Tính cấp thiết của đề tài Nhãn là một loại quả đặc sản ở Việt Nam. Lịch sử trồng nhãn đã có từ lâu đời, khoảng 300 – 400 năm trước. Nhãn được trồng ở nhiều nơi trên đất nước ta như Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam (đồng bằng bắc bộ), ở các tỉnh phía Nam như Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng). Song chất lượng và hương vị của nhãn ngon nhất là giống nhãn lồng Hưng Yên. Hưng Yên là một tỉnh nông nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng Bắc Bộ với lợi thế thuộc vùng phù sa Sông Hồng, sông Luộc rất thích hợp cho phát triển cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, nhất là nhãn lồng Phố Hiến đã nổi tiếng từ thế kỷ 17. Quả nhãn nơi đây rất to, cùi dày, da láng ăn ngọt như đường phèn, hương vị dịu thơm mà không vùng nào sánh được. Những năm gần đây, tại tỉnh Hưng Yên và các vùng lân cận, diện tích nhãn (đặc biệt là nhãn lồng) được mở rộng thay thế những vùng nông nghiệp trồng lúa bấp bênh năng suất thấp. Sản lượng quả nhãn tươi và chế phẩm hàng năm sản xuất ra không những đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn cho các tỉnh lân cận hay tham gia xuất khẩu. Năm 2014, nhãn đã được Bộ nông nghiệp Hoa kỳ quyết định cho nhập khẩu, cánh cửa thị trường đã mở nhưng liệu Việt Nam có tận dụng được cơ hội để xuất khẩu nhãn vào thị trường này hay không? Sự phát triển của nhu cầu tiêu dùng đồng nghĩa với những đòi hỏi cao về chất lượng và sự đa dạng của chủng loại sản phẩm, và do vậy phát triển những sản phẩm đặc sản có chất lượng cao đang là một trong những hướng phát triển bền vững cho nền nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại hiện nay đó là nhu cầu của thị trường về những sản phẩm đặc sản như vải Thanh Hà, nhãn lồng Hưng Yên, bưởi Phúc Trạch… ngày càng tăng, thì người tiêu dùng lại rất khó có thể tìm mua được những sản phẩm đích thực có chất lượng cao. Trong khi đó, người dân đang đứng trước những khó khăn trong sản xuất, đặc biệt là về vấn đề tiêu thụ sản phẩm., đó là sự pha trộn về sản phẩm, các sản phẩm nhãn từ nhiều vùng khác nhau như: Nam Hà, Sơn La cũng đều sử dụng tên nhãn Hưng Yên để tiêu thụ sản phẩm. Các kênh hàng tiêu thụ thì không được tổ chức tốt, nhất là những kênh hàng tiêu thụ sản phẩm thực sự mang lại sự tin tưởng cho người tiêu dùng. Hơn nữa, nhãn vẫn là sản phẩm đơn lẻ của từng hộ gia đình, chưa có doanh nghiệp đứng ra quản lý. Khi chưa đồng nhất từ vật liệu đầu vào đến quy trình chăm sóc kỹ thuật, bảo vệ thì việc chưa có sản phẩm chất lượng đồng đều là điều khó tránh khỏi, sản phẩm khó trở thành sản phẩm hàng hóa đúng nghĩa. Điều đó đã làm cho thị trường nhãn Hưng Yên có nhiều bất ổn, không thực sự mang lại hiệu quả cho người sản xuất. Chính từ những nguyên nhân trên, lại là một người con sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Hưng Yên, nên em đã lựa chọn đề tài: “ Giải pháp phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên” làm đề tài luận văn thạc sỹ. 2.Mục tiêu nghiên cứu -Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến sản phẩm nhãn lồng, phát triển sản phẩm nhãn lồng -Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên trong thời gian vừa qua -Đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển sản phẩm Nhãn lồng Hưng Yên 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên Phạm vi nghiên cứu: -Về nội dung nghiên cứu: Sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên, hoạt động phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên -Về không gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu 2 vùng có diện tích trồng nhiều nhãn lồng trong tỉnh Hưng Yên: Thành phố Hưng Yên và huyện Tiên Lữ. -Về thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2010 đến năm 2014, giải pháp đề xuất đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. 4.Phương pháp nghiên cứu 4.1 Cơ sở lý thuyết sử dụng để phân tích thực tiễn Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tư liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết về phát triển sản phẩm. 4.2 Các nguồn dữ liệu a. Nguồn dữ liệu thứ cấp: - Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ một số cơ quan chức năng như phòng Thống kê các huyện, Cục Thống kê Hưng Yên, Sở Nông nghiệp & PTNT Hưng Yên. Ngoài ra dữ liệu thứ cấp còn được thu thập từ các thư viện (Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, Thư viện Quốc gia), một số cơ quan khác như Viện chiến lược chính sách Nông Nghiệp và PTNT, một số tài liệu về Ngành hàng, một số sách báo, tạp chí, internet… b. Nguồn dữ liệu sơ cấp - Điều tra, khảo sát, phỏng vấn trực tiếp thông qua hệ thống bảng câu hỏi, phiếu điều tra chuẩn bị trước, sử dụng câu hỏi đóng và câu hỏi mở trong bảng câu hỏi và phiếu điều tra. - Điều tra tình hình phát triển sản xuất nhãn bao gồm: những thông tin cơ bản về hộ, tình hình sản xuất kinh doanh của hộ, diện tích trồng, năng suất, sản lượng, trình độ sản xuất, mức độ đầu tư, tình hình tiêu thụ, giá bán…của hộ. Những thông tin về các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng nhãn gồm đặc điểm từng tác nhân, các hoạt động, các mối liên hệ về thông tin, về sản phẩm và tài chính, kết quả và hiệu quả, những khó khăn và thuận lợi của từng tác nhân tham gia trong chuỗi cung ứng nhãn lồng. - Công cụ xử lý số liệu: Từ những dữ liệu điều tra thu thập được, tổng hợp, xử lý với hỗ trợ của phần mềm excel rồi đưa ra những nhận xét về tình hình phát triển sản xuất nhãn lồng của các hộ nông dân trong huyện. Từ đó đưa ra những ý kiến về khả năng mở rộng diện tích trồng nhãn. - Phương pháp phân tích số liệu: Phương pháp phân tích SWOT được sử dụng để nhìn nhận một cách logic những thuận lợi, khó khăn trong phát triển sản phẩm nhãn, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp giảm thiểu khó khăn, phát huy lợi thế trong phát triển sản phẩm nhãn. 5.Kết cấu của luận văn Ngoài phần lời nói đầu và kết luận thì nội dung luận văn được chia thành ba chương như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên. Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm nhãn lồng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng yên trong thời gian tới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TRẦN THỊ THU
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NHÃN LỒNG
HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐẶNG THỊ LỆ XUÂN
Hà Nội - 2015
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM
NHÃN LỒNG HƯNG YÊN 4
1.1 Giới thiệu tổng quan về sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 4
1.1.1 Nguồn gốc cây nhãn và nhãn lồng Hưng Yên 4
1.1.2 Đặc điểm sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 6
1.1.3 Phân loại sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 8
1.1.4 Ý nghĩa của việc phát triển sản phẩm nhãn lồng 12
1.2 Phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 14
1.2.1 Khái niệm phát triển sản phẩm 14
1.2.2 Nội dung phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 15
1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 15
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm nhãn lồng 21
1.3.1 Nhóm yếu tố khách quan 21
1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan 26
1.4 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm nhãn ở Thái Lan và các địa phương 28 1.4.1 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm nhãn ở Thái Lan 28
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển nhãn ở tỉnh Bắc Giang 30
1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NHÃN LỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN 33
2.1 Khái quát về thị trường và thị hiếu tiêu dùng sản phẩm nhãn của người tiêu dùng trong và ngoài nước 33
2.1.1 Thị hiếu tiêu dùng sản phẩm nhãn lồng trong nước 33
2.1.2 Thị hiếu tiêu dùng sản phẩm nhãn lồng của người nước ngoài 33
2.1.3 Thị trường tiêu thụ sản phẩm nhãn trong nước 35
2.2 Thực trạng phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 37
2.2.1 Phát triển về mặt quy mô 37
2.2.2 Phát triển về mặt chất lượng sản phẩm 40
2.3 Thực trạng hoạt động phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 45
2.3.1 Thực trạng phát triển sản xuất 45
Trang 32.3.2 Thực trạng thị trường tiêu thụ 47
2.3.3 Thực trạng công tác quản lý phát triển sản phẩm 50
2.4 Đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 52
2.4.1 Đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 52
2.4.2 Đánh giá thực trạng hoạt động phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 53
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 54 2.5.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội tỉnh Hưng Yên 54
2.5.2 Trình độ khoa học – kỹ thuật, tổ chức sản xuất của tỉnh Hưng Yên 59
2.5.3 Kênh tiêu thụ, thị trường tiêu thụ sản phẩm 60
2.5.4 Cơ chế, chính sách của tỉnh trong việc phát triển sản phẩm nhãn lồng 61
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NHÃN LỒNG HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỚI 64
3.1 Các căn cứ đề xây dựng định hướng phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 64
3.1.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức 64
3.1.2 Đánh giá chung thực trạng phát triển sản xuất nhãn lồng trên địa bàn Hưng Yên 64
3.1.3 Định hướng phát triển sản phẩm nông sản của Nhà Nước 72
3.2 Định hướng, mục tiêu phát triển sản phẩm nhãn lồng của tỉnh Hưng Yên 73
3.2.1 Những định hướng cơ bản 73
3.3 Một số giải pháp chủ yếu phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên 76
3.3.1 Hoàn thiện xây dựng quy hoạch phát triển sản phẩm nhãn lồng đồng bộ 76 3.3.2 Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của phát triển sản phẩm nhãn lồng theo hướng xuất khẩu hàng hóa 79
3.3.3 Đẩy mạnh đầu tư thâm canh, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nhãn lồng 80
3.3.4 Phát triển mạnh công nghiệp chế biến hoa quả tươi xuất khẩu, gắn với công nghiệp chế biến với cùng nguyên liệu 85
3.3.5 Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ sản xuất nông sản xuất khẩu 86 3.3.6 Phát triển thị trường, ổn định giá cả và thương hiệu sản phẩm nhãn lồng 88
Trang 43.3.7 Tăng cường liên kết kinh tế để phát triển sản xuất nhãn lồng theohướng xuất khẩu 903.3.8 Nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước và vai trò của hiệp hội ngành
92
Trang 5DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG:
Bảng 1.1: Đặc điểm một số giống nhãn trồng ở tỉnh Hưng Yên 7
Bảng 1.2: Yêu cầu nhiệt độ, lượng mưa của một số cây ăn quả 22
Bảng 1.3 Yêu câu về đất đai để trồng một số loại cây ăn quả 22
Bảng 2.1 Diện tích, sản lượng nhãn của tỉnh Hưng Yên từ 2008 – 2013 38
Bảng 2.2 Đất đai phân theo công dụng kinh tế và theo huyện, thành phố 57
SƠ ĐỒ: Sơ đồ 2.1: Kênh tiêu thụ nhãn tỉnh Hưng Yên 60
Trang 61 Tính cấp thiết của đề tài
Nhãn là một loại quả đặc sản ở Việt Nam Lịch sử trồng nhãn đã có từ lâu đời,khoảng 300 – 400 năm trước Nhãn được trồng ở nhiều nơi trên đất nước ta như HưngYên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam (đồng bằng bắc bộ), ở các tỉnh phía Nam như CaoLãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng) Song chất lượng và hương vị của nhãnngon nhất là giống nhãn lồng Hưng Yên Hưng Yên là một tỉnh nông nghiệp thuộcvùng kinh tế trọng điểm đồng bằng Bắc Bộ với lợi thế thuộc vùng phù sa Sông Hồng,sông Luộc rất thích hợp cho phát triển cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, nhất là nhãnlồng Phố Hiến đã nổi tiếng từ thế kỷ 17 Quả nhãn nơi đây rất to, cùi dày, da láng ănngọt như đường phèn, hương vị dịu thơm mà không vùng nào sánh được
Những năm gần đây, tại tỉnh Hưng Yên và các vùng lân cận, diện tích nhãn(đặc biệt là nhãn lồng) được mở rộng thay thế những vùng nông nghiệp trồng lúabấp bênh năng suất thấp Sản lượng quả nhãn tươi và chế phẩm hàng năm sản xuất
ra không những đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn cho các tỉnhlân cận hay tham gia xuất khẩu Năm 2014, nhãn đã được Bộ nông nghiệp Hoa kỳquyết định cho nhập khẩu, cánh cửa thị trường đã mở nhưng liệu Việt Nam có tậndụng được cơ hội để xuất khẩu nhãn vào thị trường này hay không?
Sự phát triển của nhu cầu tiêu dùng đồng nghĩa với những đòi hỏi cao vềchất lượng và sự đa dạng của chủng loại sản phẩm, và do vậy phát triển những sảnphẩm đặc sản có chất lượng cao đang là một trong những hướng phát triển bền vữngcho nền nông nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại hiện nay đó
là nhu cầu của thị trường về những sản phẩm đặc sản như vải Thanh Hà, nhãn lồngHưng Yên, bưởi Phúc Trạch… ngày càng tăng, thì người tiêu dùng lại rất khó có thểtìm mua được những sản phẩm đích thực có chất lượng cao Trong khi đó, ngườidân đang đứng trước những khó khăn trong sản xuất, đặc biệt là về vấn đề tiêu thụsản phẩm., đó là sự pha trộn về sản phẩm, các sản phẩm nhãn từ nhiều vùng khácnhau như: Nam Hà, Sơn La cũng đều sử dụng tên nhãn Hưng Yên để tiêu thụ sảnphẩm Các kênh hàng tiêu thụ thì không được tổ chức tốt, nhất là những kênh hàngtiêu thụ sản phẩm thực sự mang lại sự tin tưởng cho người tiêu dùng Hơn nữa,nhãn vẫn là sản phẩm đơn lẻ của từng hộ gia đình, chưa có doanh nghiệp đứng ra
Trang 7quản lý Khi chưa đồng nhất từ vật liệu đầu vào đến quy trình chăm sóc kỹ thuật,bảo vệ thì việc chưa có sản phẩm chất lượng đồng đều là điều khó tránh khỏi, sảnphẩm khó trở thành sản phẩm hàng hóa đúng nghĩa Điều đó đã làm cho thị trườngnhãn Hưng Yên có nhiều bất ổn, không thực sự mang lại hiệu quả cho người sảnxuất Chính từ những nguyên nhân trên, lại là một người con sinh ra và lớn lên tại
mảnh đất Hưng Yên, nên em đã lựa chọn đề tài: “ Giải pháp phát triển sản phẩm
nhãn lồng Hưng Yên” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến sản phẩm nhãn lồng,phát triển sản phẩm nhãn lồng
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yêntrong thời gian vừa qua
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển sản phẩm Nhãn lồng Hưng Yên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến pháttriển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
- Về thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2010 đến năm
2014, giải pháp đề xuất đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết sử dụng để phân tích thực tiễn
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tư liệu để xâydựng cơ sở lý thuyết về phát triển sản phẩm
4.2 Các nguồn dữ liệu
a Nguồn dữ liệu thứ cấp:
- Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ một số cơ quan chức năng như phòngThống kê các huyện, Cục Thống kê Hưng Yên, Sở Nông nghiệp & PTNT Hưng
Trang 8Yên Ngoài ra dữ liệu thứ cấp còn được thu thập từ các thư viện (Trường Đại họcNông Nghiệp Hà Nội, Thư viện Quốc gia), một số cơ quan khác như Viện chiếnlược chính sách Nông Nghiệp và PTNT, một số tài liệu về Ngành hàng, một số sáchbáo, tạp chí, internet…
b Nguồn dữ liệu sơ cấp
- Điều tra, khảo sát, phỏng vấn trực tiếp thông qua hệ thống bảng câu hỏi,phiếu điều tra chuẩn bị trước, sử dụng câu hỏi đóng và câu hỏi mở trong bảng câuhỏi và phiếu điều tra
- Điều tra tình hình phát triển sản xuất nhãn bao gồm: những thông tin cơ bản về
hộ, tình hình sản xuất kinh doanh của hộ, diện tích trồng, năng suất, sản lượng, trình độsản xuất, mức độ đầu tư, tình hình tiêu thụ, giá bán…của hộ Những thông tin về cáctác nhân tham gia chuỗi cung ứng nhãn gồm đặc điểm từng tác nhân, các hoạt động,các mối liên hệ về thông tin, về sản phẩm và tài chính, kết quả và hiệu quả, những khókhăn và thuận lợi của từng tác nhân tham gia trong chuỗi cung ứng nhãn lồng
- Công cụ xử lý số liệu: Từ những dữ liệu điều tra thu thập được, tổng hợp,
xử lý với hỗ trợ của phần mềm excel rồi đưa ra những nhận xét về tình hình pháttriển sản xuất nhãn lồng của các hộ nông dân trong huyện Từ đó đưa ra những ýkiến về khả năng mở rộng diện tích trồng nhãn
- Phương pháp phân tích số liệu: Phương pháp phân tích SWOT được sửdụng để nhìn nhận một cách logic những thuận lợi, khó khăn trong phát triển sảnphẩm nhãn, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp giảm thiểu khó khăn, phát huy lợithế trong phát triển sản phẩm nhãn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận thì nội dung luận văn được chia thành bachương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm nhãn lồng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng yên trong thời gian tới.
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM
NHÃN LỒNG HƯNG YÊN
1.1 Giới thiệu tổng quan về sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
1.1.1 Nguồn gốc cây nhãn và nhãn lồng Hưng Yên
1.1.1.1 Cây nhãn
Có nhiều quan điểm khác nhau khi nói đến nguồn gốc của cây nhãn:
- Theo Jonathan H Crane, Carlos F.Balerdi và Steven A Sargent thì cây nhãn(hay theo một số tên gọi phổ biển khác như: Lugan, Dragon eye, Mamoncillo chilo,Longana, Leng keng hay Lam yai) thuộc họ Sapindaceae có nguồn gốc ở Myanmar,phía nam Trung quốc, Tây – Nam Ấn Độ, Srilanca và bán đảo Đông Dương
- Theo Groff: Nhãn có nguồn gốc ở miền nam Trung quốc (tại các tỉnhQuảng đông, Quảng tây, Phúc kiến, Tứ xuyên…) sau đó nhãn được phát triển ra cácchâu lục và các nước khác trên thế giới Năm 1798 nhãn được du nhập vào Ấn độ.Năm 1903 nhãn từ Trung quốc được du nhập vào miền nam bang Florida nước Mỹsau đó phát triển ra một số nước thuộc vùng Caribe như Bermuda, Puerto Rico và
Cu ba, các nước châu phi, OOtxtraylia, ở đó nhãn được trồng trong các nôngtrường, các trạm, trại thí nghiệm vừa để lấy quả vừa để làm cảnh và lấy bóng mát
- Theo De Candolle thì nhãn có nguồn gốc ở Ấn Độ, tại các vùng có khíhậu lục địa Tại bang Bengal và Assam, nhãn được trồng ở độ cao 1000 Tại phíatây Ghats ở độ cao 1600m có rừng nhãn dại
Như vậy cây nhãn có thể phân ra làm hai nhóm khác nhau: nhóm có nguồngốc từ vùng á nhiệt đới (Trung Quốc) và nhóm có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới (ẤnĐộ) Cây nhãn thuộc họ bồ hòn cùng với cây vải nhưng có tính thích ứng rộng vàphong phú về giống nên chúng được trồng cả ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Ởnước ta cây nhãn hầu như có mặt ở hầu hết các tỉnh với diện tích khoảng, và sảnlượng đạt khoảng Ở miền Bắc nước ta, các giống nhãn trồng chủ yếu là có nguồn
Trang 10gốc từ vùng á nhiệt đới, và vùng Hưng Yên được coi là vùng thủy tạ của các giốngnhãn trồng ở các tỉnh miền Bắc.
Trên thế giới Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn lớn nhất và có sảnlượng cao nhất Nhãn còn được trồng ở Thái Lan, Ấn Độ, Malaixxia, Việt Nam,Philippin Sau thế kỷ 19 nhãn được nhập vào trồng ở các nước Âu Mỹ, Châu Phi,Otoxtraylia trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
1.1.1.2 Nhãn lồng Hưng Yên
Cây “nhãn tổ” với tuổi thọ hơn ba trăm năm hiện vẫn còn ở chùa Thiên Ứng,tục gọi là chùa Hiến, Phố Hiến Hạ, nay thuộc phường Hồng Châu, thành phố HưngYên minh chứng cho nguồn gốc nhãn lồng Hưng Yên ngày nay Chùa Hiến là ngôichùa cổ nhất nhì tỉnh Hưng Yên Tương truyền, cây nhãn tổ là sản vật quý củavùng, vì vậy hàng năm vào tháng ba, mùa nhãn, các vị quan địa phương, các bậccao niên trong làng thường chọn những trai làng khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú trèolên cây hái nhãn Vì là cây nhãn duy nhất được chọn để hái chùm quả đẹp dâng lênđức Phật, cúng thành hoàng và để làm sản vật tiến vua nên giống nhãn này cònđược gọi là nhãn tiến Số lượng nhãn còn lại được chia theo suất đinh cho các giađình trong làng, mỗi đinh chỉ được nhận hai đến ba quả Cây nhãn thường cho rấtnhiều quả to, hình dáng hơi bẹt, cùi dày, ăn ngọt, hạt nhỏ chứ không to như các loạinhãn bây giờ Thân cây nhãn tôt trước to khoảng ba người lớn ôm không xuể Năm
1947, một cơn bão quét qua thành phố Hưng Yên, do lâu năm, thân cây mục ruỗngnên bị gãy mất một nửa Cây nhãn chỉ còn lại một nhánh con, nhánh cây này đượcnhà chùa và người dân chăm sóc phát triển thành cây “hậu duệ”, hiện diện như mộtbiểu tượng của giống nhãn đặc sản Phố Hiến – Hưng Yên
Tên “nhãn lồng” bắt nguồn từ việc khi nhãn chín phải dùng lồng bằng tre,nứa giữ cho chim, dơi khỏi ăn, loại này cùi dày và mọng Cho đến nay tập quánlồng nhãn vẫn có ở các vườn nhãn ở miền Trung Ngoài ra, còn một cách giải thíchkhác, gọi là nhãn lồng vì áo hạt (tử y) – cùi quả phát triển đến độ nhất định, bọc kínlấy hạt rồi hai đầu lồng lên nhau khoảng 1cm nên có tên gọi là “nhãn lồng”
Trang 111.1.2 Đặc điểm sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
1.1.2.1Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây nhãn
Cây nhãn (Dimocarpus loagan lour) thuộc họ bồ hòn (Sapindaceac) Họ bồ hòn
là một họ lớn với 125 loài và hơn 1000 giống bao gồm: vải, nhãn, chôm chôm, đượctrồng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Cây nhãn được trồng chủ yếu trong vĩ độ 15– 280 Bắc và Nam đường xích đạo Nhãn được trồng tập trung chủ yếu ở TrungQuốc, Thái Lan và Việt Nam, nhãn được xếp vào cây ăn quả đặc sản do có nhiều đặcđiểm quý trong cả sử dụng tươi cũng như chế biến làm thuốc đông y
Việt Nam có lịch sử trồng nhãn khoảng 300 đến 400 năm, cây nhãn đượctrồng ở nhiều vùng khác nhau trong cả nước như Sơn La, Yên Bái, Hưng Yên, HảiDương, Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị và đồng bằng sông Cửu Long
Cây cao 5-10 m Vỏ cây xù xì, có màu xám Thân nhiều cành, lá um tùmxanh tươi quanh năm Lá kép hình lồng chim, mọc so le, gồm 5 đến 9 lá chét hẹp,dài 7-20cm, rộng 2,5-5cm Mùa xuân vào các tháng 2, 3, 4 ra hoa màu vàng nhạt,mọc thành chum ở đầu cành hay kẽ lá, đài 5-6 răng Tràng 5-6, nhị 6-10, bầu 2-3 ô.Quả tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẵn Hạt đen nhánh, có áo hạt màutrắng bao bọc Mùa quả là vào khoảng tháng 7-8 Cây nhãn tương đối chịu rét hơn
so với các loại cây cùng họ như vải, đồng thời cũng kén ít đất hơn Chính vì vậynhãn được trồng rất phổ biến ở khắp các tỉnh thành Việt Nam
1.1.2.2 Đặc điểm sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
Nhãn đã được trồng tại Hưng Yên từ hơn 350 năm về trước, với rất nhiềugiống nhãn khác nhau Có thể chia thành hai nhóm giống chính bao gồm:
Nhóm nhãn cùi: chiếm khoảng 65 – 70%; trong nhóm nhãn này, nhãn Lồngkhoảng 20 – 25%, đường phèn khoảng 5%, nhãn Hương Chi 30%; nhãn cùi, nhãnmuộn 10% Đây là nhóm cho chất lượng ngon, bán quả tươi là chủ yếu và có giábán cao nhất
Nhóm nhãn nước: khoảng 30 – 35%; trong đó nhãn thóc khoảng 5 – 10%,nhãn bàm bàm 5%, nhãn nước 20%; được trồng chủ yếu là tận dụng ven đường, bờkênh, bờ mương, trường học hoặc vườn tạp chưa được cải tạo Nhãn này có giá trịbán thấp hơn, thường được sử dụng để chế biến làm long, sấy khô
Trang 12Bảng 1.1: Đặc điểm một số giống nhãn trồng ở tỉnh Hưng Yên
ăn giòn, vị ngọt đậm,mùi thơm Độ bámgiữa cùi và hạt, cùi
và vỏ quả yếu Kíchthước quả đều
11 – 12gam/quả
62,7% Chủ yếu ở
Thành phốHưng Yên,huyện TiênLữ
thơm kém nhãnlồng Năng suất cao
11 – 13gam/quả Lớn hơn60% Thành phốHưng Yên,
huyệnTiên Lữ,KhoáiChâuNhãn cùi,
Quả chín ăn giòn, vịngọt ít nước Hươngthơm kém nhãn lồng
8,5 –11,5gam/quả
58 – 63% Phân bố rải
rác trongtỉnh
vị ngọt sắc
7 – 10gam/quả 60% Phân bố rảirác, nhưng
có nhiều ởThành phốHưng Yên
và H TiênLữ
Phân bố rảirác
Nhãn thóc
(5-10%)
Quả nhỏ, trên trùm có nhiều quả
Cùi mỏng, khó tách khỏi hạt, nhiều
nước, hạt to, khó tách khỏi hạt, độ
ngọt vừa phải
5 – 7gam/quả
Phân bốtoàn tỉnh
Trang 13Trong những giống nhãn trên, nhãn Lồng và Đường phèn là hai giống nhãnđược người sản xuất, các thương nhân, cũng như người tiêu dùng đánh giá có chấtlượng cao nhất Tuy nhiên, giống nhãn Hương Chi và nhãn Lồng được trồng phổbiến do năng suất và hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là nhãn Hương Chi Tại các vùngnhãn mới trồng có đến 90% diện tích được trồng là nhãn Hương Chi Các giốngnhãn có chất lượng ngon, năng suất cao, qua bình tuyển hàng năm được chú trọngphát triển nhằm thay thế những cây đã già cỗi và cải tạo những vườn nhãn tạp.
Nhãn Hương Chi là một dòng của nhãn Lồng, do cụ Hương Chi ở phườngHồng Nam, thành phố Hưng Yên chọn lọc, nhân ra và trồng ở vườn nhà; nhãnHương Chi là loại nhãn ngon, lại có nhiều ưu điểm nổi bật như cây thấp, quả to, mãđẹp, năng suất cao Theo thời gian, loại nhãn này được nhân giống rộng khắp trongvùng nhờ những ưu điểm trên, dân làng quen gọi giống nhãn ấy theo tên của ngườinhân giống, tên gọi Hương Chi có từ đó và trở thành một giống nhãn mới
Nhãn Hương Chi là loại nhãn được trồng phổ biến hiện nay tại Hưng Yên, do
có sản lượng ổn đinh, các giống nhãn khác chỉ có một đợt ra hoa cái nhưng nhãnHương Chi lại có tới 2 – 3 đợt Vì thế nếu đợt hoa này không đậu thì còn có đợt hoakhác, nên ít khi mất mùa
Nhãn đường phèn là giống nhãn quí, có thể nói đây là giống nhãn ngon vàquý nhất Việt Nam Nhãn đường phèn có đặc điểm quả nhỏ, sắc vỏ hơi sẫm, cùidày, ráo nước và thơm ngon đặc biệt Vì trên mặt cùi có các u cục nhỏ như cụcđường nên dân gian gọi là nhãn đường phèn Tuy nhiên, do quả nhãn nhỏ, năng suấtthấp, nên nhãn Đường phèn hiện nay không được trồng phổ biến bằng nhãn HươngChi, chủ yếu được các hộ trồng với mục đích sử dụng gia đình hoặc làm quà
1.1.3 Phân loại sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
Nhãn lồng cho rất nhiều sản phẩm bổ ích cho sức khỏe cũng như làm thuốctrong Đông y Có bốn loại sản phẩm từ cây nhãn lồng Hưng Yên bao gồm:
1.1.3.1 Nhãn quả tươi
Nhãn là loại hoa quả khá phổ biến tại Việt Nam, mỗi vùng miền đều trồnggiống cây này, vì thế nó có rất nhiều loại khác nhau, hương vị, chất lượng mỗi loại
Trang 14tất nhiên cũng sẽ khác nhau Người từng ăn nhãn chắc chắn đều nghe qua tên nhãnlồng Hưng Yên, không chỉ là giống nhãn ngon nhất hiện nay, nhãn lồng còn là đặcsản nổi tiếng của vùng quê nhãn này Chính vì vậy mà nhãn lồng thường bị tráo đổivới nhiều loại nhãn khác nhau rồi đem bán nhằm kiếm lợi nhuận, cùng với đó làviệc sử dụng các thuốc bảo vệ thực phẩm để nhãn tươi lâu hơn, làm mất giá trị, uytín của nhãn lồng trong lòng người tiêu dùng Tuy nhiên, trường hợp này thườngxảy ra đối với nhãn nhập từ Trung Quốc, còn đối với nhãn lồng, thông thường bàcon nông dân sẽ cắt nhãn rồi xếp luôn vào sọt đem đi tiêu thụ, nên nhãn vẫn còn láxanh tươi, mùi thơm dễ chịu, cuống quả vẫn còn xanh, quả rắn chắc, không ra nước,không rụng rời, khi bóc ra cùi mọng nước, ăn vào thơm ngọt…
Để mua được nhãn lồng Hưng Yên chính gốc thì cẩn phải phân biệt được cácloại nhãn với nhau, có rất nhiều loại nhãn được bày bán trên thị trường, nhưngkhông phải loại nào cũng giống nhau, vì thế, chỉ cần chú ý là người tiêu dùng có thểnhận biết được đâu là nhãn lồng, đâu là giống nhãn khác Một số đặc điểm của cácloại nhãn phổ biến trên thị trường hiện nay là;
Nhãn Thái Lan: do thời gian vận chuyển từ 1 – 2 ngày thì nhãn mới về đếnchợ đầu mối, nên thường bị ngâm, ủ chất bảo quản Nhãn cũng có thể bị nhũn, ranước do trời nóng và để trong thùng kín nên cần quan sát trước khi tiêu dùng Về đặcđiểm nhận dạng, giống nhãn này thường vỏ mỏng, dễ dàng tách ra, đặc biệt là khingâm trong nước Vỏ nhãn màu sáng, có mùi hắc lạ, không thơm như nhãn lồng
Nhãn Trung Quốc: quả nhãn thường to, vỏ mỏng, màu nhạt Lá nhãn TrungQuốc thường to hơn lá nhãn Hưng Yên, cùi nhãn cũng khá dày, nhưng có nhiềunước, vị nhạt và không thơm Cũng như nhiều loại hoa quả khác nhập khẩu từTrung Quốc, loại nhãn này có rất nhiều chất độc hại
Nhãn lồng Hưng Yên: Có quả rất to, vỏ sần sùi, trông dày và có màu vàngsậm Nhãn thường tươi lâu hơn vì được vận chuyển và tiêu thụ trong thời gian ngắn.Cùi nhãn dày, màu trắng ngà, hạt nhỏ nhưng mọng nước Nhãn có mùi thơm mát,ngọt như đường phèn, đáy quả thường có hai dẻ cùi lồng xếp rất khít, đây là điểmkhác biệt với các giống nhãn khác
Trang 15Chính vì những đặc điểm trên nên quả nhãn tươi có nhiều công dụng với sứckhỏe con người.Quả nhãn chứa hợp chất có khả năng ức chế quá trình oxy hóa nênrất tốt cho hệ thần kinh, tăng tuổi thọ, cải thiện tuần hoàn máu, bổ sung năng lượngdồi dào, cung cấp vitamin C, tốt cho sức khỏe răng miệng, chữa lành vết thương rắncắn, phòng bệnh đau dạ dày.
Tốt cho hệ thần kinh: Nhãn được xem là điều kỳ diệu với những chứng bệnhliên quan tới hệ thần kinh, đặc biệt là trầm cảm Chúng giúp các dây thần kinh thưgiãn và tăng cường chức năng hoạt động Do vậy, chứng mất ngủ cũng biến mất
Tăng tuổi thọ: Nhãn được biết đến là loại quả có thể hỗ trợ quá trình lành vếtthương và tăng tuổi thọ Nó giúp chống lại các phân tử gốc tự do trong cơ thể vàbảo vệ các tế bào không bị tổn thương Đồng thời, nhãn còn có tác dụng giảm nguy
cơ mắc một số bệnh ung thư
Cải thiện tuần hoàn máu: Nhãn tăng cường quá trình hấp thụ sắt trong cơ thể,giúp bạn hạn chế chứng bệnh thiếu máu, tạo cảm giác dễ chịu đối với hệ thần kinhgần lá lách và tim Ngoài ra, nhãn cũng có tác dụng bảo vệ cơ thể khỏi nguy cơ mắccác bệnh ở tuyến tụy, và tốt cho các cơ quan sinh sản của nữ giới
1.1.3.2 Long nhãn
Long nhãn là vị thuốc quý, được chế biến từ cùi của quả cây nhãn, tên khoahọc là Euphoria Lamk Trong thành phần long nhãn chứa 0,85 nước, chất không tantrong nước là 19,39%, chất tan trong nước là 79,77% gồm 29,91 glucose, 0,22%sacharose, 1,26% acid tartaric, ngoài ra có saponin, chất béo, tannin và các chấtkhác Long nhãn từ xưa nay nổi tiếng là sản phẩm bổ dưỡng Cùi nhãn, vỏ quả, rễ,hạt, hoa, lá đều có giá trị chữa bệnh khá cao Tác phẩm y học cổ xưa nhất TrungQuốc còn lại tới nay là cuốn “Thần nông bản thảo kinh” có nói, long nhãn chủ trị,ngũ tạng tà khí, an thần, kích thích tiêu hóa, trừ độc do côn trùng đốt, diệt ba loạisâu bọ Cuốn “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân viết “long nhãn vị ngọt, bổ
tỳ vị, bổ hư, tăng cường trí tuệ” Danh y Trương Tích Thuần đã khái quát công dụngcủa long nhãn là: “Bổ tâm huyết, tâm khí, tỳ huyết, khỏe tỳ vị, chữa lo lắng quá độ,thương tổn tâm lý, hồi hộp mất ngủ, tiêu chảy do tỳ hư”
Trang 16Y học hiện đại qua nghiên cứu đã phát hiện trong long nhãn có đường Gluco,đường xacaro, lipid, vitamin B1, B2, C, P và các nguyên tố vô cơ như canxi, phốtpho, sắt…Nghiên cứu về dược lý cho thấy long nhãn có tác dụng bổ huyết và trấntĩnh, chữa hồi hộp do thần kinh; thuốc sắc long nhãn có tác dụng hạn chế trực khuẩn
lỵ ngoài cơ thể và khuẩn nấm tiểu nha bào
Long nhãn là một sản phẩm có nguồn gốc từ quả nhãn lồng Hưng Yên, longnhãn được chế biến bằng các phương pháp thủ công, dùng sức người tách vỏ và hạt,sau đó đem sấy ở nhiệt độ vừa phải Cách nhận biết long nhãn làm từ nhãn lồngHưng Yên:
Nhìn bằng mắt thường: long nhãn có màu vàng hanh hoặc vàng thẫm đặctrưng, những loại long nhãn màu nâu sẫm thường kém chất lượng hoặc không sửdụng lò điện để sấy khô
Sờ: long nhãn chất lượng tốt thường được sấy khô đúng tiêu chuẩn, do đó khichạm vào sẽ thấy các hạt long nhãn tách rời nhau, không dính nước rat ay Nếu có
là do long nhãn chưa được sấy khô hoàn toàn, rất dễ hỏng
Ngửi: Long nhãn tốt là ngay cả khi sấy rồi, người ta vẫn ngửi được mùi vịđặc trưng của quả nhãn, nó không hề bị mất đi trong quá trình gia công
Ăn: Đây là một cách hiệu quả nhất, bởi khi nếm thử, ta vẫn có thể thấy được
vị ngọt sắc, mùi thơm của nhãn do lượng đường tự nhiên không hề mất đi khi sấylong nhãn Cùi nhãn ăn giòn, dai không bị mềm hoặc vụn ra không giống long nhãnlàm từ các loại nhãn cỏ, nhãn nước
1.1.3.3 Rượu long nhãn
Rượu nhãn lồng được chế biến bằng phương pháp kết hợp nhuần nhuyễngiữa thủ công truyền thống và công nghệ hiện đại Rượu được lên men và ủ theophương pháp thủ công truyền thống và chưng cất hoàn hảo Từ rượu nếp cái hoavàng với nồng độ 39 – 42 độ, sau đó được ngâm với long nhãn lồng ở hai dạng, tươi
và khô Các chum sành cổ truyền và ngâm ủ trên được kéo dài 3 – 6 tháng, 1 nămhay nhiều năm tùy chủng loại Rượu được chuyển sang hệ thống công nghệ lọc tạpchất và độc tố để đảm bảo độ trong và tinh khiết của rượu Sau đó, rượu được đưa
Trang 17vào dây chuyền đóng chai hiện đại và các vật dụng đựng theo phong cách cổ điểnphù hợp với từng dòng rượu.
1.1.3.4 Mật ong hoa nhãn
Theo kinh nghiệm của những người nuôi ong, mật ong hoa nhãn bao giờcũng thơm ngon hơn các loài hoa khác Do vậy từ rất lâu con người đã biết tận dụngđang mùa hoa, những chú ong tập trung về đây làm việc để sản xuất mật ong Mậtong hoa nhãn có mùi vị đặc trưng thơm mùi của hoa nhãn Thành phần của mật onghoa nhãn chứa rất nhiều các vitamin B1, B2, B6, E, K, C, tiền tố vitamin A, acidfolic… Trong mật ong chứa khoảng hơn 300 vi chất Các vi chất này gần như lànhững nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể, nhiều vitamin, nhiều loại axit vàmen tiêu hóa Những vitamin trong mật ong kích thích sự trao đổi chất Kali vàMagie kích thích ăn ngon miệng, tăng hàm lượng axit hữu cơ và những hạt phấnhoa trong mật ong giúp tăng cường khả năng miễn dịch
1.1.4 Ý nghĩa của việc phát triển sản phẩm nhãn lồng
1.1.4.1 Cây nhãn cung cấp nguồn thực phẩm giàu vitamin rất cần cho cơ thể con người
Từ xa xưa cây nhãn đã là cây gắn bó mật thiết với con người Quả nhãn làloại thực phẩm thường ăn tươi, chứa nhiều nước, tuy cung cấp ít năng lượng nhưnglại có nhiều chất khoáng vi lượng, đặc biệt nhiều vitamin, nhất là vitamin C là chấtkhông thể thiếu được đối với cơ thể con người Theo các nhà dinh dưỡng học, mỗingười mỗi ngày cần tối thiểu khoảng 100 gam quả tươi để đảm bảo cung cấpvitamin cần thiết cho cơ thể hoạt động
Đặc biệt, hiện nay ở nước ta, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cònchiếm tỷ trọng khá cao (khoảng %), tập trung nhiều ở các vùng nông thôn Nguyênnhân của hiện tượng này một phần là do chế độ dinh dưỡng của ta chưa hợp lý,nặng về chất bột, nhẹ về rau và hoa quả là những thực phẩm mà nước ta có nhiềuđiều kiện thuận lợi để sản xuất Vì vậy, phát triển sản xuất cây ăn quả nói chung,cây nhãn nói riêng sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện cơ cấu bữa ăn trongmỗi gia đình, cải thiện tình trạng sức khỏe cho người dân, đặc biệt là cho trẻ em vàngười già
Trang 18Bên cạnh đó, xã hội càng phát triển, thu nhập của người dân không ngừngđược nâng cao thì nhu cầu về thực phẩm quả giàu vitamin sẽ ngày càng tăng lên cả
về số lượng, chất lượng và chủng loại Để đáp
ứng ứng nhu cầu đó của còn người, cần thiết phải phát triển sản phẩm cây ănquả nói chung và cây nhãn nói riêng
1.1.4.2 Cây nhãn là loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao
Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng cao của quả nhãn, từ đặc điểm kinh tế - kỹthuật của cây nhãn là yêu cầu đầu tư lớn và cho khai thác nhiều lần trong thời giantương đối dài v.v; nhất là trong điều kiện sản xuất ở nước ta chưa đáp ứng đủ nhucầu thị trường cả về số lượng, chất lượng và về giá cả, mà trồng cây nhãn đã vàđang mang lại thu nhập cao hơn so với trồng nhiều loại cây khác Một ha nhãn lồngtrên đất Hưng Yên theo tính toán của Phòng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôntỉnh Hưng Yên năm 2013 thì bình quân một năm cho thu nhập khoảng Trong khi
đó, nếu trồng bạch đàn cũng trên đất gò đồi thì sau 8 năm 1 ha chỉ cho thu nhậpbình quân từ đến triệu đồng Chính vì vậy, cây nhãn được xem là cây xóa đói giảmnghèo của rất nhiều hộ nông dân ở Hưng Yên và là đối tượng được lựa chọn thamgia vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên
1.1.4.3 Cây nhãn cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu
Cây nhãn là loài có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao cùng với vải và chômchôm Theo thống kê của FAO năm 1997, diện tích trồng nhãn của Trung Quốc là444.000 ha với sản lượng 495.800 tấn; Thái Lan có 110.202 ha, sản lượng 500.000tấn, Đài Loan (2005) là 12253 ha sản lượng, 110.202 tấn
Nhãn lồng không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn là nét đẹp trong vănhóa người Hưng Yên Trải qua bao thăng trầm, biến cố của thiên tai, hương vị củanhãn lồng Hưng Yên không bị mất đi mà mặc nhiên trở thành “thương hiệu” độcquyền mang nét đặc trưng của vùng quê ấy Tháng 8/2006, nhãn hiệu “Nhãn lồngHưng Yên” đã được đăng ký bảo hộ Cục sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học côngnghệ Sản phẩm mang thương hiệu nhãn lồng Hưng yên – hương vị tiến vua đượcxây dựng đảm bảo các tiêu chuẩn cần thiết gồm sản phẩm quả tươi, nhãn sấy long,đóng hộp
Trang 19Cây nhãn lồng là cây đặc sản của tỉnh Hưng Yên, mang lại giá trị cao đứngthứ hai sau cây lúa Phát triển sản phẩm nhãn lồng có ý nghĩa vô cùng quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, góp phần phát triển đấtnước Phát triển sản phẩm nhãn lồng góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội, nâng cao trình độ sản xuất, trình độ tay nghề cho người lao động, tạo công
ăn việc làm và thu nhập cho người lao động Hơn nữa, sản phẩm nhãn lồng đã đượccho phép nhập khẩu vào một số thị trường lớn như Hoa Kỳ, càng làm tăng giá trịkinh tế của quả nhãn
1.2 Phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
1.2.1 Khái niệm phát triển sản phẩm
Sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đưa vào một thị trường để tạo ra sự chú ý,mua sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn Nó cóthể là những vật thể, dịch vụ, địa điểm, những tổ chức, những ý nghĩ
Phát triển sản phẩm có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của sảnphẩm trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sảnlượng hay giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ và sự tiến bộ về mặt cơ cấu mặt hàng
Phát triển theo quy mô: huy động mọi nguồn lực vào sản xuất như tăng diệntích, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và khoa học công nghệ mới, mở mangthêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm nhiều xí nghiệp tạo ra những mặt hàng mới
Phát triển theo chiều sâu (phát triển chất lượng): xác định cơ cấu đầu tư, cơcấu nghành nghề, cơ cấu loại hình hợp lý, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoahọc công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức sản xuất, phân công lại lao động, sử dụnghợp lý hiệu quả các nguồn lực
Phát triển theo chiều rộng và chiều sâu là yêu cầu chung của bất kỳ một nềnkinh tế hay một doanh nghiệp nào Nhưng ở mỗi nước, mỗi daonh nghiệp, mỗi địaphương, mỗi thời kỳ, sự kết hợp này có khác nhau Theo quy luật chung của cácnước cũng như các doanh nghiệp là thời kỳ đầu của sự phát triển thường tập trung
để phát triển theo quy mô, sau đó tích lũy thì chủ yếu phát triển theo chiều sâu
Trang 20Do sự khan hiếm nguồn lực làm hạn chế sự phát triển theo chiều sâu Sựkhan hiếm này ngày càng trở nên khốc liệt trong điều kiện cạnh tranh do nhu cầucủa xã hội và thị trường, do sự cần thiết để xây dựng, đổi mới và hiện đại hóa cơ sởvật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội hoặc của doanh nghiệp Muốn vậy phảiphát triển theo chiều sâu thì mới có thể tích lũy vốn Như vậy, bất kỳ một doanhnghiệp một địa phương, một quốc gia nào muốn phát triển thì đòi hỏi phải pháttriển cả chiều sâu và chiều rộng nhưng chú trọng phát triển theo chiều sâu là rất cầnthiết và có ý nghĩa to lớn.
1.2.2 Nội dung phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
Dựa trên cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm, chúng ta có thể quan niệmphát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng yên là sự gia tăng về quy mô, sản lượng và
sự tiến bộ về cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế.Như vậy phát triển sản phẩm nhãn lồng bao hàm cả sự biến đổi về số lượng vàchất lượng
Sự phát triển về mặt số lượng trong sản xuất nhãn lồng là việc làm gia tăngkhối lượng sản phẩm nhãn lồng sản xuất, gia tăng tổng giá trị sản xuất nhãn lồng,gia tăng sản lượng hàng hóa nhãn lồng, mở rộng thị trường tiêu thụ…điều đó đượcthực hiện thông qua sự gia tăng các yếu tố đầu vào như: gia tăng diện tích cây trồng
Sự phát triển về mặt chất lượng là nâng cao hiệu quả của hoạt động sảnxuất nhãn lồng và gia tăng sự đóng góp của hoạt động sản xuất nhãn lồng chokinh tế địa phương
1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên
1.2.3.1 Tiêu chí đánh giá phát triển về quy mô
1.2.3.1.1 Sự gia tăng về diện tích trồng nhãn lồng
Tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp có thể được thực hiện theo haiphương thức: quảng canh và thâm canh Để phân biệt hai phương thức này, K.Mac
đã chỉ rõ: “Tái sản xuất mở rộng được thực hiện quảng canh nếu chỉ mở rộng diệntích ruộng đất và thâm canh nếu chỉ sử dụng hiệu quả hơn các tư liệu sản xuất
Như vậy, quảng canh là phương thức sản xuất nhằm tăng sản lượng nông sản
Trang 21bằng cách mở rộng diện tích đất đai với cơ sở vật chất – kỹ thuật thấp kém, trình độ
kỹ thuật lạc hậu, chủ yếu dựa vào việc sử dụng độ phì nhiêu tự nhiên của ruộng đất.Khái niệm này còn được hiểu theo nghĩa tiến bộ hơn, đó là sự tăng sản lượng nôngsản dựa trên cơ sở mở rộng diện tích ruộng đất hoặc tăng số đầu gia súc với kỹ thuậtkhông đổi
Ngược lại, thâm canh là phương thức sản xuất tiên tiến nhằm tăng sản lượngnông sản bằng cách nâng cao độ phì nhiêu kinh tế của ruộng đất, thông qua việc đầu
tư thêm vốn và kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp
Lịch sử phát triển của sản xuất nông nghiệp trong nhiều thập kỷ, phươngthức quảng canh tái sản xuất mở rộng đã chiếm ưu thế, thậm chí đến nửa đầu thế kỷ
XX, nông nghiệp trên hành tinh này chủ yếu được tiến hành bằng phương thứcquảng canh Sản lượng lương thực có hạt của thế giới từ 510 triệu tấn năm 1901tăng lên 771 triệu tấn năm 1950, trong đó chủ yếu là do mở rộng diện tích từ 508triệu ha lên 723 triệu cùng thời gian tương ứng, nghĩa là diện tích tăng 41,76% tronglúc đó năng suất tăng 5,68% Với sự phát triển của xã hội, nhu cầu đòi hỏi về lượngnông sản ngày càng lớn, nhưng khả năng mở rộng diện tích bị hạn chế, con ngườiphải chuyển sang việc nâng cao chất lượng canh tác, thông qua việc đầu tư thêm tưliệu sản xuất và sức lao động để thu được nhiều sản phẩm hơn trên đơn vị diện tích.Theo phương thức đó đến giai đoạn nhất định của lịch sử, thâm canh có ý nghĩa tolớn và đoáng vai trò quyết định của nông nghiệp
1.2.3.1.2 Sự gia tăng về sản lượng nhãn lồng
Sự gia tăng về sản lượng nhãn lồng phản ánh sự phát triển của sản phẩmSản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào khoa học và công nghệ nhưng có thểkhông rõ phụ thuộc như thế nào, mức độ ra sao Đầu thế kỷ 20, thực chất của bất kỳ
sự gia tăng sản lượng lương thực nào cũng là do tăng thêm những vùng đất canh tácmới Cuối thế kỷ 20, hầu hết sự gia tăng sản lượng là do cải tiến về giống, hạtgiống, phân bón, thuốc trừ sâu, tự động hóa và kỹ năng quản lý, tất cả từ thành quảnghiên cứu
Trang 22Năng suất nông nghiệp thường được tính theo sản lượng trên mỗi đơn vị diệntích hay nhân công Mức năng suất cao nhất ở vài nước châu Á với tổng sản lượngthu hoạch của cây trồng và vật nuôi trên mỗi hecta gấp tám lần của Mỹ do nền nôngnghiệp thâm canh với rất nhiểu lao động, vốn và phân bón cũng như thu hoạchnhiều vụ trên mỗi hecta.
Tuy nhiên, không phải để tăng năng suất thì chỉ cần ném vào đó nhiều tàinguyên hơn như tăng phân bón, hóa chất, máy móc và năng lượng; nên nhớ là sảnxuất nhiều hơn nghĩa là phải chi phí nhiều hơn Vấn đề là làm thế nào để thu đượcnhiều hơn với tổ hợp những yếu tố cho sẵn gồm đất, lao động, vốn, vật tư – chúng
ta gọi đó là năng suất tổng hợp (TFP – Total Factor Productivity) TFP tăng là sựphản ánh của những cải tiến về công nghệ quản lý, đó là khả năng biết cách thuđược nhiều hơn từ đầu tư ít hơn
1.2.3.1.3 Sự gia tăng về doanh thu từ sản phẩm nhãn lồng
Doanh thu TR = Q x P
Trong đó: Q: Sản lượng nhãn
P: Giá nhãnKhi sản lượng tăng, giá tăng chắc chắn doanh thu sẽ tăng, nhưng nếu sảnlượng tăng và giá giảm thì chưa chắc doanh thu đã tăng Như vậy, doanh thu tănghay giảm phụ thuộc chủ yếu vào giá bán sản phẩm Chúng ta đã được nghe rất nhiềucâu chuyện về được mùa, mất giá
Chính vì vậy doanh thu tăng phán ảnh sự phát triển sản phẩm nhãn không chỉ
về số lượng mà còn cả về chất lượng, vì khi giá cả có ổn định, sản lượng tăng doanhthu mới tăng được Mà giá cả ổn đinh phản ánh một phần sự ổn định của chất lượngsản phẩm
1.2.3.1.4 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Một sản phẩm ra đời, xuất hiện trên thị trường, và đã có khách hàng tiêudùng sản phẩm đó thì trên lý thuyết, sản phẩm đó chiếm lĩnh một phần thị trườngtiêu thụ nhất định Phần chiếm lĩnh đó được gọi là thị trường hiện tại của sản phẩm.Tuy nhiên, cũng với sản phẩm đó, ngoài phần doanh nghiệp chiếm lĩnh được thì còn
Trang 23có một phần thị trường của đối thủ cạnh tranh, đó là tập hợp các khách hàng đangtiêu thụ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh
Ba phần thị trường trên tạo thành thị trường tiềm năng cho địa phương xácđịnh rõ thị trường tiềm năng sẽ tạo căn cứ để doanh nghiệp đưa ra các quyết địnhnhằm mở rộng thị trường Như vậy, duy trì, ổn định thị trường là quá trình địaphương cố gắng giữ vững phần thị trường hiện có của mình, không để cho đối thủcạnh tranh có cơ hội xâm nhập, và cũng không để cho những người tiêu dùng hiện
có của mình chuyển sang phần thị trường tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh Còn mởrộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của địa phương là quá trình mở rộng hay tăngkhối lượng khách hàng và lượng hàng hóa bán ra của địa phương bằng cách xâmnhập vào thị trường tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh, lôi kéo những người tiêu dùnghiện tại của đối thủ cạnh tranh sang thị trường tiêu thụ của mình, và kích thíchnhững người không tiêu dùng tương đối tiêu thụ sản phẩm của mình Để thực hiệnđược chiến lược này, đòi hỏi địa phương phải có những phương án, cách thức hữuhiệu Việc mở rộng thị trường có thể thực hiện theo hai cách, đó là mở rộng thịtrường theo chiều rộng và mở rộng thị trường theo chiều sâu
Mở rộng thị trường theo chiều rộng: là việc địa phương thực hiện xâm nhậpvào thị trường mới, thị trường mà người tiêu dùng chưa biết đến sản phẩm của địaphương Hay còn gọi là thị trường của đối thủ cạnh tranh
Mở rộng thị trường theo chiều sâu là việc địa phương khai thác tốt hơn thịtrường hiện có của địa phương, tiến hành phân đoạn, cắt lớp thị trường, cải tiến hệthống phân phối, thực hiện các chính sách về sản phẩm, giá, dịch vụ sau bán hàng
1.2.3.2 Tiêu chí đánh giá phát triển về chất lượng
1.2.3.2.1 Lợi nhuận
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Doanh thu hay tổng giá trị sản xuất (GO):
GO = PxQ
Trong đó: P: giá bán/kg nhãn lồng
Q: Sản lượng nhãn
Trang 24Tổng chi phí sản xuất (TC) = IC + KH + Công lao động gia đình
Trong đó:
IC: Giá trị gia tăng/Chi phí trung gian
KH: Khấu hao
1.2.3.2.2 Bao bì sản phẩm, bảo quản và vệ sinh an toàn thực phẩm
Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe của họ, nguồn gốc xuất
xứ và chất lượng của những sản phẩm mà họ tiêu dùng Phần lớn các quy địnhthông thường đều tập trung đến phẩm chất, kích thước, trọng lượng và ghi nhãn bao
bì Qui định nghi nhãn mác yêu cầu các thông tin như: nước xuất khẩu, tên sảnphẩm, chủng loại và số lượng
Các nhà sản xuất phải đảm bảo chất lượng và độ an toàn của các sản phẩm
mà họ sản xuất ra, và tránh được tất cả các nguy cơ tiềm tang như rủi ro từ nguồnnước ô nhiễm hoặc ô nhiễm vi sinh vật hay hóa chất Các quy định về mức dưlượng tối đa cho phép các loại thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu,thuốc trừ bệnh…) có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc gia và quốc tế Các nhà sảnxuất và xuất khẩu phải tuân thủ các quy định của nước họ (khi mà gần đây nhất cóquy định về mức dư lượng tối đa cho phép với các loại thuốc bảo vệ thực vật) vàcác quy định của các nước nhập khẩu Họ chỉ có thể sử dụng các loại hóa chất đãđược sử dụng cho từng loại cây trồng riêng biệt và phải tuân thủ nghiêm túc hướngdẫn được nêu cụ thể trên các tờ hướng dẫn sử dụng hoặc trên các đồ chứa
Truy xuất nguồn gốc sản phẩm để đối phó với những vấn đề gần đây về antoàn thực phẩm và khủng bố toàn cầu, nhiều chính phủ đang tăng cường kiểm soát ởtất cả các công đoạn sản xuất, chế biến và phân phối thực phẩm nhằm bảo vệ ngườitiêu dùng khỏi các nguy cơ ô nhiễm sinh học, hóa học và môi trường lên thực phẩm.Truy xuất (truy tìm nguồn gốc sản phẩm) là khả năng theo dõi sự di chuyển củathực phẩm qua các công đoạn nhất định trong việc sản xuất, chế biến và phân phối
Nó giúp tăng cường hiệu quả trong việc thu hồi các loại thực phẩm bị ô nhiễm Hơnthế nữa, chúng cũng giúp xác định gốc rễ của một vấn đề an toàn thực phẩm, tuânthủ các quy định pháp luật và đạt được sự mong đợi của người tiêu dùng về an toàn
và chất lượng khi mua sản phẩm
Trang 251.2.3.2.3 Thương hiệu sản phẩm, các hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm
Tính toán giá trị thương hiệu là một vấn đề hết sức khó khăn đặc biệt thươnghiệu tập thể Bởi thương hiệu là một tài sản vô hình quá giá của cơ sở, thương hiệutập thể là tài sản chung của cộng đồng đem lại lợi ích cho cộng đồng chứ không chỉriêng ai, không thuộc quyền sở hữu của cá nhân nào chính vì vậy việc xác định lợiích mang lại từ thương hiệu cho cộng đồng là rất khó Tuy nhiên qua sự tổng hợptính toán của các nhà chuyên môn đã cho thấy một số yếu tố chỉ tiêu tạo nên giá trịthương hiệu: sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu, sự nhận biết vềthương hiệu, sự nhận thức về chất lượng sản phẩm, sự liên tưởng đối với thươnghiệu và một số thuộc tính khác của thương hiệu Sức mạnh thương hiệu tỷ lệ với giátrị thương hiệu và nó được phản ánh thông qua chỉ tiêu về: Sản lượng và giá cả tiêuthụ sản phẩm, kênh phân phối sản phẩm, thị phần của sản phẩm trong và ngoài tỉnh
1.2.3.2.4 Sự hài lòng của khách hàng
Theo Kotler (2000) định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lònghoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được củasản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ” Sự hài lòngcủa khách hàng là việc khách hàng căn cứ vào những hiểu biết của mình đối với sảnphẩm hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan Đó
là một dạng cảm giác về tâm lý sau khi nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn Sựhài lòng của khách hàng được hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm, đặc biệtđược tích lũy khi mua sắm và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ Sau khi mua và sửdụng sản phẩm khách hàng sẽ có sự so sánh giữa hiện thực và kỳ vọng, từ đó đánhgiá được sự hài lòng hay không hài lòng
Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay khách hàng là nhân tố quyết định
sự tồn tại của sản phẩm Sản phẩm nào dành được mối quan tâm và sự trung thànhcủa khách hàng sản phẩm đó sẽ thắng lợi và phát triển Chiến lược phát triển sảnphẩm tới khách hàng là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, địa phương, làm thếnào để đem đến cho khách hàng sự hài lòng tốt nhất luôn là vấn đề các doanh nghiệp,
tổ chức cố gắng làm hết khả năng của mình Việc làm hài lòng khách hàng đã trở
Trang 26thành một việc quan trọng đối với doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực nâng caochất lượng sản phẩm dịch vụ để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.Chất lượng là yếu tố quan trọng nhất trong việc tạo nên sự hài lòng khách hàng, tạo ra
ưu thế phát triển và thế mạnh trong cạnh tranh với các sản phẩm đồng loại
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm nhãn lồng
1.3.1 Nhóm yếu tố khách quan
1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trong các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên, nhân tố đầu tiên phải kể đến
là điều kiện đất đai Các tiêu thức của đất đai cần được phân tích, đánh giá về mức
độ thuận lợi hay khó khăn cho sản xuất hàng hóa nông nghiệp là: Tổng diện tích đất
tự nhiên, đất nông nghiệp; đặc điểm về chất đất (nguồn gốc đất, hàm lượng các chấtdinh dưỡng có trong đất, khả năng mà cây trồng các loại có thể sử dụng các chấtdinh dưỡng đó, độ PH của đất…); đặc điểm về địa hình, về cao độ của đất
Đối với sản xuất hàng hóa nông nghiệp, đất đai tuy thường được xem xéttrước, nhưng mức độ ảnh hưởng của nó đến sản xuất hàng háo không mang tínhquyết định bằng điều kiện khí hậu Những thông số cơ bản của khí hậu như: nhiệt
độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất, thấp nhất hàng
Năm, hàng tháng; lượng mưa bình quân cao nhất, thấp nhất; độ ẩm không khí;thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng; chế độ gió, những hiện tượng đặc biệt củakhí hậu như sương muối, mưa đá, tuyết rơi, sương mù… đều phải được phân tích, đánhgiá về mức độ ảnh hưởng đến phát triển của từng loại cây trồng cụ thể
Như vậy, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên được xem như cơ sở tựnhiên của phân công lao động trong nông nghiệp Đa phần những chuyên môn hóatheo vùng trong nông nghiệp cho đến thời đại ngày nay, đều xuất phát từ sự khácbiệt về khí hậu và nguồn nước Chính vì vậy, đối với phát triển nông nghiệp hànghóa thì đòi hỏi phải nghiên cứu tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượngtốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng Mặt khác, sự khác biệt về điềukiện tự nhiên giữa các vùng lãnh thổ đã hình thành nên các vùng cây con đặc sản cólợi thế cạnh tranh rất cao Đây cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát
Trang 27triển nông nghiệp hàng hóa, cần phải tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên trong sảnxuất hàng hóa nông nghiệp.
Nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ: Đây là chỉ tiêu rất quan trọng để quyết địnhchọn cây gì, con gì cho vùng sinh thái đó, vì các loại khác nhau có những yêu cầukhác nhau về nhiệt độ,độ ẩm như:
Bảng 1.2: Yêu cầu nhiệt độ, lượng mưa của một số cây ăn quả
Bảng 1.3 Yêu câu về đất đai để trồng một số loại cây ăn quả
Cây trồng Yêu cầu về đất để trồng một số loại cây ăn quả
Nhãn Trồng được trên đất phù sa, đất thịt nhẹ, đất đồi, đất có tầng
dày trên 70cm, tỷ lệ mùn 2%, độ PH 5,5 – 6,5Vải Có tính thích ứng rộng, không kén đất, chịu hạn, độ PH từ 5,5
– 6,5 Sườn đồi có tầng đất dày trên 70cm, đố dộc dưới 250.Bưởi Đất nhiều mùn, thoáng khí, giữ ẩm và thoáng nước, tầng đất
dày, mực nước ngầm thấp
Na Không kén đất, tốt nhất trên đất có tầng dày >70cm, đất phù sa
ven sông, phù sa cổ, đất ven đồi núi, ưa đất chua PH 5 – 5,5
1.3.1.2 Tiến bộ khoa học – công nghệ
Trong bối cảnh sự cạnh tranh ngày càng gia tăng, tiến bộ khoa học công nghệ
và việc ứng dụng chúng vào quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản quả ngày càngtrở nên quan trọng, góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường
Trang 28trong nước và quốc tế.
Công nghệ nhân giống nhãn có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng, chất lượng(cây con đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo các đặc tính di truyền tốt, không mangbệnh.v.v) và giá thành cây con sản xuất ra Công nghệ nhân giống, lai tạo giống còncho phép tạo ra các giống nhãn cho quả với năng suất cao, chất lượng tốt thỏa mãnnhu cầu ngày càng tăng của con người
Công nghệ sản xuất quả nhãn với hệ thống qui trình sản xuất và các biệnpháp kỹ thuật trong khâu trồng (làm đất, chọn mật độ trồng, kỹ thuật trồng); tạo tán;chăm sóc; và thu hoạch ngày càng được nghiên cứu, cải tiến và hoàn thiện hơn chophù hợp với các điều kiện sinh thái khác nhau, đã cho phép tạo dựng được các vườntrồng có năng suất, chất lượng sản phẩm cao và thời vụ thu hoạch dài, đáp ứng nhucầu ngày càng tăng của thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất
Công nghệ bảo quản quả nhãn tươi, theo ước tính, tổn thất sau thu hoạch sảnphẩm rau quả nói chung của nước ta hiện còn khá cao, vào khoảng 20 – 25% Sựhao hụt này là do các quá trình vật lý (chẳng hạn như sự thoát hơi nước, sự sinhnhiệt); các quá trình sinh lý (chẳng hạn như sự hô hấp, sự chín) và quá trình thayđổi thành phần hóa học (chẳng hạn như sự thay đổi màu sắc, sự chuyển hóa cácchất) xảy ra trong quả tươi khi tồn trữ Vì vậy, công nghệ bảo quản quả sau thuhoạch có vai trò đặc biệt trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành hàng này.Ngoài các phương pháp bảo quản quả tươi truyền thống, khoa học ngày nay đã tìm
ra nhiều phương pháp mới, hiện đại hơn nhằm bảo quản quả tươi lâu hơn
1.3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Các hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, trung tâm thươngmại, cơ sở công nghiệp chế biến.v.v tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất, chếbiến, giao lưu hàng hóa nói chung và thực phẩm quả nói riêng Hệ thống cơ sở hạtầng có phát triển mới tạo điều kiện tiền đề cho việc thực hiện thâm canh sản xuấtcây ăn quả, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong bảo quản, chế biến sảnphẩm, tăng cường hoạt động thông thương buôn bán hàng hóa và khuyến khích đầu
tư ra nước ngoài Đồng thời nó cho phép tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm,
Trang 29góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm quả nhãn Việt Nam trên thịtrường trong nước và quốc tế.
1.3.1.4 Thị trường
Nói đến thị trường là đề cập tới các yếu tố: Cung, cầu, giá cả, quy mô thịtrường, cạnh tranh… Chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với sự vận động và biếnđổi của thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường, tác động trực tiếp đến chất lượngsản phẩm Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp hay địa phương xác địnhđược khách hàng của mình là đối tượng nào? Quy mô ra sao? Và tiêu thụ ở mứcnhư thế nào?
Từ đó doanh nghiệp hay địa phương có thể xây dựng chiến lược sản phẩm,
kế hoạch sản xuất để có thể đưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp,giá cả hợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu dùng ở những thời điểm nhất định Bởi
bì sản phẩm có chất lượng cao không phải lúc nào cũng tiêu thụ nhanh và ngược lạichất lượng có thể không cao nhưng người tiêu dùng lại mua chúng nhiều Điều này
có thể do giá cả, thị hiếu của người tiêu dùng ở các thị trường khác nhau là khácnhau, hoặc sự tiêu dùng mang tính thời điểm Điều này phản ánh rõ nét nhất với cácsản phẩm mốt hoặc những sản phẩm sản xuất theo mùa vụ
Thông thường khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêucầu của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm nhiều tới mặt xã hội củasản phẩm Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăngtheo Đôi khi họ chấp nhận mua sản phẩm với giá cao tới rất cao để có thể thỏa mãnnhu cầu cá nhân
Chính vì vậy, các doanh nghiệp, địa phương, người nông dân không chỉ sảnxuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường mà cònphải quan tâm tới khía cạnh thẩm mỹ, an toàn và kinh tế của người tiêu dùng khitiêu thụ sản phẩm
Thị trường các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến mặt cung sản phẩmquả và đến hiệu quả của sản xuất – kinh doanh Thị trường các yếu tố đầu vào nhưlao động, vốn, vật tư (giống, phân bón, hóa chất, dịch vụ phục vụ…) càng phát triển
và hoạt động có hiệu quả thì không những đáp ứng tốt nhu cầu đầu vào của sản xuất
Trang 30kinh doanh về mặt số lượng, chất lượng, chủng loại, thời điểm mà còn cả về phươngdiện giá cả, góp phần nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệuquả sản xuất – kinh doanh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
1.3.1.5 Cơ chế, chính sách của Nhà nước
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là nhân tố có ảnh hưởng rộngkhắp và lâu dài đến toàn bộ sự phát triển của ngành hàng cây ăn quả nói chung và câynhãn nói riêng Ở nước ta, các chính sách lớn có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đếnquá trình sản xuất, chế biến, lưu thông, tiêu thụ và tiêu dùng thực phẩm quả bao gồm:
Chính sách kinh tế nhiều thành phần với các nội dung chủ yếu: thừa nhận hộ
là đơn vị kinh tế tự chủ; từng bước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối với các hợptác xã, nông, lâm trường; đổi mới các doanh nghiệp nhà nước; khuyến khích pháttriển kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân
Cơ chế lưu thông hàng hóa với phần lớn giá cả các loại vật tư, nông sản chủyếu do thị trường quyết định Thị trường trong cả nước đã trở thành một thể thốngnhất và đang dần từng bước hội nhập sâu hơn và thị trường thế giới
Chính sách đầu tư của nhà nước đối với ngành nông nghiệp, chính sách xuấtkhẩu, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp, chính sách thuế suất nhập khẩu,chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách xóa đói giảm nghèo
Cơ chế chính sách của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trìnhthúc đẩy, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi địa phương, doanhnghiệp Việc ban hành các hệ thống chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, các quy định vềsản phẩm đạt chất lượng, xử lý nghiêm việc sản xuất hàng giả, hàng kém chấtlượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh, thuế quan, các chính sách ưu đão đầu tư đổimới công nghệ là những nhân tố hết sức quan trọng, tạo động lực phát huy tính tựchủ, sáng tạo trong cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan
1.3.2.1 Nguồn lực: đất đai, vốn, lao động, trình độ khoa học – kỹ thuật
Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất ra sảnphẩm, nó là đối tượng lao động không thể thay thế được; hiệu quả của sản xuất
Trang 31nông nghiệp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đất đai Việc cho phép nông dân đượcquyền sử dụng đất sản xuất lâu dài thì nguồn tài nguyên đất đai mới sử dụng có hiệuquả, được bảo vệ và phát triển độ màu mỡ trong quá trình khai thác, quá trìnhchuyển nhượng sử dụng đất sẽ dẫn đến đất đai vận động theo hướng tập trung, hìnhthành nên các trang trại, đồn điền, có quy mô sản xuất hàng hóa phù hợp, đem lạilợi nhuận cao Bên cạnh đó, với các điều kiện khác nhau, nếu chỉ tiêu đất đai nôngnghiệp, đất canh tác trên một nhân khẩu, một lao động càng cao, sẽ tạo điều kiệnthuận lợi cho sản xuất hàng hóa và chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp hìnhthành và phát triển
Cũng như đất đai, sức lao động là một trong hai yếu tố cơ bản cấu thành quátrình sản xuất và tái sản xuất nông nghiệp Mở rộng thị trường lao động chính làmôi trường tạo nên sự chuyển dịch người lao động từ nơi thừa đến nới thiếu, từ việclàm hiệu quả sản việc làm có hiệu quả hơn, tạo điều kiện để phân bố sức lao độnghợp lú, phù hợp với khả năng, trình độ của người lao động trong nông nghiệp
Khoa học – công nghệ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trongviệc thúc đẩy quá trình chuyển từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền nôngnghiệp hàng hóa Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ có vai trò ngày càngquan trọng đối với sự hình thành và phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp Nhậnđịnh đó được thể hiện trên một số khía cạnh sau đây:
Những tiến bộ trong khâu sản xuất và cung ứng giống cây trồng Các loạigiống cây có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt cho phép tăng quy mô sảnlượng hàng hóa mà không cần mở rộng thêm diện tích trong nông nghiệp Các loạigiống mới có sức kháng chịu dịch bện cao giúp ổn định năng suất cây trồng; ổnđịnh sản lượng sản phẩm hàng hóa Đặc biệt trong công nghệ ghép mắt của câytrồng đã trưởng thành vào gốc cây trồng non đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi chocác vùng chuyên canh cây trồng dài ngày mau chóng cho sản phẩm, rút ngắn thời
kỳ kiến thiết cơ bản của vườn cây, ổn định tính năng di truyền những phẩm chất tốtcủa cây cung cấp mắt ghép, đồng thời lại có sức sinh trưởng cao của gốc cây non.Bên cạnh những tiến bộ về công tác giống, còn phải kể đến xu hướng lai tạo, bình
Trang 32tuyển các giống cây trồng cho sản phẩm phù hợp với kinh tế thị trường: chịu được
va đập trong quá trình vận chuyển, giữ được độ tươi ngon dài ngày trong quá trìnhvận chuyển Có thể nói xu thế tuyển tạo các loại giống phù hợp với yêu cầu củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa không thể không lưu ý đến khả năng chịu đượcnhững tác động của sự vận chuyển sản phẩm đi xa, trong thời gian ngày càng dàihơn Bên cạnh tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất cây con mới, hệ thống quitrình kỹ thuật tiên tiến cũng được hoàn thiện và phổ biến nhanh đến người sản xuấtnông nghiệp
1.3.2.2 Trình độ tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất
Các yếu tố sản xuất như nguyên liệu, đất đai, lao động…dù có ở trình độ caosong không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa cáckhâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng Không nhữngthế, nhiều khi nó còn gây thất thoát, lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của doanhnghiệp, địa phương Do đó, công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chứcsản xuất trong các doanh nghiệp, địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng
Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạt động cóhiệu quả thì cần phải có năng lực quản lý Trình độ quản lý nói chung và quản lýchất lượng nói riêng là một trong những nhân tố cơ bản góp phần cải tiến, hoànthiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, địa phương Điều này gắn liền vớitrình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý về chất lượng, chính sách chấtlượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhằm xác định được mục tiêu một cáchchính xác rõ rang, làm cơ sở cho việc hoàn thiện, cải tiến
Trang 33người tiêu dùng thông qua tín hiệu giá cả thị trường Chính giá cả thị trường sẽ cungcấp tín hiệu, thông tin nhanh nhậy để điều tiết hành vi kinh tế của các chủ thể kinh
tế sao cho có lợi nhất Thông qua sự vận động của giá cả, thị trường có tác dụngđịnh hướng cho người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, thay đổi mặt hàng, thayđổi kỹ thuật sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường Thị trường ngày càngphát triển sẽ góp phần làm cho sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng, phongphú Thị trường cũng lựa chọn, đòi hỏi cao về số lượng và chất lượng, phong phú vềchủng loại nông sản hàng hóa
Việc xây dựng thị trường tiêu thụ cho nông nghiệp hàng hóa là cơ sở để cácdoanh nghiệp, địa phương tồn tại và phát triển Trong nền sản xuất hàng hóa, sảnphẩm sản xuất ra là nhằm để bán và trao đổi trên thị trường Do vậy, điều kiện cơbản để các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp tiến hàng hoạt động kinh doanh củamình là phải xác định được thị trường đầu ra, tiềm kiếm được khách hàng và lựachọn được phương thức tiêu thụ sản phẩm Thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nôngnghiệp rất đa dạng và phong phú, đó có thể là các doanh nghiệp công nghiệp (các cơ
sở chế biến nông sản), các doanh nghiệp thương mại (các nhà bán buôn, bán lẻ, đạilý…) và những người tiêu dùng, nông lâm sản thông qua các chợ, các đại lý tiêuthụ, các cơ sở chế biến công nghiệp tiêu thụ ở thị trường các tỉnh lân cận và nướcngoài thông qua các nhà xuất khẩu các hợp đồng kinh tế, khả năng khai thác và mởrộng thị trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp là nhân tố hết sứcquan trọng quyết định quy mô và trình độ phát triển nông nghiệp hàng hóa
1.4 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm nhãn ở Thái Lan và các địa phương 1.4.1 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm nhãn ở Thái Lan
Thái Lan là nước có tiềm năng sản xuất rau quả tương đương với nước ta,song kim ngạch xuất khẩu rau quả của Thái Lan vượt xa so với nước ta Kim ngạchxuất khẩu của ta chỉ bằng 23,6% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm của Thái Lan Mộttrong những nguyên nhân dẫn tới thành công trong lĩnh vực xuất khẩu rau quả củaThái Lan là: Ngoài yếu tố thuận lợi về thị trường tiêu thụ (thị trường xuất khẩu rauquả của Thái Lan là: EU, Hà Lan, Tây Đức, Đông Âu), Thái Lan rất nỗ lực trong
Trang 34việc phát triển ngành công nghiệp rau quả Thái Lan chú trọng đầu tư trang thiết bịdây chuyền công nghệ chế biến tiên tiến, đảm bảo điều kiện vận tải kỹ thuật đónggói hiện đại và đặc biệt thỏa mãn được các yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn kỹthuật của EU, MỸ, Nhật đặt ra ở các thị trường phát triển.
Lâu nay, nông dân Hưng Yên luôn tự hào vì có đặc sản nhãn lồng ngon ngọtnhất nước Thế nhưng, cho đến thời điểm này, khi nhãn từ đất nước Thái Lan xa xôitràn ra tận miền Bắc, vừa ngon, đẹp mà lại rẻ, thì nhiều người mới vội đặt câu hỏi:
Vì sao nhãn lồng Hưng Yên thất thế?
Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN - PTNT) thì đến thời điểm 2011, diện tích nhãncủa cả nước vẫn duy trì ở mức xấp xỉ 100 nghìn hecta, với tổng sản lượng quả ướctính lên tới 500 nghìn tấn Trong các loại cây ăn quả, diện tích nhãn chỉ đứng saucây chuối và gần tương đương với diện tích cây vải, được xếp vào danh sách cácloại cây ăn quả chủ lực của nước ta Thế nhưng cũng như số phận của cây vải thiều,việc giá cả quả nhãn sụt giảm đã khiến nông dân càng ngày càng xa lánh loại câynày, và xu hướng trong mấy năm gần đây là diện tích nhãn trên cả nước đang giảmmột cách đáng kể
Nhờ chiến lược đầu tư cho cây ăn quả, đặc biệt là chú trọng chọn tạo giống
và công nghệ cấy ghép gen nên Thái Lan hiện nay có bộ giống nhãn tuyệt vời nhưBewkew, Ido…Các giống nhãn này có quả to đều, cùi dày và mềm, mẫu mã đẹp, vịngọt đậm So với nhãn lồng Hưng Yên, nhãn Thái Lan thậm chí còn có ưu thế hơn
về chất lượng Đặc biệt, tuy mùa vụ thu hoạch gần trùng với Việt Nam, nhưng côngnghệ xử lý cho nhãn ra hoa bằng các chế phẩm như Clorat giúp nhãn ra hoa rải vụđều, gần như quanh năm Ở một vườn nhãn ở Thái Lan, nông dân có thể khoanhvùng thành từng khu, khu thì đã có quả thu hoạch, khu mới ra quả, khu mới ra hoa,khu chưa ra hoa Có thể nói, công nghệ xử lí này đã giúp nông dân Thái Lan gầnnhư chủ động hoàn toàn về mùa vụ, và không chịu sức ép ứ đọng thị trường Trongkhi đó, dù đã rất cố gắng trong việc phổ biến các kỹ thuật xử lý ra hoa rải vụ, nhưngnhãn Hưng Yên hiện nay thời vụ thu hoạch dài nhất chỉ kéo dài được gần 1 tháng
Về năng suất, các vườn nhãn thâm canh tốt của Thái Lan hiện nay có năngsuất tới 10 – 12 tấn/hecta Trong khi đó, năng suất nhãn của Việt Nam hiện nay
Trang 35trung bình chỉ có 3 – 4 tấn/hecta, cá biệt mới có vườn năng suất 6 - 7 tấn/hecta chỉbằng ½ năng suất nhãn của Thái Lan Từ năm 2008, Viện Nghiên cứu rau quả cũng
đã từng nhập khẩu các giống nhãn của Thái Lan về trồng thử nghiệm, hiện tại đãcho ra quả, nhưng do không thích nghi tốt nên tỉ lệ quả rất thấp
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển nhãn ở tỉnh Bắc Giang
Những năm gần đây ngành nông nghiệp, các huyện, thành phố Bắc Giang cóchính sách hỗ trợ xây dựng mô hình trồng nhãn mới nên diện tích nhãn cho năngsuất, chất lượng cao ngày càng mở rộng Theo sở Nông Nghiệp và PTNT, năm 2015toàn tỉnh có hơn 2,2 nghìn ha nhãn, trong đó diện tích được thu hoạch 1,8 nghìn ha,tăng 300 ha so với cùng kỳ năm ngoái và là năm tiếp tục được mùa Hầu như vườnnào cũng sai quả, năng suất nhãn bình quân ước đạt 70 – 80 tạ/ ha, sản lượng hơn
15 nghìn tấn, tăng 2 nghìn tấn so với năm ngoái
Hiện nay, cơ cấu các trà nhãn tương đối hợp lý Đây cũng là cây trồng rải vụ,vận chuyển dễ, tăng thu nhập cho nông dân Do đó từ nay đến năm 2020, ngànhnông nghiệp định hướng mở rộng diện tích nhãn toàn tỉnh lên hơn 3 nghìn ha trênchân đất ven sông, suối hoặc đất cấy lúa kém hiệu quả Việc Bộ Nông nghiệp Mỹđồng ý nhập khẩu nhãn của Việt Nam mở ra cơ hội vươn xa cho loại quả này củatỉnh Vì thế, cùng với định hướng tăng quy mô sản xuất, ngành cũng dự kiến xâydựng vùng trồng nhãn theo quy trình GlobalGAP, cấp 1 – 2 mã vùng để xuất khẩunhãn vào Mỹ và một số thị trường khác vào các vụ tới
1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm
Thứ nhất: Bài học về quy hoạch và quản lý sử dụng đất trồng nhãn ở ViệtNam hiện nay
Đất đai là tiềm lực sản xuất cơ bản không thể thay thế trong nông nghiệp Côngtác qui hoạch quản lý sử dụng đất nông nghiệp đang nổi nên vấn đề bức xúc, nan giải làngười nông dân vùng đô thị hóa mất đất canh tác, nảy sinh vấn đề khiếu kiện về đất đaigây yếu tố bất ổn định Do vậy, bài học Trung Quốc có thể vận dụng cho Việt Nam là:hạn chế tối đa lấy đất nông nghiệp cho mục đích công nghiệp, và nên ban hành mứcthuế đánh mạnh vào chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, nhằm ngăn chặnviệc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhằm ngăn chặn việc nông dân mất đất do đôthị hóa tạo nên Mặt khác, cũng cần ban hành chính sách và giám sát thật chặt chẽ việc
Trang 36qui hoạch dử dụng đất trồng nhãn trên cả nước và từng địa phương một cách có căn cứ,
ổn định, lâu dài Phải có căn cứ khoa học và thực tiễn, có quan điểm khách quan, toàndiện, lịch sử, cụ thể và tầm nhìn xa về xây dựng và phát triển cây nhãn Kiên quyết giữcác vùng đất tốt chuyên canh trồng nhãn
Khi cần thu hồi đất của nông dân thì phải đền bù thỏa đáng, thật thấu đáo và
bố trí công ăn việc làm thích hợp cho nông dân Phần lợi nhuận thu từ đất thu hồitrích theo tỷ lệ nộp lại cho địa phương sử dụng mục đích công cộng xã hội
Để mở rộng quy mô trồng nhãn, chúng ta cũng cần tạo điều kiện cho quátrình tích tụ ruộng đất, nên nới rộng hạn điền và thời gian giao quyền sử dụng đất từ
50 – 100 năm để người dân yên tâm đầu tư lâu dài Trong trường hợp người dânchuyển sang các ngành nghề khác thì nhà nước đứng mua và cho thuê nhằm đảmbảo diện tích đất trồng nhãn
Bài học thứ hai, hỗ trợ tích cực cho nông dân bằng việc chuyển dịch cơ cấuQuả Nhãn Việt Nam vừa qua có một bước tiến bộ như tăng trưởng về diệntích, qui mô, sản lượng thậm chí nhãn đã được thị trường Mỹ chấp nhận nhậpkhẩu, nhưng về cơ bản thì nhãn vẫn chưa biến đổi nhiều về chất lượng, nông dân tavẫn xuất khẩu dưới dạng thô hoặc sơ chế, hàm lượng dinh dưỡng thấp, giá trị hànghóa vẫn còn bị thua thiệt Do vậy, bài học là tới đây chúng ta cần phải chuyển dịch
cơ cấu theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, giá trị cao, cần phải chú trọng đầu
tư nghiên cứu và khuyến khích chuyển giao sử dụng các kết quả khoa học côngnghệ trong nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học
Chúng ta đang đề ra nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình ấykhông chỉ là áp dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin, tự động hóa vào trộngtrọt… mà còn là phải thay đổi các qui trình và công nghệ, qui luật sinh học, tạo racác giống cây cho năng suất cao, chất lượng cao có khả năng chống chịu được thờitiết khắc nghiệt và có sức kháng bệnh tốt Có như thế, chúng ta mới có một nềnnông nghiệp cao và cùng đồng nghĩa chất lượng sản xuất và đời sống nông dân ởbậc cao, phát triển bền vững Để thực hiện bài học này, Chính phủ, bộ và các ngành
có liên quan phải hỗ trọ nông dân cách sử dụng công nghệ sinh học
Bài học thứ ba, Chính Phủ phải có bước đột phá về thị trường và nâng caosức cạnh tranh của hàng hóa nông sản, hoàn thiện thể chế lưu thông, nhất là lưu
Trang 37thông hàng nông sản.
Việc gia nhập WTO là thách thức lớn với nông dân và hàng hóa nông sảnViệt Nam Ở đây, phương thức canh tác nông nghiệp còn lạc hậu, năng suất thấp vàchi phí cao, chất lượng và qui cách sản phẩm không đồng đều… đang là khó khăncho việc cạnh tranh của nông sản Việt Nam Để khắc phục tình trạng trên Việt Namcần có bước đột phá thị trường để xa thương hiệu, quảng bá sản phẩm, chiếm lĩnhthị phần ở thị trường EU, Úc, Nhật, Hoa Kỳ…Trách nhiệm này không thể phó tháccho nông dân hay một doanh nghiệp, một địa phương cụ thể nào mà đó phải là tráchnhiệm của chính phủ và các bộ chuyên ngành, các cơ quan hoạch định chiến lượcquốc gia cùng chung tay phối hợp thực hiện thì mới hiệu quả được
Bài học thứ tư, cần có biện pháp hỗ trợ hiệu quả cho nông dân:
Trong cơ chế thị trường, nông dân luôn là người chịu thiệt và yếu thế vì sựcạnh tranh khốc liệt làm cho họ yếu dần đi Bản thân sự sản xuất của họ lại luônhàm chứa rủi ro vì biến động giá cả và thời tiết, việc đầu tư cho nông nghiệp manglại lợi nhuận thấp ít hấp dẫn các nhà đầu tư nhưng sản xuất nông nghiệp và sảnphẩm của nông dân lại là bắt buộc và không thể thiếu đối với xã hội Ở các nướcnông nghiệp phát triển người ta rất quan tâm và có điều kiện tài chính để trợ cấp,bảo hộ rất mạnh cho nông nghiệp Sự thật các nước này luôn dựng lên một hàng ràobảo hộ ở mức cao gây khó khăn cho hàng nông sản của chúng ta thâm nhập vào thịtrường các nước
Còn ở nước ra, vừa nghèo chưa đủ điều kiện lại vừa chưa nhận thức đúng điềunày nên sự hỗ trợ cho nông nghiệp và nông dân bị xem nhẹ Việc gia nhập WTO đang
dự báo nông nghiệp và nông dân ta sẽ phải chịu nhiều tác động do năng lực cạnh tranh
và trình độ sản xuất thấp như đã phân tích trên và do vậy, hỗ trợ có hiệu quả cho nôngdân là một thực tế đặt ra và cũng là bài học rút ra kinh nghiệm từ các nước
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM NHÃN LỒNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Khái quát về thị trường và thị hiếu tiêu dùng sản phẩm nhãn của người
tiêu dùng trong và ngoài nước
2.1.1 Thị hiếu tiêu dùng sản phẩm nhãn lồng trong nước
Người tiêu dùng là nhân tố quyết định thành công của doanh nghiệp, thôngqua làm hài lòng khách hàng doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu lợi nhuận củamình Chính vì vậy để tìm hiểu được và thỏa mãn nhu cầu mong muốn của kháchhàng, doanh nghiệp phải hiểu biết về khách hàng
Trên thị trường nhãn lồng Hưng Yên là sản phẩm nổi tiếng và có vị trí nhấtđịnh trong thói quen mua bán của người tiêu dùng Tuy vậy, việc mua bán đượcđúng sản phẩm nhãn lồng đối với người tiêu dùng nói chung thậm chí rất khó khăn
do không thể phân biệt được đâu là nhãn lồng thật ngay cả với những người địaphương Những người buôn hoa quả chuyên nghiệp cũng phải mất thời gian bìnhquân khoảng 3-4 năm để phân biệt cho được các loại giống nhãn bán trên thịtrường Phần lớn nhãn ăn tươi tiêu thụ tại Hà Nội hay các tỉnh khác là cho đối tượngkhách hàng có thu nhập khá trở lên hay các khách hàng cao cấp
2.1.2 Thị hiếu tiêu dùng sản phẩm nhãn lồng của người nước ngoài
Với dân số đông, hơn 400 triệu người tiêu dùng, thu nhập cao, Mỹ, EU làmột thị trường đầy tiềm năng cho nhiều mặt hàng xuất khẩu trong đó có hoa quảtươi Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có nhu cầu khác nhau về hoa quả tươi nhập khẩu
Lý do là: EU có sự khác biệt về khí hậu Một số nước vùng Scandinavra như ThụyĐiển, Phần Lan có khí hậu lạnh trong khi Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…là nhữngnước vùng Địa Trung Hải lại có khí hậu cận nhiệt đới còn các nước Tây Bắc Âunhư Anh, Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan… lại nằm trong vùng khí hậu ôn hòa Chính sựkhác biệt về thời tiết này đã tạo ra khả năng gieo trồng các loại hoa quả khác nhau
Trang 39và đưa đến nhu cầu nhập các loại hoa quả tương đối khác nhau giữa các nước Vìvậy, EU là thị trường có nhu cầu đa dạng và phong phú đối với các loại hoa quả đặcbiệt có nhu cầu cao đối với các sản phẩm hoa quả miền nhiệt đới Việt Nam đã xuấtkhẩu thanh long, chôm chôm, đến lượt vải và nhãn là hai loại hoa quả tươi tiếp theođược chấp nhận nhập khẩu vào thị trường Mỹ, EU.
Mặc dù có nhu cầu đa dạng song để thâm nhập vào thị trường này khôngphải đơn giản bởi Mỹ, EU là thị trường rất khó tính Các nhà nhập khẩu EU luôn có
xu hướng đòi hỏi cao đối với hàng nhập khẩu từ nước ngoài và họ thường tỏ ra thậntrọng thậm chí hơn cả người Mỹ Những yêu cầu khắt khe này của người nhập khẩuxuất phát từ chính đòi hỏi của thị trường Người tiêu dùng là những người sử dụngsản phẩm cuối cùng, họ tỏ ra rất kỹ lưỡng, chặt chẽ trong việc mua bán sản phẩm.Chính vì vậy, những mặt hàng nào không đáp ứng được các yêu cầu của họ sẽkhông thể tồn tại trên thị trường
Mỹ, EU còn là thị trường bảo vệ người tiêu dùng Một đặc điểm nổi bật trênhai thị trường là quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ khác hẳn với thị trườngcủa các nước đang phát triển Để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, hai thịtrường này tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có các hệ thốngbáo động giữa các nước thành viên, bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới
Vì vậy, thông thường khi triển khai hoạt động nhập khẩu sản phẩm nhãn quả tươi,các tổ chứ, doanh nghiệp Mỹ thường muốn tham quan tìm hiểu quá trình sản xuấtngay từ khâu trồng trọt, và hệ thống xử lý môi trường trong suốt quá trình sản xuất
và bảo quản quả nhãn Ngoài ra, Mỹ cũng đưa ra các quy định chuẩn quốc gia đểcấm buôn bán các sản phẩm được sản xuất ra ở các nước có những điều kiện sảnxuất chưa đạt mức an toàn ngang với tiêu chuẩn Châu Âu
Đặc biệt, Mỹ có quy chế về nhãn mác sản phẩm rất khắt khe nhất là hàngthực phẩm quả tươi Trong hệ thống quy định bảo vệ người tiêu dùng có quy địnhcác thành phần của sản phẩm, cách bảo quản, việc làm sai quy cách đóng gói, bao
bì, các sản phẩm nhập lậu, đánh cắp bản quyền ị xử lý rất nghiêm
Trang 40Tập quán và thói quen tiêu dùng của người Mỹ, EU là họ thích tiêu thụ cácsản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng và uy tín lâu đời Người dân quan niệm chất lượnggắn bó với thương hiệu Một thương hiệu tốt, có uy tín trên thì trường là nhờ chấtlượng khẳng định trong một thời gian dài Vì vậy khi thương hiệu đã được đứngvững trên thị trường thì đồng nghĩa với việc chất lượng sản phẩm đó đã được khẳngđịnh Do đó, với thu nhập cao của mình người dân Mỹ sẵn sàng trả mức giá xứngđáng cho sản phẩm có thương hiệu uy tín Đối với mặt hàng quả nhãn cũng vậy, họsẵn sàng trả giá tương đối cao cho sản phẩm quả có chất lượng.
Và cuối cùng khi nói đến thị hiếu tiêu dùng các sản phẩm quả tươi của ngườidẫn Mỹ, EU không thể không nói đến xu hướng ngày càng sử dụng lượng quả tươinhiều hơn trong các bữa ăn hàng ngày của họ Điều này càng chứng tỏ Mỹ, EU là thịtrường tiềm năng cho mặt hàng nhãn quả tươi Ngày nay, do nhiều căn bệnh như béophì, tim mạch, đường ruột… đồng thời do du nhập nền văn hóa ẩm thực, y họcPhương Đông, người dân Châu Âu bắt đầu có xu hướng sử dụng nhiều rau quả tươi
để bổ sung vitamin, giảm lượng thịt và bột mì, bơ sữa hơn Đây là một xu hướng tiêudùng thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu hoa quả tươi nói chung, quả nhãn nói riêng
2.1.3 Thị trường tiêu thụ sản phẩm nhãn trong nước
2.1.3.1 Kênh tiêu thụ sản phẩm
Kênh tiêu thụ có thể coi là con đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đếnngười tiêu dùng cuối cùng Nó cũng được coi như một dòng chuyển quyền sở hữucác hàng hóa khi chúng được mua bán qua các tác nhân khác nhau Một số người lại
mô tả kênh tiêu thụ là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để cùng thựchiện mục đích thương mại Các định nghĩa trên xuất phát từ các quan điểm khácnhau của người nghiên cứu
Người sản xuất chú ý các trong gian khác nhau cần sử dụng để đưa sản phẩmđến ta người tiêu dùng Vì vậy, họ có thể định nghĩa kênh tiêu thụ là hình thức dichuyển sản phẩm qua các trong gian khác nhau
Người bán buôn, bán lẻ - những người đang hy vọng họ có được dự trữ tồnkho thuận lợi từ những người sản xuất và tránh được các rủi ro liên quan đến chứcnăng này – có thể quan niệm luồng quyền sở hữu như là mô tả tốt nhất kênh tiêu thụ