người ta có thể dựa vào số lượng máy ATMcủa ngân hàng đó để đưa ra nhận định về dịch vụ thẻ của ngân hàng này Đươngnhiên, nếu chỉ dựa vào yếu tố duy nhất là số lượng máy ATM thôi chưa đủ nhưng đócũng là một trong những cơ sở để khách hàng nhận định về chất lượng dịch vụ thẻcủa ngân hàng
Thứ hai, tính không tách rời
Khác với hàng hóa có đặc điểm sản xuất tách rời tiêu dùng, tính không táchrời hình thành từ việc dịch vụ đang được xử lý hoặc trải nghiệm Do đó DVNH trởthành một hành động xảy ra cùng lúc với sự hợp tác giữa người tiêu dùng và nhàcung cấp – ngân hàng và định chế tài chính Các DVNH được bán rồi mới được sảnxuất và tiêu dùng Ví dụ như dịch vụ thẻ tại một ngân hàng: khách hàng đăng ký sửdụng dịch vụ thẻ tức là ngân hàng thực hiện việc bán dịch vụ thẻ cho khách hàng rồimới thực hiện làm thẻ và khách hàng mới sử dụng thẻ
Thứ ba, tính không ổn định và khó xác định khối lượng
DVNH là một loại hình dịch vụ tài chính, do đó sẽ chịu rất nhiều tác động từcác yếu tố của môi trường kinh doanh Trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo
xu hướng hội nhập, sự biến động của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh cànglớn và khó có thể lường trước Bên cạnh đó, chất lượng DVNH cũng chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố khách quan (thói quen, tập quán…) và chủ quan uy tín, vị
Trang 25thế của ngân hàng, chính sách marketing…) nên có thể nói DVNH là loại dịch vụ
có tính không ổn định và khó xác định khối lượng chính xác
Thứ tư, dòng thông tin hai chiều
DVNH không đơn giản là sự mua sắm một lần rồi kết thúc mà liên quan đếnmột chuỗi các giao dịch hai chiều thường xuyên trong khoảng thời gian cụ thể Kiểutương tác như trên cung cấp cho các ngân hàng những thông tin quý giá về kháchhàng liên quan đến sở thích, nhu cầu, yêu cầu của khách hàng… để từ đó ngân hàng
có những điều chỉnh thích hợp trong việc cung cấp DVNH
Thứ năm, tính đa dạng phong phú và không ngừng phát triển
Hiện nay trên thế giới có từ vài chục đến hàng trăm loại DVNH khác nhau.Các ngân hàng đang cố gắng phát triển theo hướng kinh doanh đa năng chứ khôngchỉ đơn thuần thực hiện những nghiệp vụ truyền thống như trước kia Với mỗi loạihình dịch vụ, các ngân hàng đều cố gắng đa dạng hóa các hình thức cung cấp Ngoài
ra, nhiều DVNH ra đời và phát triển với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin.Không chỉ có các dịch vụ hiện đại mới sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại
mà các dịch vụ truyền thống cũng đang được cải tiến với hàm lượng công nghệthông tin cao
1.1.3 Các dịch vụ ngân hàng chủ yếu
1.1.3.1 Huy động vốn
- Dịch vụ nhận tiền gửi: Ngân hàng thực hiện huy động nguồn tiền tạm thờinhàn rỗi trong dân cư thông qua nhiều hình thức nhận tiền gửi như tiền gửi thanhtoán, tiền gửi tiết kiệm… và trả lãi cho tiền gửi như là chi phí cho việc sử dụng vốn.Bên cạnh đó, do mục đích thanh toán hộ, các ngân hàng thường có thêm nguồn tiềngửi của các NHTM và TCTD khác, tuy nhiên nguồn tiền này chiếm tỷ lệ rất nhỏtrong quy mô nguồn vốn của ngân hàng Tiền gửi được chia thành hai loại chính làtiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm:
+ Tiền gửi thanh toán: là những khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngânhàng với mục đích sử dụng cho hoạt động thanh toán thông qua các dịch vụ thanhtoán mà ngân hàng cung cấp Thông thường các khoản tiền này không được ngânhàng trả lãi hoặc lãi suất rất thấp
Trang 26+ Tiền gửi tiết kiệm: là những khoản tiền mà khách hàng tạm thời chưa cónhu cầu sử dụng gửi vào ngân hàng để bảo quản và hưởng lãi Các khoản tiết kiệmthường đựoc ngân hàng trả lãi cao (kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao)
- Dịch vụ huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá: Đây là nguồnvốn mà NHTM có được thông qua việc phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, tráiphiếu, chứng chỉ tiền gửi Đối tượng mua có thể là các tổ chức, cá nhân trong nềnkinh tế Hình thức huy động này được sử dụng với mục đích sử dụng vốn rõ ràng,
có số lượng và thời gian phát hành nhất định
1.1.3.2 Sử dụng vốn
Dịch vụ cho vay: Dịch vụ cho vay là nghiệp vụ tín dụng điển hình nhất tronghoạt động tín dụng của ngân hàng Hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn nhất về doanhthu và số lượng giao dịch đồng thời cũng là dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất chongân hàng Ngân hàng quản lý chặt chẽ hoạt động này bằng việc kiểm soát quanhiều phòng ban để đưa ra các quyết định cho vay, qua đó thực hiện chức năngtrung gian tài chính của ngân hàng Các hình thức cho vay chủ yếu là cho vay ngắnhạn, cho vay trung và dài hạn
1.1.3.3 Các dịch vụ khác
- Dịch vụ bảo lãnh: Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dướihình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng củangân hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như camkết Theo mục tiêu các loại bảo lãnh bao gồm:
+ Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư hay chủ thầu vềviệc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định tronghợp đồng dự thầu
+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổnthất thay cho khách hàng nếu như khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồngnhư cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba
+ Bảo lãnh bảo đảm hoàn trả tiền ứng truớc: Là cam kết của ngân hàng vềviệc sẽ trả tiền ứng trước cho bên mua (người hưởng bảo lãnh) nếu bên cung cấp
Trang 27(người đựơc bảo lãnh) không trả.
+ Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiềntheo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàngkhông thanh toán đủ
- Dịch vụ cho thuê: Cho thuê là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơsở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê tài sản và tổ chức tín dụng vớikhách hàng thuê Khi kết thúc kì hạn thuê, khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tụcthuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê Trong thời hạncho thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng Cho thuê tài sản baogồm các hình thức:
+ Ngân hàng mua tài sản để cho thuê
+ Ngân hàng mua tài sản của người đi thuê để cho thuê lại
+ Ngân hàng thuê tài sản để cho thuê hoặc mua trả góp tài sản đề cho thuê
- Dịch vụ thanh toán: Đây là nghiệp vụ mang tính dịch vụ đơn thuần màkhông cần sử dụng đến nguồn vốn của ngân hàng, thêm vào đó nó còn tạo ra mộtnguồn vốn tương đối lớn cho ngân hàng thông qua quá trình thanh toán Dịch vụ nàyngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của NHTM, nó tạo điều kiệncho nhiều loại hình dịch vụ mới xuất hiện và phát triển, đồng thời là cơ sở phát triển
hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế NHTM có thể thực hiệndịch vụ thanh toán trong nước thông qua các phương tiện thanh toán như: séc, uỷnhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ …hoặc thanh toán quốc tế dưới các hình thức như:chuyển tiền, nhờ thu, L/C…Thông qua các dịch vụ thanh toán, NHTMi không nhữngthu được các khoản phí mà còn tăng sức cạnh tranh của mình đối với các đối thủ
- Dịch vụ uỷ thác: Dịch vụ ủy thác bao gồm uỷ thác cho cá nhân và uỷ tháccho doanh nghiệp Uỷ thác cho cá nhân gồm : quản lý thanh lý tài sản theo di chúc,giám hộ và bảo quản tài sản, quản lý điều hành tài sản theo hợp đồng với nội dung
là chuyển nhượng tài sản từ người uỷ thác sang cho người chịu thác để ngưòi nàynắm giữ và điều hành tài sản vì lợi ích của người uỷ thác Uỷ thác cho doanh nghiệpgồm: quản lý quỹ hưu trí, uỷ thác làm đại lý cho các tổ chức…Nhìn chung nghiệp
Trang 28vụ uỷ thác mang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập đáng kể và quan hệ tốtđẹp với những khách hàng có doanh số hoat động lớn.
- Ngoài ra, NHTM còn cung cấp một số dịch vụ khác như dịch vụ ngân hàngđiện tử, dịch vụ kinh doanh chứng khoán, dịch vụ quản lý ngân quỹ, cho thuê két…
1.2 Tiếp cận dịch vụ ngân hàng
1.2.1 Tiếp cận dịch vụ ngân hàng và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Quan điểm về tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Có những quan điểm khác nhau về tiếp cận DVNH Theo T.Beck và cácđồng sự trong “Truy cập và sử dụng DVNH giữa các quốc gia” thì “Tiếp cận vớicác dịch vụ tài chính không phải là đồng nghĩa với việc sử dụng các dịch vụ tàichính” Như vậy, khách hàng có nhu cầu về DVNH, đã tìm hiểu về DVNH - cónghĩa là có tiếp cận với DVNH, tuy nhiên do lý do về chi phí, văn hóa… nên họquyết định không sử dụng chúng vẫn được coi là đã tiếp cận DVNH
Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả đánh giá khả năng tiếpcận DVNH đứng trên quan điểm của ngân hàng thương mại Do đó, số liệu thu thập
để đánh giá khả năng tiếp cận là số liệu thứ cấp từ các báo cáo của các ngân hàngthương mại và các tổ chức có liên quan Các dữ liệu thứ cấp bao gồm: Số lượng tàikhoản thanh toán, số lượng tài khoản tiền gửi tiết kiệm, số lượng tài khoản tiền vay,
số lượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ…Vì vậy,tiếp cận DVNH được hiểu là có sử dụng DVNH do nếu hiểu tiếp cận DVNH chỉdừng ở hiểu về DVNH thì sẽ rất khó đánh giá và không cho biết được con số thực
sự, số lượng người, doanh nghiệp… đã tiếp cận và sử dụng DVNH để từ đó có giảipháp phù hợp
Quan điểm về mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Mở rông khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng được hiểu là sự mở rộng vềquy mô cũng như mức độ sử dụng DVNH
Mở rộng về quy mô sử dụng DVNH trong phạm vi nghiên cứu của luận văn
là sự gia tăng mạng lưới giao dịch, giá trị tiền gửi, giá trị cho vay, số lượng tài
Trang 29khoản tiền gửi, số lượng tài khoản cho vay…qua các năm.
Mở rộng mức độ sử dụng DVNH trong phạm vi nghiên cứu của luận vănđược hiểu là đó là sự gia tăng tỷ lệ cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp sử dụngDVNH Mức độ sử dụng DVNH được thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể như sự tănglên về số tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm trên 1.000 dân số trưởngthành, số tài khoản tiền vay trên 1.000 dân số trưởng thành
1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Việc mở rộng mức độ và khả năng tiếp cận DVNH không chỉ có ý nghĩa đốivới các ngân hàng mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội Tiếp cận DVNH mở ra chongười dân, cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp khả năng tiếp cận với nguồn vốnchính thức với mức giá phù hợp để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện
và nâng cao đời sống Để đánh giá khả năng tiếp cận DVNH và nói rộng hơn là dịch
vụ tài chính, nhiều tổ chức quốc tế đã xây dựng các tiêu chí về tiếp cận và sử dụngdịch vụ tài chính của hộ gia đình và doanh nghiệp ở một quốc gia, tiến hành xâydựng cơ sở dữ liệu trên cơ sở điều tra định kỳ Những tiêu chí này đo lường mức độbao phủ của dịch vụ tài chính theo diện tích và dân số được thể hiện ở mạng lướichi nhánh các tổ chức tài chính, các máy rút tiền tự động (ATM) và việc sử dụngcác dịch vụ tài chính quan trọng là gửi tiền tiết kiệm, vay tiền và bảo hiểm Hiện tạinhiều tổ chức quốc tế mà quan trọng nhất là Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệQuốc tế (IMF) là tổ chức cung cấp cơ sở dữ liệu hệ thống nhất và đầy đủ nhất vềkhả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, dựa trên 24 tiêu chí chủ chốt được đưa ra tạiHội nghị Thượng đỉnh G20 St Petesburg 2013 và được chia nhỏ ra hàng trăm tiêuchí tính toán cho hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
(1) Để đo lường mức độ phát triển DVNH, Worldbank sử dụng các chỉ tiêudưới đây (Worldbank, 2013):
- Số lượng người gửi tiền tại NHTM trên 1000 người
- Số lượng chi nhánh NHTM trên 1000 người
- Tỷ lệ các doanh nghiệp nhỏ trong khu vực chính thức với một hạn mức tíndụng hoặc một khoản vay từ một định chế tài chính
Trang 30- Tỷ lệ của các doanh nghiệp trong khu vực chính thức với một hạn mức tíndụng hoặc một khoản vay từ một định chế tài chính.
- Tài khoản của người trưởng thành tại một định chế tài chính chính thức trêntổng số lượng người trưởng thành (%)
- Tiết kiệm của người trưởng thành gửi tại một định chế tài chính trong nămtrước trên tổng số người trưởng thành (%)
- Vay nợ của người trưởng thành từ định chế tài chính chính thức trong nămtrước trên tổng số người trưởng thành (%)
(2) Theo IFAD (2000), để đánh giá được mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng
ta đánh giá trên độ rộng tiếp cận và độ sâu tiếp cận
- Độ rộng tiếp cận: Độ rộng tiếp cận đo lường mức độ tiếp cận DVNH đối vớikhách hàng trên diện rộng, được đánh giá thông qua sự đa dạng hóa trong sản phẩmdịch vụ cung ứng; số lượng và mức độ tăng trưởng của khách hàng; của dư nợ tín dụng
và tiết kiệm Số lượng dịch vụ cung ứng càng lớn, mức độ tăng trưởng qua các nămhoặc một thời kỳ càng tăng chứng tỏ dịch vụ của TCTD càng đa dạng Tương tự, nếu
số lượng khách hàng tăng cả về con số tương đối và tuyệt đối, dịch vụ do TCTD cungứng đã đạt được mức tiếp cận rộng hơn đối với khách hàng Các giá trị tăng trưởngtuyệt đối và tương đối của dư nợ tín dụng và tiết kiệm cũng cho kết luận tương tự về độrộng tiếp cận của các dịch vụ tài chính Những tiêu chí này không có giới hạn chuẩn,tùy thuộc vào từng quốc gia mà sự phát triển chiều rộng được đánh giá nếu như mọiquy mô hoạt động tăng trưởng nhanh và liên tục về số lượng
- Độ sâu tiếp cận: Độ sâu tiếp cận đo lường khả năng các khách hàng khácnhau có thể tiếp cận DVNH cũng như giá trị ròng mà khách hàng nhận được Tuynhiên các chỉ tiêu đo lường độ sâu tiếp cận trực tiếp thông qua sự thay đổi ròng củagiá trị thu nhập và tài sản của khách hàng sau khi tiếp cận DVNH rất khó xác định
Do vậy các chỉ tiêu gián tiếp đơn giản được sử dụng để đo lường độ sâu tiếp cận tớicác nhóm khách hàng mục tiêu bao gồm:
+ Mức cho vay trung bình: Mức cho vay trung bình thấp nghĩa là nhiềukhách hàng có thu nhập thấp đã được vay tại các TCTD, vì đối với các khách hàng
Trang 31khu vực nông thôn nhu cầu vay vốn thường có giá trị thấp Mức cho vay trungbình/GDP bình quân đầu người được coi như một chỉ tiêu dùng để so sánh độ sâucủa tiếp cận đến các khách hàng của một TCTD.
Quy mô món cho vay trung bình (%) =
Mức cho vay trung bình
GDP bình quân đầu ngườiQuy mô vay vốn của những người dân nghèo, các hộ gia đình thuộc khu vựcnông thôn, thuộc vùng sâu vùng xa thường rất thấp do nhu cầu sử dụng vốn của họkhông cao, tài sản bảo đảm của đối tượng này có giá trị rất ít Do đó, quy mô mónvay trung bình càng nhỏ so với GDP bình quân đầu người điều đó cho thấy nhiềuđối tượng thuộc khu vực nông thôn vay được vốn Do đó, tỷ lệ này càng thấp chứng
tỏ mức độ tiếp cận của TCTD càng sâu Đây là chỉ số được ưa thích vì tính toán đơngiản và có thể sử dụng để so sánh xuyên quốc gia và được sử dụng để xác định độsâu tiếp cận dịch vụ của các tổ chức tài chính nông thôn (TCTCNT) Theo chuẩnquốc tế về độ sâu tiếp cận TCTCNT thì tỷ lệ này dưới 20% tức là TCTCNT đã phục
vụ tầng lớp nghèo Nếu trong khoảng từ 20-150%, TCTCNT đã phục vụ các kháchhàng trung bình và có mức tiếp cận rộng; TCTCNT chỉ tập trung vào các kháchhàng giàu có nếu tỷ lệ này lớn hơn 150%
+ Tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ và Nợ xấu/tổng dư nợ: Hai nhóm tỷ lệ nàyphản ánh chất lượng hoạt động tín dụng đối với TCTD Các tỷ lệ này càng thấp điều
đó cho thấy hoạt động cho vay có hiệu quả và kiểm soát được mức độ rủi ro tíndụng Trong điều kiện TCTD mở rộng hoạt động tới nhiều nhóm khách hàng khácnhau với quy mô tăng trưởng, nếu tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ TCTD đó khôngđạt yêu cầu về mở rộng hoạt động Theo thông lệ quốc tế, đối với các TCTCNT thì
tỷ lệ này ở mức 5% là hợp lý Tỷ lệ nợ xấu phản ánh tốt hơn chất lượng tín dụng vì
đã xét tới khả năng thu hồi nợ của TCTCNT Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt và thông
lệ quốc tế ở mức 3% là chấp nhận được Tỷ lệ này cũng đang được áp dụng trongquản lý tín dụng đối với các TCTD của Việt Nam
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn đo lường mức độ tiếp cận DVNH
Trang 32Độ rộng
tiếp cận
- Mạng lưới điểm giao dịch ATM
- Số lượng dịch vụ và sản phẩm cung ứng
- Số lượng và mức tăng trưởng của khách hàng
- Số lượng và mức tăng trưởng của dư nợ tín dụng
- Số lượng và mức tăng trưởng của số dư tiết kiệm
Không có tiêuchuẩn chung
Độ sâu
tiếp cận
Mức vay trung bình/GDP bình quân đầu người
Nguồn: IFAD (2000)
Trên cơ sở các nghiên cứu trên, đề tài lựa chọn các tiêu thức đo lường vàđánh giá sự tiếp cận DVNH trên quan điểm của NHTM thông qua các nhóm chỉ tiêunhư sau:
Thứ nhất, về mức độ phủ kín của dịch vụ ngân hàng theo diện tích và dân số:
Được thể hiện ở mạng lưới các chi nhánh, điểm giao dịch của ngân hàng và sốlượng cây ATM được tính trên 100.000 dân số trưởng thành và trên 1000 km2 Mức
độ bao phủ dày đặc cho thấy mức độ tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng của cánhân, hộ gia đình và các DNNVV ở mức cao Các chỉ tiêu cụ thể trong nhóm chỉtiêu mức độ bao phủ là:
- Số lượng chi nhánh, điểm giao dịch trên 100.000 dân số trưởng thành Chỉtiêu này được xác định bằng công thức:
- Số lượng chi nhánh, điểm giao dịch trên 1000 km2 Chỉ tiêu này được xácđịnh bằng công thức:
Số lượng CN, điểm GDcủa khu vực nghiên cứu
=Tổng dân số trưởng thànhkhu vực nghiên cứu
x 100.000
Số lượng CN, điểm GD trên
100.000 DS trưởng thành
=Tổng diện tích khu vựcnghiên cứu
x 1.000
Số lượng CN, điểm GD trên
1000 km2
Số lượng CN, điểm GDcủa khu vực nghiên cứu
Trang 33- Số lượng cây ATM trên 100.000 dân số trưởng thành Chỉ tiêu này được xácđịnh bằng công thức:
- Số lượng cây ATM trên 1000 km2 Chỉ tiêu được xác định bằng công thức:công thức
Các chỉ tiêu này càng cao thì khả năng tiếp cận DVNH của cá nhân, hộ giađình và các DNNVV càng tốt
Thứ hai, nhóm chỉ tiêu về tiền gửi: Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng
tiếp cận dịch vụ huy động vốn của NHTM Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêusau:
- Số dư tiền gửi của cá nhân, hộ gia đình qua các năm: số dư tiền gửi của cá nhân,
hộ gia đình qua các năm tăng lên điều này cho thấy khả năng tiếp cận DVNH càng cao
- Số tài khoản tiền gửi của cá nhân, hộ gia đình qua các năm: sự gia tăng về
số tài khoản tiền gửi qua các năm cho thấy ngày càng nhiều khách hàng tiếp cận vàsử dụng DVNH
- Số tài khoản tiền gửi trên 1.000 dân số trưởng thành Chỉ tiêu này được xácđịnh bằng công thức:
=Tổng dân số trưởng thànhkhu vực nghiên cứu
Trang 34Thứ ba, nhóm chỉ tiêu về tín dụng: Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng
tiếp cận dịch vụ tín dụng của NHTM Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Dư nợ tín dụng của cá nhân, hộ gia đình, DNNVV qua các năm: Dư nợ của
cá nhân, hộ gia đình qua các năm tăng lên điều này cho thấy khả năng tiếp cậnDVNH càng cao
- Số tài khoản tiền vay của cá nhân, hộ gia đình, DNNVV qua các năm: sựgia tăng về số tài khoản tiền vay qua các năm cho thấy ngày càng nhiều khách hàngtiếp cận và sử dụng DVNH
- Số tài khoản tiền vay trên 1.000 dân số trưởng thành Chỉ tiêu này được xácđịnh bằng công thức:
1.2.3 Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Tiếp cận DVNH chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, với các mức độkhác nhau Theo các công trình nghiên cứu có liên quan, việc tiếp cận DVNH, đặcbiệt của khách hàng khu vực nông thôn chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi một số nhân tốchính sau:
1.2.3.1 Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận DVNH trên góc độ ngân hàng
- Về chính sách: Thể hiện mức độ quan tâm của Chính phủ đến sự phát triểncủa vùng nông thôn thông qua hệ thống các TCTD Các chính sách của Nhà nước,các thông tư và các quy định của hệ thống ngân hàng có ý nghĩa quan trọng và là cơsở nền tảng hỗ trợ cho các TCTD thực hiện, triển khai các sản phẩm dịch vụ củamình tới các vùng sâu, vùng xa, tới các hộ gia đình
- Mạng lưới thông tin: Quy mô mạng lưới thông tin của ngân hàng có vai trò
=Tổng dân số trưởng thànhkhu vực nghiên cứu
Trang 35quan trọng trong việc gia tăng khả năng tiếp cận DVNH của khách hàng Mạng lướithông tin của ngân hàng càng rộng, khách hàng càng dễ dàng tiếp cận DVNH Bêncạnh đó, các luồng thông tin và khuyến nghị từ mạng lưới khách hàng hiện hữu vànhân viên ngân hàng giúp làm giảm chi phí lựa chọn của khách hàng.
- Thủ tục và các quy định của ngân hàng: Thủ tục của các DVNH có ảnhhưởng đến việc tiếp cận DVNH, khi thủ tục càng phức tạp thì khả năng tiếp cậnDVNH càng giảm Ngoài ra, các quy định của ngân hàng về khả năng chi trả như tỷ
lệ số dư tối thiểu, các mức phí để duy trì tài khoản, chi phí chuyển tiền… cũng ảnhhưởng đến khả năng tiếp cận DVNH
- Số lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp: Nếu số lượng sản phẩmdịch vụ ngân hàng cung cấp nghèo nàn, sản phẩm không linh hoạt, không phù hợpvới đặc điểm, nhu cầu mong muốn của người dân, hộ gia đình, các DNNVV khuvực nông thôn cũng làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của đối tượngkhách hàng khu vực này
- Bên cạnh đó, trình độ, năng lực, kỹ năng của nhân viên ngân hàngcũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp cận DVNH của đối tượng kháchhàng thuộc khu vực nông thôn Nếu như nhân viên ngân hàng có kiến thứcchuyên môn tốt, có am hiểu về văn hóa địa phương cùng với sự nhiệt tình chuđáo trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng cũng sẽ là yếu tố làm tăngkhả năng tiếp cận DVNH của đối tượng khách hàng thuộc khu vực nông thôn.1.2.3.2 Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận DVNH trên góc độ khách hàng
Thứ nhất, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận DVNH trên góc độ khách hàng cá nhân và hộ gia đình
- Trình độ học vấn: Những người có trình độ học vấn cao hơn có nhiều khả
năng trở thành khách hàng của ngân hàng vì họ có sự am hiểu cũng như chấp nhận
và tuân thủ những quy tắc giao dịch cao hơn, từ đó dễ dàng hơn trong việc thực hiệncác giao dịch
Trang 36Nghiên cứu về khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của các nông hộở Abura-Asebu Kwamankese, miền trung Ghana chỉ ra rằng trình độ học vấn có tácđộng thuận chiều và đáng kể lên khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức Theokết quả mô hình hồi quy, khả năng nông hộ tiếp cận nguồn tín dụng chính thức tănglên 10% bởi tác động của trình độ học vấn có nghĩa là trình độ học vấn mà ngườidân đạt được làm tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ của họ Điều này là do trình độ họcvấn cao giúp người dân có khả năng tiếp cận và nắm bắt những thông tin liên quanđến các điều kiện và điều khoản tín dụng, đồng thời họ có khả năng hoàn thiện cácmẫu đơn vay nợ tốt hơn.
Nghiên cứu của N.Okurut (2006), cũng chỉ ra rằng trình độ học vấn có tácđộng tích cực đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của người dân ở Ấn
Độ Các ngân hàng ở nước này thường đòi hỏi khách hàng có ít nhất một séc thanhtoán để có thể mở tài khoản ngân hàng, trong khi đó những người nghèo với trình
độ học vấn thấp chỉ sở hữu các công việc bình thường không có séc thanh toán, từ
đó hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ của họ
- Độ tuổi: nhân tố độ tuổi có tác động tiêu cực và đáng kể lên khả năng tiếpcận DVNH, tức là khách hàng có độ tuổi càng cao thì càng làm giảm mức độ tiếpcận DVNH Đối với khách hàng có độ tuổi càng cao thì khả năng tiếp thu các kiếnthức tài chính, kiến thức khoa học công nghệ càng thấp vì đối tượng khách hàng nàyngại thay đổi, không năng động như những nhóm khách hàng có độ tuổi thấp hơn
- Khoảng cách địa lý: khoảng cách từ nhà dân đến các địa điểm cung cấpDVNH có tác động tiêu cực đến mức dộ tiếp cận DVNH của hộ gia đình, tức làkhoảng cách này càng xa, khả năng tiếp cận DVNH của khách hàng càng thấp
- Vùng miền: hay còn được đề cập đến bằng cách xác định vị trí tỉnh Cáctỉnh thuộc các khu vực thuận lợi về cơ sở hạ tầng giao thông thì khách hàng sẽthuận lợi hơn trong việc tiếp cận DVNH và ngược lại Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa,phong tục tập quán của vùng miền cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận DVNHcủa khách hàng
- Thu nhập/chi tiêu của hộ gia đình: Trong một số nghiên cứu ở Việt Nam thì
Trang 37thu nhập của hộ gia đình có ý nghĩa đối với khả năng tiếp cận DVNH Một trongnhững điều kiện lớn nhất của các tổ chức cho vay là khả năng tạo ra tiền và thunhập của người đi vay, người cho vay sẽ ưu tiên cho người làm ra tiền vay đượcnhiều tiền hơn Như vậy, thu nhập của hộ gia đình càng cao thì càng tác động tíchcực đến khả năng tiếp cận dịch vụ tín dụng
- Mối quan hệ với ngân hàng: Nếu khách hàng có mối quan hệ với kháchhàng hiện hữu hoặc nhân viên của ngân hàng thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếpcận với mạng lưới thông tin của ngân hàng cũng như các khuyến nghị của kháchhàng đã và đang sử dụng dịch vụ, do đó ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụngDVNH của khách hàng
Ngoài ra các nghiên cứu cũng chỉ ra một số nhân tố có ảnh hưởng đến khảnăng tiếp cận DVNH của người dân như: tình trạng đói nghèo, mức độ sẵn lòng vaynợ, ngành nghề của hộ gia đình…
Thứ hai, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận DVNH trên góc độ khách hàng là DNNVV
Các yếu tố từ phía doanh nghiệp có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận DVNHcủa DNNVV bao gồm quy mô doanh nghiệp, đặc điểm doanh nghiệp, loại hình kinhdoanh, vùng miền và tuổi doanh nghiệp Cụ thể, quy mô và độ tuổi (số năm hoạtđộng của doanh nghiệp) có tác động tích cực đến việc tiếp cận DVNH, có nghĩa làdoanh nghiệp càng lớn, tồn tại càng lâu thì cơ hội tiếp cận DVNH càng lớn Ngànhnghề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng là nhân tố quan trọng đến việctiếp cận DVNH, trong đó doanh nghiệp trong ngành sản xuất có khả năng tiếp cậndịch vụ tài chính cao hơn so với doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ Theothứ tự, doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ, sản xuất và bán lẻ có khả năngtiếp cận dịch vụ tín dụng giảm dần Ngoài ra, về cấu trúc sở hữu, doanh nghiệp có
sự liên kết hợp tác thường dễ dàng tiếp cận DVNH hơn so với doanh nghiệp còn lại
1.3 Kinh nghiệm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của một
số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của một
Trang 38số nước trên thế giới
1.3.1.1 Hệ thống ngân hàng làng xã - BRI-UD (Indonesia)
BRI (Bank Rakyat Indonesia) được thành lập năm 1895, là một ngân hàng hỗtrợ và tiết kiệm dành cho công chức BRI-UD (BRI Unit Desa) được thành lập năm
1984, là một đơn vị của BRI nhưng tự chủ về tài chính với mục đích kế tục BIMAS,một chương trình tín dụng trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho sự bình ổn giá gạo ởIndonesia Với một khoản trợ cấp tương đối nhỏ ban đầu vào năm 1984, BRI-UD đãtrở thành một trung gian tài chính nông thôn dẫn đầu chỉ trong vòng vài năm Đếncuối năm 1995, BRI-UD đã không còn cần đến sự trợ cấp và kiếm được một khoảnlợi nhuận khoảng 170 triệu USD, phục vụ khoảng 2,5 triệu khách hàng đi vay và14,5 triệu khách hàng tiết kiệm Năm 1994, lượng vốn huy động đã dư thừa và đượcchuyển sang cho vay khu vực thành thị Để có được thành công này, BRI-UD đãthực hiện các biện pháp như sau:
Thứ nhất, BRI-UD thực hiện cho vay đối với tất cả đối tượng khách hàng
có thu nhập thấp, không chỉ phục vụ cho nông nghiệp Lãi suất cho vay áp dụngcho khách hàng đủ bù đắp các chi phí hoạt động và chi phí vốn đầu vào Cáckhoản cho vay thông thường có kỳ hạn một năm, tài trợ cho tất cả các hoạt độngtạo ra thu nhập
Thứ hai, BRI-UD quy định thời gian tối đa cấp tín dụng cho khách hàng Cụthể, để cấp một khoản vay, ngân hàng tốn khoảng một tuần đối với khách hàng mới
và ít hơn đối với khách hàng đã giao dịch đồng thời BRI-UD rất chú trọng vào chấtlượng dư nợ bằng việc thẩm định rất kỹ càng khách hàng
Thứ ba, điều kiện về tài sản bảo đảm vẫn được xem xét nhưng không phải làbắt buộc Ngoài ra, BRI-UD còn tổ chức các đơn vị lưu động cung cấp các dịch vụthực hiện một vài chuyến viếng thăm khách hàng mỗi tuần, đến những nơi mà hoạtđộng kinh doanh khá nhỏ và khó tiếp cận được các DVNH
Thứ tư, BRI-UD thay đổi quan điểm và chính sách điều hành: một điểm thayđổi chính sách cơ bản của BRI-UD là “chuyển từ giải ngân các khoản vay sang thúcđẩy các khoản hoàn trả và huy động tiết kiệm” Các chính sách khuyến khích dành
Trang 39cho khách hàng và nhân viên đều được gắn liền với việc hoàn trả các khoản nợ đầy
đủ và đúng hạn
Thứ năm, BRI-UD tập trung vào vai trò là trung gian tài chính chứ không chỉtập trung vào cho vay nông nghiệp Họ đã xây dựng nhiều sản phẩm tiết kiệm linhhoạt, hướng đến việc mở rộng các dịch vụ tài chính cho nhiều khách hàng chứkhông chỉ là giải quyết nghèo đói
1.3.1.2 Kinh nghiệm của ngân hàng Grameen, Bangladesh
Ngân hàng Grameen (GB) trở thành ngân hàng chuyên phục vụ người nghèoở Bangladesh vào năm 1983 và là tổ chức tài chính vi mô dành cho người nghèothành công nhất thế giới với các mục tiêu sau:
- Mở rộng DVNH đến với người nghèo
- Chuyển đổi từ chu kỳ luẩn quẩn “thu nhập thấp, tiết kiệm thấp, đầu tư thấp”thành chu kỳ tiến bộ hơn “thu nhập thấp, bơm tín dụng, đầu tư, thu nhập cao hơn,tiết kiệm nhiều hơn, đầu tư nhiều hơn, thu nhập nhiều hơn”
- Tạo cơ hội tự tạo việc làm cho những người thất nghiệp ở nông thôn
- Kết hợp những phụ nữ nghèo vào những mô hình tổ chức phụ thuộc lẫnnhau, nơi họ có thể hiểu và quản lý chính họ
- Loại bỏ hình thức cho vay nặng lãi
Để có được những thành công như vậy, GB đã thực hiện các biện pháp sau:Thứ nhất, GB xác định rõ ràng đối tượng cho vay đó là cho các nhu cầu vốncho hoạt động nông nghiệp lẫn phi nông nghiệp, dành cho các hộ gia đình nghèo,thường chưa có đến 0,2ha đất
Thứ hai, về phương thức cho vay, GB áp dụng phương thức cho vay theo nhóm,với các thành viên (90% là phụ nữ) là những người có tình trạng kinh tế giống nhau,sống trong cùng một làng Khoảng năm hoặc sáu nhóm sẽ lập nên một trung tâm trongcùng địa phương Một người trong số các trưởng nhóm là trưởng trung tâm, chịu tráchnhiệm giúp các thành viên tìm hiểu về kỷ cương của ngân hàng và chủ trì cuộc họphàng tuần GB tổ chức cuộc họp và yêu cầu tất cả các thành viên đều phải tham dựmột khóa hướng dẫn về các quy định của GB, quyền và nghĩa vụ của thành viên và
Trang 40phải tham dự các buổi họp nhóm trong ba tuần kế tiếp tính thành thực và đoàn kết.Trong thời gian này, nhân viên ngân hàng tiếp tục nói về quy định của GB và giảiđáp thắc mắc Các thành viên mù chữ cũng được dạy cách ký tên Tại buổi họp hàngtuần, nhân viên ngân hàng cấp tiền vay, thu tiền trả nợ và vào sổ sách, thành viênkhông phải đi xa
Thứ ba,về giải ngân khoản vay, việc giải ngân được tiến hành lần lượt: banđầu chỉ có hai thành viên được vay tiền Nếu hai người này trả nợ đúng hạn trong haitháng đầu tiên, hai người nữa sẽ được vay và người cuối cùng (thường là trưởng nhóm)phải đợi thêm hai tháng nữa sau khi những người vay tiền trước chứng tỏ mình là đángtin cậy Nếu một người vỡ nợ, những thành viên khác trong nhóm không được vay.Mỗi thành viên buộc phải tiết kiệm hàng tuần, khoảng 5% số tiền vay và 25% tổng sốlãi tính trên nợ gốc đóng vào một quỹ dự phòng để sử dụng như là một sự bảo hiểmcho rủi ro vỡ nợ Thành viên có thể vay nợ từ quỹ này nhưng phải trả sau đó một tuần.1.3.1.3 Kinh nghiệm liên kết các định chế tài chính và nhóm tương trợ ở Ấn Độ
Trước những năm 1990, Ấn Độ theo đuổi chính sách can thiệp sâu vào khuvực ngân hàng, tuy nhiên, các khoản trợ cấp, chương trình tín dụng trực tiếp đãkhông mang lại hiệu quả như mong muốn Chất lượng các khoản vay giảm sútnghiêm trọng đồng thời khu vực tài chính bị suy yếu
Năm 1992 Chính phủ triển khai một chương trình liên kết thử nghiệm, kếtnối các nhóm tương trợ với ngân hàng một cách trực tiếp hoặc thông qua các NGOs(tổ chức phi chính phủ) Chính phủ cho phép các ngân hàng cho vay đối với cácnhóm tương trợ không đăng ký và cho phép các nhóm tương trợ nhận tiền gửi tiếtkiệm từ các thành viên Số lượng các ngân hàng và các TCTCNT khác tăng lên rõrệt, từ một vài NHTM có chi nhánh ở vùng nông thôn giai đoạn 1950-1969, đếnnăm 1998 số lượng các TCTCNT đã tăng lên đáng kể, có 32.662 chi nhánh NHTM,mạng lưới các Hiệp hội lên với 92.682 hơn 2000 chi nhánh ngân hàng phát triển đấtđai và 14.136 chi nhánh ngân hàng nông thôn theo vùng Để có được các kết quảnhư trên, chính phủ đã thực hiện các biện pháp:
Một là, chính phủ ban hành chính sách quản lý theo hướng cơ chế thị trường,